Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ - Phòng Xây dựng Văn bản QPPL
Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.  
 
Thực hiện Kế hoạch kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú, Tổ kiểm tra theo dõi thi hành pháp luật huyện đã tổ chức kiểm tra việc thi hành pháp luật thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với 5 đơn vị gồm: Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện, xã Phú khánh, xã An Nhơn, xã Thạnh Phong và xã Thạnh Hải. 
 
Ngày 06 tháng 02 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Đồng thời, ngày 15 tháng 6 năm 2013 Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng ban hành Thông tư số 09/2013/TT-BTP quy định chi tiết thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2013. Để triển khai kịp th... 
 
Thực hiện Quyết định số 1934/QĐ-BTP ngày 25 tháng 7 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời đánh toàn diện kết quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2003-2013 trên địa bàn tỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến công ... 
 
Nhằm thực hiện tốt Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính trong đó có Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; đồng thời đảm bảo việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh đượ... 
 
Thực hiện Kế hoạch số 744/KH-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành từ năm 1976 đến ngày 31 tháng 12 năm 2012, Sở Tư pháp đã phối hợp với các sở, ngành tỉnh tiến hành rà soát đạt yêu cầu kế hoạch đề ra. 
 
Xuất phát từ tình trạng dạy học trước chương trình lớp 1 xảy ra ở một số địa phương đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội. Đồng thời, trên cơ sở dạy học trước chương trình lớp 1 là phản khoa học, gây khó khăn trong việc tổ chức dạy học lớp 1, vì sẽ làm trẻ chủ quan, giảm hứng thú học tập khi vào học lớp 1, ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ, nhất là khi ngư... 
 
Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực t... 
 
Đó là một trong những nội dung được quy định trong Thông tư số 11/2013/TT-BCA của Bộ Công an vừa mới ban hành ngày 01 tháng 3 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP và Nghị định số 71/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. 
 
Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngày 04/3/2013, UBND tỉnh Bến Tre đã ký ban... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Sơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dânSơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dân
Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Văn Tuân, Tỉnh ủy viên, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh trình bày báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân (03/3/2009 – 03/3/2013) của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Hội nghị đã nghe nhiều ý kiến tham luận về công tác phối hợp thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân, đã thông nhất cơ bản nội dung báo cáo; các ngành, địa phương đã phối hợp phố biến về mục đích, ý nghĩa Ngày Biên phòng toàn dân, gắn với việc triển khai Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Biên phòng, Nghị định 161/2003 về Quy chế khu vực biên giới biển… với nhiều hình thức sinh động, phối hợp thực hiện Chuyên mục “Vì chủ quyền an ninh biên giới”, Chuyên trang “Quốc phòng toàn dân”, tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về biên giới quốc gia”.


Phối hợp với ngành công an điều tra, xác minh làm rõ 96/111 vụ án hình sự, đưa ra xử lý hành chính 149 đối tượng. Phối hợp thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; tổ chức nhiều cuộc diễn tập, ứng phó tình huống có thể xảy ra; kịp thời kêu gọi, thông báo tình hình bão, áp thấp nhiệt đới; tổ chức giúp dân khắc phục hậu quả lốc xoáy, lụt bão…

Quan tâm xây dựng, củng cố các công trình phòng thủ bảo vệ biên giới sát hợp với yêu cầu, sẵn sàng chiến đấu; chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng biên phòng vững mạnh toàn diện. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân được vững chắc.

Vận động xây dựng  368 căn nhà “Đại đoàn kết”, 270 căn nhà “Tình thương”, 36 căn nhà “Tình nghĩa”, 07 căn nhà “Nhân ái”, 08 căn nhà “Đồng đội” trị giá 17 tỷ đồng; tặng hơn 2.000 phần quà cho học sinh nghèo hiếu học trị giá trên 500 triệu đồng.

Phối hợp các ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức họp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng gắn với Ngày Biên phòng toàn dân. Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao bước đầu tạo được sinh khí Ngày Biên phòng toàn dân, có ý nghĩa giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ biên giới biển.


Kết luận Hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Võ Thành Hạo đánh giá cao kết quả tổ chức thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân; đồng thời lưu ý trong thời gian tới Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể liên quan tiếp tục phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Ngày Biên phòng toàn dân, thực sự trở thành ngày hội toàn dân; phát động phòng trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc; đề cao cảnh giác, phòng, chống có hiệu quả âm mưu, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các loại đối tượng ở khu vực biên giới biển; tiếp tục triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế biển, xây dựng nông thôn mới, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh; chăm lo gia đình chính sách, thực hiện công tác giảm nghèo; phối hợp các ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến sâu rộng Ngày Biên phòng toàn dân; xây dựng lực lượng biên phòng vững mạnh về tư tưởng, tổ chức; không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

19/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thuQuy định mới về bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu
Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, ngày 01 tháng 7 năm 2013, Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre gặp không ít khó khăn trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tịch thu sung công. Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm ...

Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, ngày 01 tháng 7 năm 2013, Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre gặp không ít khó khăn trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tịch thu sung công. Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 quy định việc chuyển giao tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh hoặc Hội đồng bán đấu giá của cấp huyện để thực hiện việc bán đấu giá; trong khi đó Doanh nghiệp bán đấu giá không được thực hiện bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tịch thu sung công đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp.

Nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc và sự bất bình đẳng trong hoạt động bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Theo đó tại điểm đ, khoản 1 Điều 82 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu thì tiến hành thuê tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm để thực hiện việc bán đấu giá; trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá thì thành lập hội đồng để bán đấu giá đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu.


Quy định trước đây về thời hạn xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu tại khoản 1, Điều 36 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP của Chính phủ thì trong thời hạn 10 ngày, cơ quan ra quyết định tịch thu phải chuyển giao tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để bán đấu giá, với số lượng tài sản chuyển giao rất nhỏ, không đáng kể và số tiền có được từ bán đấu giá tài sản đôi khi không đủ trả chi phí cho việc tổ chức, điều hành cuộc bán đấu giá tài sản. Để đảm bảo tài sản chuyển giao với số lượng lớn, đủ trang trải chi phí cho quá trình định giá, chi phí chi trả cho hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; khoản 1 Điều 12 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định thời hạn kéo dài thêm là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì cơ quan ra quyết định tịch thu phải ký hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính.

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp và quan trọng nhất là các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp được thu phí bán đấu giá theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 9 Thông tư số 173/TT-BTC ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính có hiệu lực ngày 05 tháng 01 năm 2014.

Để góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động bán đấu giá các loại tài sản trên địa bàn tỉnh nói chung, tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nói riêng, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre có Công văn số 2319/STP-BTTP ngày 26 tháng 12 năm 2013 về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính trong bán đấu giá tài sản. Sở Tư pháp đề nghị lãnh đạo các Sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc tổ chức thực hiện tốt Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòngTổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng
Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo: Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân 3 huyện Biên biển (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú), thành phố Bến Tre; lãnh đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Đồn Biên phòng Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên; các phòng, đơn vị trực thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.

Đại tá Nguyễn Thành Trí, Phó Chỉ huy trưởng – Tham mưu trưởng, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh nêu rõ: Qua 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống tổ chức bộ máy Bộ đội Biên phòng được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả; đã chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức triển khai, quán triệt Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng và các văn bản của Đảng, Nhà nước có liên quan đến công tác biên phòng; đến quốc phòng, an ninh; phòng, chống tội phạm, ma túy, buôn bán người…; gắn với phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới biển. Đặc biệt, đã phối hợp với Sở Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức học tập trên 3.000 buổi, có gần 160 nghìn lượt người tham dự. Qua tuyên truyền, học tập, nhận thức về bảo vệ an ninh quốc gia, phòng, chống tội phạm của đa số cán bộ và nhân dân được nâng lên, đã cung cấp cho Bộ đội Biên phòng trên 2.300 tin, trong đó có gần 1.000 tin có giá trị. Ngoài ra, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Tư lệnh vùng 2 Hải quân, Cảnh sát biển vùng 3 thực hiện tốt Quy chế phối hợp, nắm chắc diễn biến tình hình, quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng, chủ động ngăn chặn, xử lý có hiệu quả mọi hoạt động của các đối tượng. Kết quả, đã phát hiện và xử lý trên 1.000 trường hợp không khai báo tạm trú, gần 300 nhóm thanh niên gây mất trật tự; trên 1.200 tụ điểm đá gà ăn thu bằng tiền; lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 130 đối tượng; ra quyết định xử phạt hành chính trên 840 trường hợp, số tiền trên 560 triệu đồng; đề xuất địa phương xử lý gần 1.400 trường hợp, số tiền trên 1 tỷ đồng; lập hồ sơ ban đầu điều tra, xác minh làm rõ và giao Công an khởi tố 297 vụ phạm pháp hình sự; phối hợp bắt 27 đối tượng có lệnh truy nã…; góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới biển, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Hiếu đánh giá cao kết quả triển khai thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trong 15 năm qua trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đồng thời lưu ý trong thời gian tới, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các ngành, các cấp có liên quan triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, các văn bản có liên quan đến an ninh quốc gia, bảo vệ biên giới biển, phòng chống tội phạm, ma túy, trật tự xã hội…Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác biên phòng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, tập trung xây dựng các xã nông thôn mới theo kế hoạch, giải quyết các vụ việc khiếu kiện có liên quan đến đất đai, tập đoàn sản xuất, nghêu…nhằm ổn định tình hình tranh chấp khiếu kiện trong nhân dân. Bổ sung hoàn thiện Quy chế phối hợp giữa 3 lực lượng Công an, Quân sự, Biên phòng nhằm thực hiện nghiêm và có hiệu quả Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, tổ chức diễn tập, huấn luyện theo các phương án đã đề ra./.

15/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI)
Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre  đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng ch...

Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng chí thành viên của Đoàn kiểm tra, cùng tham dự có đồng chí Lê Ngọc Duệ, Phó Bí thư Đảng uỷ Khối các Cơ quan tỉnh. Về phía Đảng ủy Sở Tư pháp có đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy; các đồng chí Đảng ủy viên; lãnh đạo Sở Tư pháp và Tổ giúp việc.

Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Đảng ủy viên phụ trách công tác Tuyên giáo của Đảng ủy thay mặt Đảng uỷ Sở Tư Pháp báo cáo tình hình và kết quả lãnh, chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nghe ý kiến góp ý của các đồng chí trong Đoàn kiểm tra, của đại biểu Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc kết luận: Đảng uỷ Sở Tư Pháp có cụ thể hoá Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và các hướng dẫn, kế hoạch của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thành lập Tổ giúp việc; xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ của ngành; có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện ở các chi bộ trực thuộc. Tổ chức triển khai, quán triệt tốt các chuyên đề tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong cơ quan; đồng thời hàng tuần tổ chức kể các mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Đảng uỷ Sở Tư Pháp thực hiện khá tốt việc đưa nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của chi bộ theo Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Đặc biệt, đã thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo; chú trọng phát hiện, biểu dương những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách của Bác; kịp thời nhắc nhỡ, uốn nắn những trường hợp còn hạn chế, thiếu sót. Đảng ủy lãnh đạo thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau đợt kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI); hầu hết cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW vẫn còn một số hạn chế như: Đảng ủy chưa lãnh đạo chính quyền (cơ quan) có văn bản cụ thể hoá việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg, ngày 7/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 5570/UBND-VHXH, ngày 02/12/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ‘‘về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong đơn vị. Tổ giúp việc chưa thực hiện tốt vai trò tham mưu cấp uỷ trong việc cụ thể hoá thực hiện các văn bản chỉ đạo của cấp trên và việc triển khai thực hiện trong Đảng bộ. Nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013 ở một số cán bộ, đảng viên chưa thật cụ thể, chưa đạt yêu cầu. Chưa có giải pháp nhân rộng gương điển hình qua các năm. Báo cáo chưa nêu rõ kết quả khắc phục những hạn chế, yếu kém của các cá nhân trong Đảng uỷ qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI).

Đoàn kiểm tra cũng lưu ý Đảng ủy Sở Tư pháp cần thực hiện một số nội dung trong thời gian tới như sau:

Đảng uỷ cần tiếp tục quán triệt sâu ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và Kế hoạch số 18-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; có giải pháp cụ thể hơn nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc hàng ngày ở các chi bộ, gắn với thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của tập thể và cá nhân sau kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) ; đồng thời lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa, triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống của Ngành.

Nâng cao vai trò tham mưu của Tổ giúp việc, chỉ đạo các chi bộ hướng dẫn một số đảng viên viết lại nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề năm 2013 về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương sát chức năng, nhiệm vụ.

Lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ trực thuộc tiếp tục tuyên truyền một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sinh hoạt chi bộ, chi uỷ phân công đảng viên chuẩn bị nội dung, dành thời gian thích hợp tổ chức sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Tập trung lãnh, chỉ đạo cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò nêu gương theo Quy định 06-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, kịp thời nhắc nhỡ, phê bình những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu trong việc học tập và làm theo Bác.

Quan tâm lãnh đạo, thực hiện tốt Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên trong thực hiện việc đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm.

Cuối năm, tổ chức tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, kịp thời phát hiện tập thể, cá nhân điển hình để biểu dương, khen thưởng; quan tâm bồi dưỡng, nhân rộng, qua đó bình chọn gương điển hình tiêu biểu, làm cơ sở chuẩn bị tổ chức hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến cuối nhiệm kỳ.

27/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của trợ giúp viên, luật sư cộng tác viên 6 tháng đầu năm 2014Sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của trợ giúp viên, luật sư cộng tác viên 6 tháng đầu năm 2014
Ngày 14 tháng 7 năm 2014, Trung tâm Trợ giúp pháp lý (TGPL) nhà nước tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư cộng tác viên sáu tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự và phát biểu tại hội nghị.

Ngày 14 tháng 7 năm 2014, Trung tâm Trợ giúp pháp lý (TGPL) nhà nước tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư cộng tác viên sáu tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự và phát biểu tại hội nghị.

Sáu tháng qua, Trung tâm đã cử Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng là 207 vụ việc cho 207 đối tượng được TGPL. Trong đó, có 109 vụ án hình sự, 33 vụ việc dân sự, 26 vụ đất đai, 32 vụ hôn nhân gia đình, 07 vụ hành chính. Trong đó, các Trợ giúp viên thực hiện bào chữa, bảo vệ 127 vụ việc và cử Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ cho 80 trường hợp.

Nhìn chung thời gian qua, Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh đã có các giải pháp tác động để các cơ quan tiến hành tố tụng trong tỉnh tạo điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều cho các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng. Mặt khác, khi tham gia tố tụng các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên nâng cao tinh thần trách nhiệm, luôn đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng theo quy định pháp luật. Cụ thể là khi được phân công thực hiện TGPL, các Luật sư cộng tác viên đã chủ động đến với Trung tâm TGPL để nhận quyết định cử Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng đảm bảo đúng nguyên tắc, yêu cầu, thời gian, trình tự thủ tục, góp phần nâng cao chất lượng TGPL trong hoạt động tố tụng.


Phát biểu tại hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đánh giá cao kết quả hoạt động tham gia tố tụng của các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên đã có sự khởi sắc, hướng đến mục tiêu chất lượng và tính phục vụ đến người dân, đó là những người thiệt thòi của xã hội rất cần sự hỗ trợ của nhà nước, cụ thể là rất cần sự TGPL của Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên. Tuy nhiên, Giám đốc Sở Tư pháp cũng lưu ý thời gian tới Trung tâm TGPL cần tăng cường bồi dưỡng, đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ tham gia tố tụng và các văn bản mới cho đội ngũ Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên hơn nữa. Cùng với việc thực hiện tốt việc đánh giá thực chất, sát với bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL. Từ đó, rút ra những kinh nghiệm để ngày càng nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên hơn nữa. Ông cũng đề nghị các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên bằng hoạt động tác nghiệp của mình, luôn hướng đến chất lượng, giữ vững uy tín, thương hiệu cá nhân, tổ chức mình để phục vụ ngày càng tốt hơn đối tượng, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt đối tượng.

17/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn để bảo vệ chính mìnhĐội mũ bảo hiểm đạt chuẩn để bảo vệ chính mình
Mũ bảo hiểm như thế nào là đạt chuẩn? Đây là vấn đề mà người dân đang quan tâm và các ngành chức năng đang vào cuộc. Hiện nay trên thị trường, mũ bảo hiểm được bày bán ở rất nhiều nơi, từ những quầy hàng hay trên các lề đường, với nhiều kiểu dáng đa dạng, màu sắc đủ loại để cho người sử dụng có thể lựa chọn. Nhưng thực tế hiện nay, đa số người dân còn ít hiểu biết mũ bảo hiểm như thế nào là đạt...

Mũ bảo hiểm như thế nào là đạt chuẩn? Đây là vấn đề mà người dân đang quan tâm và các ngành chức năng đang vào cuộc. Hiện nay trên thị trường, mũ bảo hiểm được bày bán ở rất nhiều nơi, từ những quầy hàng hay trên các lề đường, với nhiều kiểu dáng đa dạng, màu sắc đủ loại để cho người sử dụng có thể lựa chọn. Nhưng thực tế hiện nay, đa số người dân còn ít hiểu biết mũ bảo hiểm như thế nào là đạt chuẩn và có chất lượng. Theo tâm lý của một số người thì việc đội mũ bảo hiểm sao cho đẹp và hợp thời trang là được, chưa quan tâm đến chất lượng mũ bảo hiểm mình đang sử dụng, hay không ít trường hợp người tham gia giao thông buộc phải đội mũ bảo hiểm là để đối phó với cơ quan chức năng mà không nghĩ là đội mũ bảo hiểm là để đảm bảo an toàn, bảo vệ chính mình và tránh được những hậu quả nghiêm trọng do tai nạn giao thông gây ra.

Mũ bảo hiểm đạt chuẩn phải có đủ các tính năng sau: Về cấu tạo mũ bảo hiểm phải có đủ 3 bộ phận gồm vỏ mũ, lớp đệm hấp thụ xung động bên trong vỏ mũ và quai đeo; mũ phải có chứng nhận hợp quy, được gắn dấu hợp quy CR, ghi nhãn hàng hoá theo quy định của pháp luật. Với những tiêu chuẩn cơ bản như trên thì đó mới có thể được xem là mũ bảo hiểm đạt chuẩn, và mới có thể bảo vệ được người đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, số lượng người đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy hiện nay đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn thì không được nhiều, còn một phần đông người tham gia giao thông còn thờ ơ, không quan tâm đến chất lượng mũ bảo hiểm mình đang sử dụng, chính vì  sự thờ ơ, không quan tâm đó đã dẫn đến không ít những hậu quả nghiêm trọng khi xảy ra tai nạn giao thông.

Theo qui định tại Khoản 3, Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, thì phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với  hành vi người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe máy hoặc đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe máy không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ. Đối với hành vi đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn chưa bị xử phạt, nhưng trước tình hình trật tự an toàn giao thông diễn ra phức tạp, những mối nguy hiểm, những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra do tai nạn giao thông, người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe đạp máy khi tham gia giao thông hãy đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn, đừng để những đau thương, mất mát xảy ra do đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn.

30/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật
Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 thá...

Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (các nội dung khác của Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg vẫn tiếp tục triển khai thi hành).

Bộ Tư pháp tổ chức triển khai làm thử việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng ở 3 cấp đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg trong 2 năm, từ năm 2014 đến năm 2015, tại các tỉnh: Quảng Bình, Thái Bình, Điện Biên, Cà Mau và thành phố Hồ Chí Minh để Bộ có điều kiện tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quyết định này. Căn cứ vào kết quả làm thử, trong quý II năm 2016, Bộ Tư pháp tổng kết, đánh giá, báo cáo, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg cho phù hợp.

Đồng thời, để Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ được triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả nước, ngày 15 tháng 7 năm 2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 3120/BTP-PBGDPL về việc hướng dẫn thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tiếp cận pháp luật. Theo đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao liên quan đến xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6 Điều 12 của Quy định và hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn số 7730/BTP-PBGDPL ngày 18/11/2013 về việc triển khai Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (trừ điểm 4 và điểm 5); đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở năm 2015 ở địa phương theo điểm 1 Công văn số 2961/BTP-PBGDPL ngày 03/7/2014 của Bộ Tư pháp về xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở và hòa giải ở cơ sở năm 2015.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trừ 5 tỉnh, thành phố được lựa chọn làm thử) báo cáo kết quả thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg năm 2014 cùng với báo cáo chung về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm và gửi về Bộ Tư pháp (qua Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật). Nội dung báo cáo cần nêu rõ các hoạt động đã được thực hiện để triển khai thi hành Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và kiến nghị, đề xuất cụ thể các giải pháp để triển khai thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Báo cáo của địa phương cần nêu rõ những khó khăn, vướng mắc, bất cập, những vấn đề mới phát sinh, nhất là tính khả thi của các chỉ tiêu, tiêu chí; các giải pháp cải thiện điều kiện tiếp cận pháp luật tại địa phương; sáng kiến, kinh nghiệm trong xây dựng địa phương tiếp cận pháp luật.

29/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sởHội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở
Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hà...

Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hành Công văn số 1322/STP-PB đề nghị Phòng Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Luật gia cùng cấp triển khai thực hiện một số nội dung sau:

Triển khai quán triệt Công văn số 06/CV-MTTQ-BTT ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc yêu cầu Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở, Công văn số 22/CV-MTTQ-BTT ngày 22 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở và Công văn số 23/CV-HLG ngày 17 tháng 7 năm 2014 của Hội Luật gia tỉnh về việc tham gia hòa giải ở cơ sở đến cán bộ, công chức Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch, các tổ hòa giải ở cơ sở về mời hội viên Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở.

Tổ chức trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp giữa Phòng Tư pháp với Hội Luật gia các huyện, thành phố về mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở.

Tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố có công văn chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn triển khai đến tổ hoà giải, khi tổ chức hoà giải mời hội viên Hội Luật gia tham gia hoà giải (theo đúng quy định Điều 19 Luật Hoà giải ở cơ sở).

Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ thông báo đến Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn có liên quan về địa chỉ của huyện, thành hội, chi hội, hội viên; trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn thông báo đến tổ hòa giải để tổ hòa giải chủ động liên hệ trước với chi hội, hội viên Hội Luật gia để trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp.

Bên cạnh đó, Thường trực Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ tiếp nhận và tư vấn miễn phí cho đương sự đối với những vụ việc tổ hòa giải đang thụ lý để chuẩn bị hòa giải, nếu đương sự có yêu cầu và được tổ hòa giải giới thiệu đến.

Thời gian bắt đầu triển khai mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở: tháng 9/2014.

Hàng năm, phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho hội viên Hội Luật gia, có thể lồng ghép với tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho Hòa giải viên.

Định kỳ 6 tháng và hàng năm phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức sơ kết, đánh giá những mặt làm được, những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân để rút kinh nghiệm; qua đó đề xuất những giải pháp để hoạt động phối hợp công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian tới đạt kết quả cao hơn và báo cáo kết quả công tác phối hợp về Sở Tư pháp (có thể lồng ghép trong báo cáo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng và hàng năm).

04/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014Tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014
Nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trong cán bộ, nhân dân và người Việt Nam ở nước ngoài; tạo sự thống nhất, đồng thuận xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; ngày 30 tháng 7 năm ...

Nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trong cán bộ, nhân dân và người Việt Nam ở nước ngoài; tạo sự thống nhất, đồng thuận xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; ngày 30 tháng 7 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3525/KH-UBND tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển cần được tổ chức sâu rộng, bảm bảo tính chủ động, nhạy bén, chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, trên cơ sở đó khẳng định rõ quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam theo quy định của luật pháp quốc tế. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị trong phổ biến, giáo dục pháp luật về biển; gắn nội dung phổ biến pháp luật về biển với việc tuyên truyền, phổ biến về vị trí, vai trò, tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuyên truyền những cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và thực tiễn khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông; tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ, đoàn kết quốc tế trong việc giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia có biển, lên án các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế về biển; phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Nội dung phổ biến gồm những nội dung cơ bản của các văn bản pháp luật sau: Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982; Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); Luật Biển Việt Nam; Luật Biên giới quốc gia; Luật An ninh quốc gia; Bộ luật Hàng hải Việt Nam; Luật Thủy sản; Luật Dầu khí.

Hình thức và biện pháp phổ biến: Tăng thời lượng, tin, bài tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến trên Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, các báo điện tử, cổng thông tin, trang thông tin điện tử, bản tin chuyên ngành, hệ thống truyền thanh cơ sở, truyền thanh lưu động, tuyên truyền thông qua các chương trình phát thanh. Tổ chức tọa đàm, trao đổi, sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề về các vấn đề pháp lý liên quan đến biển tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường học, ấp, khu phố, tổ nhân dân tự quản, cụm dân cư. Tổ chức hội diễn văn nghệ, thông tin lưu động có lồng ghép tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển, tổ chức hội thi tìm hiểu pháp luật về biển, chú trọng tổ chức thi dưới hình thức sân khấu hóa tại các xã biển, hoặc tổ chức kết hợp với  hoạt động đoàn, hội, đội, hoạt động tình nguyện của thanh thiếu niên. Xây dựng pano, áp phích, phát các tài liệu, tờ gấp, tờ rơi, chú trọng tổ chức thực hiện tại các xã biển, tại các điểm du lịch biển, các địa điểm công cộng. Kết hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển thông qua các cuộc giao lưu, kết nghĩa, tặng quà cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên các vùng biển, ven biển.

Thời gian thực hiện: đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển được thực hiện từ ngày 01 tháng 8 đến ngày 15 tháng 10 năm 2014.

Theo Kế hoạch Uỷ ban nhân dân tỉnh đã phân công trách nhiệm cụ thể cho Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình hướng dẫn các tổ chức thành viên, nhất là đối với các tổ chức chính trị-xã hội, Hội Luật gia tỉnh, Đoàn Luật sư tỉnh; đồng thời quan tâm chỉ đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp huyện và cấp xã tổ chức thực hiện và phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng, các văn bản pháp luật về biển đến đoàn viên, hội viên và nhân dân.

04/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre triển khai thực hiện Quyết định số 312/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạmBến Tre triển khai thực hiện Quyết định số 312/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm
Để tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm; tập trung nâng cao hiệu quả các mặt công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm tham nhũng; làm giảm các loại tội phạm đang gia tăng như tội giết người, cố ý gây thương tích do mâu thuẫn cá nhân, tội có liên quan đến chiếm đoạt tài sản, tội phạm ma túy; không để xảy ra tình trạng tội phạm lộng...

Để tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm; tập trung nâng cao hiệu quả các mặt công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm tham nhũng; làm giảm các loại tội phạm đang gia tăng như tội giết người, cố ý gây thương tích do mâu thuẫn cá nhân, tội có liên quan đến chiếm đoạt tài sản, tội phạm ma túy; không để xảy ra tình trạng tội phạm lộng hành, các trường hợp bao che tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”; không để hình thành các tụ điểm cờ bạc, ma túy, mại dâm gây bức xúc trong nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hình sự, nhất là chất lượng công tác quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân, công tác hòa nhập cộng đồng, giảm tỷ lệ tái nghiện; tạo chuyển biến rõ rệt trong việc đảm bảo an ninh, trật tự.

Để xác định rõ giải pháp, phân công trách nhiệm cụ thể và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành, đoàn thể, địa phương; Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 2956/KH-UBND thực hiện Quyết định số 312/QĐ-TTg ngày 28 tháng 02 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình thực hiện Nghị quyết số 63 của Quốc hội khóa XIII về “Tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm” trên địa bàn tỉnh Bến Tre; nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, tăng cường các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ kết hợp chặt chẽ với phòng ngừa xã hội; đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; chú trọng giáo dục đạo đức trong nhà trường, gia đình và xã hội; tăng cường giáo dục đạo đức công vụ gắn với công tác đào tạo cán bộ, công chức, viên chức.

Ảnh minh họa

Triển khai thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản theo Chỉ thị số 33-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai, kiểm soát việc kê khai tài sản và Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2013 về minh bạch tài sản thu nhập.

Nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tại cơ sở, địa bàn dân cư, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, tập trung phát hiện, triệt phá các tổ chức, băng, nhóm tội phạm; truy bắt, vận động đối tượng truy nã ra đầu thú; xóa các tụ điểm phức tạp về trật tự, an toàn xã hội.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm về kinh tế, tham nhũng, thu hồi tiền và tài sản bị chiếm đoạt.

Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, bảo đảm mọi tố giác và tin báo về tội phạm của công dân, cơ quan, tổ chức đều được tiếp nhận và xử lý kịp thời, đúng quy định pháp luật. Thực hiện có hiệu quả các biện pháp khuyến khích và bảo vệ người tố giác tội phạm, tố cáo tham nhũng; xử lý nghiêm các hành vi trả thù người tố giác tội phạm, tố cáo tham nhũng hoặc lợi dụng khiếu nại, tố cáo để kích động gây rối an ninh, trật tự.

Ảnh: Hội đồng xét xử

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, tập trung vào tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, tham nhũng, ma túy, môi trường, sử dụng công nghệ cao, các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Cơ quan điều tra và điều tra viên phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều tra tội phạm, không để xảy ra việc bức cung, nhục hình; thu thập đầy đủ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội.

Phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra với thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, giám định tài chính, kế toán…; tập trung phát hiện điều tra, xử lý tội phạm, bảo đảm thời hạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật, nhất là các vụ án lớn về kinh tế, chức vụ và tham nhũng; kịp thời xác minh, truy tìm và thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt.

Chấp hành nghiêm pháp luật trong công tác bắt, giam giữ. Bảo đảm việc lập hồ sơ vụ án hình sự phải khách quan, toàn diện theo đúng quy định của pháp luật.

Nâng cao chất lượng quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân, gắn với định hướng nghề, dạy nghề để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi  cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Phối hợp chặt chẽ Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, bảo đảm các trường hợp được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, đặc xá đúng mục đích, yêu cầu, đúng đối tượng theo quy định của pháp luật. Ngăn chặn, xử lý nghiêm việc thẩm lậu ma túy, vật cấm đối với bị can, bị cáo, phạm nhân vào các cơ sở giam, giữ.

Tăng cường và mở rộng phối hợp phòng, chống tội phạm với các tỉnh lân cận và trong khu vực; tích cực phối hợp đấu tranh với các tổ chức, đường dây tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm quốc tế có liên quan đến địa bàn tỉnh Bến Tre.

31/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013
Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổ...

Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống kinh - xã hội.


Tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước được phát động của ngành Tư pháp, của tỉnh và của cụm thi đua Khối Nội chính. Năm 2013, Sở Tư pháp đã phấn đấu, nỗ lực cụ thể hóa nội dung, tiêu chí thi đua vào từng lĩnh vực chuyên môn, gắn liền với từng giai đoạn cụ thể (thi đua ngắn hạn, dài hạn và đột xuất) với một số kết quả đáng ghi nhận. Cụ thể:

Tổ chức góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 - một sự kiện chính trị, pháp lý quan trọng của đất nước. Sở Tư pháp đã tích cực tham mưu Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và báo cáo kết quả về Ủy ban dự thảo, Bộ Tư pháp theo đúng thời gian quy định. Tổ chức in ấn và phát hành 820 quyển, 360.600 phiếu lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với khoảng 43.000.000 lượt ý kiến.

Đã thẩm định, góp ý văn bản kịp thời, đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo chất lượng, tính khả thi, hợp lý của dự thảo văn bản cụ thể gồm: thẩm định 133 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, gồm 37 dự thảo nghị quyết, 85 dự thảo quyết định và 11 dự thảo chỉ thị (tăng 35 văn bản so với năm 2012), tham gia góp ý 160 dự thảo văn bản (trong đó có 60 cuộc họp góp ý và góp ý 18 văn bản của trung ương).

Thực hiện việc tự kiểm tra 1.803 văn bản, trong đó: cấp tỉnh 35 văn bản, cấp huyện 1.768 văn bản theo đúng quy trình, thời gian quy định, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý các văn bản có nội dung và hình thức không phù hợp với quy định. Bên cạnh đó, đã tiếp nhận, kiểm tra theo đúng thẩm quyền 766 văn bản (cấp tỉnh kiểm tra 117 văn bản, cấp huyện kiểm tra 649 văn bản). Đặc biệt trong năm 2013, đã chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch và tổ chức triển khai, báo cáo kết quả tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành từ năm 1976 đến ngày 31/12/2012. Kết quả: đã kiến nghị công bố 260 văn bản hết hiệu lực thi hành; kiến nghị bãi bỏ 192 văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành có nội dung không còn phù hợp; kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần 15 nghị quyết có nội dung không còn phù hợp.


Thời gian qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã mang lại hiệu quả thiết thực; nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Đội ngũ làm công tác PBGDPL cấp tỉnh, cấp huyện thường xuyên được củng cố, kiện toàn, tăng về số lượng, chất lượng; được tập huấn, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo phục vụ ngày càng tốt hơn công tác PBGDPL. Toàn tỉnh hiện có 222 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện; 2.473 tuyên truyền viên pháp luật cấp xã. Hoạt động hòa giải ở cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả. Hiện nay, toàn tỉnh có 983 Tổ hòa giải/983 ấp, khu phố (đạt 100%) với hơn 7.400 hòa giải viên; đã tổ chức 05 lớp tập huấn và cấp phát trên 600 tài liệu cho các Tổ hòa giải. Kết quả hòa giải thành trên địa bàn tỉnh đạt trên 82,5% (tăng 2,16% so với năm 2012).

Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) ở địa phương từng bước củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy và đội ngũ thực hiện công tác TGPL, qua đó nâng cao chất lượng vụ việc TGPL và ngày càng đi vào chiều sâu, tăng cường đưa hoạt động TGPL về cơ sở, gắn chặt với công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chú trọng tại các địa bàn khó khăn, ven biển. Năm 2013, đã thực hiện TGPL cho người thuộc đối tượng là 828 vụ việc. Ngoài ra, còn tư vấn trực tiếp cho một số người không thuộc đối tượng được TGPL thông qua hình thức tư vấn tại trụ sở, TGPL lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ; thực hiện 63 đợt TGPL lưu động với 3.478 người dân tham gia, cấp phát 17.130 tờ gấp pháp luật cho người dân.

Lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch, chứng thực đã đi vào nền nếp, các sự kiện hộ tịch được đăng ký đúng quy định, đặc biệt là người dân đi đăng ký khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn quy định ngày càng tăng, đã kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của người dân. Trong năm, đã giải quyết 211 trường hợp đăng ký kết hôn; đăng ký khai sinh 134 (đăng ký lại 62, trẻ em 72); khai tử 08; nhận cha, mẹ, con 33; ghi chú 103 (kết hôn 27, ly hôn 76); quốc tịch 03; các trường hợp khác 504. Công tác lý lịch tư pháp, được triển khai khá đồng bộ, tiếp tục xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho người dân ngày càng tốt hơn; phối hợp chặt chẽ trong việc đối chiếu thông tin lý lịch tư pháp, đã cấp 3.178 phiếu lý lịch tư pháp trong năm.

Chú trọng xã hội hóa hoạt động công chứng: Năm 2013, toàn tỉnh có 05 tổ chức hành nghề công chứng với 08 công chứng viên; cơ sở vật chất của các tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu theo quy định. Đã giải quyết 21.703 hợp đồng, giao dịch của khách hàng theo đúng quy định của pháp luật (tăng 6.884 hợp đồng, giao dịch so với năm trước), tổng số phí thu được là 4.211.974.000 đồng (tăng 494.989.000 đồng so với năm trước).

Hoạt động bán đấu giá tài sản: đã xây dựng và áp dụng quy trình phần mềm bán đấu giá và chính thức đưa vào hoạt động kể từ tháng 01/2013, trong năm đã thực hiện 588 hợp đồng bán đấu giá tài sản của các cơ quan, đơn vị gửi bán, đã bán được 114 hợp đồng với số phí thu được là 6.164.980.000 đồng.

Về công tác quản lý luật sư: Toàn tỉnh có 35 luật sư với 24 tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động. Thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch, phối hợp đào tạo nghiệp vụ luật sư tại tỉnh Bến Tre với 66 học viên. Tiếp nhận và giải quyết cấp giấy đăng ký hoạt động cho 02 Văn phòng luật sư và quyết định thu hồi 01 giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng và 03 Chi nhánh. Phối hợp kiểm tra về tổ chức và hoạt động của 06 tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.

Với những kết quả đạt được như trên, tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua yêu nước năm 2013 và phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2014, Sở Tư pháp đã vinh dự được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước tỉnh Bến Tre năm 2013.

19/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về hình thức xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranhQuy định về hình thức xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2014. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định này thì đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền...

Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2014. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định này thì đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung: Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh bao gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

Ngoài các hình thức xử phạt trên, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả sau: Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại phần doanh nghiệp đã mua; buộc cải chính công khai; buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh; buộc sử dụng hoặc bán lại các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp đã mua nhưng không sử dụng; buộc loại bỏ những biện pháp ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; buộc khôi phục các điều kiện phát triển kỹ thuật, công nghệ mà doanh nghiệp đã cản trở; buộc loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt cho khách hàng; buộc khôi phục lại các điều khoản hợp đồng đã thay đổi mà không có lý do chính đáng; buộc khôi phục lại hợp đồng đã hủy bỏ mà không có lý do chính đáng.

05/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Một gia đình tan vỡMột gia đình tan vỡ
Trước mặt tôi, chị với hai hàng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt, chị nhờ tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình và viết đơn xin ly hôn. Vội lao đi dòng nước mắt, chị bắt đầu câu chuyện. Chị đã có hai con, vừa bước sang tuổi 35, nhưng vẫn giữ được nét thanh xuân của thời con gái. Người đời vẫn hay nữa đùa nữa thật ví von “hồng nhan bạc phận”, câu nói ấy dường như không sai với cuộc đời của chị...

Trước mặt tôi, chị với hai hàng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt, chị nhờ tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình và viết đơn xin ly hôn. Vội lao đi dòng nước mắt, chị bắt đầu câu chuyện. Chị đã có hai con, vừa bước sang tuổi 35, nhưng vẫn giữ được nét thanh xuân của thời con gái. Người đời vẫn hay nữa đùa nữa thật ví von “hồng nhan bạc phận”, câu nói ấy dường như không sai với cuộc đời của chị. Chị sinh ra và lớn lên tại vùng quê ở mãnh đất Vĩnh Long, chị tên Thanh và con đường học vấn của chị kết thúc khi vừa tốt nghiệp phổ thông. Mười tám tuổi, chị mở một hiệu may nho nhỏ tại nhà bằng tay nghề khéo léo và vốn kiến thức may vá được gia đình truyền lại. Hiệu may tuy nhỏ nhưng với sự khéo tay của cô chủ xinh đẹp, không ít chàng trai đến may áo để được gặp cô chủ làm quen, tiệm may từ đó đã tìm được những khách quen trong đó có anh Hoàng người chị chọn và gửi gấm cuộc đời.

Về làm dâu tại vùng quê Xứ Dừa, chị Thanh luôn biết yêu thương, chung thủy với chồng, hiếu kính và tôn trọng nhà chồng. Bằng chứng cho điều ấy là việc nhà chồng luôn bênh vực, yêu thương và mở cho chị tiệm may nho nhỏ, mặc dù hiện tại cuộc sống hôn nhân đang trên bờ vực thẳm, như lời chị nói “bước tiếp hay quay lại đối với chị đều không là hạnh phúc”. Anh Hoàng là một người có học vấn, có địa vị xã hội, anh vẫn yêu thương con, nhưng với chị, trái tim người đàn ông ấy đã sẻ chia một nữa cho một người phụ nữ khác. Anh cho rằng anh cần một người phụ nữ trí thức, có hiểu biết và hiện đại, sánh bước cùng anh trong những bữa tiệc sang trọng, trong những chuyến công tác tiếp xúc với những người có địa vị, điều mà chị không thể nào làm được, đó cũng là lý do để anh cần thêm một người phụ nữ khác bên cạnh mình.

Một mình chị, tần tảo cùng tiệm may do nhà chồng mở cho, vẫn thừa sức nuôi hai đứa con nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn. Đặc biệt, do sống chan hòa nên nhà chồng luôn yêu thương che chở. Bất lực trước sự phản bội của đứa con trai, cha mẹ chồng của chị chỉ biết yêu thương cháu nội, chia sẻ gánh nặng cùng con dâu. Sự việc tưởng chừng như êm ả, vào khoảng cuối năm 2012 một người phụ nữ được gọi là “vợ nhỏ” của anh Hoàng đến thông báo rằng cô ta sắp sinh cho chồng chị một bé trai bụ bẫm lúc ấy chị Thanh như chết lặng.

Chị đến với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhờ tư vấn và chị mốn ly hôn, chị không mốn kéo dài cuộc sống như vậy nữa, câu hỏi chị đặc ra: “liệu chồng chị có bị xử lý gì không và dù gì đi chăng nữa gia đình bên chồng chị vẫn luôn tốt với chị và các con của chị” .

Như vậy, điều đầu tiên người vợ phải làm khi người chồng có hành vi ngoại tình chính là yêu cầu chính quyền địa phương có biện pháp xử phạt về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Sau khi bị xử lý vi phạm hành chính; nếu người chồng vẫn duy trì mối quan hệ này, thì người vợ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.

Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì “Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Một vấn đề tưởng chừng như chỉ do tình cảm con người, do đạo đức điều chỉnh nhưng ít người phụ nữ nào biết rằng họ là vợ hợp pháp cho nên vẫn được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chấp nhận yêu thương một con người thì không có luật pháp nào điều chỉnh, yêu thương hay không yêu thương là do trái tim quyết định. Như chị Thanh nói:  “Một khi người ta đã mất đi phần hồn thì cho dù mình giữ phần xác cũng không có một ý nghĩa gì”. Nhưng việc chồng chị có hành vi sống chung như vợ chồng với người khác rõ ràng là đã vi phạm pháp luật hình sự. Sau khi được tư vấn chị chấp nhận ly hôn, chấp nhận mất tất cả còn hơn phải chia sẻ. Trong tình cảm, con người ta có quyền ích kỷ, và mọi thứ trên đời đều có thể chia sẻ, ngoại trừ tình yêu.

Mỗi người phụ nữ đều xứng đáng có một người yêu thương của riêng mình, mỗi đứa con đều xứng đáng có một người cha của riêng nó. Đối với chị thà chọn giải pháp ly hôn còn hơn vì chị mà phải gián tiếp làm khổ thêm mọi người dù sao đó cũng là cha các con của chị.

(tên nhân vật đã được thay đổi)

05/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai  thủ tục hành chínhQuy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai  thủ tục hành chính
Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của các cấ...

Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh.

Về trách nhiệm phối hợp công bố TTHC:

Các sở, ban, ngành tỉnh: Là cơ quan đầu mối giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh trong việc công bố, niêm yết công khai TTHC thuộc lĩnh vực phụ trách ở các cấp trên địa bàn tỉnh; phải cập nhật kịp thời các văn bản của Trung ương và địa phương có quy định về TTHC, xây dựng dự thảo Quyết định công bố TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý ngành, lĩnh vực theo đúng quy định tại Điều 7 Thông tư số 05/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công bố, niêm yết TTHC và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát TTHC, gửi Sở Tư pháp kiểm soát chất lượng trước khi trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành. Trong hồ sơ trình Chủ tịch UBND tỉnh phải có văn bản góp ý của Sở Tư pháp; đồng thời, tờ trình ban hành Quyết định công bố phải có phần giải trình nội dung tiếp thu và không tiếp thu ý kiến của Sở Tư pháp; sau khi Quyết định được ban hành, chịu trách nhiệm gửi quyết định công bố TTHC cho Cục Kiểm soát TTHC, Sở Tư pháp (kèm tập tin điện tử), các sở, ban, ngành tỉnh, UBND cấp huyện và các cơ quan có liên quan.


Sở Tư pháp: Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm soát về hình thức, nội dung dự thảo Quyết định công bố theo đúng quy định; nhập và gửi dữ liệu, hồ sơ đề nghị công khai về các TTHC và văn bản quy định về TTHC đã được công bố lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

UBND cấp huyện: Trường hợp phát hiện TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện, cấp xã chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố hoặc công bố chưa đúng quy định, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo về UBND tỉnh (thông qua Sở Tư pháp) để chỉ đạo cơ quan chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực kiểm tra, rà soát, công bố đầy đủ, chính xác theo quy định; chịu trách nhiệm sao gửi Quyết định công bố, tổ chức việc công khai tại địa phương và các cơ quan chuyên môn cấp huyện, UBND cấp xã đối với TTHC chung áp dụng tại cấp huyện, cấp xã đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

UBND cấp xã: Đề xuất với UBND cấp huyện kiến nghị với các sở, ban, ngành liên quan trong việc rà soát, cập nhật, công bố TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp xã; thực hiện công khai TTHC theo quy định và tổ chức thực hiện nghiêm túc trình tự, TTHC đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

Về trách nhiệm phối hợp niêm yết công khai TTHC:

Việc niêm yết công khai TTHC và nội dung hướng dẫn thực hiện phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thực hiện theo Điều 10, Điều 11, Điều 12 Thông tư số 05/2014/TT-BTP.

Các cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ trực tiếp tiếp nhận, giải quyết TTHC phải thực hiện niêm yết công khai, kịp thời, đầy đủ TTHC thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tại trụ sở cơ quan, đơn vị.

Cơ quan, tổ chức được cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền ủy quyền thực hiện dịch vụ công niêm yết đầy đủ các TTHC được ủy quyền.

Các sở, ban, ngành tỉnh chịu trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn việc niêm yết công khai TTHC thuộc lĩnh vực quản lý trên địa bàn tỉnh. Tạo lập, duy trì đường kết nối giữa Cổng thông tin điện tử cơ quan, đơn vị (nếu có) với các TTHC thuộc lĩnh vực quản lý trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm tạo lập Mục TTHC trên Trang thông tin điện tử của tỉnh, kết nối Mục này với các TTHC thực hiện tại địa bàn tỉnh Bến Tre trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

Sở Tư pháp: Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện niêm yết công khai TTHC tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; thường xuyên theo dõi các TTHC thực hiện tại tỉnh Bến Tre được công bố trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, đảm bảo các TTHC này luôn được cập nhật kịp thời.

Đồng thời, UBND tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì theo dõi việc phối hợp thực hiện Quy chế công bố và niêm yết công khai TTHC trên địa bàn tỉnh.

31/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Xảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọngXảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng
Trong tuần qua, từ ngày 30/6 đến ngày 06/7/2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre xảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng, và 5 vụ va chạm giao thông đường bộ, làm chết 4 người và bị thương 6 người, so với tuần trước tình hình tai nạn giao thông có chiều hướng giảm, cụ thể như: giảm 3 vụ tai nạn và giảm 3 người chết do tai nạn giao thông.

Trong tuần qua, từ ngày 30/6 đến ngày 06/7/2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre xảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng, và 5 vụ va chạm giao thông đường bộ, làm chết 4 người và bị thương 6 người, so với tuần trước tình hình tai nạn giao thông có chiều hướng giảm, cụ thể như: giảm 3 vụ tai nạn và giảm 3 người chết do tai nạn giao thông.

Trong 4 vụ tai nạn giao thông, thì có 3 vụ người điều khiển phương tiện giao thông sử dụng rượu bia vượt quá mức cho phép dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Vào lúc 23 giờ, ngày 01/7/2014 trên Quốc lộ 57 thuộc địa bàn xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, Hồ Văn Súl, sinh năm 1972, đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, điều khiển xe mô tô 3 bánh lưu thông theo hướng từ An Nhơn đi Giao Thạnh, đến khu vực trên tự té xuống ao tôm ven đường và chết tại hiện trường, nguyên nhân do Hồ Văn Súl đã uống rượu, bia không làm chủ được tay lái khi điều khiển phương tiện giao thông.

Vào lúc 19 giờ, ngày 05/7/2014 trên lộ K20 thuộc địa bàn xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, Trần Văn Trọng, sinh năm 1995, điều khiển xe mô tô lưu thông theo hướng từ xã Châu Bình đi thị trấn Giồng Trôm, trong khi vượt xe mô tô khác chạy cùng chiều, xe của Trọng đã va chạm với xe gắn máy do Trần Thị Tho, sinh năm 1983, điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại, hậu quả làm Trọng bị thương nặng và sau đó tử vong tại bệnh viện.

Nhìn chung, các vụ tai nạn giao thông xảy ra trong tuần qua do người điều khiển phương tiện giao thông đã sử dụng rượu, bia, và điều khiển phương tiên thiếu chú ý quan sát, đi không đúng phần đường quy định…

Trước tình hình tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra cho thấy sự thiếu ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông, thực trạng sử dụng rượu, bia vượt quá mức cho phép, và tình trạng tránh vượt không đúng quy định, hậu quả là rất nghiêm trọng, dẫn đến chết người.

24/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thực hiện đúng với nguyên tắc “Bốn không, ba có”  khi tham gia giao thôngThực hiện đúng với nguyên tắc “Bốn không, ba có”  khi tham gia giao thông
Tai nạn giao thông, đây là vấn đề mà các cấp chính quyền, các ngành chức năng đang tìm giải pháp để kéo giảm đến mức tối thiểu. Trong 6 tháng đầu năm 2014, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre so với cùng kỳ năm 2013, có chiều hướng giảm mạnh số vụ tai nạn giao thông (177/211 vụ, giảm 34 vụ). Tuy nhiên, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp t...

Tai nạn giao thông, đây là vấn đề mà các cấp chính quyền, các ngành chức năng đang tìm giải pháp để kéo giảm đến mức tối thiểu. Trong 6 tháng đầu năm 2014, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre so với cùng kỳ năm 2013, có chiều hướng giảm mạnh số vụ tai nạn giao thông (177/211 vụ, giảm 34 vụ). Tuy nhiên, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục diễn ra với nhiều diễn biến, biến đổi phức tạp. Số vụ tai nạn giao thông có phần giảm, trong khi đó số người bị chết do tai nạn giao thông xảy ra thì tăng lên (104/73 người chết, tăng 31 người chết). Trong 177 vụ tại nạn giao thông, thì có 127 vụ tai nạn do người điều khiển phương tiên giao thông thiếu chú ý quan sát, đi không đúng phần đường, làn đường, tránh vượt, chuyển hướng không đúng qui định; trong 97 vụ tai nạn giao thông làm rõ nguyên nhân, thì có 47 vụ có liên quan đến rượu, bia.

Trước tình hình trên cho thấy mức độ nguy hiểm và hậu quả nghiêm trọng của các vụ tai nạn giao thông khi xảy ra. Vấn đề này đã phần nào nói lên được sự hạn chế trong ý thức của người tham gia giao thông trong việc chấp hành các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông và văn hóa giao thông. Hậu quả của tai nạn giao thông để lại là hết sức to lớn và nặng nề không chỉ đối với bản thân người vi phạm, mà còn đối người bị gây tai nạn, người thân, gia đình và trở thành gánh nặng cho xã hội. Đối với người vi phạm, tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt tiền, bị buộc phải bồi thường thiệt hại cho người bị gây tai nạn. Khi tai nạn xảy ra, người vi phạm, người bị gây tai nạn không may bị chết, bị thương thì không chỉ bản thân họ và gia đình dễ lâm vào cuộc sống khó khăn, mà đây còn là một mất mát của bản thân, gia đình không thể nào bù đắp được. Còn đối với xã hội,  phải chi ra một khoảng ngân sách để khắc phục những hậu quả do tai nạn giao thông gây ra như: chính sách bảo hiểm cho người bị gây tai nạn, chính sách an sinh xã hội,…


Từ những hậu quả đáng tiết xảy ra do một phút bất cẩn, quá tự tin với tay lái của mình, hay một phút cao hứng nào đó trong việc uống rượu, bia rồi dẫn đến gây tai nạn giao thông, để lại hậu quả thật là nghiệm trọng đối với bản thân, gia đình và toàn xã hội. Để sự việc đáng tiết không xảy ra, để sự hối hận, sự hối lỗi không phải là muộn màng, vì vậy khi chúng ta tham gia giao thông phải thực hiện và chấp hành nghiêm chỉnh những quy định về an toàn giao thông, chúng ta phải thực hiện đúng với nguyên tắc “Bốn không, ba có” khi tham gia giao thông đó là:

“Bốn không”

1. Không điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi đã uống rượu, bia; không phóng nhanh, giành đường, vượt ẩu; không chở quá tải, quá khổ, quá số người cho phép; đi không đúng phần đường quy định, vượt đèn đỏ…

2. Không sử dụng phương tiện khi chưa đăng ký (đối với phương tiện buộc phải đăng ký) hoặc các phương tiện bị cấm lưu hành.

3. Không điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định.

4. Không lấn chiếm lòng, lề đường làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông.

“ Ba có”

1. Có đầy đủ các loại giấy tờ khi tham gia giao thông như: Giấy chứng nhận đăng ký xe, bảo hiểm, đăng kiểm, giấy phép lái xe theo qui định…

2. Có đủ mũ bảo hiểm đạt chất lượng cho người điều khiển phương tiện và người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe đạp điện, xe đạp máy; có đủ trang thiết bị cần thiết như: kèn, đèn, kính chiếu hậu, hệ thống thắng…còn sử dụng tốt khi phương tiện tham gia giao thông.

3. Có ý thức chấp hành tốt những qui định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

Để đảm bảo an toàn cho bản thân, cho người thân và cho những người cùng tham gia giao thông; để đảm bảo sự bình yên, sự hạnh phúc của gia đình và cho toàn xã hội, chúng ta phải xử sự có văn hóa khi tham gia giao thông và thực hiện đúng nguyên tắc “Bốn không, ba có” khi tham gia giao thông.

17/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2014Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2014
Sáng ngày 18 tháng 7 năm 2014, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) 6 tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh là đại diện lãnh đạ...

Sáng ngày 18 tháng 7 năm 2014, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) 6 tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh là đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh; Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố và đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

Hội nghị đã thông qua dự thảo Báo cáo kết quả công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở 6 tháng đầu năm 2014, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014. Hội nghị cũng đã nghe nhiều ý kiến phát biểu của các ngành và địa phương về những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế, khó khăn trong công tác PBGDPL; các đại biểu cơ bản thống nhất với dự thảo Báo cáo và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014. Đồng thời, tại Hội nghị các đại biểu cũng đã góp ý dự thảo Kế hoạch tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014 trước khi trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành.


Trong 6 tháng đầu năm 2014, công tác PBGDPL được các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; những kế hoạch, chủ trương, chỉ đạo của trung ương, cấp trên, của UBND tỉnh về công tác PBGDPL được triển khai kịp thời trên địa bàn tỉnh; nội dung PBGDPL phù hợp, có liên quan mật thiết đến đời sống của đối tượng được tuyên truyền; hình thức PBGDPL phong phú, đa dạng, kết hợp nhiều loại hình, mô hình đã tuyên truyền sâu, rộng những quy định của pháp luật đến với người dân; việc phối hợp trong công tác PBGDPL của một số cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện dần đi vào nền nếp, phát huy được vai trò của từng cơ quan, đơn vị trong công tác phối hợp PBGDPL.

Bên cạnh những mặt đạt được, công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở năm 2014 vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế: Việc thực hiện công tác PBGDPL còn dàn trãi; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ, kịp thời. Tuy lực lượng làm công tác PBGDPL có tăng về số lượng nhưng còn hạn chế về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm. Trong công tác hoà giải ở cơ sở, tỷ lệ hoà giải thành trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt 78%, một số huyện tỷ lệ hoà giải thành còn thấp. Việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật chưa phát huy hiệu quả. Do Trung ương chậm ban hành văn bản hướng dẫn nên việc triển khai thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh còn chậm. Năm 2014, tỉnh chưa được ngân sách trung ương hỗ trợ cho công tác PBGDPL nên kinh phí hoạt động PBGDPL còn khó khăn.

Kết luận chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đánh giá cao kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2014; đồng thời nhấn mạnh một số nhiệm vụ công tác PBGDPL 6 tháng cuối năm 2014; trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, từng địa phương và vai trò, trách nhiệm thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL được phân công, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh, Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

Từng cơ quan, đơn vị, thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố cần rà soát và tiếp tục phối hợp tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả, đúng tiến độ công tác PBGDPL theo Kế hoạch công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014 của UBND tỉnh.

Tiếp tục tổ chức triển khai, tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật mới ban hành, các quy định của pháp luật có liên quan mật thiết với đời sống của nhân dân; tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014.

Tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác PBGDPL, tăng cường xã hội hoá hoạt động này. Đổi mới, nâng cao hiệu quả mô hình “Ngày pháp luật” tại các cơ quan, đơn vị, địa phương trở thành nội dung sinh hoạt thường xuyên định kỳ, thật sự đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả. Tổ chức “Ngày Pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” năm 2014 (9/11) hiệu quả, thiết thực.

Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch số 4240/KH-UBND ngày 06/9/2013 của UBND tỉnh về xây dựng xã, phường, thị trấn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh. Đối với việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở tạm dừng theo Công văn số 4793/VPCP-PL ngày 27/6/2014 của Văn Phòng Chính phủ về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg.

Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân; đồng thời nghiêm túc tổ chức triển khai thực hiện Quyết định số 1133/QĐ-TTG ngày 15/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt và tổ chức thực hiện các Đề án tại Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW.

Tiếp tục củng cố đội ngũ Báo cáo viên cấp tỉnh, cấp huyện; Tuyên truyền viên pháp luật cấp xã, phát huy vai trò của đội ngũ này trong công tác PBGDPL. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ PBGDPL; cung cấp tài liệu, tổ chức trao đổi kinh nghiệm trong công tác PBGDPL.

Sở Tư pháp chủ động phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức cho các Hội viên Hội Luật gia tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở. UBND các huyện, thành phố tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Hoà giải ở cơ sở; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải cơ sở, bảo đảm chỉ tiêu hòa giải thành đạt 85%; phải đảm bảo kinh phí chi cho hoạt động của tổ hoà giải và chi thù lao hoà giải thành cho Hoà giải viên trên địa bàn huyện; phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thành phố tổ chức rà soát, củng cố, kiện toàn các tổ hòa giải trên địa bàn huyện.

Trên cơ sở kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng xây dựng, quản lý và khai thác Tủ sách pháp luật tại xã, phường, thị trấn; UBND các huyện thành phố nhân rộng các mô hình hay, tập trung khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả khai thác tủ sách pháp luật trên địa bàn huyện.

23/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sức mạnh đồng tiềnSức mạnh đồng tiền
Trong dân gian người ta hay ví von “Tiền là vạn năng. Có tiền mua tiên cũng được”. Không ai phủ nhận giá trị của đồng tiền, nó mang lại cho con người cuộc sống sung túc, đỡ vất vả hơn. Nhưng liệu “tiền” có mang lại hạnh phúc nếu chúng ta cứ “quan trọng hóa đồng tiền” mà quên đi những thứ còn “giá trị” hơn?

Trong dân gian người ta hay ví von “Tiền là vạn năng. Có tiền mua tiên cũng được”. Không ai phủ nhận giá trị của đồng tiền, nó mang lại cho con người cuộc sống sung túc, đỡ vất vả hơn. Nhưng liệu “tiền” có mang lại hạnh phúc nếu chúng ta cứ “quan trọng hóa đồng tiền” mà quên đi những thứ còn “giá trị” hơn?
Câu chuyện thứ nhất: “Tình thiếu, tiền dư”
Mặc dù gia đình ở dạng khá giả, có của dư, bạc để nhưng anh H luôn tính toán chi li, khắc khe với vợ trong việc chi tiêu.
Anh H luôn tự hào vì mình là “người chủ gia đình”, người rất thương vợ. Anh thương vợ nên không cho vợ đi làm “sợ vợ khổ”. Vợ cần tiền “anh cho”, nhưng “xài ít thôi, tiền chứ đâu phải giấy”. Điệp khúc ấy cứ lập đi, lập lại từng ngày. Anh còn quá đáng hơn khi tính toán tiền bạc trong việc nuôi con. Vợ anh “xin tiền” mua sữa cho con anh cũng tính “khi cho con uống sữa, em phải bớt mỗi lần một muỗng, như vậy sẽ dư ra, uống thêm được vài lần”. Lâu ngày, dài tháng, vợ anh không thể chịu nỗi tính bủn xĩn của chồng, nên mang chuyện tâm sự với một chị là Hội viên trong Chi hội phụ nữ ấp. Nghe chuyện, chị Hội viên thấy sự việc không đơn giản, không để sự việc kéo dài nên chị đã đến nhà dùng nhiều “lời hay, lý đúng” để tâm sự với anh H: nếu anh H cứ tiếp tục kiểm soát tiền bạc đối với vợ, con như vậy thì hạnh phúc gia đình có thể tan vỡ. Trong cuộc sống hiện nay có biết bao là chi tiêu, vợ anh H không thể cần chi gì cũng phải “xin tiền” chồng. Vợ anh H có thể sẽ tích lũy sự chán nãn đối với chồng và đến một lúc nào đó sẽ muốn rời khỏi sự kiểm soát của anh H. Việc làm của anh H không đơn giản chỉ là cách xử sự trong gia đình mà còn là hành vi vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình. Đây là hành vi bạo lực về kinh tế. Hành vi bạo lực về kinh tế bao gồm: không cho người kia đi làm, kiểm soát chặt chẽ thu nhập của gia đình, hạn chế tiếp cận với thu nhập của gia đình. Qua lời khuyên của chị Hội viên, anh H đã hiểu được hành vi của mình không phải “thương vợ”. Anh đã biết bạo lực gia đình không chỉ là hành vi đánh đập mà kiểm soát kinh tế cũng là bạo lực.
Anh H đã biết được việc làm của mình là không đúng, nhưng thay đổi một thời gian, anh lại quay về với con người cũ. Anh H lại quý trọng đồng tiền hơn. Vậy là mọi chuyện lại đâu vào đấy, đến nỗi vợ con không thể sống chung. Một kết cục không bao giờ muốn đối với hôn nhân đã đến với gia đình anh “ly hôn chỉ vì tiền”.
Câu chuyện thứ hai: “chém đằng lưỡi”
Ông bà ta có câu “Anh em chém nhau đằng sống. Không ai chém nhau đằng lưỡi”. Thế nhưng chỉ vì tiền tài, của cải mà anh em do cùng cha mẹ sinh ra lại trở mặt với nhau.
Bà N có năm người con. Gia đình cũng thuộc dạng phú nông, ruộng đất cò bay thẳng cánh. Khi các con lập gia đình bà N đều cho ruộng đất mỗi người bằng nhau. Bà chỉ để lại một phần để dưỡng già. Khi thấy sức khỏe đã yếu bà N mới lập di chúc để lại phần đất còn lại của bà cho người con út hiện đang sống chung với bà. Di chúc đã được công chứng theo đúng quy định của pháp luật.
Trước khi mất, bà H dặn dò các con phải thương yêu, đùm bộc lẫn nhau. Các con bà rơi nước mắt cùng đồng thanh hứa. Vậy mà khi biết được nội dung di chúc, anh em họ không thể thuận hòa. Biết là không thể thay đổi di nguyện của người đã khuất nên họ cứ mãi tranh giành. Không chỉ “đấu” nhau qua lời nói, họ còn dùng vũ lực để tranh nhau. Thế là tình anh em cũng không còn “chỉ vì tiền”, xã hội, láng giềng lắc đầu ngao ngán.
Hai câu chuyện trên chỉ là điển hình trong cuộc sống. Trong xã hội còn rất nhiều chuyện “dở khóc, dở cười” chỉ vì quá quan trọng đồng tiền. Thử hỏi “Chúng ta sẽ làm được gì khi chỉ có mình ta với một núi tiền”. Trong khi đó xung quanh chúng ta không chỉ có tiền mà còn người thân, một phần thiêng liêng, có giá trị hơn bất cứ điều gì trên đời.

13/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Văn phòng công chứng Nguyễn Rậm khai trương và đi vào hoạt độngVăn phòng công chứng Nguyễn Rậm khai trương và đi vào hoạt động
Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của ...

Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của huyện Ba Tri và các đại biểu đại diện Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn huyện.

Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm thành lập và đi vào hoạt động theo Quyết định số 1115/QĐ-UBND ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc cho phép thành lập Văn phòng công chứng Nguyễn Rậm và Sở Tư pháp đã cấp Giấy đăng ký hoạt động số 10/TP-ĐKHĐ ngày 18 tháng 6 năm 2014. Bước đầu đi vào hoạt động Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm có 04 nhân viên và công chứng viên.

Đây là Văn phòng công chứng thứ 02 (hai) trên địa bàn huyện Ba Tri đi vào hoạt động và huyện Ba Tri là huyện thứ hai sau thành phố Bến Tre hoàn thành xong giai đoạn II (2015-2020) của Quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

16/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Lễ trao quyết định tuyển dụng công chứcLễ trao quyết định tuyển dụng công chức
Sáng ngày 20/5/2014, Sở Nội vụ tổ chức Lễ trao quyết định tuyển dụng công chức cho các thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013. Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ; ông Huỳnh Thanh Phương, Phó Gián đốc Sở Nội vụ đến dự và trao quyết định tuyển dụng công chức. 

Sáng ngày 20/5/2014, Sở Nội vụ tổ chức Lễ trao quyết định tuyển dụng công chức cho các thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013. Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ; ông Huỳnh Thanh Phương, Phó Gián đốc Sở Nội vụ đến dự và trao quyết định tuyển dụng công chức.

Tham dự buổi Lễ có đại diện lãnh đạo và Trưởng phòng phụ trách công tác tổ chức – cán bộ: Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương, Sở Giao thông Vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Y tế, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân và Phòng Nội vụ các huyện, thành phố.


Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức kỳ thi tuyển dụng công chức năm 2013, gồm có 422 thí sinh tham dự kỳ thi. Kết quả có 124 thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức vào làm việc ở các cơ quan Đảng, đoàn thể; các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ( trong đó, có 41 thí sinh vào làm việc ở các cơ quan Đảng, đoàn thể). Các thí sinh sẽ trãi qua 5 phần thi viết và trắc nghiệm về kiến thức chung, nghiệp vụ chuyên ngành, văn phòng, tin học và ngoại ngữ.

Ngày 08/4/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 677/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả kỳ thi tuyển và công nhận danh sách thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013; đã có 83 thí sinh được Sở Nội vụ trao quyết định tuyển dụng vào làm việc ở các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Trong đó, Sở Tư pháp được tuyển dụng 04 công chức: Nguyễn Thị Chuyền, Lê Thị Phượng, Lê Thị Hồng Diễm, Nguyễn Thị Nhiên.

Đây là lần đầu tiên, tỉnh Bến Tre tổ chức thi tuyển công chức có quy mô lớn với hình thức thi công khai, minh bạch, đã siết chặt việc coi thi, ra đề, chấm thi, nhằm tuyển chọn những công chức có phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực, kịp thời bổ sung đội ngũ công chức cho các cơ quan, đơn vị đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tại buổi Lễ, ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ chúc mừng các thí sinh được trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2013, Giám đốc Sở Nội vụ Nguyễn Hữu Lập yêu cầu các công chức mới được tuyển dụng cần nhanh chóng thích nghi, hòa nhập; chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị nơi công tác; vận dụng các kiến thức đã học vào công việc có hiệu quả nhất; không ngừng phấn đấu, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tin học, ngoại ngữ; học hỏi đồng nghiệp, làm tốt công tác tham mưu để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào thực hiện thành công nhiệm vụ chung của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, Giám đốc Sở Nội vụ cũng đề nghị lãnh đạo các cơ quan, đơn vị tiếp nhận công chức mới phân công nhiệm vụ đúng theo vị trí việc làm, tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn công chức mới làm quen với công việc, để công chức mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

20/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Luật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đaiLuật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự c...

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự công bằng trong xã hội; đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thắt chặt tình làng, nghĩa xóm trong nhân dân.

Tuy nhiên, trên thực tế việc giải quyết tranh chấp đất đai diễn biến rất phức tạp. Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, khởi kiện tại Tòa án nhân dân các cấp liên quan đến lĩnh vực đất đai luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng ngày càng tăng. Bên cạnh đó, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai ở một số địa phương vẫn chưa thật sự nhận được sự đồng tình của người dân, dẫn đến nhiều vụ việc phải giải quyết kéo dài, qua nhiều cấp khác nhau; nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn chưa được thi hành.

Ngày 29 tháng 11 năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014, đã mở rộng hơn nữa quyền của công dân trong việc yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai, khi các bên sử dụng đất mâu thuẫn, không thống nhất với nhau trong quá trình sử dụng đất.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”. Hòa giải trong trường hợp này là tự nguyện. Trong trường hợp “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải” (Khoản 2 Điều 202) và đây là thủ tục hòa giải bắt buộc. Theo đó, tại Khoản 3, 4, 5 Điều 202 thì hòa giải theo thủ tục này được quy định như sau: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai; việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp; đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác và Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định đối với việc tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành, thì được giải quyết như sau:

Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.

Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đây là một quy định mới khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2014.

Tại Khoản 3 Điều 203 quy định trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Đây cũng là một quy định mới theo Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011, tại Điều 264.

Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều 203 phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hiệu quả Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ Hiệu quả Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ
Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và đối tượng chính sách được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp cho người dân thuộc đối tượng được TGPL tiếp cận với pháp luật. Cái nghèo của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa không chỉ là nghèo vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu văn hoá mà còn nghèo vì thiếu hiểu biết pháp luật, có hiểu biết pháp luật, có văn hoá có biết...

Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và đối tượng chính sách được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp cho người dân thuộc đối tượng được TGPL tiếp cận với pháp luật. Cái nghèo của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa không chỉ là nghèo vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu văn hoá mà còn nghèo vì thiếu hiểu biết pháp luật, có hiểu biết pháp luật, có văn hoá có biết chữ, người dân mới biết tự bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình; yên tâm đầu tư phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Chính vì xác định được tầm quan trọng của công tác TGPL; trong những năm qua, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh (Trung tâm TGPL) đã đẩy mạnh hoạt động trợ giúp hướng về cơ sở, tăng cường TGPL lưu động ở các vùng xa, vùng sâu… không chỉ cho đối tượng TGPL mà còn cho các đối tượng khác. Trung tâm TGPL đã có những biện pháp trợ giúp cụ thể cho các đối tượng phụ nữ chuẩn bị kết hôn và ly hôn, đối tượng chính sách,…tham gia bảo vệ quyền lợi cho chị em khi bị xâm hại. Tuy nhiên, chị em phụ nữ thường có tâm lý e ngại khi đến các cơ quan công quyền, nhất là trong trường hợp phải đến cơ quan pháp luật để trình bày những vướng mắc khó nói của bản thân mình và gia đình. Nhiều người đành chấp nhận im lặng, chịu đựng bị đối xử tồi tệ cho đến khi được mọi người xung quanh phát hiện và các cơ quan, tổ chức can thiệp, khi đó có thể xảy ra nhiều hậu quả đáng tiếc..

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, để tạo điều kiện thuận lợi cho chị em phụ nữ được nâng cao kiến thức pháp luật để tự bảo vệ mình hoặc được bảo vệ khi cần thiết, Trung tâm TGPL đã phối hợp với Hội Liên hiện phụ nữ các cấp thành lập các Câu lạc bộ TGPL dành cho phụ nữ ở cấp huyện; bên cạnh các Câu lạc bộ TGPL được thành lập ở các xã, đã tạo ra một diễn đàn để các chị em có nơi sinh hoạt, vui chơi và tìm hiểu pháp luật. Đến nay, Trung tâm TGPL đã thành lập 46 Câu lạc bộ TGPL; trong đó có 3 Câu lạc bộ Hội liên hiệp phụ nữ cấp huyện; do Ban chấp hành Hội phụ nữ của huyện và các cán bộ tư pháp xã, Hội Phụ nữ xã trong huyện làm nòng cốt. Hướng tới Trung tâm TGPL sẽ phối hợp với lãnh đạo địa phương sẽ ra mắt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho Phụ nữ xã Khánh Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, gồm có 45 thành viên, chủ yếu là hội viên hội phụ nữ của ấp. Câu lạc bộ tổ chức sinh hoạt thường kỳ hàng quý, hàng tháng xoay vòng các xã, với nội dung rất phong phú và hình thức đa dạng, thu hút được nhiều chị em tham gia, giới thiệu những quy định mới của pháp luật, những sự kiện xảy ra trong đời sống hàng ngày, được sự hỗ trợ, hướng dẫn về chuyên môn của Trung tâm trợ giúp pháp lý và phòng Tư pháp huyện, thành phố.

Câu lạc bộ TGPL còn trực tiếp trợ giúp miễn phí cho phụ nữ là nạn nhân của nạn bạo lực gia đình một cách kịp thời nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho họ. Qua thời gian hoạt động, Câu lạc bộ TGPL được chính quyền địa phương quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ.

Trung tâm TGPL đã rà soát, hướng dẫn ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL ở địa phương. Hầu hết, tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL đều đúng theo Quyết định số 03/2008/QĐ-BTP của Bộ tư pháp.

Đối với Câu lạc bộ TGPL phụ nữ cấp huyện là mô hình hoạt động thật sự có hiệu quả cao, tiêu biểu là Câu lạc bộ TGPL của Hội Phụ nữ huyện Mỏ Cày Nam, đã tổ chức lồng ghép sinh hoạt ở chi, tổ hội, tổ chức cuộc thi về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình…. đã phát hiện và báo cáo các ngành chức năng phối hợp ngăn chặn giải quyết kịp thời 09 vụ tảo hôn, 26 vụ bạo hành phụ nữ, 04 vụ ngược đãi trẻ em. Ngoài ra, thành viên Câu lạc bộ TGPL còn phối hợp tham gia hòa giải, giải quyết đơn thư khiếu nại có liên quan đến phụ nữ, trẻ em; có 214 vụ tranh chấp liên quan đến đất đai, hôn nhân gia đình và tranh chấp khác; trong đó hòa giải thành 128 vụ.

Câu lạc bộ TGPL là diễn đàn để các chị em phụ nữ bày tỏ những tâm tư, nguyện vọng của mình, và yêu cầu bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình trong cuộc sống.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch kiểm tra hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bến TreKế hoạch kiểm tra hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 07 tháng 4 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 1941/KH-UBND về kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Theo đó, Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh giao Sở Tư pháp tham mưu trình UBND tỉnh Quyết định thành lập Đoàn kiểm tra hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC), thông báo lịch kiểm tra đến các cơ quan, đơ...

Ngày 07 tháng 4 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 1941/KH-UBND về kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Theo đó, Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh giao Sở Tư pháp tham mưu trình UBND tỉnh Quyết định thành lập Đoàn kiểm tra hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC), thông báo lịch kiểm tra đến các cơ quan, đơn vị được kiểm tra và phối hợp với sở, ngành có liên quan tổ chức kiểm tra theo Kế hoạch; hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các cơ quan, đơn vị đươc kiểm tra thực hiện việc báo cáo tình hình và kết quả triển khai thực hiện hoạt động kiểm soát TTHC tại cơ quan, đơn vị.

Nội dung kiểm tra tại UBND cấp huyện, cấp xã: Công tác chỉ đạo, điều hành về hoạt động kiểm soát TTHC tại cơ quan, đơn vị; công tác triển khai thực hiện Kế hoạch số 6294/KH-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2014 của UBND tỉnh về rà soát quy định, TTHC năm 2014; việc niêm yết công khai TTHC; thực hiện giải quyết TTHC; tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; công tác truyền thông phục vụ cải cách TTHC, kiểm soát TTHC; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu đột xuất về tình hình, kết quả hoạt động kiểm soát TTHC; những khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị của đơn vị.

Nội dung kiểm tra tại các sở, ban, ngành tỉnh: Ngoài kiểm tra các nội dung nêu trên, Đoàn kiểm tra sẽ kiểm tra việc thực hiện đánh giá tác động của quy định TTHC và lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về TTHC; việc cập nhật, thống kê trình công bố TTHC ban hành mới, TTHC được sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ.

Thời gian kiểm tra từ ngày 10 tháng 6 năm 2014 đến ngày 10 tháng 7 năm 2014.

Đơn vị được kiểm tra: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Nội vụ, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Ban Quản lý các khu công nghiệp; UBND huyện Chợ Lách, thành phố Bến Tre; UBND xã Mỹ Hoà, Tân Thuỷ - huyện Ba Tri; UBND xã Bình Thắng, Tam Hiệp - huyện Bình Đại; UBND xã Long Thới - huyện Chợ Lách; UBND Phường 2- thành phố Bến Tre.

Ngoài các đơn vị được kiểm tra nêu trên, Đoàn kiểm tra có thể thực hiện việc kiểm tra đột xuất tại một số cơ quan, đơn vị có phản ánh, kiến nghị trong việc tiếp nhận và giải quyết TTHC của cá nhân, tổ chức hoặc qua thông tin báo chí.

UBND tỉnh đã giao trách nhiệm cho Đoàn kiểm tra xác định ưu điểm, khuyết điểm, kiến nghị xử lý; tìm hiểu nguyên nhân khó khăn, tồn tại, nghiên cứu đề xuất của các ngành, các cấp và giải đáp, hướng dẫn những vướng mắc để giúp các ngành, các cấp khắc phục; tổng hợp kết quả kiểm tra, báo cáo UBND tỉnh sau khi kết thúc kiểm tra.

22/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tăng cường phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong thi hành án dân sựTăng cường phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong thi hành án dân sự
Nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của cơ quan, công chức thi hành án dân sự trong thực thi nhiệm vụ, công vụ; ngăn chặn, loại bỏ cơ hội, điều kiện phát sinh tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động thi hành án dân sự, góp phần xây dựng bộ máy các cơ quan Thi hành án dân sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức thi hành án dân sự liêm, chính, chí công, vô tư; ngày 11 th...

Nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của cơ quan, công chức thi hành án dân sự trong thực thi nhiệm vụ, công vụ; ngăn chặn, loại bỏ cơ hội, điều kiện phát sinh tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động thi hành án dân sự, góp phần xây dựng bộ máy các cơ quan Thi hành án dân sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức thi hành án dân sự liêm, chính, chí công, vô tư; ngày 11 tháng 02  năm 2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chỉ thị số 01/CT-BTP về việc tăng cường phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong thi hành án dân sự.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp yêu cầu Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Thủ trưởng các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương và các đơn vị có liên quan thuộc Bộ quán triệt nghiêm túc chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tiêu cực, tham nhũng; Chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên; Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp; những việc cán bộ, công chức không được làm; nghĩa vụ của cán bộ, công chức phải báo cáo, cũng như trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tiếp nhận, xử lý kịp thời các dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng xảy ra trong đơn vị.

Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ Tư pháp còn chỉ thị nhiều nội dung liên quan đến thể chế; tổ chức thi hành án dân sự; công tác tổ chức, cán bộ; lĩnh vực tài chính, kế toán và đầu tư xây dựng cơ bản; tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm tiêu cực, tham nhũng.

Về vấn đề tổ chức thi hành án dân sự các cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm niêm yết công khai thủ tục thi hành án tại trụ sở cơ quan, tiến tới công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị về quá trình thi hành án, kết quả thi hành án để các bên có liên quan theo dõi, giám sát. Thụ lý, ra quyết định thi hành án đúng thời hạn đối với bản án, quyết định có hiệu lực thi hành. Thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục, bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong thi hành án dân sự. Nghiêm cấm thanh toán tiền mặt cho đương sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Công bố công khai số điện thoại đường dây nóng, địa chỉ hộp thư điện tử của cơ quan để tiếp nhận, xác minh, xử lý kịp thời thông tin về tiêu cực, tham nhũng liên quan đến thi hành án dân sự. Công khai họ tên, chức vụ của người có thẩm quyền giải quyết công việc thi hành án dân sự cho tổ chức, cá nhân có liên quan biết. Tất cả công chức thi hành án khi tiếp, làm việc với tổ chức, cá nhân liên quan phải đeo thẻ công chức. Việc tiếp đương sự phải thực hiện theo quy định về tiếp công dân; chỉ tiếp tại phòng tiếp công dân, phòng khách, các địa điểm do pháp luật quy định; nghiêm cấm tiếp đương sự tại nhà riêng, phòng làm việc, những nơi khác không đúng quy định. Tập trung chỉ đạo, giải quyết những vụ án lớn, phức tạp và tồn đọng. Nghiêm cấm lợi dụng việc hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ để trì hoãn, kéo dài thi hành án dân sự.

Đặc biệt, trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo phải công khai, minh bạch quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định. Chủ động giải quyết khiếu nại, tố cáo dứt điểm ngay từ cơ sở; hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dài. Nghiêm cấm việc lợi dụng việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại để trì hoãn, kéo dài việc thi hành án dân sự.

Trong việc xử lý vi phạm tiêu cực, tham nhũng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ thị phải xử lý nghiêm những trường hợp tiêu cực, tham nhũng trong thi hành án dân sự (kể cả những trường hợp bao che hoặc phát hiện có tiêu cực, tham nhũng nhưng không báo cáo, không có biện pháp ngăn chặn, không xử lý hoặc xử lý không triệt để), bất kể người đó là ai và ở cương vị nào. Chú trọng thu hồi tài sản do tiêu cực, tham nhũng mà có. Áp dụng chính sách khoan hồng đối với những công chức tiêu cực, tham nhũng nhưng có thái độ thành khẩn, đã khắc phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ quan chức năng.  Người đứng đầu các đơn vị thuộc hệ thống Thi hành án dân sự (Tổng Cục trưởng, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tổng cục, Cục trưởng, Trưởng các Phòng chuyên môn thuộc Cục và Chi Cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự) chịu trách nhiệm khi để xảy ra tiêu cực, tham nhũng tại các đơn vị, bộ phận, lĩnh vực do mình phụ trách, liên đới trách nhiệm đối với lĩnh vực do cấp phó của mình phụ trách. Cấp phó của người đứng đầu các đơn vị thuộc hệ thống Thi hành án dân sự chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra tiêu cực, tham nhũng tại các bộ phận, lĩnh vực do mình trực tiếp phụ trách. Chấp hành viên chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra tiêu cực, tham nhũng của công chức giúp việc đối với hồ sơ vụ việc do mình phụ trách thi hành. Các đối tượng nêu trên được loại trừ trách nhiệm trong trường hợp không thể biết hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm tiêu cực, tham nhũng. Công chức có hành vi tiêu cực, tham nhũng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự; cán bộ càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải xử lý nặng; trong trường hợp bị kết án về hành vi tiêu cực, tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì bị buộc thôi việc. Công chức có hành vi tiêu cực, tham nhũng bị kỷ luật chưa đến mức buộc thôi việc thì bố trí sang làm nhiệm vụ khác trong thời hạn ít nhất 02 năm. Không xét thi đua, khen thưởng đối với các đơn vị có công chức bị xử lý vi phạm kỷ luật do tiêu cực, tham nhũng trong 01 năm.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Công tác bồi thường Nhà nước trong 06 tháng đầu năm 2012Công tác bồi thường Nhà nước trong 06 tháng đầu năm 2012
Thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009; Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; trong 06 tháng đầu năm 2012, công tác bồi thường Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre bước đầu đã đạt nhiều kết quả nhất định.

Thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009; Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; trong 06 tháng đầu năm 2012, công tác bồi thường Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre bước đầu đã đạt nhiều kết quả nhất định.

Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản có liên quan đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được các cơ quan, đơn vị tổ chức tốt thông qua nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau như: qua hệ thống M-Office; các cuộc họp cơ quan hoặc sinh hoạt báo vào sáng thứ hai, thứ năm hàng tuần; xây dựng câu chuyện truyền thanh, biên soạn tài liệu đăng trên Bản tin sinh hoạt cơ quan, thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý, phát hành sổ tay tìm hiểu Luật đến tận Tổ nhân dân tự quản. Qua đó đã tổ chức in và phát hành 130 tài liệu và sách pháp luật về công tác bồi thường của Nhà nước cho các cơ quan, ban, ngành huyện; tổ chức được 26 cuộc tuyên truyền có 1.326 người tham dự…

Công tác theo dõi, kiểm tra giải quyết bồi thường đã được Sở Tư pháp chú trọng. Thông qua việc ban hành Quyết định số 41/QĐ-STP về kiểm tra thực hiện công tác tư pháp - hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre, qua đó tiến hành kiểm tra các nội dung về công tác bồi thường của Nhà nước. Việc phân công cán bộ theo dõi và thực hiện giải quyết yêu cầu bồi thường đã được hầu hết các cơ quan, đơn vị thực hiện tốt điển hình như: Sở Giao thông vận tải, Sở Khoa học và Công nghệ giao cán bộ pháp chế thuộc Sở; Sở Công Thương, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao cho cán bộ Thanh tra Sở; Ủy ban nhân dân cấp huyện giao cho Phòng Tư pháp, thực hiện bố trí đầy đủ kinh phí phục vụ cho công tác bồi thường Nhà nước.

Nhìn chung, các cơ quan, đơn vị ở địa phương đã tích cực, chủ động tổ chức triển khai, phổ biến các nội dung của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; đã có sự phân công, bố trí cán bộ, công chức thực hiện việc tiếp nhận, thụ lý hồ sơ và tham mưu giải quyết yêu cầu bồi thường. Qua đó, cho thấy đông đảo cán bộ, công chức đã có nhận thức tốt về những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong 06 tháng đầu năm 2012, tỉnh Bến Tre chưa có phát sinh vụ việc yêu cầu giải quyết bồi thường.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai pháp luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước của các cơ quan, đơn vị cũng còn một số hạn chế nhất định. Do đây là công tác mới, chưa có thực tiễn nên việc triển khai đôi khi còn lúng túng; nội dung triển khai chưa đi vào chiều sâu, chủ yếu còn lồng ghép việc triển khai với những nội dung khác. Do thiếu người nên một số cơ quan, đơn vị chưa thực hiện đúng quy định phân công cán bộ pháp chế làm đầu mối quản lý và theo dõi công tác bồi thường trong cơ quan, đơn vị mình; cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường chưa có kinh nghiệm, chuyên môn trong giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm về bồi thường của Nhà nước.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác giải quyết bồi thường trên địa bàn tỉnh, trong thời gian tới cần mở các lớp tập huấn nghiệp vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường và thực hiện giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm về bồi thường của Nhà nước. Đồng thời, cần có văn bản hướng dẫn việc xử lý trách nhiệm đối với cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ.

29/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại ĐiềnRa mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại Điền
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) ngày càng hiệu quả cao, thiết thực, đáp ứng nhu cầu TGPL cho người dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người nghèo, đối tượng chính sách…ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) ngày càng hiệu quả cao, thiết thực, đáp ứng nhu cầu TGPL cho người dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người nghèo, đối tượng chính sách…ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/ 06/ 2013, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm TGPL) phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Ủy ban nhân dân xã Đại Điền tổ chức ra mắt thành lập “Câu lạc bộ trợ giúp lý xã Đại Điền” và tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL lần đầu tiên. Đến dự có: Ông Nguyễn Minh Khoa đại diện Trung tâm trợ giúp lý; bà Lê Thị Mộng Thùy, Tưởng Chi nhánh số 02; ông Lê Mộng Linh, Trưởng phòng Tư pháp huyện, ông Nguyễn Văn Bình, Phó Bí Thư Đảng ủy xã, cùng 44 người dân tham dự buổi lễ.

Theo Quyết Định số 75/QĐ-UBND ngày 15/05/2013, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại Điền có 14 thành viên, bà Mai Thị Hiền, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân làm Chủ nhiệm,

Đến nay, huyện Thạnh Phú có 14/18 xã được thành lập Câu lạc bộ TGPL; nâng tổng số Câu lạc bộ TGPL trong toàn tỉnh là 47Câu lạc bộ .

 

Câu lạc bộ TGPL là một hình thức hoạt động TGPL cộng đồng, tạo điều kiện cho người được TGPL ở địa phương tham gia sinh hoạt hoạt, trao đổi vướng mắc pháp luật. Thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL giúp cho thành viên của Câu lạc bộ có điều kiện gần dân nhiều hơn, qua đó hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người dân, giúp người dân giải quyết tranh chấp ở cơ sở được kịp thời.

Dự kiến đến cuối năm 2013, Trung tâm TGPL sẽ tiếp tục phối hợp với các cấp chính quyền địa phương, phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú sẽ thành lập Câu lạc bộ TGPL ở các xã còn lại trên địa bàn huyện Thạnh Phú, nhằm phục vụ tốt nhu nhu cầu TGPL cho người dân.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre
 Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đô...

Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, lãnh đạo Trung tâm TGPL nhà nước, các Trợ giúp viên pháp lý, các Cộng tác viên TGPL và đại diện 02 câu lạc bộ TGPL xã Nhơn Thạnh, Phú Nhuận thành phố Bến Tre.

Tại tọa đàm, các đại biểu đã nghe trình bày các tham luận về Thực trạng hoạt động TGPL trong hoạt động tố tụng; Vai trò TGPL với công tác hòa giải cơ sở; Vai trò của Cộng tác viên và các tổ chức hành nghề luật trong TGPL; Cơ chế phối hợp và thực tiễn triển khai Kế hoạch tăng cường TGPL cho trẻ em giai đoạn 2011- 2015; kết quả hoạt động phối hợp thực hiện Chương trình 14 phổ biến giáo dục pháp luật và TGPL cho phụ nữ; Kết quả hoạt động phối hợp TGPL lưu động; Tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc; lãnh đạo Trung tâm TGPL báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động TGPL; tình hình tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL ở địa phương.

Các tham luận và ý kiến của đại biểu đã đánh giá, phân tích khá sâu, đúng thực chất tình hình và kết quả đạt được trong hoạt động TGPL; phân tích vai trò, tác động của hoạt động TGPL đối với sự phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương; làm rõ những khó khăn, hạn chế, tìm ra nguyên nhân trong việc thực hiện TGPL, để từ đó đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn; đồng thời kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL.

Ông Phùng Ngọc Đức, Biên tập viên chính, Tạp chí Dân chủ – Pháp luật đã dành thời gian trao đổi và hướng dẫn về phương pháp, cách thức và kỹ năng viết tham luận, viết tin, bài báo chí.

Kết thúc buổi tọa đàm, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sơ Tư pháp trân trọng và cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật ; đồng chí Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó cục trưởng Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và các đồng chí cùng đi trong đoàn đã dành thời gian quý báo đến thăm và làm việc tại Bến Tre, xin trân trọng cán ơn các đồng chí lãnh đạo, đại diện các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tỉnh; các đồng chí trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên, các cộng tác viên; các đồng chí Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL đã đến dự đông đủ.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp không uống rượu, bia  trong ngày làm việcCán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp không uống rượu, bia  trong ngày làm việc
Để thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; ngày 25/3/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chỉ thị số 02/CT-BTP về việc cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp không uống rượu, bia trong ngày làm việc. Cụ thể:

Để thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; ngày 25/3/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chỉ thị số 02/CT-BTP về việc cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp không uống rượu, bia trong ngày làm việc. Cụ thể:

Nghiêm cấm uống rượu, bia hoặc các loại đồ uống khác có nồng độ cồn tương đương (sau đây gọi chung là rượu, bia) ngay trước và trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa của ngày làm việc, kể cả khi tổ chức hội nghị, tiếp khách.

Khi phát hiện cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành Tư pháp có hành vi vi phạm cần thông báo với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp cán bộ, công chức, viên chức đó biết để có biện pháp xử lý.

Đồng thời, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp cũng chỉ đạo thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc các Sở Tư pháp, Cục trưởng các Cục Thi hành án dân sự, Chi cục trưởng các Chi cục Thi hành án dân sự có trách nhiệm:

Đề cao ý thức kỷ luật, kỷ cương, nghiêm túc, gương mẫu thực hiện quy định không uống rượu, bia của cán bộ, lãnh đạo quản lý theo Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

Chỉ đạo các nhà ăn, căng-tin trực thuộc không phục vụ hoặc bán rượu, bia cho các hội nghị, hội thảo, tập huấn, tiếp khách... có thành phần tham dự là cán bộ, công chức, viên chức vào buổi sáng, buổi trưa các ngày làm việc.

Bổ sung quy định không uống rượu, bia trong ngày làm việc vào quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị. Trong trường hợp cần thiết, tổ chức cho cán bộ, công chức, viên chức ký cam kết thực hiện không uống rượu, bia trong ngày làm việc.

Kịp thời xử lý, chấn chỉnh những trường hợp vi phạm quy định không uống rượu bia theo Chỉ thị này.

Chỉ thị này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/3/2013.

15/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn