Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ - Phòng Hành chính tư pháp
Ngày 07/4/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình. Nghị định này quy định một số quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng lao động, lao động là người giúp việc gia đình, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội,... 
 
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết; việc đăng ký hộ tịch là việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính. Đồng thời, căn cứ vào quyết định của cơ quan... 
 
Ngày 28/03/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đinh về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2013. 
 
Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. Đây là một đạo luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền của công dân và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp và khó khăn trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, cụ thể như xây dựng cơ sở d... 
 
Ngày 19 tháng 11 năm 2012, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 9277/BTP-HCTP hướng dẫn thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữ.  
 
Hạnh phúc muộn (21/12/2012)
Anh đã ngoài 40 tuổi vẫn chưa lập gia đình. Cha mẹ đã già chỉ mong anh thành gia lập thất, có cháu cho ông bà bế bồng. Không muốn cha mẹ lo lắng, qua mai mối, sau 1 tháng biết nhau, anh và cô đã nên duyên vợ chồng trong sự vui mừng của gia đình. Hạnh phúc gấp bội khi chẳng lâu sau vợ anh đã sinh đôi cho anh hai đứa bé kháo khỉnh, đáng yêu.  
 
Ngày 21 tháng 09 năm 2012 Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 2565/QĐ-BTP phê duyệt Kế hoạch tổng kết công tác chứng thực. Theo đó, mục đích của việc tổng kết công tác chứng thực là nhằm đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng tổ chức, hoạt động công tác chứng thực ở trong nước, tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; nêu lên bất cập, khó khăn, vướng mắc về thể chế, tổ ch... 
 
Thực hiện Quyết định số 1985/QĐ-BTP ngày 13 tháng 7 năm 2012 của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch 3941/KH-UBND ngày 28  tháng 8  năm 2012 triển khai việc đăng ký nuôi con nuôi thực tế trên địa bàn tỉnh theo quy định của Luật Nuôi con nuôi. 
 
Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng,vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình quy định cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, c... 
 
Ngày 13 tháng 7 năm 2012, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành quyết định số 1985/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai đăng ký nuôi con nuôi thực tế theo quy định của Luật Nuôi con nuôi.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại ĐiềnRa mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại Điền
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) ngày càng hiệu quả cao, thiết thực, đáp ứng nhu cầu TGPL cho người dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người nghèo, đối tượng chính sách…ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) ngày càng hiệu quả cao, thiết thực, đáp ứng nhu cầu TGPL cho người dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người nghèo, đối tượng chính sách…ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/ 06/ 2013, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm TGPL) phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Ủy ban nhân dân xã Đại Điền tổ chức ra mắt thành lập “Câu lạc bộ trợ giúp lý xã Đại Điền” và tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL lần đầu tiên. Đến dự có: Ông Nguyễn Minh Khoa đại diện Trung tâm trợ giúp lý; bà Lê Thị Mộng Thùy, Tưởng Chi nhánh số 02; ông Lê Mộng Linh, Trưởng phòng Tư pháp huyện, ông Nguyễn Văn Bình, Phó Bí Thư Đảng ủy xã, cùng 44 người dân tham dự buổi lễ.

Theo Quyết Định số 75/QĐ-UBND ngày 15/05/2013, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại Điền có 14 thành viên, bà Mai Thị Hiền, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân làm Chủ nhiệm,

Đến nay, huyện Thạnh Phú có 14/18 xã được thành lập Câu lạc bộ TGPL; nâng tổng số Câu lạc bộ TGPL trong toàn tỉnh là 47Câu lạc bộ .

 

Câu lạc bộ TGPL là một hình thức hoạt động TGPL cộng đồng, tạo điều kiện cho người được TGPL ở địa phương tham gia sinh hoạt hoạt, trao đổi vướng mắc pháp luật. Thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL giúp cho thành viên của Câu lạc bộ có điều kiện gần dân nhiều hơn, qua đó hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người dân, giúp người dân giải quyết tranh chấp ở cơ sở được kịp thời.

Dự kiến đến cuối năm 2013, Trung tâm TGPL sẽ tiếp tục phối hợp với các cấp chính quyền địa phương, phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú sẽ thành lập Câu lạc bộ TGPL ở các xã còn lại trên địa bàn huyện Thạnh Phú, nhằm phục vụ tốt nhu nhu cầu TGPL cho người dân.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre
 Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đô...

Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, lãnh đạo Trung tâm TGPL nhà nước, các Trợ giúp viên pháp lý, các Cộng tác viên TGPL và đại diện 02 câu lạc bộ TGPL xã Nhơn Thạnh, Phú Nhuận thành phố Bến Tre.

Tại tọa đàm, các đại biểu đã nghe trình bày các tham luận về Thực trạng hoạt động TGPL trong hoạt động tố tụng; Vai trò TGPL với công tác hòa giải cơ sở; Vai trò của Cộng tác viên và các tổ chức hành nghề luật trong TGPL; Cơ chế phối hợp và thực tiễn triển khai Kế hoạch tăng cường TGPL cho trẻ em giai đoạn 2011- 2015; kết quả hoạt động phối hợp thực hiện Chương trình 14 phổ biến giáo dục pháp luật và TGPL cho phụ nữ; Kết quả hoạt động phối hợp TGPL lưu động; Tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc; lãnh đạo Trung tâm TGPL báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động TGPL; tình hình tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL ở địa phương.

Các tham luận và ý kiến của đại biểu đã đánh giá, phân tích khá sâu, đúng thực chất tình hình và kết quả đạt được trong hoạt động TGPL; phân tích vai trò, tác động của hoạt động TGPL đối với sự phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương; làm rõ những khó khăn, hạn chế, tìm ra nguyên nhân trong việc thực hiện TGPL, để từ đó đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn; đồng thời kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL.

Ông Phùng Ngọc Đức, Biên tập viên chính, Tạp chí Dân chủ – Pháp luật đã dành thời gian trao đổi và hướng dẫn về phương pháp, cách thức và kỹ năng viết tham luận, viết tin, bài báo chí.

Kết thúc buổi tọa đàm, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sơ Tư pháp trân trọng và cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật ; đồng chí Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó cục trưởng Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và các đồng chí cùng đi trong đoàn đã dành thời gian quý báo đến thăm và làm việc tại Bến Tre, xin trân trọng cán ơn các đồng chí lãnh đạo, đại diện các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tỉnh; các đồng chí trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên, các cộng tác viên; các đồng chí Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL đã đến dự đông đủ.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hiệu quả Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ Hiệu quả Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ
Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và đối tượng chính sách được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp cho người dân thuộc đối tượng được TGPL tiếp cận với pháp luật. Cái nghèo của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa không chỉ là nghèo vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu văn hoá mà còn nghèo vì thiếu hiểu biết pháp luật, có hiểu biết pháp luật, có văn hoá có biết...

Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và đối tượng chính sách được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp cho người dân thuộc đối tượng được TGPL tiếp cận với pháp luật. Cái nghèo của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa không chỉ là nghèo vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu văn hoá mà còn nghèo vì thiếu hiểu biết pháp luật, có hiểu biết pháp luật, có văn hoá có biết chữ, người dân mới biết tự bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình; yên tâm đầu tư phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Chính vì xác định được tầm quan trọng của công tác TGPL; trong những năm qua, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh (Trung tâm TGPL) đã đẩy mạnh hoạt động trợ giúp hướng về cơ sở, tăng cường TGPL lưu động ở các vùng xa, vùng sâu… không chỉ cho đối tượng TGPL mà còn cho các đối tượng khác. Trung tâm TGPL đã có những biện pháp trợ giúp cụ thể cho các đối tượng phụ nữ chuẩn bị kết hôn và ly hôn, đối tượng chính sách,…tham gia bảo vệ quyền lợi cho chị em khi bị xâm hại. Tuy nhiên, chị em phụ nữ thường có tâm lý e ngại khi đến các cơ quan công quyền, nhất là trong trường hợp phải đến cơ quan pháp luật để trình bày những vướng mắc khó nói của bản thân mình và gia đình. Nhiều người đành chấp nhận im lặng, chịu đựng bị đối xử tồi tệ cho đến khi được mọi người xung quanh phát hiện và các cơ quan, tổ chức can thiệp, khi đó có thể xảy ra nhiều hậu quả đáng tiếc..

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, để tạo điều kiện thuận lợi cho chị em phụ nữ được nâng cao kiến thức pháp luật để tự bảo vệ mình hoặc được bảo vệ khi cần thiết, Trung tâm TGPL đã phối hợp với Hội Liên hiện phụ nữ các cấp thành lập các Câu lạc bộ TGPL dành cho phụ nữ ở cấp huyện; bên cạnh các Câu lạc bộ TGPL được thành lập ở các xã, đã tạo ra một diễn đàn để các chị em có nơi sinh hoạt, vui chơi và tìm hiểu pháp luật. Đến nay, Trung tâm TGPL đã thành lập 46 Câu lạc bộ TGPL; trong đó có 3 Câu lạc bộ Hội liên hiệp phụ nữ cấp huyện; do Ban chấp hành Hội phụ nữ của huyện và các cán bộ tư pháp xã, Hội Phụ nữ xã trong huyện làm nòng cốt. Hướng tới Trung tâm TGPL sẽ phối hợp với lãnh đạo địa phương sẽ ra mắt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho Phụ nữ xã Khánh Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, gồm có 45 thành viên, chủ yếu là hội viên hội phụ nữ của ấp. Câu lạc bộ tổ chức sinh hoạt thường kỳ hàng quý, hàng tháng xoay vòng các xã, với nội dung rất phong phú và hình thức đa dạng, thu hút được nhiều chị em tham gia, giới thiệu những quy định mới của pháp luật, những sự kiện xảy ra trong đời sống hàng ngày, được sự hỗ trợ, hướng dẫn về chuyên môn của Trung tâm trợ giúp pháp lý và phòng Tư pháp huyện, thành phố.

Câu lạc bộ TGPL còn trực tiếp trợ giúp miễn phí cho phụ nữ là nạn nhân của nạn bạo lực gia đình một cách kịp thời nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho họ. Qua thời gian hoạt động, Câu lạc bộ TGPL được chính quyền địa phương quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ.

Trung tâm TGPL đã rà soát, hướng dẫn ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL ở địa phương. Hầu hết, tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL đều đúng theo Quyết định số 03/2008/QĐ-BTP của Bộ tư pháp.

Đối với Câu lạc bộ TGPL phụ nữ cấp huyện là mô hình hoạt động thật sự có hiệu quả cao, tiêu biểu là Câu lạc bộ TGPL của Hội Phụ nữ huyện Mỏ Cày Nam, đã tổ chức lồng ghép sinh hoạt ở chi, tổ hội, tổ chức cuộc thi về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình…. đã phát hiện và báo cáo các ngành chức năng phối hợp ngăn chặn giải quyết kịp thời 09 vụ tảo hôn, 26 vụ bạo hành phụ nữ, 04 vụ ngược đãi trẻ em. Ngoài ra, thành viên Câu lạc bộ TGPL còn phối hợp tham gia hòa giải, giải quyết đơn thư khiếu nại có liên quan đến phụ nữ, trẻ em; có 214 vụ tranh chấp liên quan đến đất đai, hôn nhân gia đình và tranh chấp khác; trong đó hòa giải thành 128 vụ.

Câu lạc bộ TGPL là diễn đàn để các chị em phụ nữ bày tỏ những tâm tư, nguyện vọng của mình, và yêu cầu bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình trong cuộc sống.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp không uống rượu, bia  trong ngày làm việcCán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp không uống rượu, bia  trong ngày làm việc
Để thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; ngày 25/3/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chỉ thị số 02/CT-BTP về việc cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp không uống rượu, bia trong ngày làm việc. Cụ thể:

Để thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; ngày 25/3/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chỉ thị số 02/CT-BTP về việc cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp không uống rượu, bia trong ngày làm việc. Cụ thể:

Nghiêm cấm uống rượu, bia hoặc các loại đồ uống khác có nồng độ cồn tương đương (sau đây gọi chung là rượu, bia) ngay trước và trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa của ngày làm việc, kể cả khi tổ chức hội nghị, tiếp khách.

Khi phát hiện cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành Tư pháp có hành vi vi phạm cần thông báo với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp cán bộ, công chức, viên chức đó biết để có biện pháp xử lý.

Đồng thời, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp cũng chỉ đạo thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc các Sở Tư pháp, Cục trưởng các Cục Thi hành án dân sự, Chi cục trưởng các Chi cục Thi hành án dân sự có trách nhiệm:

Đề cao ý thức kỷ luật, kỷ cương, nghiêm túc, gương mẫu thực hiện quy định không uống rượu, bia của cán bộ, lãnh đạo quản lý theo Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

Chỉ đạo các nhà ăn, căng-tin trực thuộc không phục vụ hoặc bán rượu, bia cho các hội nghị, hội thảo, tập huấn, tiếp khách... có thành phần tham dự là cán bộ, công chức, viên chức vào buổi sáng, buổi trưa các ngày làm việc.

Bổ sung quy định không uống rượu, bia trong ngày làm việc vào quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị. Trong trường hợp cần thiết, tổ chức cho cán bộ, công chức, viên chức ký cam kết thực hiện không uống rượu, bia trong ngày làm việc.

Kịp thời xử lý, chấn chỉnh những trường hợp vi phạm quy định không uống rượu bia theo Chỉ thị này.

Chỉ thị này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/3/2013.

15/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuậtChế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

Quyết định này quy định chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa- nghệ thuật công lập và ngoài công lập, gồm: Nhạc công kịch hát dân tộc, nhạc công truyền thống Huế, đờn ca tài tử Nam Bộ, diễn viên sân khấu kịch hát, nghệ thuật biểu diễn dân ca, nghệ thuật ca trù, nghệ thuật bài chòi, biểu diễn nhạc cụ truyền thống.

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được giảm 70% học phí. Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật ngoài công lập được giảm mức học phí không vượt quá mức quy định của các ngành đào tạo tương ứng trong các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập.

Ngoài ra, học sinh, sinh viên còn được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề với mức bằng 40% suất học bổng khuyến khích toàn phần/tháng;

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật ngoài công lập được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề không vượt quá mức quy định của các ngành đào tạo tương ứng trong các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập. Chế độ bồi dưỡng nghề chỉ áp dụng đối với những tháng học sinh, sinh viên học tập và được trả vào đầu tháng.

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được trang bị trang phục học tập và cấp một năm 1 lần: Hai (02) bộ quần áo tập; Bốn (04) đôi giày vải; Bảy (07) đôi tất.

Chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật áp dụng kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2014.

13/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị giao ban sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014Hội nghị giao ban sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014
Sáng ngày 08 tháng 8 năm 2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị giao ban lần 02 sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh chủ trì Hội nghị.

Sáng ngày 08 tháng 8 năm 2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị giao ban lần 02 sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh chủ trì Hội nghị.

Qua hơn 02 tháng triển khai thực hiện chiến dịch (từ 01/6/2014 -7/8/2014), đến nay đã đạt nhiều kết quả rất quan trọng; đã có 13 trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh (731 chiến sĩ) và 05 đội hình chuyên của tỉnh (778 chiến sĩ), với trên 3.000 lực lượng đối ứng tham gia; trong đó, có 10/13 đơn vị trường và 03 đội hình chuyên đã kết thúc hoạt động.

Tại lễ ra quân, Ban Chỉ đạo tỉnh đã trao 11.100 bao xi măng, kinh phí xây dựng 4 căn nhà tình nghĩa, 400 xuất khám chữa bệnh cho nhân dân trị giá 60 triệu đồng, 02 khu vui chơi thiếu nhi trị giá 60 triệu đồng; sau lễ ra quân, tại xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, có trên 1.000 lực lượng tham gia trồng 600 cây xanh trên tuyến đường dài 1km, đổ bê tông lộ giao thông nông thôn xã dài 300mx1m.


Trong quá trình thực hiện Chiến dịch, đã triển khai nhiều hoạt động, với nhiều việc làm thiết thực, như: tham gia xây dựng Nông thôn mới, xây dựng mới các tuyến lộ liên tổ, liên ấp dài 16,9 km; tu sửa dặm vá, phát hoang dài 68,4 km; xây dựng mới 03 cầu bê tông, trị giá 160 triệu đồng; xây dựng 14 căn nhà tình thương trị giá 317 triệu đồng, 05 căn nhà tình nghĩa trị giá 200 triệu đồng, 03 nhà tình bạn trị giá 60 triệu đồng, 03 nhà Khăn quàng đỏ trị giá 75 triệu đồng, 02 nhà Nhân ái trị giá 30 triệu đồng;

Tham gia trồng, chăm sóc hoa, cây xanh; thu gom rác thải, xây dựng vỉa hè, tuyến đường văn minh, khu chợ sạch đẹp, xóa các quảng cáo, rao vặt trái phép; thực hiện công trình thấp sáng dài 6 km, lắp đặt 22 trụ, gần 200 bóng đèn, kinh phí trên 150 triệu đồng;

Tham gia phổ biến pháp luật về an toàn giao thông có trên 51 nghìn lượt đoàn viên, thanh niên, học sinh tham dự; tham gia đội Thanh niên xung kích, giữ gìn trật tự an toàn giao thông, lấn chiếm lòng, lề đường, giúp cơ quan chức năng phát hiện trên 2.000 trường hợp vi phạm, xử lý trên 268 triệu đồng.

Hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hiến máu tình nguyện, đã vận động đoàn viên, thanh niên tham gia hiến 1.029 đơn vị máu. Phối hợp Bệnh viện Y học Cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tổ chức khám bệnh, tặng quà và cấp thuốc miễn phí cho 187 người nghèo, người khuyết tật, trị giá 20 triệu đồng và tặng 20 phần quà cho người khuyết tật trị giá mỗi phần 100 nghìn đồng.


Tham gia phối hợp củng cố, nâng chất hoạt động các Đội thanh niên xung kích an ninh, Câu lạc bộ Tuổi trẻ với pháp luật, tổ chức tuyên truyền trên 1.100 cuộc, có trên 45 nghìn đoàn viên, thanh niên tham gia; tổ chức tuyên truyền biển, đảo; phát động góp quỹ “Vì Trường Sa, Hoàng Sa thân yêu- vì tuyến đầu Tổ quốc”, “Chung sức bảo vệ chủ quyền biển Đông” gần 52 triệu đồng, hỗ trợ ngư dân và lực lượng làm nhiệm vụ gần 14 triệu đồng; tiếp nhận, cảm hóa, giáo dục 154 thanh niên chậm tiến, có dấu hiệu vi phạm pháp luật; các đội hình “ Hành quân xanh”, “Luật gia trẻ” tham gia hoạt động tích cực và đạt một số kết quả.

Tham gia hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa, “Uống nước nhớ nguồn”, đã tổ chức thăm và tặng quà cho 2.242 hộ gia đình chính sách, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, giá trị  2,26 tỷ đồng; tổ chức chăm sóc, chỉnh trang, trồng cây xanh các nghĩa trang, đền thờ liệt sĩ, khu di tích lịch sữ, “Thắp nến tri ân”, thả đèn hoa; tổ chức văn nghệ “Chủ đề Thanh niên tình nguyện”;

Ngoài ra, trong thời gian diễn ra Chiến dịch; đã tham gia các hoạt động hỗ trợ, tư vấn nghề nghiệp và việc làm cho thanh niên; bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tay, dịch bệnh; tham gia hoạt động củng cố tổ chức Đoàn, Hội, Đội.

Kết luận chỉ đạo Hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh Nguyễn Thị Hồng Nhung đánh giá cao kết quả phối hợp triển khai thực hiện Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 và các hoạt động kỷ niệm 15 năm phong trào Thanh niên tình nguyện tỉnh Bến Tre; bà Nguyễn Thị Hồng Nhung lưu ý thời gian còn lại của Chiến dịch cần tập trung tiếp tục thực hiện các công trình, phần việc còn lại, tham gia xây dựng Nông thôn mới và Văn minh đô thị; thực hiện tốt “Ngày thứ bảy tình nguyện” và “Ngày Chủ nhật xanh”, tiếp tục tổ chức các hoạt động hiến máu tình nguyện, khám chữa bệnh cho các gia đình chính sách, tư vấn, giới thiệu việc làm; đặc biệt là tổ chức các hoạt động kỷ niệm 15 năm phong trào Thanh niên tình nguyện tỉnh Bến Tre, tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014; các địa phương cần quan tâm, phối hợp, lãnh đạo, chỉ đạo, huy động các nguồn lực (con người, kinh phí, cơ sở, vật chất) để thực hiện có kết quả và hiệu quả Chiến dịch; đặc biệt phải chú ý đến sức khỏe, an toàn của các chiến sĩ tham gia Chiến dịch.

11/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Luật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đaiLuật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự c...

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự công bằng trong xã hội; đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thắt chặt tình làng, nghĩa xóm trong nhân dân.

Tuy nhiên, trên thực tế việc giải quyết tranh chấp đất đai diễn biến rất phức tạp. Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, khởi kiện tại Tòa án nhân dân các cấp liên quan đến lĩnh vực đất đai luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng ngày càng tăng. Bên cạnh đó, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai ở một số địa phương vẫn chưa thật sự nhận được sự đồng tình của người dân, dẫn đến nhiều vụ việc phải giải quyết kéo dài, qua nhiều cấp khác nhau; nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn chưa được thi hành.

Ngày 29 tháng 11 năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014, đã mở rộng hơn nữa quyền của công dân trong việc yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai, khi các bên sử dụng đất mâu thuẫn, không thống nhất với nhau trong quá trình sử dụng đất.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”. Hòa giải trong trường hợp này là tự nguyện. Trong trường hợp “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải” (Khoản 2 Điều 202) và đây là thủ tục hòa giải bắt buộc. Theo đó, tại Khoản 3, 4, 5 Điều 202 thì hòa giải theo thủ tục này được quy định như sau: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai; việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp; đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác và Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định đối với việc tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành, thì được giải quyết như sau:

Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.

Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đây là một quy định mới khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2014.

Tại Khoản 3 Điều 203 quy định trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Đây cũng là một quy định mới theo Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011, tại Điều 264.

Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều 203 phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Những điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014Những điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trong xã hội, các mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình luôn diễn ra đa dạng, phức tạp, với những hình thức khác nhau. Vì vậy để xây dựng và hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, chậm tiến bộ trong hôn nhân gia đình là vấn đề đang được quan tâm.

Trong xã hội, các mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình luôn diễn ra đa dạng, phức tạp, với những hình thức khác nhau. Vì vậy để xây dựng và hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, chậm tiến bộ trong hôn nhân gia đình là vấn đề đang được quan tâm.

Ngày 19 tháng 6 năm 2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIII, kỳ họp lần thứ 7 đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có 9 chương, 133 Điều, so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ít hơn 04 chương, nhưng tăng lên 23 Điều. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có nhiều quy định mới, có những sửa đổi, bổ sung như: Tăng độ tuổi kết hôn của nam và nữ; không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính; cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; qui định chế độ tài sản của vợ chồng....

Cụ thể, về điều kiện kết hôn tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực hành vi dân sự; việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật hiện hành) nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên là đủ tuổi kết hôn. Theo quy định này thì nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn. Tuy nhiên, với quy định điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì độ tuổi kết hôn của nam và nữ sẽ được nâng lên và được tính theo tuổi tròn, bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn.

Một điểm mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là quy định về vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

Theo đó, điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 95 của Luật như sau:

Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây: Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; vợ chồng đang không có con chung; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Như vậy, vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là quy định mới của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, với quy định này đã phản ánh được thực trạng hiện nay, và đáp ứng với tình hình phát triển thực tế của các mối quan hệ trong hôn nhân và gia đình.

11/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai  thủ tục hành chínhQuy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai  thủ tục hành chính
Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của các cấ...

Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh.

Về trách nhiệm phối hợp công bố TTHC:

Các sở, ban, ngành tỉnh: Là cơ quan đầu mối giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh trong việc công bố, niêm yết công khai TTHC thuộc lĩnh vực phụ trách ở các cấp trên địa bàn tỉnh; phải cập nhật kịp thời các văn bản của Trung ương và địa phương có quy định về TTHC, xây dựng dự thảo Quyết định công bố TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý ngành, lĩnh vực theo đúng quy định tại Điều 7 Thông tư số 05/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công bố, niêm yết TTHC và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát TTHC, gửi Sở Tư pháp kiểm soát chất lượng trước khi trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành. Trong hồ sơ trình Chủ tịch UBND tỉnh phải có văn bản góp ý của Sở Tư pháp; đồng thời, tờ trình ban hành Quyết định công bố phải có phần giải trình nội dung tiếp thu và không tiếp thu ý kiến của Sở Tư pháp; sau khi Quyết định được ban hành, chịu trách nhiệm gửi quyết định công bố TTHC cho Cục Kiểm soát TTHC, Sở Tư pháp (kèm tập tin điện tử), các sở, ban, ngành tỉnh, UBND cấp huyện và các cơ quan có liên quan.


Sở Tư pháp: Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm soát về hình thức, nội dung dự thảo Quyết định công bố theo đúng quy định; nhập và gửi dữ liệu, hồ sơ đề nghị công khai về các TTHC và văn bản quy định về TTHC đã được công bố lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

UBND cấp huyện: Trường hợp phát hiện TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện, cấp xã chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố hoặc công bố chưa đúng quy định, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo về UBND tỉnh (thông qua Sở Tư pháp) để chỉ đạo cơ quan chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực kiểm tra, rà soát, công bố đầy đủ, chính xác theo quy định; chịu trách nhiệm sao gửi Quyết định công bố, tổ chức việc công khai tại địa phương và các cơ quan chuyên môn cấp huyện, UBND cấp xã đối với TTHC chung áp dụng tại cấp huyện, cấp xã đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

UBND cấp xã: Đề xuất với UBND cấp huyện kiến nghị với các sở, ban, ngành liên quan trong việc rà soát, cập nhật, công bố TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp xã; thực hiện công khai TTHC theo quy định và tổ chức thực hiện nghiêm túc trình tự, TTHC đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

Về trách nhiệm phối hợp niêm yết công khai TTHC:

Việc niêm yết công khai TTHC và nội dung hướng dẫn thực hiện phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thực hiện theo Điều 10, Điều 11, Điều 12 Thông tư số 05/2014/TT-BTP.

Các cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ trực tiếp tiếp nhận, giải quyết TTHC phải thực hiện niêm yết công khai, kịp thời, đầy đủ TTHC thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tại trụ sở cơ quan, đơn vị.

Cơ quan, tổ chức được cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền ủy quyền thực hiện dịch vụ công niêm yết đầy đủ các TTHC được ủy quyền.

Các sở, ban, ngành tỉnh chịu trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn việc niêm yết công khai TTHC thuộc lĩnh vực quản lý trên địa bàn tỉnh. Tạo lập, duy trì đường kết nối giữa Cổng thông tin điện tử cơ quan, đơn vị (nếu có) với các TTHC thuộc lĩnh vực quản lý trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm tạo lập Mục TTHC trên Trang thông tin điện tử của tỉnh, kết nối Mục này với các TTHC thực hiện tại địa bàn tỉnh Bến Tre trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

Sở Tư pháp: Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện niêm yết công khai TTHC tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; thường xuyên theo dõi các TTHC thực hiện tại tỉnh Bến Tre được công bố trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, đảm bảo các TTHC này luôn được cập nhật kịp thời.

Đồng thời, UBND tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì theo dõi việc phối hợp thực hiện Quy chế công bố và niêm yết công khai TTHC trên địa bàn tỉnh.

31/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về hình thức xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranhQuy định về hình thức xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2014. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định này thì đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền...

Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2014. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định này thì đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung: Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh bao gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

Ngoài các hình thức xử phạt trên, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả sau: Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại phần doanh nghiệp đã mua; buộc cải chính công khai; buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh; buộc sử dụng hoặc bán lại các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp đã mua nhưng không sử dụng; buộc loại bỏ những biện pháp ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; buộc khôi phục các điều kiện phát triển kỹ thuật, công nghệ mà doanh nghiệp đã cản trở; buộc loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt cho khách hàng; buộc khôi phục lại các điều khoản hợp đồng đã thay đổi mà không có lý do chính đáng; buộc khôi phục lại hợp đồng đã hủy bỏ mà không có lý do chính đáng.

05/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014Tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014
Nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trong cán bộ, nhân dân và người Việt Nam ở nước ngoài; tạo sự thống nhất, đồng thuận xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; ngày 30 tháng 7 năm ...

Nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trong cán bộ, nhân dân và người Việt Nam ở nước ngoài; tạo sự thống nhất, đồng thuận xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; ngày 30 tháng 7 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3525/KH-UBND tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển cần được tổ chức sâu rộng, bảm bảo tính chủ động, nhạy bén, chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, trên cơ sở đó khẳng định rõ quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam theo quy định của luật pháp quốc tế. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị trong phổ biến, giáo dục pháp luật về biển; gắn nội dung phổ biến pháp luật về biển với việc tuyên truyền, phổ biến về vị trí, vai trò, tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuyên truyền những cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và thực tiễn khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông; tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ, đoàn kết quốc tế trong việc giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia có biển, lên án các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế về biển; phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Nội dung phổ biến gồm những nội dung cơ bản của các văn bản pháp luật sau: Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982; Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); Luật Biển Việt Nam; Luật Biên giới quốc gia; Luật An ninh quốc gia; Bộ luật Hàng hải Việt Nam; Luật Thủy sản; Luật Dầu khí.

Hình thức và biện pháp phổ biến: Tăng thời lượng, tin, bài tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến trên Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, các báo điện tử, cổng thông tin, trang thông tin điện tử, bản tin chuyên ngành, hệ thống truyền thanh cơ sở, truyền thanh lưu động, tuyên truyền thông qua các chương trình phát thanh. Tổ chức tọa đàm, trao đổi, sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề về các vấn đề pháp lý liên quan đến biển tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường học, ấp, khu phố, tổ nhân dân tự quản, cụm dân cư. Tổ chức hội diễn văn nghệ, thông tin lưu động có lồng ghép tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển, tổ chức hội thi tìm hiểu pháp luật về biển, chú trọng tổ chức thi dưới hình thức sân khấu hóa tại các xã biển, hoặc tổ chức kết hợp với  hoạt động đoàn, hội, đội, hoạt động tình nguyện của thanh thiếu niên. Xây dựng pano, áp phích, phát các tài liệu, tờ gấp, tờ rơi, chú trọng tổ chức thực hiện tại các xã biển, tại các điểm du lịch biển, các địa điểm công cộng. Kết hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển thông qua các cuộc giao lưu, kết nghĩa, tặng quà cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên các vùng biển, ven biển.

Thời gian thực hiện: đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển được thực hiện từ ngày 01 tháng 8 đến ngày 15 tháng 10 năm 2014.

Theo Kế hoạch Uỷ ban nhân dân tỉnh đã phân công trách nhiệm cụ thể cho Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình hướng dẫn các tổ chức thành viên, nhất là đối với các tổ chức chính trị-xã hội, Hội Luật gia tỉnh, Đoàn Luật sư tỉnh; đồng thời quan tâm chỉ đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp huyện và cấp xã tổ chức thực hiện và phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng, các văn bản pháp luật về biển đến đoàn viên, hội viên và nhân dân.

04/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sởHội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở
Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hà...

Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hành Công văn số 1322/STP-PB đề nghị Phòng Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Luật gia cùng cấp triển khai thực hiện một số nội dung sau:

Triển khai quán triệt Công văn số 06/CV-MTTQ-BTT ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc yêu cầu Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở, Công văn số 22/CV-MTTQ-BTT ngày 22 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở và Công văn số 23/CV-HLG ngày 17 tháng 7 năm 2014 của Hội Luật gia tỉnh về việc tham gia hòa giải ở cơ sở đến cán bộ, công chức Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch, các tổ hòa giải ở cơ sở về mời hội viên Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở.

Tổ chức trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp giữa Phòng Tư pháp với Hội Luật gia các huyện, thành phố về mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở.

Tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố có công văn chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn triển khai đến tổ hoà giải, khi tổ chức hoà giải mời hội viên Hội Luật gia tham gia hoà giải (theo đúng quy định Điều 19 Luật Hoà giải ở cơ sở).

Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ thông báo đến Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn có liên quan về địa chỉ của huyện, thành hội, chi hội, hội viên; trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn thông báo đến tổ hòa giải để tổ hòa giải chủ động liên hệ trước với chi hội, hội viên Hội Luật gia để trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp.

Bên cạnh đó, Thường trực Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ tiếp nhận và tư vấn miễn phí cho đương sự đối với những vụ việc tổ hòa giải đang thụ lý để chuẩn bị hòa giải, nếu đương sự có yêu cầu và được tổ hòa giải giới thiệu đến.

Thời gian bắt đầu triển khai mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở: tháng 9/2014.

Hàng năm, phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho hội viên Hội Luật gia, có thể lồng ghép với tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho Hòa giải viên.

Định kỳ 6 tháng và hàng năm phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức sơ kết, đánh giá những mặt làm được, những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân để rút kinh nghiệm; qua đó đề xuất những giải pháp để hoạt động phối hợp công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian tới đạt kết quả cao hơn và báo cáo kết quả công tác phối hợp về Sở Tư pháp (có thể lồng ghép trong báo cáo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng và hàng năm).

04/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre triển khai thực hiện Quyết định số 312/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạmBến Tre triển khai thực hiện Quyết định số 312/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm
Để tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm; tập trung nâng cao hiệu quả các mặt công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm tham nhũng; làm giảm các loại tội phạm đang gia tăng như tội giết người, cố ý gây thương tích do mâu thuẫn cá nhân, tội có liên quan đến chiếm đoạt tài sản, tội phạm ma túy; không để xảy ra tình trạng tội phạm lộng...

Để tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm; tập trung nâng cao hiệu quả các mặt công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm tham nhũng; làm giảm các loại tội phạm đang gia tăng như tội giết người, cố ý gây thương tích do mâu thuẫn cá nhân, tội có liên quan đến chiếm đoạt tài sản, tội phạm ma túy; không để xảy ra tình trạng tội phạm lộng hành, các trường hợp bao che tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”; không để hình thành các tụ điểm cờ bạc, ma túy, mại dâm gây bức xúc trong nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hình sự, nhất là chất lượng công tác quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân, công tác hòa nhập cộng đồng, giảm tỷ lệ tái nghiện; tạo chuyển biến rõ rệt trong việc đảm bảo an ninh, trật tự.

Để xác định rõ giải pháp, phân công trách nhiệm cụ thể và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành, đoàn thể, địa phương; Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 2956/KH-UBND thực hiện Quyết định số 312/QĐ-TTg ngày 28 tháng 02 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình thực hiện Nghị quyết số 63 của Quốc hội khóa XIII về “Tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm” trên địa bàn tỉnh Bến Tre; nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, tăng cường các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ kết hợp chặt chẽ với phòng ngừa xã hội; đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; chú trọng giáo dục đạo đức trong nhà trường, gia đình và xã hội; tăng cường giáo dục đạo đức công vụ gắn với công tác đào tạo cán bộ, công chức, viên chức.

Ảnh minh họa

Triển khai thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản theo Chỉ thị số 33-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai, kiểm soát việc kê khai tài sản và Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2013 về minh bạch tài sản thu nhập.

Nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tại cơ sở, địa bàn dân cư, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, tập trung phát hiện, triệt phá các tổ chức, băng, nhóm tội phạm; truy bắt, vận động đối tượng truy nã ra đầu thú; xóa các tụ điểm phức tạp về trật tự, an toàn xã hội.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm về kinh tế, tham nhũng, thu hồi tiền và tài sản bị chiếm đoạt.

Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, bảo đảm mọi tố giác và tin báo về tội phạm của công dân, cơ quan, tổ chức đều được tiếp nhận và xử lý kịp thời, đúng quy định pháp luật. Thực hiện có hiệu quả các biện pháp khuyến khích và bảo vệ người tố giác tội phạm, tố cáo tham nhũng; xử lý nghiêm các hành vi trả thù người tố giác tội phạm, tố cáo tham nhũng hoặc lợi dụng khiếu nại, tố cáo để kích động gây rối an ninh, trật tự.

Ảnh: Hội đồng xét xử

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, tập trung vào tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, tham nhũng, ma túy, môi trường, sử dụng công nghệ cao, các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Cơ quan điều tra và điều tra viên phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều tra tội phạm, không để xảy ra việc bức cung, nhục hình; thu thập đầy đủ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội.

Phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra với thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, giám định tài chính, kế toán…; tập trung phát hiện điều tra, xử lý tội phạm, bảo đảm thời hạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật, nhất là các vụ án lớn về kinh tế, chức vụ và tham nhũng; kịp thời xác minh, truy tìm và thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt.

Chấp hành nghiêm pháp luật trong công tác bắt, giam giữ. Bảo đảm việc lập hồ sơ vụ án hình sự phải khách quan, toàn diện theo đúng quy định của pháp luật.

Nâng cao chất lượng quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân, gắn với định hướng nghề, dạy nghề để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi  cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Phối hợp chặt chẽ Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, bảo đảm các trường hợp được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, đặc xá đúng mục đích, yêu cầu, đúng đối tượng theo quy định của pháp luật. Ngăn chặn, xử lý nghiêm việc thẩm lậu ma túy, vật cấm đối với bị can, bị cáo, phạm nhân vào các cơ sở giam, giữ.

Tăng cường và mở rộng phối hợp phòng, chống tội phạm với các tỉnh lân cận và trong khu vực; tích cực phối hợp đấu tranh với các tổ chức, đường dây tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm quốc tế có liên quan đến địa bàn tỉnh Bến Tre.

31/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn để bảo vệ chính mìnhĐội mũ bảo hiểm đạt chuẩn để bảo vệ chính mình
Mũ bảo hiểm như thế nào là đạt chuẩn? Đây là vấn đề mà người dân đang quan tâm và các ngành chức năng đang vào cuộc. Hiện nay trên thị trường, mũ bảo hiểm được bày bán ở rất nhiều nơi, từ những quầy hàng hay trên các lề đường, với nhiều kiểu dáng đa dạng, màu sắc đủ loại để cho người sử dụng có thể lựa chọn. Nhưng thực tế hiện nay, đa số người dân còn ít hiểu biết mũ bảo hiểm như thế nào là đạt...

Mũ bảo hiểm như thế nào là đạt chuẩn? Đây là vấn đề mà người dân đang quan tâm và các ngành chức năng đang vào cuộc. Hiện nay trên thị trường, mũ bảo hiểm được bày bán ở rất nhiều nơi, từ những quầy hàng hay trên các lề đường, với nhiều kiểu dáng đa dạng, màu sắc đủ loại để cho người sử dụng có thể lựa chọn. Nhưng thực tế hiện nay, đa số người dân còn ít hiểu biết mũ bảo hiểm như thế nào là đạt chuẩn và có chất lượng. Theo tâm lý của một số người thì việc đội mũ bảo hiểm sao cho đẹp và hợp thời trang là được, chưa quan tâm đến chất lượng mũ bảo hiểm mình đang sử dụng, hay không ít trường hợp người tham gia giao thông buộc phải đội mũ bảo hiểm là để đối phó với cơ quan chức năng mà không nghĩ là đội mũ bảo hiểm là để đảm bảo an toàn, bảo vệ chính mình và tránh được những hậu quả nghiêm trọng do tai nạn giao thông gây ra.

Mũ bảo hiểm đạt chuẩn phải có đủ các tính năng sau: Về cấu tạo mũ bảo hiểm phải có đủ 3 bộ phận gồm vỏ mũ, lớp đệm hấp thụ xung động bên trong vỏ mũ và quai đeo; mũ phải có chứng nhận hợp quy, được gắn dấu hợp quy CR, ghi nhãn hàng hoá theo quy định của pháp luật. Với những tiêu chuẩn cơ bản như trên thì đó mới có thể được xem là mũ bảo hiểm đạt chuẩn, và mới có thể bảo vệ được người đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, số lượng người đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy hiện nay đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn thì không được nhiều, còn một phần đông người tham gia giao thông còn thờ ơ, không quan tâm đến chất lượng mũ bảo hiểm mình đang sử dụng, chính vì  sự thờ ơ, không quan tâm đó đã dẫn đến không ít những hậu quả nghiêm trọng khi xảy ra tai nạn giao thông.

Theo qui định tại Khoản 3, Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, thì phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với  hành vi người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe máy hoặc đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe máy không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ. Đối với hành vi đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn chưa bị xử phạt, nhưng trước tình hình trật tự an toàn giao thông diễn ra phức tạp, những mối nguy hiểm, những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra do tai nạn giao thông, người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe đạp máy khi tham gia giao thông hãy đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn, đừng để những đau thương, mất mát xảy ra do đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn.

30/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật
Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 thá...

Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (các nội dung khác của Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg vẫn tiếp tục triển khai thi hành).

Bộ Tư pháp tổ chức triển khai làm thử việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng ở 3 cấp đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg trong 2 năm, từ năm 2014 đến năm 2015, tại các tỉnh: Quảng Bình, Thái Bình, Điện Biên, Cà Mau và thành phố Hồ Chí Minh để Bộ có điều kiện tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quyết định này. Căn cứ vào kết quả làm thử, trong quý II năm 2016, Bộ Tư pháp tổng kết, đánh giá, báo cáo, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg cho phù hợp.

Đồng thời, để Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ được triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả nước, ngày 15 tháng 7 năm 2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 3120/BTP-PBGDPL về việc hướng dẫn thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tiếp cận pháp luật. Theo đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao liên quan đến xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6 Điều 12 của Quy định và hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn số 7730/BTP-PBGDPL ngày 18/11/2013 về việc triển khai Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (trừ điểm 4 và điểm 5); đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở năm 2015 ở địa phương theo điểm 1 Công văn số 2961/BTP-PBGDPL ngày 03/7/2014 của Bộ Tư pháp về xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở và hòa giải ở cơ sở năm 2015.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trừ 5 tỉnh, thành phố được lựa chọn làm thử) báo cáo kết quả thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg năm 2014 cùng với báo cáo chung về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm và gửi về Bộ Tư pháp (qua Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật). Nội dung báo cáo cần nêu rõ các hoạt động đã được thực hiện để triển khai thi hành Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và kiến nghị, đề xuất cụ thể các giải pháp để triển khai thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Báo cáo của địa phương cần nêu rõ những khó khăn, vướng mắc, bất cập, những vấn đề mới phát sinh, nhất là tính khả thi của các chỉ tiêu, tiêu chí; các giải pháp cải thiện điều kiện tiếp cận pháp luật tại địa phương; sáng kiến, kinh nghiệm trong xây dựng địa phương tiếp cận pháp luật.

29/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá công tác năm 2013Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá công tác năm 2013
Chiều ngày 02/01/2014, Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (Dự án DBRP Bến Tre) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ thực hiện năm 2014. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị.

Chiều ngày 02/01/2014, Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (Dự án DBRP Bến Tre) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ thực hiện năm 2014. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị.

Ông Nguyễn Trúc Sơn, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư, Giám đốc Dự án DBRP Bến Tre báo cáo kết quả hoạt động năm 2013 và triển khai kế hoạch công tác 2014.

Dự án DBRP Bến Tre chính thức có hiệu lực từ ngày 06 tháng 5 năm 2008 với mục tiêu tổng quát là góp phần giảm nghèo bền vững và công bằng thông qua sự năng động của người dân nông thôn. Theo đánh giá chung công tác điều phối, thực hiện Dự án DBRP năm 2013 là ở mức đạt yêu cầu, có nhiều thành tựu hướng đến giảm nghèo mang tính sáng tạo, phù hợp và bền vững.

Năm 2013, tỉ lệ giảm nghèo tại 50 xã của Dự án trung bình đạt 2,45%, trong khi mức trung bình của cả tỉnh là 2,06%; Dự án DBRP tiếp tục tác động theo chiều hướng tích cực đối với chương trình giảm nghèo của tỉnh; môi trường đầu tư kinh doanh đã được cải thiện thông qua xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) hạng 26/63 tỉnh, thành (tăng 4 bậc so với năm 2012); 100 công trình phục vụ giao thông nông thôn, sản xuất (thủy lợi) và thương mại (chợ) đã được xây dựng và đưa vào sử dụng; có 11.530 lượt người từ các cơ quan thực hiện, các nhóm cộng đồng tham gia vào các hoạt động do dự án hỗ trợ bao gồm hoạt động đào tạo nghề, hội thảo chuyên đề, tham quan học tập kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, nghiên cứu thị trường, hội chợ triển lãm, khởi sự kinh doanh và các sự kiện đầu tư …Nhìn chung, các mô hình này được đánh giá là phù hợp, mang tính bền vững cao và có khả năng nhân rộng; Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cung cấp 899 món vay với số tiền 52,2 tỷ VND, kết quả nổi bậc là có sự chuyển biến tốt về thời hạn cho vay. Hiện nay, có 1.276 nhóm tiết kiệm – tín dụng được vay vốn với dư nợ lũy kế là 35,7 tỷ đồng; trong năm 2013, dự án giải ngân 95 tỷ, đạt 80% so với kế hoạch và ngân sách năm 2013, tỷ lệ giải ngân đã được nâng lên đạt mức tốt.

Phát biểu kết luận Hội nghị, ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh biểu dương Ban quản lý Dự án DBRP cấp tỉnh, huyện, xã và đề nghị Ban quản lý Dự án DBRP, các tổ chức cùng quan tâm đẩy nhanh xóa đói, giảm nghèo ở các xã có Dự án; ở mỗi huyện cần rà lại chất lượng của từng mô hình giảm nghèo, quan tâm đến hiệu quả của từng mô hình để giảm nghèo toàn diện hơn; tập trung thanh quyết toán, giải ngân các chương trình hoàn thành và chuẩn bị báo cáo đánh giá và bàn giao Dự án.

07/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông ở xã An Ngãi TrungCông tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông ở xã An Ngãi Trung
Thời gian qua, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) trên địa bàn xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri đã đạt được một số kết quả tích cực. Nhận thức của người dân chấp hành pháp luật về giao thông được nâng lên, các vụ vi phạm giảm so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu vui cho xã An Ngãi Trung trong việc chấn chỉnh trật tự ATGT, đồng thời khẳng định công tác tuyên truyền đang ngày càng ...

Thời gian qua, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) trên địa bàn xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri đã đạt được một số kết quả tích cực. Nhận thức của người dân chấp hành pháp luật về giao thông được nâng lên, các vụ vi phạm giảm so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu vui cho xã An Ngãi Trung trong việc chấn chỉnh trật tự ATGT, đồng thời khẳng định công tác tuyên truyền đang ngày càng phát huy hiệu quả và cần được duy trì mở rộng.

Năm 2013, xã An Ngãi Trung đã tổ chức triển khai, thực hiện kế hoạch đảm bảo trật tự ATGT; kế hoạch đảm bảo trật tự ATGT trước, trong và sau Tết Nguyên Đán; đồng thời tiến hành giải toả lấn chiếm hành lang ATGT. Công an kết hợp với quân sự, đội TNXK xã tuần tra giao thông 224 cuộc, có 1504 lực lượng tham gia tuần tra, xử phạt 298 trường hợp với số tiền 50.895.000 đồng, gồm các lỗi như không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định, không đèn chiếu sáng. Tai nạn giao thông xảy ra 01 vụ, giảm 05 vụ so cùng kỳ năm 2012, va chạm giao thông xảy ra 07 vụ, bị thương 12 người, giảm 11 vụ so với cùng kỳ.

Đạt được kết quả như trên chính là nhờ sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành, đoàn thể xã trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về giao thông bằng nhiều hình thức như: tổ chức sinh hoạt tuyên truyền lồng ghép trong các cuộc họp các chi, tổ, hội đoàn thể, tổ nhân dân tự quản; đăng ký cam kết của hộ gia đình không vi phạm trật tự ATGT; cấp phát tờ rơi, treo băng rol, áp phích tuyên truyền cổ động. Ngoài ra xã đoàn An Ngãi Trung còn tổ chức lễ xuất quân Năm An toàn giao thông, có trên 80 đoàn viên, hội viên, thanh niên và các em học sinh tham dự, đồng thời diễu hành trên các tuyến đường chính của xã, qua đó phát động 100% đoàn viên, thanh niên đăng ký không vi phạm luật giao thông.

Phát huy những kết quả quả tích cực trong công tác đảm bảo trật tự ATGT đã đạt được, năm 2014 xã An Ngãi Trung tiếp tục giữ gìn trật tự ATGT trên địa bàn xã. Trong đó đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động mọi người có ý thức chấp hành tốt pháp luật về giao thông, tiếp tục phát động hưởng ứng năm ATGT, vận động xây dựng phong trào văn hóa giao thông; các lực lượng liên quan phối hợp chặt chẽ, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, giải tỏa các hộ buôn bán lấn chiếm lề đường; phối hợp các ngành chức năng hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, đẩy mạnh công tác giáo dục ATGT trong các trường học; đặc biệt thường xuyên mở đợt tuần tra, kiểm soát giao thông nhẳm đảm bảo ATGT trước, trong và sau Tết Nguyên Đán để bà con nhân dân an tâm vui xuân đón tết, được hưởng một năm mới an toàn, mạnh khỏe và hạnh phúc.

09/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xãXử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
  Ngày 24/09/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Ngày 24/09/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/11/2013, thay thế Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/07/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình và Nghị định số 10/2009/NĐ-CP ngày 06/02/2009 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản.

Một số quy định mới về các mức phạt đối với các hành vi vi phạm về đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, môi giới kết hôn; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc… Cụ thể như: Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với hành vi môi giới kết hôn trái pháp luật; phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng đối với hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính…

Các hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng bao gồm: Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Mức phạt đối với các hành vi này cũng tăng từ 100.000 - 500.000 đồng lên 1 - 3 triệu đồng.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định cụ thể đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp… như: Phạt tiền lần lượt từ 10 - 20 triệu đồng và 7 - 10 triệu đồng đối với hành vi thông đồng, dìm giá trong quá trình tham gia đấu giá và gian lận về điều kiện tham gia đấu giá tài sản…



04/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý tổ chức Hội nghị tập huấn cho cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụngHội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý tổ chức Hội nghị tập huấn cho cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng
Ngày 25/9/2013, tại hội trường Văn phòng Tỉnh ủy Bến Tre, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh (Hội đồng) tổ chức Hội nghị tập huấn kiến thức pháp luật về trợ giúp pháp lý (TGPL) cho cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng. Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, Ủy viên Hội đồng; ông Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh đến dự...

Ngày 25/9/2013, tại hội trường Văn phòng Tỉnh ủy Bến Tre, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh (Hội đồng) tổ chức Hội nghị tập huấn kiến thức pháp luật về trợ giúp pháp lý (TGPL) cho cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng. Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, Ủy viên Hội đồng; ông Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh đến dự. Tham dự buổi tập huấn có các thành viên Hội đồng; các Điều tra viên, cán bộ Nhà tạm giữ, cán bộ Trại giam thuộc Công an tỉnh; Công an, Nhà tạm giữ cấp huyện; Trại giam Bình Phú; Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, huyện; lực lượng biên phòng thuộc Đồn Biên phòng 3 huyện ven biển (Cổ Chiên, Hàm Luông, Cửa Đại); các Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Bến Tre.

Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, Ủy viên Hội đồng triển khai Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của liên Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng (Thông tư liên tịch số 11). Ông Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh triển khai chuyên đề về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật.


Thông tư liên tịch số 11 quy định rõ hơn về phạm vi  điều chỉnh, đối tượng áp dụng; trách nhiệm của tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL; trách nhiệm của người có thẩm quyền và cơ quan tiến hành tố tụng, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ; cấp, từ chối, thu hồi và hiệu lực của giấy chứng nhận tham gia tố tụng…Thông tư này thay thế Thông tư 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP- BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 của liên Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng

Lớp tập huấn nhằm trang bị cho cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng những kiến thức pháp luật về TGPL và những kỹ năng cần thiết để hoạt động phối hợp TGPL trong thời gia tới thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đạt hiệu quả và kết quả ngày càng tốt hơn.

02/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức tập huấn cho chuyên viên, Trợ giúp viên và Cộng tác viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức tập huấn cho chuyên viên, Trợ giúp viên và Cộng tác viên
Ngày 27/9/2013, tại hội trường Văn phòng Tỉnh ủy, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng trợ giúp pháp lý cho chuyên viên, Trợ giúp viên pháp lý và Cộng tác viên của Trung tâm.

Ngày 27/9/2013, tại hội trường Văn phòng Tỉnh ủy, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng trợ giúp pháp lý cho chuyên viên, Trợ giúp viên pháp lý và Cộng tác viên của Trung tâm.


Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Phó Giám đốc Sở Tư pháp báo cáo 2 chuyên đề về Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2012; ông Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh báo cáo chuyên đề về kỹ năng tư vấn pháp luật.


Lớp tập huấn nhằm trang bị cho người thực hiện trợ giúp pháp lý những kiến thức về trợ giúp pháp lý; về trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý và kiến thức pháp luật một số lĩnh vực liên quan đến đời sống của người dân và nâng cao hơn nữa các kỹ năng trợ giúp pháp lý.

01/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khiếu nại hành chính về đất đaiKhiếu nại hành chính về đất đai
Quyền khiếu nại là một trong những quyền thể hiện rõ và cơ bản nhất của công dân được quy định tại Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” đã thể hiện rõ đường lối, chủ trương của Đảng, của Nhà nước ta là luôn đề cao nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền con n...

Quyền khiếu nại là một trong những quyền thể hiện rõ và cơ bản nhất của công dân được quy định tại Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” đã thể hiện rõ đường lối, chủ trương của Đảng, của Nhà nước ta là luôn đề cao nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền con người, nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện pháp luật.

Đất đai vốn là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, giáo dục, quốc phòng và an ninh. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ít nhiều đã ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất của người dân cũng như quá trình quản lý đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến việc công dân khiếu nại hành chính về đất đai ngày càng tăng và diễn biến rất phức tạp.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Và như vậy, khiếu nại hành chính về đất đai là: Việc công dân, tổ chức, cơ quan đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình trong quá trình quản lý và sử dụng đất.

Công dân có thể thực hiện quyền khiếu nại của mình thông qua các hình thức theo quy định tại Điều 8, Khoản 1 Điều 12 Luật Khiếu nại năm 2011 và Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại năm 2011 như sau: Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại, đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Khiếu nại hiện hành.

Khi nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung của vụ việc thì thực hiện như sau: Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Khiếu nại năm 2011, việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật Khiếu nại năm 2011. Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Khiếu nại năm 2011, có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải là một trong những người khiếu nại, có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại hiện hành.

Để thực hiện quyền khiếu nại của mình và được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý về đất đai giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật, đúng thẩm quyền tránh vượt cấp và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì mỗi công dân chúng ta cần xác dịnh đúng đối tượng khiếu nại hành chính về đất đai. Theo quy định tại Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai xác định đối tượng bị khiếu nại về đất đai là các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính. Quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất.

Ngoài ra theo quy định tại Điều 264 Luật Tố tụng hành chính năm 2010, nếu người dân không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các giấy tờ quy định tại Khoản 1, 2 và Khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai hiện hành thì vẫn có quyền khiếu nại. Như vậy, sau khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khiếu nại cũng là một trong những quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại.

Tại Khoản 2 Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định về hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 162 Nghị định này là đối tượng bị khiếu nại hành chính về đất đai.

07/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoàiQuy trình đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài



PHÒNG HỘ TỊCH

QUY TRÌNH

ĐĂNG KÝ KHAI TỬ

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Người soạn:



Nguyễn Thị Ngọc Huệ

Người kiểm tra:



Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt:



Trần Lương Phổ

1. Mục đích

Công khai việc giải quyết hồ sơ về đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài, giúp người dân biết một cách rõ ràng, cụ thể về quá trình giải quyết hồ sơ.

2. Phạm vi áp dụng


Quy trình này áp dụng cho việc đăng ký khai tử cho người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam (trừ trường hợp đăng ký khai tử cho người nước ngoài hoặc người không quốc tịch cư trú ổn định lâu dài tại Việt Nam ).

3. Tài liệu áp dụng

  • Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch;
  • Quy chế tổ chức và hoạt động của Sở Tư pháp ngày 03/10/2005
  • Bảng hướng dẫn về thủ tục đăng ký khai tử có yếu tố nước ngoài.

4. Nội dung chính

Trình tự

Nội dung công việc

Trách nhiệm

Thời gian


- Hướng dẫn và thụ lý hồ sơ, đề xuất ý kiến trình lãnh đạo phòng

- Chuyên viên tiếp nhận

Thời hạn giải quyết hồ sơ là sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ.

- Xét duyệt hồ sơ trình lãnh đạo Sở

- Nhập dữ liệu vào máy, đánh máy Giấy chứng tử

- Kiểm tra hồ sơ, Giấy chứng tử

-Lãnh đạo Phòng

- Chuyên viên thẩm tra

- Chuyên viên đánh máy

- Chuyên viên thẩm tra

- Ký Giấy chứng tử

- Chuyển VP Sở đóng dấu

- Phó Giám Đốc 2

- Chuyên viên thẩm tra

- Cấp Giấy chứng tử

- Chuyên viên tiếp nhận

- Lưu hồ sơ

- Chuyên viên thẩm tra

5. Biểu mẫu:

  • Giấy báo tử ;
  • Bản chính Giấy chứng tử ;
  • Bản sao Giấy chứng tử ;
  • Sổ đăng ký khai tử.
08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của trợ giúp viên, luật sư cộng tác viên 6 tháng đầu năm 2014Sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của trợ giúp viên, luật sư cộng tác viên 6 tháng đầu năm 2014
Ngày 14 tháng 7 năm 2014, Trung tâm Trợ giúp pháp lý (TGPL) nhà nước tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư cộng tác viên sáu tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự và phát biểu tại hội nghị.

Ngày 14 tháng 7 năm 2014, Trung tâm Trợ giúp pháp lý (TGPL) nhà nước tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư cộng tác viên sáu tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự và phát biểu tại hội nghị.

Sáu tháng qua, Trung tâm đã cử Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng là 207 vụ việc cho 207 đối tượng được TGPL. Trong đó, có 109 vụ án hình sự, 33 vụ việc dân sự, 26 vụ đất đai, 32 vụ hôn nhân gia đình, 07 vụ hành chính. Trong đó, các Trợ giúp viên thực hiện bào chữa, bảo vệ 127 vụ việc và cử Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ cho 80 trường hợp.

Nhìn chung thời gian qua, Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh đã có các giải pháp tác động để các cơ quan tiến hành tố tụng trong tỉnh tạo điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều cho các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng. Mặt khác, khi tham gia tố tụng các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên nâng cao tinh thần trách nhiệm, luôn đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng theo quy định pháp luật. Cụ thể là khi được phân công thực hiện TGPL, các Luật sư cộng tác viên đã chủ động đến với Trung tâm TGPL để nhận quyết định cử Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng đảm bảo đúng nguyên tắc, yêu cầu, thời gian, trình tự thủ tục, góp phần nâng cao chất lượng TGPL trong hoạt động tố tụng.


Phát biểu tại hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đánh giá cao kết quả hoạt động tham gia tố tụng của các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên đã có sự khởi sắc, hướng đến mục tiêu chất lượng và tính phục vụ đến người dân, đó là những người thiệt thòi của xã hội rất cần sự hỗ trợ của nhà nước, cụ thể là rất cần sự TGPL của Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên. Tuy nhiên, Giám đốc Sở Tư pháp cũng lưu ý thời gian tới Trung tâm TGPL cần tăng cường bồi dưỡng, đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ tham gia tố tụng và các văn bản mới cho đội ngũ Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên hơn nữa. Cùng với việc thực hiện tốt việc đánh giá thực chất, sát với bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL. Từ đó, rút ra những kinh nghiệm để ngày càng nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên hơn nữa. Ông cũng đề nghị các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên bằng hoạt động tác nghiệp của mình, luôn hướng đến chất lượng, giữ vững uy tín, thương hiệu cá nhân, tổ chức mình để phục vụ ngày càng tốt hơn đối tượng, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt đối tượng.

17/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đừng để mỡ treo miệng mèoĐừng để mỡ treo miệng mèo
Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát. Người thực hiện hành vi có hành động rất nhanh, nhanh chống giật lấy tài sản của người khác rồi cũng nhanh chống tẩu thoát. Sau đó là để lại cho người bị cướp giật sự bất ngờ và đôi khi còn để lại hậu quả nghiêm trọng.
Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát. Người thực hiện hành vi có hành động rất nhanh, nhanh chống giật lấy tài sản của người khác rồi cũng nhanh chống tẩu thoát. Sau đó là để lại cho người bị cướp giật sự bất ngờ và đôi khi còn để lại hậu quả nghiêm trọng.

Hiện nay tình trạng cướp giật diễn biến rất phức tạp, có nhiều vụ cướp giật rất táo tợn, cướp giật ngay cả ban ngày, ngay cả những chỗ đông người, hễ thấy có cơ hội, có “con mồi” là thực hiện ngay hành vi bất chấp hậu quả sau đó là như thế nào, miễn là có tiền để tiêu xài. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng cướp giật ngày càng gia tăng.

Thứ nhất là do từ phía người thực hiện hành vi cướp giật tài sản, đa số người này ở lứa tuổi thanh thiếu niên, do không được sự chăm sóc, dạy dỗ, quan tâm của gia đình và do nhu cầu tiêu xài của đối tượng này đôi khi lại rất cao vì phải chi cho nhiều hoạt động ăn chơi như: sử dụng ma túy, tiêu xài cá nhân, ăn chơi nhậu nhẹt, chơi game online, …đôi lúc còn muốn kiếm tiền để “chơi cho oai” để không thua bạn bè.

Ảnh minh họa

Một nguyên nhân khác cũng rất quan trọng đó là xuất phát từ chính người bị cướp giật. Đã gọi là cướp giật tài sản thì người nào có tài sản mới là đối tượng nằm trong tầm nhắm của người phạm tội, mà đối tượng thường xuyên bị cướp giật đó là chị em phụ nữ, họ thường xuyên đeo trang sức đắt tiền khi ra đường, mất cảnh giác khi mang túi xách và nói chuyện điện thoại trên đường (không riêng phụ nữ mà cả nam giới). Đúng là “người đẹp vì lụa”, khi chị em sính lên người những bộ trang sức thì trông thật rạng rỡ, kiêu sa. Nhất là khi có đám tiệc chị em thường đeo trang sức vào để tô thêm vẽ đẹp của mình, nhưng nếu như tài sản bị cướp giật là tài sản của chính người bị giật thì cũng xót nhưng mất rồi thì khi nào có tiền sẽ mua lại, nhưng ngặt một nỗi có người lại muốn đeo trang sức cho có chị có em, mình cũng đẹp như bao người khác nên đã “mượn vàng” để đeo vào những dịp đám tiệc … kết quả là mất hết mà lại phải “còng lưng kiếm tiền” mà mua lại để trả cho người ta. Éo le nhất vẫn là những em nhỏ, mặc dù nhà trường đã ra sức cấm, cảnh báo không cho các em đeo trang sức khi đến trường vì các em thường xuyên là đối tượng “bị để mắt” của bọn tội phạm, các em không thể tự vệ nên rất dễ bị cướp giật, vậy mà vẫn có những bậc phụ huynh vẫn cứ nhất nhất cho đeo vì cho rằng “có mà không cho nó đeo tội nghiệp”, chính vì vậy mà họ đã vô tình làm tăng sự nguy hiểm đến với các em. Khi em thì “giữ của” kẻ thì muốn giật, từ hành vi cướp giật tài sản đối tượng có thể chuyển sang hành động hung bạo hơn để cướp cho bằng được tài sản vì vậy mà hậu quả thật khôn lường. Đã có một số vụ từ cướp giật tài sản chuyển sang giết người vì kẻ phạm tội muốn giật bằng được tài sản, còn người bị cướp giật thì cố giữ tài sản của mình.

Tài sản ví như một miếng mỡ, kẻ phạm tội ví như một con mèo, mà mèo nào thấy mỡ mà chẳng mê, vì vậy mà người có tài sản “đừng để mỡ treo miệng mèo” đến khi sự việc xãy ra thì đã không còn kịp lúc.

21/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Chống người thi hành công vụ lãnh án 2 năm tù giamChống người thi hành công vụ lãnh án 2 năm tù giam
Sáng ngày 28 tháng 5 năm 2014, tại sân Uỷ ban nhân dân xã Hưng Khánh Trung B, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách tổ chức xét xử lưu động đối với bị cáo Nguyễn Bá Cường, sinh năm 1992, đăng ký thường trú tại ấp Phú Hưng, xã Hưng Khánh Trung B, về tội chống người thi hành công vụ; cố ý dùng hung khí gây thương tích cho lực lượng Công an xã, có hơn 100 người dân đến xem. Nguyễn Bá Cường đã khai nhận h...

Sáng ngày 28 tháng 5 năm 2014, tại sân Uỷ ban nhân dân xã Hưng Khánh Trung B, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách tổ chức xét xử lưu động đối với bị cáo Nguyễn Bá Cường, sinh năm 1992, đăng ký thường trú tại ấp Phú Hưng, xã Hưng Khánh Trung B, về tội chống người thi hành công vụ; cố ý dùng hung khí gây thương tích cho lực lượng Công an xã, có hơn 100 người dân đến xem. Nguyễn Bá Cường đã khai nhận hoàn toàn hành vi phạm tội của mình và Hội đồng xét xử tuyên phạt Nguyễn Bá Cường  2 (hai) năm tù giam.

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát, sau khi Cường và người bạn tên Nguyễn Văn Công Đỉnh ở xã Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc cùng nhau uống rượu tại chợ Ba Vát xong, thì Cường kiêu Đỉnh chở Cường về nhà ở ấp Phú Hưng để nhậu tiếp, nhưng khi về tới nhà Cường nổi máu côn đồ dùng mã tấu đi tìm người gây chuyện để chém. Khoảng 18 giờ ngày 8 tháng 4 năm 2013, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân là Cường đi gây sự chém người tại ấp Phú Hưng thì anh Trần Minh Hiếu, Trưởng Công an xã Hưng Khánh Trung B phân công anh Võ Minh Hòa, Phó Công an xã cùng anh Phùng Văn Lượm (tên thường gọi Tùng) Công an viên phụ trách địa bàn ấp Phú Hưng đến hiện trường và ra hiệu lệnh cho Cường dừng xe và giao nộp hung khí, nhưng Cường không chấp hành và có thái độ chống trả lại lực lượng công an thi hành nhiệm vụ. Ngay lúc đó anh Hòa, Phó Công an xã liền khống chế Cường và Cường dùng mã tấu dài 73 cm, lưỡi dài 58 cm, cán dài 15 cm đâm vào đùi phải anh Hòa và cắn vào tay trái anh Hòa và làm đứt sợ dây chuyền vàng của anh Hòa. Theo kết quả giám định pháp y tỷ lệ thương tật của anh Hòa là 2%.

Được biết Cường chỉ học lớp 01(một), đã có tiền án, tiền sự như vào ngày 5 tháng 4 năm 2011 Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tuyên phạt Cường 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo về tội cố ý gây thương tích; vào ngày 22 tháng 10 năm 2012 Công an xã Hưng Khánh Trung B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng đối với hành vi uống rượu đánh nhau với người khác (chưa chấp hành xong).

13/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Xung quanh việc phải đăng ký biển số cho xe máy điệnXung quanh việc phải đăng ký biển số cho xe máy điện
Ngày 04/4/2014, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 15/2014/TT-BCA  quy định về đăng ký xe, có hiệu lực từ ngày 01/6/2014. Theo đó, chủ sở hữu xe máy điện phải đăng ký biển số tại các điểm đăng ký xe của cảnh sát giao thông giống như đăng ký xe ôtô, xe môtô, xe gắn máy mới được lưu thông trên đường.

Ngày 04/4/2014, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 15/2014/TT-BCA  quy định về đăng ký xe, có hiệu lực từ ngày 01/6/2014. Theo đó, chủ sở hữu xe máy điện phải đăng ký biển số tại các điểm đăng ký xe của cảnh sát giao thông giống như đăng ký xe ôtô, xe môtô, xe gắn máy mới được lưu thông trên đường.

Hiện nay, nhiều người dân lo lắng là nếu không đăng ký xe máy điện có phải bị xử phạt vi phạm hành chính hay không. Đây là vấn đề không mới, vì theo Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 và Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt cũng đã quy định xử phạt từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với hành vi không đăng ký xe máy điện. Như vậy, Thông tư số 15/2014/TT-BCA của Bộ Công an chỉ bổ sung quy định về đăng ký xe máy điện cho phù hợp với thực tiễn.

Hiện tại có nhiều người mua xe máy điện về sử dụng đã lâu nhưng vẫn chưa đăng ký, mặt khác họ cũng không còn hóa đơn, hay bất cứ giấy tờ gì để chứng nhận nguồn gốc xe thì việc đăng ký xe máy điện của họ sẽ được giải quyết ra sao. Căn cứ Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Thông tư số 06/2009/TT-BCA của Bộ Công an (có hiệu lực ngày 01/7/2009), Thông tư số 36/2010/TT-BCA quy định về đăng ký xe (có hiệu lực ngày 06/12/2010) cũng đã quy định xe máy điện phải đăng ký như các xe cơ giới khác. Thủ tục hồ sơ đăng ký xe máy điện là tương tự như các loại xe mô tô, xe máy khác. Hiện nay, Thông tư số 15/2014/TT-BCA tiếp tục kế thừa các văn bản trên, và có bổ sung một số điều cho phù hợp. Theo đó, quy định xe máy điện nhập khẩu phải có giấy tờ chứng nhận chất lượng hoặc thông báo miễn kiểm tra chất lượng do Cục Đăng kiểm cấp; đối với xe sản xuất trong nước thì có phiếu kiểm tra xuất xưởng. Riêng hóa đơn mua bán xe là để xác định quyền sở hữu, đó là một trong các giấy tờ xác định nguồn gốc hợp pháp của xe.

Đối với xe đã sử dụng trước ngày 01/7/2009, nếu người sử dụng xe không còn giấy tờ chứng minh nguồn gốc xe hợp pháp thì phải viết đơn cam kết có xác nhận của chính quyền địa phương, để cơ quan công an xem xét, kiểm tra, xác minh và cấp giấy đăng ký. Tuy nhiên, đối với những xe máy điện đã mua và sử dụng từ ngày 01/7/2009 đến nay mà không đầy đủ giấy tờ vừa nêu, như: không có hóa đơn mua hàng, không có chứng từ kiểm tra chất lượng đối với xe nhập khẩu, không có phiếu kiểm tra chất lượng đối với xe lắp ráp trong nước thì sẽ không thể đăng ký. Trường hợp này, chủ xe máy điện có thể đến cửa hàng đã bán xe cho mình, yêu cầu họ trích lục tờ khai hải quan, giấy xuất xứ có sao y đối với xe nhập khẩu, hoặc cấp giấy xuất xưởng, hóa đơn bán hàng để làm thủ tục đăng ký.

Nhiều người còn băn khoăn thế nào là xe máy điện, thế nào là xe đạp điện để đăng ký. Để phân biệt, chúng ta  phải căn cứ vào hai Quy chuẩn kỹ thuật sau: Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với môtô, xe gắn máy được Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định, xe máy điện là loại xe có động cơ điện công suất lớn nhất không lớn hơn 4kW. Còn xe đạp điện thì có Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xe đạp điện của Bộ Giao thông vận tải quy định: xe đạp điện là loại xe có vận tốc thiết kế lớn nhất không quá 25km/h và khối lượng xe bao gồm cả bình ắcquy không vượt quá 40kg. Xe được vận hành bằng động cơ điện một chiều, có công suất không quá 250W hoặc được vận hành bằng cơ cấu đạp bằng chân, có trợ lực bằng động cơ điện một chiều. Căn cứ vào hai quy chuẩn này, người dân sẽ phân biệt được đâu là xe đạp điện, đâu là xe máy điện.

Theo các chuyên gia thì chúng ta cũng có thể phân biệt bằng mắt thường xe máy điện khác xe đạp điện ở một số điểm như: xe máy điện thì có số khung, số máy, có đồng hồ đo tốc độ, nhưng không có giò đạp…

12/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Cá ảo tiền thậtCá ảo tiền thật
Nơi tôi ở là một dãy phố có rất nhiều cửa hàng mua bán đông đúc. Tuy nhiên, cả tháng nay có một sự việc lạ xảy ra là người mua thì vẫn đến mua hàng nhưng người bán thì đã lơ là việc bán buôn. Một số cửa hàng thì người mua cứ đứng kêu chủ hàng ra bán nhưng lâu thật lâu mới thấy chủ hàng về bán hoặc người mua đợi lâu quá họ tự đi nơi khác để mua hàng. Chắc hẳn mọi người đang thắc mắc tại sao chủ...

Nơi tôi ở là một dãy phố có rất nhiều cửa hàng mua bán đông đúc. Tuy nhiên, cả tháng nay có một sự việc lạ xảy ra là người mua thì vẫn đến mua hàng nhưng người bán thì đã lơ là việc bán buôn. Một số cửa hàng thì người mua cứ đứng kêu chủ hàng ra bán nhưng lâu thật lâu mới thấy chủ hàng về bán hoặc người mua đợi lâu quá họ tự đi nơi khác để mua hàng. Chắc hẳn mọi người đang thắc mắc tại sao chủ các cửa hàng lại không thiết tha việc mua bán vì đã mở cửa hàng thì quan trọng là bán được hàng.

Trong một lần đi mua đồ dùng trong nhà tại một cửa hàng, tôi đã tình cờ giải đáp được thắc mắc trên, sau một hồi lâu đứng gọi chủ tiệm thì Chị chủ mới chạy về từ một tiệm chơi game gần đó để bán hàng cho tôi. Do Chị chủ cũng là chỗ quen biết nên tôi hỏi vui là Chị kêu con đi chơi game về hay sao mà ở đó. Chị cho biết  tiệm game đó mới mở chỉ có một trò chơi duy nhất nhưng rất thú vị, chơi rồi là dính vào đó, không phải chỉ có trẻ em mà người lớn cũng rất mê; mấy người bán hàng ở đây cũng đến đó chơi, trò chơi đó là Game Bắn cá.

Trên đường về nhà, tôi cứ suy nghĩ về những điều Chị chủ cửa hàng nói lúc nãy, tôi để ý đến ba từ Game Bắn cá và bất ngờ nhận ra trên con đường từ cửa hàng về đến nhà tôi chỉ khoảng 5km lại có đến 4 nơi treo bảng “Game Bắn cá giải trí” và rất đông người chơi. Trò chơi Game Bắn cá mà tôi nhìn thấy đó là một trò chơi điện tử được chơi trên máy bắn cá, nhìn giống như cái bàn hình chữ nhật, bốn cạnh được thiết kế nút chỉnh, ngắm bắn cá, ở mặt bàn là kính trong suốt nhìn vào bên trong thấy có rất nhiều cá, sinh vật biển như dưới lòng đại dương. Một máy ở tiệm có thể cho 06 người chơi cùng một lúc. Về cách chơi thì người chơi chỉ cần mua thẻ tại tiệm, mỗi thẻ sẽ quy ra một số điểm nhất định, cho càng nhiều thẻ vào máy thì sẽ càng nhiều điểm. Tại vị trí người chơi sẽ có hai nút điều khiển, một nút dùng để ngắm bắn cá, một nút dùng để chọn loại đạn, nếu chọn đạn lớn sẽ bắn được cá to nhưng số điểm bị trừ nếu bắn trật sẽ nhiều, còn nếu bắn trúng sẽ được cộng điểm. Khi người chơi ngừng chơi thì nhấn nút xả để lấy lại thẻ. Khi tham gia trò chơi mắt, đầu óc người chơi đã tập trung vào màn hình nhìn những chú cá bơi qua bơi lại, tay thì nhấn nút điều khiển với mục đích bắn trúng cá nên số điểm quy ra từ thẻ của họ sẽ mau chóng hết vì tỷ lệ bắn trúng cá luôn thấp hơn bắn trật. Chính vì sự mê mẩn đó nên họ sẽ mua thêm nhiều thẻ để chơi. Một người chơi đã cho tôi biết nếu em trở thành người chơi thường xuyên thì em sẽ biết được nhiều điều thú vị hơn dù có ngày thua ngày thắng vài trăm đến cả triệu đồng.

Với tiêu chí là trò chơi giải trí lành mạnh, thiết nghĩ đối với trẻ em thì gia đình cần giới hạn và giáo dục cho trẻ lúc nào được phép tham gia và chơi trong khoảng thời gian bao lâu nhằm tránh tình trạng trẻ bị nghiện game ảnh hưởng đến học tập, sức khỏe và các hệ lụy như nói dối để xin tiền hoặc có thể trộm cắp hoặc dễ bị người khác dụ dỗ làm việc sai trái để có tiền chơi game. Còn đối với người lớn nếu mê mẩn chơi game sẽ bỏ bê công việc, không quan tâm giáo dục con cái; tiền bạc ra đi theo những con cá ảo, kéo theo hệ lụy đáng tiếc như nợ nần, gia đình từ đó sẽ dẫn đến mất hạnh phúc…

Vui chơi giải trí là nhu cầu thiết yếu của con người, một ngày lao động vất vả, đầu óc căng thẳng nếu được thư giản qua các hình thức giải trí để lấy lại tinh thần hẳn là một điều vô cùng tốt lành. Tuy nhiên, giải trí như thế nào là có ích thật sự, vừa mang tính chất thư giản vừa không gây thiệt hại về mặt vật chất, chơi để giải trí nhưng không “nghiện”,  hoang phí tiền bạc hay bỏ bê công việc, học hành mới là điều quan trọng.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hai vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 ngườiHai vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người
Trong tuần (từ ngày 20/5 đến 26/5/2014), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ va chạm giao thông, làm bị thương 02 người và 02 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người, như:

 

Trong tuần (từ ngày 20/5 đến 26/5/2014), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ va chạm giao thông, làm bị thương 02 người và 02 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người, như:

- Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, lúc 12 giờ, ngày 22/5/2014, trên Đại lộ Đồng Khởi, thuộc địa bàn phường Phú Khương, thành phố Bến Tre. Bà Đặng Thị Thu Hà, sinh năm 1965, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành điều khiển xe mô tô lưu thông theo hướng từ vòng xoay Phú Khương về phường 4, đến khu vực trên thì đụng vào xe lăn (3 bánh) do ông Nguyễn Văn Hai, sinh năm 1931, phường 5, thành phố Bến Tre điều khiển lưu thông cùng chiều. Nguyên nhân do bà Hà điều khiển phương tiện vượt xe không đảm bảo an toàn, làm ông Hai bị thương vùng đầu, sau đó chết tại bệnh viện.

- Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, lúc 19 giờ, ngày 25/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc. Ông Lê Thành Trung, sinh năm 1987, huyện Măng Thích, tỉnh Vĩnh Long, điều khiển xe ô tô khách lưu thông theo hướng từ thành phố Bến Tre đi qua khu trên thì đụng vào xe đạp do ông Trần Văn Bự, sinh năm 1968, xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc điều khiển, làm ông Bự tử vong tại hiện trường. Nguyên nhân do ông Bự điều khiển xe chạy ngược chiều.

- Vụ va chạn giao thông, lúc 9 giờ, ngày 20/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú. Ông Trần Minh Hồ, sinh năm 1979, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, điều khiển ô tô tải lưu thông theo hướng từ huyện Mỏ Cày Nam đi huyện Thạnh Phú, qua khu vực trên va chạm với xe mô tô do bà Lê Thị Mỹ Tiên, sinh năm 1991, xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú điều khiển xe mô tô theo hướng  ngược lại. Nguyên nhân do ông Hồ điều khiển phương tiện chạy lấn tuyến, làm Tiên bị thương tại vùng đầu

- Vụ va chạn giao thông, lúc 21 giờ 50 phút, ngày 24/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc. Ông Lê Vũ Hòa, sinh năm 1979, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, điều khiển xe mô tô theo hướng Cầu Hòa Lộc đi Cầu Mỏ Cày, khi đến khu vực trên va chạm với xe tải, do ông Trần Văn Du, sinh năm 1978, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, lưu thông theo hướng ngược lại, làm ông Lê Thị Hòa bị thương. Nguyên nhân do ông Hòa điều khiển phương tiên không đúng phần đường quy định.

Ngoài ra, lực lượng Cảnh sát giao thông đã ra quyết định xử phạt 878 trường hợp vi phạm hành chính trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, trong đó lỗi vị phạm do uống rượu, bia vượt quá nồng độ cồn cho phép là 159 trường hợp, chạy qua tốc độ 108 trường hợp, không có giấy phép lái xe 275 trường hợp, chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô trên 50cm3 36 trường hợp, khôngđội muxc bảo hiểm 95 trường hợp, điều khiển phương tiện đi không đúng phần đường quy định 29 trường hợp, chở quá tải 39 trường hợp…

Nguyên nhân, do lỗi chủ quan của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông; ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn giao thông của phần lớn người ttham gia giao thông vi phạm trật tự an toàn giao thông còn rất hạn chế.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn