Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ
Sáng ngày 01 tháng 8 năm 2014, tại số 178, ấp Lộc Sơn, xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Văn phòng Công chứng Lộc Thuận đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động theo Quyết định số 1356/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc cho phép thành lập Văn phòng Công chứng Lộc Thuận và Giấy đăng ký hoạt động số 12/TP-ĐKHĐ ngày 30 tháng 7 năm 2014 của ... 
 
Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của ... 
 
Ngày 20 tháng 7 năm 2014, Quốc hội thông qua Luật Công chứng, thay thế Luật Công chứng năm 2006 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật Công chứng năm 2014 có 10 chương và 81 điều, trong đó có nhiều quy định đáng chú ý như mở rộng phạm vi công chứng; tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên, về tổ chức hành nghề công chứng,… 
 
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng, phát hiện những sai sót để kịp thời chấn chỉnh, đảm bảo hoạt động hành nghề công chứng tại Bến Tre diễn ra đúng quy định pháp luật, ngày 28 tháng 4 năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-STP về việc kiểm tra về tổ chức và hoạt động đối với 05 Văn phòng Công chứng trên đ... 
 
Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.  
 
Sáng ngày 23 tháng 4 năm 2014, Văn phòng Công chứng Ba Tri đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại địa chỉ số 27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Phan Văn Trung làm Trưởng Văn phòng. Văn phòng Công chứng Ba Tri hiện có 02  Công chứng viên và 02 nhân viên.  
 
Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu... 
 
Theo quy định tại Điều 594 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối. Theo đó, người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ:  
 
Đứng trước vành móng ngựa, anh Thắng với ánh mắt ngân ngấn lệ, vẽ mặt đầy hối hận nhìn về phía gia đình đang ngồi trong phòng xét xử. Câu chuyện thương tâm bắt nguồn từ việc tranh chấp lối đi do chưa hiểu quy định của pháp luật.  
 
Ngày 07 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 10/2014/TT-BTP quy định về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư. Thông tư này quy định về đối tượng, thời gian, hình thức, nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; xử lý luật sư vi phạm nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; học phí tham gia lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về giao dịch bảo đảmTăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về giao dịch bảo đảm
Trong những năm qua, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm của hầu hết các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đáp ứng yêu cầu hiện nay; việc giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng ...

Trong những năm qua, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm của hầu hết các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đáp ứng yêu cầu hiện nay; việc giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo thời gian theo quy định của Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT/BTNMT-BTP ngày 18 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm và phí cung cấp thông tin giao dịch bảo đảm được thực hiện đúng quy định.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng còn một số hạn chế như: Việc cập nhật thông tin vào sổ địa chính, sổ theo dõi biến động đất đai chưa kịp thời; thông tin cung cấp trên đơn yêu cầu đăng ký chưa đầy đủ; phí dịch vụ chưa có sự thống nhất giữa các Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất; việc xóa thế chấp sau khi đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ chưa được thực hiện tốt, cơ sở vật chất một vài đơn vị chưa đảm bảo.

Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm và Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 13 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính Phủ về việc tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thực hiện một số nội dung sau đây:

Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước

Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Quy chế Phối hợp trong quản lý nhà nước về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 11 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Trong đó tăng cường công tác kiểm tra nhằm phát hiện những hạn chế, thiếu sót để hướng dẫn khắc phục kịp thời.

Rà soát tất cả các văn bản pháp luật về giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm; về phí dịch vụ liên quan đến hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo đúng quy định.

Xây dựng quy chế cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với các tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan thi hành án dân sự.

Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh, huyện đảm bảo trình tự thủ tục đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên Môi trường.

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bến Tre chỉ đạo các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện xóa đăng ký giao dịch bảo đảm khi đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP.

Ủy ban nhân dân huyện, thành phố quan tâm tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và hỗ trợ bên nhận bảo đảm thực hiện việc thu hồi, xử lý tài sản đảm bảo đúng quy định.

Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì phối hợp Sở Tài nguyên Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bến Tre và các sở, ngành liên quan tổ chức thực hiện chỉ đạo này và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi

06/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Một số tội phạm thường xảy ra khi xuân vềMột số tội phạm thường xảy ra khi xuân về
Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, Tết đến, trong không khí nhộn nhịp, náo nức đón chào năm mới thì tình hình tội phạm lại gia tăng. Đặc biệt, có những tội phạm chỉ xảy ra nhiều vào dịp Tết như đánh bạc, tổ chức đánh bạc (đá gà, đánh bài, lắc bầu cua...) và một hệ lụy kèm theo, nếu như thua thì nảy sinh mâu thuẫn với người thắng, xảy ra cải vã, sâu xát hoặc cố ý gây thương tích, số khác nghĩ đến việc ...

Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, Tết đến, trong không khí nhộn nhịp, náo nức đón chào năm mới thì tình hình tội phạm lại gia tăng. Đặc biệt, có những tội phạm chỉ xảy ra nhiều vào dịp Tết như đánh bạc, tổ chức đánh bạc (đá gà, đánh bài, lắc bầu cua...) và một hệ lụy kèm theo, nếu như thua thì nảy sinh mâu thuẫn với người thắng, xảy ra cải vã, sâu xát hoặc cố ý gây thương tích, số khác nghĩ đến việc đi trộm cắp, cướp giật, cướp tài sản người khác để có tiền tiếp tục cuộc đỏ đen. Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ thanh thiếu niên vui chơi quá đà, nhậu say càn quấy, gây rối trật tự công cộng hay các bạn nhậu bất đồng quan điểm, quá khích, đánh nhau gây thương tích. Có những cái chết thương tâm đã xảy ra mà trước đó vài phút thôi, kẻ sát nhân và người bị hại còn kề vai nhau tâm tình thân thiết, cùng nhau chén tạc chén thù.

Những hành vi vi phạm này, nếu nhẹ thì bị xử lý vi phạm hành chính, nặng hơn là truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc của Nhà nước tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của bản thân. Tuy nhiên, hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định Tội đánh bạc tại Điều 248: Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 (Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc) của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Căn cứ vào tính chất và mức độ vi phạm người phạm tội bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 249: Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: Có tính chất chuyên nghiệp; Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn; Tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Người đánh bạc, người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 20.000.000 đồng tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm. (Điều 23 Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội).

Cùng mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng với tính chất, hình thức, mức độ vi phạm khác nhau sẽ có các hình phạt tương xứng: Điều 138: Tội trộm cắp tài sản (có giá trị từ hai triệu đồng trở lên), Điều 136: Tội cướp giật tài sản (Không quy định giá trị tài sản cướp được) bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến hai mươi năm, tù chung thân, có thể bị phạt tiền đến năm mươi triệu đồng. Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo Nghị định 73/2010/NĐ-CP.

Điều 133: Tội cướp tài sản quy định: Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, tuỳ vào tính chất, mức độ vi phạm bị phạt tù cao nhất đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình, có thể bị phạt tiền đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 245: Tội gây rối trật tự công cộng: Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách; Có tổ chức; Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng; Xúi giục người khác gây rối;Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng; Tái phạm nguy hiểm.

Điều 104: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm: Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; Có tổ chức; Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Để ngày xuân được vui tươi, hạnh phúc, mỗi chúng ta ngoài việc vui chơi lành mạnh, còn phải tự giác chấp hành pháp luật, vận động gia đình, bạn bè, người thân chấp hành pháp luật, nâng cao ý thức đấu tranh phòng, chống mọi hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi gia đình hạnh phúc, bình yên - xóm ấp bình yên, tràn ngập niềm vui đón chào năm mới.

06/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về giao dịch bảo đảmTăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về giao dịch bảo đảm
Trong những năm qua, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm của hầu hết các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đáp ứng yêu cầu hiện nay; việc giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng ...

Trong những năm qua, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm của hầu hết các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đáp ứng yêu cầu hiện nay; việc giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo thời gian theo quy định của Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT/BTNMT-BTP ngày 18 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm và phí cung cấp thông tin giao dịch bảo đảm được thực hiện đúng quy định.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng còn một số hạn chế như: Việc cập nhật thông tin vào sổ địa chính, sổ theo dõi biến động đất đai chưa kịp thời; thông tin cung cấp trên đơn yêu cầu đăng ký chưa đầy đủ; phí dịch vụ chưa có sự thống nhất giữa các Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất; việc xóa thế chấp sau khi đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ chưa được thực hiện tốt, cơ sở vật chất một vài đơn vị chưa đảm bảo.

Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm và Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 13 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính Phủ về việc tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thực hiện một số nội dung sau đây:

Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước

Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Quy chế Phối hợp trong quản lý nhà nước về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 11 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Trong đó tăng cường công tác kiểm tra nhằm phát hiện những hạn chế, thiếu sót để hướng dẫn khắc phục kịp thời.

Rà soát tất cả các văn bản pháp luật về giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm; về phí dịch vụ liên quan đến hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo đúng quy định.

Xây dựng quy chế cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với các tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan thi hành án dân sự.

Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh, huyện đảm bảo trình tự thủ tục đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên Môi trường.

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bến Tre chỉ đạo các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện xóa đăng ký giao dịch bảo đảm khi đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP.

Ủy ban nhân dân huyện, thành phố quan tâm tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và hỗ trợ bên nhận bảo đảm thực hiện việc thu hồi, xử lý tài sản đảm bảo đúng quy định.

Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì phối hợp Sở Tài nguyên Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bến Tre và các sở, ngành liên quan tổ chức thực hiện chỉ đạo này và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi

05/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND, HĐND cấp tỉnh cần phải tránh lối mòn trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luậtThực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND, HĐND cấp tỉnh cần phải tránh lối mòn trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1. Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND, HĐND cấp tỉnh:Trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cụ thể ở địa phương là rất lớn. Trước đây, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh chưa có quy định nào điều chỉnh. Trong khi đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (được sửa đổi...

1. Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND, HĐND cấp tỉnh:
Trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cụ thể ở địa phương là rất lớn. Trước đây, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh chưa có quy định nào điều chỉnh. Trong khi đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (được sửa đổi năm 2002 và năm 2008) chỉ quy định chung chung về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Do đó, tại địa phương, mỗi nơi mỗi kiểu tự mày mò, xây dựng trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho riêng mình. Để khắc phục tình trạng đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2005. Đây là đạo luật quan trọng trong việc quy định về trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương các cấp và có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động quản lý điều hành ở địa phương.
Sau khi Luật có hiệu lực thi hành, hành năm có hàng ngàn văn bản quy phạm pháp luật của địa phương nhất là cấp tỉnh đã được xây dựng và ban hành. Ví dụ như: trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong bốn năm (2005, 2006, 2007, 2008) ở cấp tỉnh đã ban hành khoảng 340 văn bản quy phạm pháp luật, riêng từ ngày 01/10/2009 đến ngày 31/9/2010 đã ban hành 46 văn bản quy phạm pháp luật (09 nghị quyết của HĐND tỉnh và 37 quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh).
Như vậy, có thể thấy được số lượng và nhu cầu ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh trong cả nước hàng năm là không nhỏ. Văn bản đó góp phần rất lớn trong việc cùng với Trung ương giải quyết các vấn đề bức xúc hiện nay của xã hội, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội cũng như xây dựng thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Qua khảo sát cho thấy hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh có những thuận lợi và hạn chế sau:
1.1. Những thuận lợi trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh:
Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh đã có Luật điều chỉnh và dần đi vào “kế hoạch hoá” khi thực hiện Chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh và Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh. Từ đó tạo sự phối hợp giữa các sở, ngành trong việc soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND tỉnh, UBND tỉnh. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp chế và cán bộ làm công tác văn bản ở cấp tỉnh thường xuyên được bồi dưỡng nghiệp vụ và tập huấn nghiệp vụ soạn thảo văn bản. Một số địa phương cũng rất quan tâm công tác soạn thảo, ban hành văn bản đã có sự đầu tư thích đáng cho hoạt động này. Kinh nghiệm cho thấy nơi nào có sự quan tâm, đầu tư đúng mực thì chất lượng văn bản quy phạm pháp luật nơi đó được đảm bảo và ngày một nâng cao.
1.2. Mặt hạn chế trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh:
Qua khảo sát cho thấy hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh thường có những hạn chế sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật thường sao chép lại các quy định của Trung ương nên nhìn chung tính khả thi sau khi ban hành không cao.
- Việc xây dựng Chương trình ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh; Chương trình xây dựng Quyết định, Chỉ thị của UBND tỉnh chưa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục luật định. Số lượng văn bản đăng ký ban hành theo các Chương trình này đạt tỷ lệ  không cao, còn mang tính hình thức.
- Dự thảo văn bản gửi thẩm định không đúng quy định làm ảnh hưởng đến thời gian thẩm định và bị động cho cơ quan thực hiện chức năng thẩm định. Đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định ở địa phương còn nhiều hạn chế về trình độ, năng lực. Nội dung thẩm định phần lớn về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản, chưa đi sâu phân tích nội dung của văn bản.
- Công tác rà soát và hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh hàng năm chưa được quan tâm đúng mức. Việc gửi văn bản phục vụ cho công tác kiểm tra chưa kịp thời và chưa đầy đủ theo quy định của pháp luật.
- Mặc dù nội dung thẩm định chủ yếu phát hiện các lỗi về hình thức, kỹ thuật trình bày nhưng hầu hết các văn bản ban hành vẫn chưa đảm bảo về mặt trình tự, thủ tục và thể thức, kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật.
- Nhiều địa phương còn né tránh việc kiểm tra văn bản nên đã không ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà thay vào đó là ban hành nhiều văn bản cá biệt có chứa quy phạm pháp luật.
- Vai trò của các luật sư, luật gia trong việc tham gia vào hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh còn nhiều hạn chế.
1.3. Nguyên nhân hạn chế:
Có thể khái quát các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh như sau:
- Các quy định về phân cấp, phân quyền của Trung ương cho địa phương chưa rõ ràng thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn giữa thẩm quyền của tập thể UBND tỉnh với cá nhân Chủ tịch UBND tỉnh hoặc có chồng chéo về thẩm quyền của HĐND với UBND.
- Một bộ phận cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh vẫn còn lối tư duy cũ trong việc soạn thảo ban hành văn bản quy phạm pháp luật; chưa thấy được tầm quan trọng của công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động quản lý điều hành ở địa phương.
- Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản ở một số tỉnh, thành phố còn thiếu và yếu về trình độ năng lực,  nhận thức máy móc về công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật nên thường sao chép lại các quy định của Trung ương, dẫn đến có sự chồng chéo trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của địa phương.
- Khi xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu rà soát, đối chiếu với quy định của cấp trên; thiếu khâu điều tra, khảo sát, phân tích đánh giá tình hình thực tế. Bên cạnh đó là khả năng phân tích đường lối, chủ trương của đảng và chính sách pháp luật của nhà nước.
- Các dự thảo văn bản đăng ký theo Chương trình lập quy chưa đúng trọng tâm, trọng điểm, chưa bám sát thực tiễn cũng như khả năng thực hiện của mình.
- Các địa phương chưa có chính sách thu hút đội ngũ luật sư, luật gia và người có trình độ trong việc tham gia vào hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp tỉnh.
2. Thời gian có hiệu lực thi hành nghị quyết của HĐND bị kéo dài:
HĐND thực hiện chức năng quyết định bằng hình thức ra Nghị quyết. Để thực hiện tốt chức năng quan trọng này, HĐND căn cứ vào quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ theo trình tự, thủ tục của Luật Tổ chức hoạt động của HĐND và UBND; Luật Ban hành văn bản quy phạn pháp luật của HĐND, UBND; Quy chế Hoạt động của HĐND và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Điều quan trọng là xác định nghị quyết nào của HĐND phải được thể hiện theo trình tự thủ tục, hình thức và nội dung của văn bản quy phạm pháp luật và nghị quyết nào được thể hiện bằng văn bản thông thường. Trong 4 yếu tố để xác định văn bản quy phạn pháp luật của HĐND có yếu tố đầu tiên dễ xác định, vì mặc nhiên văn bản do HĐND ban hành theo hình thức nghị quyết; Yếu tố thứ 2 và thứ 4 quy định văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo thủ tục, trình tự quy định tại luật và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật cũng dễ xác định và  thực hiện. Dễ nhầm lẫn và gây tranh cãi nhiều nhất là yếu tố thứ 3: Có chứa quy phạm pháp luật, được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng và có hiệu lực trong phạm vi địa phương.
Xác định Nghị quyết nào của HĐND là văn bản có quy phạm pháp luật rất khó, nhưng điều đáng quan tâm hơn là thời điểm có hiệu lực thi hành của Nghị quyết. Theo quy định, Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh là văn bản quy phạm pháp luật thì thời điểm có hiệu lực là sau 10 ngày kể từ ngày thông qua. Trong điều khoản thi hành, HĐND thường giao cho UBND có nhiệm vụ triển khai thực hiện. Thông thường, UBND lại triển khai thực hiện Nghị quyết của HĐND cùng cấp bằng văn bản quy phạm pháp luật của mình và theo quy định phải sau 10 ngày ban hành mới có hiệu lực thi hành. Nếu chuẩn bị tốt và chủ động, nghị quyết của HĐND  tỉnh  tối thiểu cần 20 ngày sau khi thông qua mới có thể thực hiện được. Chính vì vậy, việc thực hiện phân bổ ngân sách hàng năm của HĐND tỉnh gặp vướng mắc: Theo Luật Ngân sách, HĐND tỉnh phân bổ ngân sách cho các đơn vị trước ngày 10/12; HĐND huyện giao cho xã trước ngày 20/12 và HĐND cấp xã quyết định phân bổ cho các tổ chức của xã là trước ngày 31/12. Theo nguyên tắc, sau khi HĐND tỉnh thông qua nghị quyết phân bổ ngân sách, 10 ngày sau văn bản này mới có hiệu lực thi hành và UBND tỉnh mới có căn cứ giao cho cấp huyện. Và 10 ngày sau quyết định của UBND mới có hiệu lực.Vì vậy, dù chủ động tổ chức kỳ họp vào đầu tháng 12 hàng năm thì việc phân bổ ngân sách cũng không có điều kiện bảo đảm đúng thời gian quy định của Luật Ngân sách. Trong trường hợp khác, khi  nghị quyết của HĐND đã có hiệu lực thi hành, nhưng UBND chưa tổ chức triển khai thực hiện thì xem như các quy phạm được điều chỉnh trong nghị quyết chưa đi vào cuộc sống, dù đã có giá trị pháp lý.
Để giải quyết tình trạng trên, trước hết đòi hỏi HĐND phải nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành và thay đổi tư duy trong tổ chức thực hiện nghị quyết: Nếu đủ điều kiện thì tổ chức thực hiện ngay nghị quyết khi có hiệu lực, không cần thiết UBND phải ra văn bản quy phạm pháp luật theo kiểu sao chép lại nghị quyết, hoặc ban hành nghị quyết theo kiểu thông qua tờ trình, đề án như UBND một số địa phương vẫn làm. HĐND cũng cần tránh lối mòn: Nghị quyết nào cũng giao cho UBND cùng cấp ra văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện, thực chất chính là kéo dài thời gian có hiệu lực thi hành, chậm đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
Điều quan trọng hơn là phải điều chỉnh, sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND và các luật có liên quan, khắc phục độ vênh giữa các quy định trong thực hiện chức năng quyết định của HĐND. Các chế định phải được quy định phải rõ ràng, nhất là những chế định trong quy định thẩm quyền, quy trình thủ tục, hình thức, nội dung ban hành Nghị quyết của HĐND là văn bản quy phạm pháp luật; Tránh tình trạng mỗi nơi vận dụng một kiểu, không đạt hiệu quả trong hoạt động quản lý điều hành ở địa phương.

 

19/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Pháp luật về Trợ giúp pháp lý và những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động tham gia tố tụng năm 2012Pháp luật về Trợ giúp pháp lý và những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động tham gia tố tụng năm 2012
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, ...

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Hiện nay, tình hình tranh chấp, khiếu kiện vẫn còn xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, người dân tự đứng ra bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho mình chưa được đảm bảo tuyệt đối, một phần do văn bản pháp luật ngày càng nhiều, họ không thể tự tìm hiểu để bảo vệ cho chính mình. Ngoài ra, lời trình bày của họ rất hạn chế, không mang tính thuyết phục trước cơ quan nhà nước có thẩm. Trong khi đó, điều kiện về đời sống vật chất của người dân ngày càng rất khó khăn, thế nhưng các chi phí về dịch vụ pháp lý hiện nay khá cao, người dân nghèo ít có điều kiện thuê mướn các dịch vụ pháp lý để giúp đỡ mình trong từng vụ việc. Chính vì thế, nhu cầu trợ giúp pháp lý, nhất là trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng đang rất cần thiết trong nhân dân, đặc biệt là “Hộ nghèo”. Nhưng nhiều người dân nghèo hiện nay lại “e ngại”, bởi còn rất nhiều người chưa am hiểu hết về hoạt động của trợ giúp pháp lý, đặc biệt là trợ giúp pháp lý trong hoạt động tham gia tố tụng.

Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, thì các hình thức trong hoạt động trợ giúp pháp lý bao gồm: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác. Theo đó, hình thức tham gia tố tụng trong hoạt động trợ giúp pháp lý là khi có yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước quyết định cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư là cộng tác viên tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính.

Với công tác này, trong năm 2012, Trung tâm và Chi nhánh trợ giúp pháp lý thực hiện đạt được một số kết quả khá tốt; Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre đã cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên tham gia bào chữa 263 vụ việc, cho 263 đối tượng được trợ giúp pháp lý (Trợ giúp viên pháp lý tham gia 132 vụ việc, Luật sư cộng tác viên tham gia 131 vụ việc). Trong đó, có 153 vụ án hình sự, 29 vụ việc dân sự, 29 vụ đất đai, 43 vụ hôn nhân gia đình, 08 vụ hành chính và 01 vụ lao động. Qua đó, cho thấy số vụ việc tham gia tố tụng ngày càng được nâng lên, một phần do có sự phối hợp tốt của các cơ quan tố tụng, trong số các vụ việc đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý tham gia ngày càng nhiều, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên đã bảo vệ tốt quyền lợi ích chính đáng cho rất nhiều người thuộc diện được trợ giúp pháp lý và theo quy định pháp luật. Từ những kết quả đáng ghi nhận trong năm 2012. Thiết nghĩ, để thực hiện tốt hơn công tác này đòi hỏi cần có sự quan tâm hơn nữa của lãnh đạo các cấp, sự phối hợp đắc lực của các ngành, đặc biệt là nghiêm túc thực hiện nội dung Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BTC-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 của Bộ Tư pháp, Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, nhằm nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Đồng thời, về phía Trung tâm trợ giúp pháp lý sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng nhằm đảm bảo kịp thời theo yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý. Đặc biệt, đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý tại xã nông thôn, xã biên giới biển, khu vực phòng thủ, xã nghèo để người được trợ giúp pháp lý hiểu rõ hơn về quyền được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật và không bỏ sót, bỏ lọt đối tượng được trợ giúp pháp lý.

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán ngườiNghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người
Ngày 11 tháng 01 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người (Nghị định).

Ngày 11 tháng 01 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người (Nghị định).

Nghị định này quy định chi tiết về việc cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn Giấy phép thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân; tổ chức, hoạt động của cơ sở hỗ trợ nạn nhân và chế độ hỗ trợ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ hỗ trợ đối với nạn nhân. Theo đó, các tổ chức, cá nhân muốn thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân phải thõa những điều kiện sau: Có trụ sở làm việc ổn định, thuận tiện giao thông; diện tích đất tự nhiên tối thiểu 15 m2/nạn nhân; diện tích phòng ở bình quân 05 m2/nạn nhân; có trang thiết bị, phương tiện phù hợp với nhiệm vụ hỗ trợ nạn nhân; có ít nhất 05 (năm) nhân viên, trong đó 02 (hai) nhân viên có trình độ từ cao đẳng trở lên thuộc chuyên ngành công tác xã hội.

Bên cạnh đó Nghị định còn quy định các trường hợp không cấp Giấy phép thành lập như sau: Tổ chức, cá nhân nước ngoài; tổ chức cá nhân Việt Nam thuộc một trong các trường hợp sau: Không đáp ứng đủ các điều kiện thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của Nghị định; việc thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc lợi dụng việc thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; hồ sơ không hợp lệ.

Nghị định cũng đã quy định cụ thể chế độ hỗ trợ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ hỗ trợ nạn nhân về hỗ trợ nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại; hỗ trợ y tế; hỗ trợ tâm lý; trợ giúp pháp lý; hỗ trợ học văn hóa, học nghề, trợ cấp khó khăn ban đầu; hỗ trợ vay vốn.

Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2013.

06/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dânSơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dân
Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Văn Tuân, Tỉnh ủy viên, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh trình bày báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân (03/3/2009 – 03/3/2013) của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Hội nghị đã nghe nhiều ý kiến tham luận về công tác phối hợp thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân, đã thông nhất cơ bản nội dung báo cáo; các ngành, địa phương đã phối hợp phố biến về mục đích, ý nghĩa Ngày Biên phòng toàn dân, gắn với việc triển khai Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Biên phòng, Nghị định 161/2003 về Quy chế khu vực biên giới biển… với nhiều hình thức sinh động, phối hợp thực hiện Chuyên mục “Vì chủ quyền an ninh biên giới”, Chuyên trang “Quốc phòng toàn dân”, tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về biên giới quốc gia”.


Phối hợp với ngành công an điều tra, xác minh làm rõ 96/111 vụ án hình sự, đưa ra xử lý hành chính 149 đối tượng. Phối hợp thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; tổ chức nhiều cuộc diễn tập, ứng phó tình huống có thể xảy ra; kịp thời kêu gọi, thông báo tình hình bão, áp thấp nhiệt đới; tổ chức giúp dân khắc phục hậu quả lốc xoáy, lụt bão…

Quan tâm xây dựng, củng cố các công trình phòng thủ bảo vệ biên giới sát hợp với yêu cầu, sẵn sàng chiến đấu; chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng biên phòng vững mạnh toàn diện. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân được vững chắc.

Vận động xây dựng  368 căn nhà “Đại đoàn kết”, 270 căn nhà “Tình thương”, 36 căn nhà “Tình nghĩa”, 07 căn nhà “Nhân ái”, 08 căn nhà “Đồng đội” trị giá 17 tỷ đồng; tặng hơn 2.000 phần quà cho học sinh nghèo hiếu học trị giá trên 500 triệu đồng.

Phối hợp các ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức họp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng gắn với Ngày Biên phòng toàn dân. Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao bước đầu tạo được sinh khí Ngày Biên phòng toàn dân, có ý nghĩa giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ biên giới biển.


Kết luận Hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Võ Thành Hạo đánh giá cao kết quả tổ chức thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân; đồng thời lưu ý trong thời gian tới Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể liên quan tiếp tục phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Ngày Biên phòng toàn dân, thực sự trở thành ngày hội toàn dân; phát động phòng trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc; đề cao cảnh giác, phòng, chống có hiệu quả âm mưu, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các loại đối tượng ở khu vực biên giới biển; tiếp tục triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế biển, xây dựng nông thôn mới, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh; chăm lo gia đình chính sách, thực hiện công tác giảm nghèo; phối hợp các ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến sâu rộng Ngày Biên phòng toàn dân; xây dựng lực lượng biên phòng vững mạnh về tư tưởng, tổ chức; không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

19/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sốngQuy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sống


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Sản xuất các chương trình Truyền hình
Pháp luật và Đời sống
(Ban hành ngày 10/12/2007)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Trịnh Thị Thanh Bình
Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua kênh truyền hình tỉnh,  từng bước nâng cao chất lượng phục vụ của Chương trình này.

II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.

III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, Ban Lãnh đạo Sở;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp và Đài Phát thanh, truyền hình tỉnh Bến Tre.

IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước
Nội dung
Trách nhiệm
Thời gian
Ghi chú
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
1
Lập kế hoạch thực hiện trong tháng. - Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.

Đầu mỗi tháng.

Nội dung sẽ phát trong tháng; Phân công chuyên viên tham gia thực hiện.
2
Chuẩn bị kịch bản - Chuyên viên;
- Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.
Trước ngày phát sóng: 6 ngày Chuẩn bị kịch bản theo nội dung đã dự kiến trong Kế hoạch.
3
Lãnh đạo phê duyệt kịch bản
Lãnh đạo 1 ngày
4
Quay và dàn dựng chương trình Chuyên viên 2 ngày
5
Lãnh đạo duyệt chương trình Lãnh đạo Trước khi phát sóng
6
Theo dõi phát Chương trình - Trưởng phòng,
- Chuyên viên,
- Lãnh đạo.viên.
Thường xuyên - Nhận xét, đánh giá (nếu có).
- Trả lời bạn xem đài (nếu có).
7
Lưu hồ sơ Chuyên viên Sở,
Trưởng phòng,
Chuyên viên.
Ngay sau phát sóng Hồ sơ lưu: kế hoạch, kịch bản.
Băng phát lưu tại Đài PT-TH

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Công tác trợ giúp pháp lý sau một năm nhìn lạiCông tác trợ giúp pháp lý sau một năm nhìn lại
Dưới  sự lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo Sở Tư pháp và sự chỉ đạo về nghiệp vụ  của Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp, trong năm 2010 Trung tâm Trợ  giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre đã tổ chức triển khai thực hiện nhiệm  vụ, thời gian từ ngày 01/10/2009 đến ngày 30/9/2010 và đạt được những kết quả cụ thể.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo Sở Tư pháp và sự chỉ đạo về nghiệp vụ của Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp, trong năm 2010 Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre đã tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, thời gian từ ngày 01/10/2009 đến ngày 30/9/2010 và đạt được những kết quả cụ thể sau:

Về công tác thực hiện trợ giúp pháp lý

So với năm 2009, số vụ việc trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người thuộc đối tượng có giảm (từ 278 vụ, việc năm 2009 xuống còn 220 vụ, việc (225 đối tượng) năm 2010). Sự suy giảm về số lượng vụ việc TGPL nêu trên xuất phát từ nguyên nhân khách quan: Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Thụy Điển về Dự án Hỗ trợ hệ thống trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, 2005 – 2009 đã kết thúc nào ngày 30/11/2009, vì vậy các đối tượng do Dự án hỗ trợ Trung tâm đã tạm ngưng việc thực hiện trợ giúp (đối tượng người chưa thành niên; người dân tộc thiểu số; người bị nhiễm HIV/ASDS; phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình và buôn bán người; người mới ra tù tái hòa nhập với xã hội). Tuy nhiên về chất lượng vụ việc Trung tâm đã từng bước nâng lên, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ Tiêu chuẩn về chất lượng vụ việc TGPL. Ngoài các vụ việc trên, Trung tâm còn tư vấn trực tiếp cho 1162 người không thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Trong đó tư vấn tại trụ sở cho 748 người (Trung tâm: 547; Chi nhánh 01: 138; Chi nhánh 02: 63 người). Tư vấn trực tiếp thông qua Trợ giúp pháp lý lưu động 414 người.

Họat động Trợ giúp pháp lý của Trợ giúp viên: Trong năm qua lực lượng Trợ giúp viên của Trung tâm tuy chỉ có 5 người nhưng số lượng vụ việc thực hiện khá cao, thực hiện 160 vụ việc trong đó tư vấn là 84, tham gia tố tụng là 62 và hòa giải là 14.

Hoạt động trợ giúp pháp lý ở cơ sở: Công tác TGPL lưu động: trong năm Trung tâm đã phối hợp với Phòng Tư pháp, Hội Liên hiệp Phụ nữ các huyện, UBND các xã tổ chức  73 cuộc trợ giúp pháp lý lưu động ở các xã, phường trong toàn tỉnh (trong đó, theo Chương trình hằng năm là 34 xã, theo Kế hoạch Trợ giúp pháp lý lưu động cho phụ nữ 10 xã, theo Kế hoạch Trợ giúp pháp lý cho trẻ em 10 xã, theo Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo 19 xã).Thông qua các buổi trợ giúp pháp lý lưu động, Trung tâm đã phát 33632 tờ gấp pháp luật, báo cáo chuyên đề pháp luật cho 3119 người dân tham dự và tư vấn trực tiếp cho 414 trường hợp. Trung tâm phối hợp với phòng Tư pháp các huyện tham gia sinh hoạt CLB.TGPL . Trong đó Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Phú Nhuận hoạt động hàng tháng đạt hiệu quả cao. Công tác hòa giải: đã thực hiện 17 vụ, trong đó có 5 vụ hòa giải thành (được thực hiện tại Chi nhánh 01);

Triển khai các Chương trình Mục tiêu quốc gia: Thực hiện hoạt động TGPL trong Chương trình mục tiêu QGGN năm 2010: Trung tâm đã xây dựng xong kế hoạch hoạt động trợ giúp pháp lý trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo năm 2010 bao gồm các hoạt động: Tổ chức 19 cuộc TGPL lưu động tại xã nghèo An Đức (Ba Tri) và các xã có tỉ lệ hộ nghèo từ 15% đến dưới 25% trong tỉnh, bao gồm: xã Mỹ An, Bình Thạnh, Hòa Lợi, An Điền, Quới Điền, Thạnh Hải, Mỹ Hưng, Giao Thạnh, An Thuận, Thạnh Phong, thị trấn Thạnh Phú, Tân Hưng, An Hiệp, Bảo Thuận, Bảo Thạnh, Phú Sơn, Phú Vang, Phú Mỹ; sinh hoạt Câu lạc bộ và báo cáo chuyên đề pháp luật cho 12 Câu lạc bộ ở 12 xã khó khăn (CLB xã An Thuận, Bình Thạnh, Hòa Lợi, Mỹ An, Mỹ Hưng, Quới Điền-Thạnh Phú); CLB xã An Hiệp, An Đức, Tân Hưng, Bảo Thuận- Ba Tri; CLB xã Thạnh Trị, Thừa Đức – Bình Đại), thông tin tuyên truyền pháp luật như in ấn 22.000 tờ gấp pháp luật về trợ giúp pháp lý cung cấp cho tất cả người nghèo trong tỉnh, biên soạn, in sang băng catssete tuyên truyền về pháp luật trợ giúp pháp lý và một số quy định của pháp luật liên quan đến quyền lợi cơ bản của người dân, phát cho 164 xã phường trong toàn tỉnh để phát sóng trên Đài phát thanh của các xã.

Các hoạt động nghiệp vụ có liên quan đến công tác trợ giúp pháp lý

Xây dựng văn bản, kế hoạch hoạt động

Trung tâm đã hoàn thành Bộ thủ tục hành chính theo Đề án 30; tham mưu lãnh đạo Sở xây dựng Tờ trình gửi UBND tỉnh về việc đề nghị thành lập Chi nhánh của Trung tâm, đề nghị này đã được UBND tỉnh phê duyệt và ban hành Quyết định thành lập chi nhánh số 03.

Trung tâm đã xây dựng các kế hoạch cho hoạt động năm như: Kế hoạch Công tác TGPL lưu động năm, Kế hoạch Thực hiện trợ giúp pháp lý trong Chương trình MTQG giảm nghèo, Kế hoạch Lồng ghép giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý, Kế hoạch Trợ giúp pháp lý lưu động cho phụ nữ, Kế hoạch Tập huấn, Kế hoạch Trợ giúp pháp lý cho trẻ em, Kế hoạch Khảo sát tình hình đăng ký khai sinh và tổ chức đăng ký khai sinh cho trẻ em tại xã An Đức, huyện Ba Tri (Chi nhánh 01)… trình lãnh đạo Sở phê duyệt để Trung tâm triển khai thực hiện. Ngoài ra Trung tâm còn phối hợp với Công ty Cổ phần Lâm thủy hải sản xuất khẩu Bến Tre xây dựng Kế hoạch phối hợp Trợ giúp pháp lý cho lao động nữ.

Công tác hướng dẫn nghiệp vụ: Đối với Chi nhánh: Việc hướng dẫn nghiệp vụ được thực hiện bằng cách kết hợp với việc họp Trung tâm hàng tháng qua đó lãnh đạo Trung tâm sẽ thông tin, hướng dẫn, giải đáp thắc mắc, các vấn đề phát sinh thực tế qua công tác của chi nhánh. Bên cạnh đó, giữa lãnh đạo Trung tâm, Chi nhánh và các Trợ giúp viên cũng thường xuyên thực hiện việc trao đổi qua điện thoại và trao đổi theo từng vụ việc cụ thể khi gặp phải những vướng mắc; Đối với Câu lạc bộ: Việc hướng dẫn nghiệp vụ cho Câu lạc bộ được thực hiện chủ yếu bằng các hình thức: cùng hướng dẫn và tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ hàng tháng, trao đổi qua điện thoại,cung cấp các văn bản pháp luật mới để hướng dẫn Câu lạc bộ thực hiện và thông qua các lần tập huấn kiến thức pháp luật cho thành viên Ban Chủ nhiêm Câu lạc bộ.

Bồi dưỡng, tập huấn

Trong năm 2010 Trung tâm tổ chức 03 lớp tập huấn: 01 lớp Tập huấn kiến thức pháp luật và nghiệp vụ TGPL cho Chuyên viên, Trợ giúp viên pháp lý và Cộng tác viêncủa Trung tâm; 02 lớp Tập huấn kiến thức pháp luật cho các thành viên Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL, một lớp lấy từ nguồn kinh phí thường niên, một từ nguồn kinh phí của Quỹ  Trợ giúp pháp lý. Trong đó một lớp tập huấn các các bộ lãnh đạo của Trung tâm đến từng địa phương để thuyết giảng nên các thành viên của Ban chủ nhiệm đến tham dự đầy đủ và từ đó tiếp thu có hiệu quả hơn các kiến thức mới.

Về phương pháp tập huấn ngoài việc thuyết giảng có sử dụng công cụ hỗ trợ như máy chiếu, hình ảnh minh họa là chủ yếu, Trung tâm còn dành thời gian để trao đổi, thảo luận, giải đáp câu hỏi của học viên; Báo cáo viên gồm lãnh đạo Sở, lãnh đạo Trung tâm, ngòai ra Trung tâm còn mời báo cáo viên là người đang công tác chuyên môn liên quan đến lĩnh vực pháp luật tập huấn (mời Nguyễn Văn Chinh – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên & Môi trường báo cáo Quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư); vì thế kiến thức pháp luật, kỹ năng trợ giúp pháp lý của học viên qua quá trình tập huấn từng bước được nâng cao.

Lãnh đạo Trung tâm đã quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong năm 2010 đã cử 06 viên chức của Trung tâm tham gia khóa đào tạo luật sư; cử 05 viên chức đào tạo lớp cao học luật; cử 04 viên chức tham gia khóa bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý nhằm nâng cao trình độ và kỹ năng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý cho đội ngũ viên chức trong Trung tâm; cử cán bộ viên chức tham gia các đợt tấp huấn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp để lĩnh hội kiến thức pháp luật mới ban hành cũng như các kỹ năng trong trợ giúp lý. Tham mưu lãnh đạo Sở Tư pháp kiện toàn Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của viên chức Trung tâm từng bước được nâng lên rõ rệt.

Kiểm tra, thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý

Năm 2010 hoạt động của Trung tâm đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên số vụ việc tư vấn và vụ việc yêu cầu cử Trợ giúp viên, Luật sư – cộng tác viên tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng giảm so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù số vụ việc tư vấn ở các huyện có giảm nhiều so với năm cùng kỳ nhưng xét về trình tự thủ tục thực hiện đúng quy trình hơn, đối với các Trợ giúp viên của Trung tâm và Chi nhánh thực hiện hình thức tư vấn dù đúng dù không đúng đối tượng đều ghi vào sổ theo dõi tổng hợp lưu hồ sơ nhằm đánh giá chất lượng vụ việc theo quy định chung. Qua đó cũng nhắm khắc phục được tư vấn sơ sài, không chất lượng và việc ghi phiếu bắt buộc Trợ giúp viên phải nghiên cứu văn bản pháp luật sâu hơn, vận dụng điều khoản của các quy định pháp luật một cách chính xác, không tư vấn chung chung

Việc kiểm tra, thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện theo nguyên tắc kiểm tra, thẩm định, đánh giá chéo giữa các Trợ giúp viên với nhau và Trợ giúp viên kiểm tra, thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc hồ sơ của luật sư là Cộng tác viên của Trung tâm. Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Bến Tre đã cố gắng nghiên cứu, triển khai việc đánh giá chất lượng vụ việc theo quy định của Bộ tiêu chuẩn cho các Trợ giúp viên, Chuyên viên và Cộng tác viên qua các lớp tập huấn; từng lúc thực hiện việc tăng cường quản lý chất lượng vụ việc do đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên thực hiện, đã dần dần tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của đội ngũ người thực hiện TGPL về chất lượng vụ việc TGPL, bảo đảm nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý của Trung tâm.

Hoạt động phối hợp và các hoạt động khác

Trong hoạt động TGPL công tác phối hợp đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả và mục đích ý nghĩa của hoạt động TGPL. Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân với Trung tâm TGPL thời gian qua đã tạo ra mối liên hệ thường xuyên, chặt chẽ trong công tác phối hợp triển khai, thực hiện các hoạt động TGPL. Cụ thể, trong thời gian qua công tác phối hợp thể hiện ở các hoạt động như sau:

- Phối hợp với Sở Lao động, thương binh và xã hội, Tỉnh đoàn, Trung tâm nuôi dạy trẻ vào đời sớm tổ chức sinh hoạt định kỳ thường xuyên Câu lạc bộ TGPL cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt;

- Phối hợp với các cơ quan tố tụng cấp tỉnh là thành viên Hội đồng phối hợp liên ngành tổ chức họp sơ kết hoạt động của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng của tỉnh;

- Phối hợp với Công ty CP Lâm thủy sản xuất khẩu Bến Tre Tổ chức 01 buổi trợ giúp pháp lý cho lao động nữ của Công ty (ngoài kế hoạch);

- Phối hợp với phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thực hiện 04 Chương trình Truyền hình theo Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo;

- Tổ chức 01 buổi Tọa đàm nâng cao chất lượng vụ việc TGPL trong hoạt động tham gia tố tụng trong lĩnh vực Hình sự năm 2010.

- Báo cáo chuyên đề pháp luật về Phòng chống bạo lực gia đình tại xã Bình Thới (Bình Đại);

Ngoài ra còn phối hợp với bản tin tư pháp của Sở Tư pháp, Báo Đồng Khởi tỉnh Bến Tre viết bài, tin nhăm thông tin tuyên truyền pháp luật hàng tháng.

Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình công tác

Thời gian qua, được sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp, sâu sát của lãnh đạo Sở, cấp Ủy đảng, của chính quyền các cấp, sự ủng hộ, tạo điều kiện của các cơ quan, ban ngành, tổ chức và sự cố gắng, phấn đấu của tập thể Trung tâm đã tạo điều kiện cho Trung tâm hoàn thành cơ bản các hoạt động trọng tâm, đảm bảo tiến độ hoành thành chương trình thi đua kế hoạch năm đã đề ra. Ngòai ra, Trung tâm còn đề ra và tổ chức thực hiện các hoạt động cần thiết khác phát sinh trong tình hình thực tế như thực hiện Chương trình trợ giúp pháp lý cho trẻ em bị xâm hại tình dục và có sáng kiến mới để thực hiện trợ giúp pháp lý cho lực lượng lao động nữ của Cty cổ phần Xuất nhập khẩu lâm thủy sản Bến Tre.

Đội ngũ cán bộ nhiệt tình, trách nhiệm cao và sáng tạo, hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện đa dạng, triển khai đến tận cơ sở, đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân. Đồng thời hoạt động của Trung tâm còn đóng vai trò là cầu nối giúp chính quyền các cấp tháo gỡ, khắc phục những bất cập của Chính quyền đối với nhân dân.

Đội ngũ Trợ giúp viên tuy còn ít nhưng trình độ pháp luật được đào tạo cơ bản, có thâm niên làm công tác pháp luật, có người đã từng là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong thời gian qua đã cố gắng học hỏi, trao dồi kỹ năng bào chữa nên kết quả tham gia tố tụng rất khả quan. Hiện tại có 3 chuyên viên đang theo học lớp Đào tạo nghiệp vụ luật sư để chuẩn bị cho kế hoạch tăng số lượng Trợ giúp viên của Trung tâm.

Bên cạnh những thuận lợi nên trên thì Trung tâm còn gặp phải những khó khăn như sau:

- Về mạng lưới trợ giúp pháp lý ở cơ sở: Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý trình độ pháp luật còn nhiều hạn chế. Hoạt động của Câu lạc bộ chưa đồng đều. Chính quyền địa phương ở một số nơi chưa quan tâm tạo điều kiện để Câu lạc bộ hoạt động tốt. Mạng lưới cộng tác viên trong toàn tỉnh nhiều về số lượng nhưng thực tế số lượng Cộng tác viên hoạt động rất ít, đa số họ không hoạt động hoặc có hoạt động nhưng không lập hồ sơ vì vậy kết quả công việc không được ghi nhận;

- Về công tác trợ giúp pháp lý lưu động: Một số địa phương còn chưa thật sự quan tâm phối hợp với Trung tâm để thực hiện trợ giúp pháp lý có hiệu quả. Có nhiều xã đề nghị hoãn tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động nhiều lần mặc dù đã có kế hoạch, khảo sát từ trước. Ở một số địa phương đa số người dân tham dự buổi trợ giúp pháp lý lưu động là những người không thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý, hoặc là cán bộ Chính quyền, Đoàn thể, Trưởng ấp, tổ trưởng tổ dân phố tham dự nên hoạt động của Trung tâm không đạt được mục đích. Chỉ giải đáp được những vấn đề pháp luật chung cho một số đối tượng là Cán bộ cơ sở.

- Hoạt động phối hợp trong công tác hòa giải còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân do chính quyền địa phương không yêu cầu hỗ trợ hoặc không hướng dẫn đối tượng liên hệ đến Trung tâm, Chi nhánh để được cử người hỗ trợ hòa giải.

- Năm 2010 là năm Trung tâm có sự biến động lớn về tổ chức. Hiện tại Trung tâm khuyết Giám đốc (Giám đốc cũ đã chuyển công tác), một Trợ giúp viên là Phó Giám đốc Trung tâm đang theo học Lớp Cao cấp lý luận chính trị, một phó Giám đốc phải kiêm nhiệm Trưởng Chi nhánh số 01 ở Ba Tri và sau đó là Chi nhánh số 03 ở Bình Đại, do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của Trung tâm và của cả Chi nhánh. Đến nay, đội ngũ Trợ giúp viên thực hiện trợ giúp pháp lý chuyên trách của Trung tâm trợ giúp pháp lý 04 người, chuyên viên là 13 người, phần lớn là cán bộ trẻ mới tốt nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như kỹ năng trợ giúp pháp lý.

- Trang thiết bị và phương tiện làm việc, cơ sở vật chất của Trung tâm và Chi nhánh cũng chưa đảm bảo đầy đủ để hoạt động được tốt và thuận lợi.

- Dự án “Hỗ trợ hệ thống Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, 2005-2009” đã kết thúc và chưa có sự hỗ trợ của dự án mới, hiện nay với các khoản thù lao chi cho Cộng tác viên theo quy định của Nhà nước đã không khuyến khích được sự tham gia tích cực của Cộng tác viên. Vì vậy đã phần nào ảnh hưởng đến kết quả về số lượng và chất lượng tham gia hoạt động của cộng tác viên của Trung tâm.

Phương hướng hoạt động những tháng cuối năm 2010

- Đối với công việc thường xuyên, Trung tâm tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý cho tất cả các người thuộc đối tượng được TGPL theo quy định của luật Trợ giúp pháp lý khi họ có yêu cầu, đảm bảo cung cấp cho người được TGPL một dịch vụ với chất lượng tốt nhất, nhanh chóng và đúng pháp luật;

- Đối với những công việc khác trung tâm sẽ tiếp tục hoàn tất trong những tháng cuối năm như: Tổ chức họp tổng kết Hội đồng phối hợp liên ngành, họp tổng kết hoạt động tham gia tố tụng của luật sư và Trợ giúp viên pháp lý; tổ chức 01 lớp tập huấn kiến thức pháp luật cho thành viên Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý theo kinh phí của Quỹ trợ giúp pháp lý; xây dựng Kế hoạch công tác năm 2011 và lập dự toán kinh phí chi ngân sách năm 2011;

- Tiếp tục khảo sát, chuẩn bị điều kiện để thành lập chi nhánh 04 tại huyện Chợ Lách trong năm 2011.

Nhằm phát huy những kết quả đã được, hạn chế tối ưu những khó khăn, tồn tại thường gặp trong thời gian qua thì trong năm 2011 tới Trung tâm cũng đưa ra những phương hướng cụ thể sau: kiểm tra, rà soát lại đội ngũ cộng tác viên về tiêu chuẩn, điều kiện tham gia trợ giúp pháp lý để thực hiện cộng tác có hiệu quả đối với lực lượng cộng tác viên tránh tình trạng chạy theo số lượng bỏ qua chất lượng; xây dựng kế hoạch và củng cố lực lượng Trợ giúp viên và Luật sư – cộng tác viên, đẩy mạnh công tác truyền thông pháp luật về trợ giúp pháp lý nhất là trợ giúp pháp lý hình thức tư vấn pháp luật và tham gia tố tụng đối với nhân dân, đặc biệt là tập trung ở vùng sâu, vùng xa; tăng cường công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý qua báo đài phát thanh truyền hình. Chú trọng tập trung nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ trong Trung tâm, hướng dẫn nghiệp vụ nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng đội ngũ trợ giúp pháp lý cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, nâng cao chất lượng vụ việc đối với mọi hình thức trợ giúp pháp lý.

05/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Thực hiện có hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2014Thực hiện có hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2014
Năm 2013, Bến Tre đã triển khai thực hiện chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) đạt nhiều kết quả khá tốt. Có 625 đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; trong đó, có 38 đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động; 64 đơn vị đảm bảo một phần kinh phí hoạt động. Có 920/1.035 đơn vị đã thực hiện thanh toán lương qua tài khoản.

Năm 2013, Bến Tre đã triển khai thực hiện chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) đạt nhiều kết quả khá tốt. Có 625 đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; trong đó, có 38 đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động; 64 đơn vị đảm bảo một phần kinh phí hoạt động. Có 920/1.035 đơn vị đã thực hiện thanh toán lương qua tài khoản.

Cơ quan tài chính thực hiện thẩm định 1.179 nội dung mua sắm, sửa chữa tài sản của các cơ quan, đơn vị với giá trị đề nghị là 55.253 triệu đồng, giá trị thẩm định là 54.656 triệu đồng, tiết kiệm cho ngân sách 597 triệu đồng. Đã trang bị 23 xe ô tô  theo dự toán được giao với kinh phí thực hiện là 18.034 triệu đồng, giảm so với dự toán là 480 triệu đồng.

Qua kiểm tra phát hiện có 16/46 đơn vị vi phạm về nguyên tắc tài chính, kế toán; hồ sơ thiết kế trong xây dựng; kê khai và nộp thuế chưa đúng, đủ theo quy định; đơn vị tư vấn, giám sát chưa thực hiện hết trách nhiệm, nên không phát hiện sai sót trong thiết kế, nghiệm thu các công trình. Tổng số tiền phát hiện sai phạm trên 1.900 triệu đồng, trong đó thu hồi trong quá trình thanh tra trên 150 triệu đồng; kiến nghị thu hồi 660 triệu đồng và kiến nghị khác  trên 1.200 triệu đồng.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả THTK, CLP năm 2014; khắc phục và đẩy lùi tình trạng lãng phí đang diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế -xã hội hiện nay; nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực để đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội. Các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và công dân cần thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt các văn bản có liên quan đến THTK, CLP nâng cao nhận thức hiểu biết pháp luật để có những hành động, việc làm cụ thể trong THTK, CLP.

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, tiêu chuẩn, định mức; cần rà soát hệ thống các chế độ, định mức đã ban hành không còn phù hợp để đề xuất, tham mưu cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp.

Phải thực hiện nghiêm Luật Ngân sách nhà nước ở tất cả các khâu lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ dự toán, quản lý, sử dụng, kiểm soát chi và quyết toán kinh phí Ngân sách nhà nước.

Kiểm soát chặt chẽ việc chi: tổ chức hội nghị, hội thảo, đi công tác nước ngoài, lễ hội, lễ kỷ niệm, khởi công, khánh thành, tổng kết, mua sắm tài sản và các khoản chi chưa cần thiết khác. Việc mua sắm, sử dụng phương tiện đi lại, phương tiện, thiết bị làm việc phải đúng mục đích, đối tượng. Có trách nhiệm bố trí, phân công người quản lý, sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng, mở sổ theo dõi; ban hành quy chế về chi tiêu nội bộ, quản lý, sử dụng tài sản. Đảm bảo thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên để tạo nguồn thực hiện tiền lương mới.

Thực hiện đúng quy trình, quy chế quản lý đầu tư; đầu tư có tập trung, không dàn trải. Nâng cao chất lượng khảo sát, lập dự toán; thực hiện nghiêm quy trình tổ chức đấu thầu. Tăng cường quản lý tiến độ, chất lượng công trình xây dựng; kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công.

Việc quản lý, sử dụng đất phải đảm bảo đúng quy hoạch, kế hoạch, mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường. Việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch khai thác và bảo vệ tài nguyên đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định.

Rà soát các quy định về đào tạo, quản lý, sử dụng lao động, thời gian lao động; không để mất cân đối giữa đào tạo với sử dụng lao động; tuyển dụng không phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động; sử dụng lao động không đúng với chuyên môn, ngành nghề, năng lực, sở trường. Việc tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, lễ kỷ niệm phải bảo đảm đúng mục đích, thành phần, đối tượng và tiết kiệm.

16/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tiêu chí Văn hóa giao thông-một số hành vi thể hiện văn hóa giao thôngTiêu chí Văn hóa giao thông-một số hành vi thể hiện văn hóa giao thông
Văn hoá giao thông được biểu hiện bằng hành vi ứng xử theo các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, cái  thiện, cái đẹp, tính nhân ái và đúng pháp luật của người tham gia giao thông. 
Văn hoá giao thông được biểu hiện bằng hành vi ứng xử theo các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, cái thiện, cái đẹp, tính nhân ái và đúng pháp luật của người tham gia giao thông. Xây dựng văn hoá giao thông, nhằm tạo nên thói quen cư xử có văn hoá, đúng pháp luật và ý thức tự giác tuân thủ pháp luật về trật tự an toàn giao thông như một chuẩn mực đạo đức truyền thống, biểu hiện nếp sống văn minh, hiện đại của con người khi tham gia giao thông, cụ thể:

 

Tiêu chí văn hoá giao thông:

  • Hiểu biết đầy đủ, đúng các quy định của pháp luật và tự giác chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông; không vi phạm các quy định về bảo đảm trật tự an toàn giao thông;
  • Khi tham gia giao thông có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng; tôn trọng, nhường nhịn và giúp đỡ người khác;
  • Có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự khi xảy ra va chạm giao thông, chấp hành quy định xử phạt khi vi phạm hành chính về giao thông.

Ảnh minh họa

Một số hành vi thể hiện Văn hoá giao thông:

+ Đối với người tham gia giao thông:

  • Đi đúng làn đường, phần đường tuân thủ quy tắc giao thông, tốc độ, dừng đỗ xe đúng quy định; đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng mô tô, xe máy, xe đạp máy; không vi phạm về nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông;
  • Tuân thủ hiệu lệnh và chỉ dẫn của người điều khiển giao thông, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường.
  • Khi điều khiển phương tiện cơ giới tham gia giao thông có giấy phép lái xe, chứng chỉ chuyên môn phù hợp; phương tiện đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường;
  • Tự giác chấp hành quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông, kể cả khi không có lực lượng tuần tra kiểm soát trên đường;
  • Không thực hiện các hành vi có nguy cơ gây nguy hiểm cho mình và cho cộng đồng khi tham gia giao thông;
  • Thực hiện các quy định, nội quy tại bến xe, bến tàu, bến phà, bến khách ngang sông và trên các phương tiện giao thông công cộng.

+ Đối với cư dân sinh sống ven đường:

  • Không lấn chiếm hành lang an toàn đường bộ, đường sắt, đường thuỷ; không sử dụng vỉa hè, lòng đường để kinh doanh, dịch vụ; phê phán, ngăn chặn hành vi gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông như: rải đinh trên đường; ném đất, đá lên tàu hoả; xả rác nước thải ra đường...

+ Đối với lực lượng chức năng khi thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn giao thông:

  • Thực hiện nhiệm vụ được giao với tinh thần trách nhiệm cao;
  • Kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật;
  • Có thái độ hoà nhã trong giao tiếp, ứng xử khi trực tiếp đối thoại với người tham gia giao thông;
  • Không sách nhiễu hoặc tiêu cực khi thi hành công vụ;
  • Tận tình giúp đỡ người tham gia giao thông khi gặp hoạn nạn;
  • Giúp đỡ người tàn tật, trẻ em, người cao tuổi khi tham gia giao thông.
22/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Đừng để mỡ treo miệng mèoĐừng để mỡ treo miệng mèo
Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát. Người thực hiện hành vi có hành động rất nhanh, nhanh chống giật lấy tài sản của người khác rồi cũng nhanh chống tẩu thoát. Sau đó là để lại cho người bị cướp giật sự bất ngờ và đôi khi còn để lại hậu quả nghiêm trọng.
Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát. Người thực hiện hành vi có hành động rất nhanh, nhanh chống giật lấy tài sản của người khác rồi cũng nhanh chống tẩu thoát. Sau đó là để lại cho người bị cướp giật sự bất ngờ và đôi khi còn để lại hậu quả nghiêm trọng.

Hiện nay tình trạng cướp giật diễn biến rất phức tạp, có nhiều vụ cướp giật rất táo tợn, cướp giật ngay cả ban ngày, ngay cả những chỗ đông người, hễ thấy có cơ hội, có “con mồi” là thực hiện ngay hành vi bất chấp hậu quả sau đó là như thế nào, miễn là có tiền để tiêu xài. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng cướp giật ngày càng gia tăng.

Thứ nhất là do từ phía người thực hiện hành vi cướp giật tài sản, đa số người này ở lứa tuổi thanh thiếu niên, do không được sự chăm sóc, dạy dỗ, quan tâm của gia đình và do nhu cầu tiêu xài của đối tượng này đôi khi lại rất cao vì phải chi cho nhiều hoạt động ăn chơi như: sử dụng ma túy, tiêu xài cá nhân, ăn chơi nhậu nhẹt, chơi game online, …đôi lúc còn muốn kiếm tiền để “chơi cho oai” để không thua bạn bè.

Ảnh minh họa

Một nguyên nhân khác cũng rất quan trọng đó là xuất phát từ chính người bị cướp giật. Đã gọi là cướp giật tài sản thì người nào có tài sản mới là đối tượng nằm trong tầm nhắm của người phạm tội, mà đối tượng thường xuyên bị cướp giật đó là chị em phụ nữ, họ thường xuyên đeo trang sức đắt tiền khi ra đường, mất cảnh giác khi mang túi xách và nói chuyện điện thoại trên đường (không riêng phụ nữ mà cả nam giới). Đúng là “người đẹp vì lụa”, khi chị em sính lên người những bộ trang sức thì trông thật rạng rỡ, kiêu sa. Nhất là khi có đám tiệc chị em thường đeo trang sức vào để tô thêm vẽ đẹp của mình, nhưng nếu như tài sản bị cướp giật là tài sản của chính người bị giật thì cũng xót nhưng mất rồi thì khi nào có tiền sẽ mua lại, nhưng ngặt một nỗi có người lại muốn đeo trang sức cho có chị có em, mình cũng đẹp như bao người khác nên đã “mượn vàng” để đeo vào những dịp đám tiệc … kết quả là mất hết mà lại phải “còng lưng kiếm tiền” mà mua lại để trả cho người ta. Éo le nhất vẫn là những em nhỏ, mặc dù nhà trường đã ra sức cấm, cảnh báo không cho các em đeo trang sức khi đến trường vì các em thường xuyên là đối tượng “bị để mắt” của bọn tội phạm, các em không thể tự vệ nên rất dễ bị cướp giật, vậy mà vẫn có những bậc phụ huynh vẫn cứ nhất nhất cho đeo vì cho rằng “có mà không cho nó đeo tội nghiệp”, chính vì vậy mà họ đã vô tình làm tăng sự nguy hiểm đến với các em. Khi em thì “giữ của” kẻ thì muốn giật, từ hành vi cướp giật tài sản đối tượng có thể chuyển sang hành động hung bạo hơn để cướp cho bằng được tài sản vì vậy mà hậu quả thật khôn lường. Đã có một số vụ từ cướp giật tài sản chuyển sang giết người vì kẻ phạm tội muốn giật bằng được tài sản, còn người bị cướp giật thì cố giữ tài sản của mình.

Tài sản ví như một miếng mỡ, kẻ phạm tội ví như một con mèo, mà mèo nào thấy mỡ mà chẳng mê, vì vậy mà người có tài sản “đừng để mỡ treo miệng mèo” đến khi sự việc xãy ra thì đã không còn kịp lúc.

21/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Cần khắc phục một số nhầm lẫn khi đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấnCần khắc phục một số nhầm lẫn khi đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết; việc đăng ký hộ tịch là việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính. Đồng thời, căn cứ vào quyết định của cơ quan...

Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết; việc đăng ký hộ tịch là việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính. Đồng thời, căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt việc nuôi con nuôi. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó.

Tuy nhiên, qua kiểm tra nghiệp vụ về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch năm 2013 ở các xã, phường, thị trấn cho thấy còn một số trường hợp Ủy ban nhân dân nhầm lẫn trong khi đăng ký các sự kiện hộ tịch. Để tạo thuận lợi cho công dân khi thực hiện đăng ký hộ tịch, đồng thời tránh việc cấp sai các giấy tờ hộ tịch, Công chức Tư pháp – Hộ tịch cần phân biệt đúng và đầy đủ các sự kiện đăng ký hộ tịch để tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện có hiệu quả công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở địa phương.

Phân biệt giữa đăng ký lại việc sinh và cấp lại bản chính Giấy khai sinh

Đăng ký lại việc sinh là việc sinh đã được đăng ký nhưng sổ hộ tịch và bản chính Giấy khai sinh bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú hoặc nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thực hiện việc đăng ký lại.

Cấp lại bản chính Giấy khai sinh: Trong trường hợp bản chính Giấy khai sinh bị mất, hư hỏng hoặc phải ghi chú quá nhiều nội dung do được thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch hoặc điều chỉnh hộ tịch mà Sổ đăng ký khai sinh còn lưu trữ được, thì được cấp lại bản chính Giấy khai sinh.

Như vậy, khác biệt lớn nhất giữa đăng ký lại việc sinh và cấp lại bản chính Giấy khai sinh là nếu Sổ đăng ký khai sinh không còn lưu trữ thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký lại việc sinh, nếu Sổ đăng ký khai sinh còn lưu trữ thì Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp lại bản chính Giấy khai sinh. Chỉ được cấp lại bản chính Giấy khai sinh, không được cấp lại bản chính giấy tờ hộ tịch khác. Do đó khi cấp giấy tờ hộ tịch cho công dân, Công chức Tư pháp – Hộ tịch nên hướng dẫn công dân giữ gìn cẩn thận bản chính các loại giấy tờ hộ tịch, tránh mất mát, hư hỏng. Sau khi cấp lại bản chính Giấy khai sinh, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã để  ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc đã cấp lại bản chính Giấy khai sinh để phục vụ cho công tác quản lý hộ tịch.

Phân biệt thay đổi, cải chính và điều chỉnh hộ tịch

Việc thay đổi họ, tên, chữ đệm được thực hiện trong các trường hợp sau: Họ, tên, chữ đệm gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, danh dự, quyền, lợi ích của người đó; theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi cho con nuôi; hoặc khi không làm con nuôi nữa thì cha mẹ đẻ lấy lại tên trước đây đã đặt; theo yêu cầu của cha, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha mẹ cho con; thay đổi từ họ của cha sang họ mẹ hoặc ngược lại; người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình; xác định lại giới tính.

Việc cải chính hộ tịch là cải chính những nội dung đã được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh nhưng có sai sót trong khi đăng ký, nhầm lẫn ngày âm lịch và ngày dương lịch; cải chính phần khai về cha mẹ trong trường hợp phần khai về cha mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con đã ghi tên người khác mà không phải là cha, mẹ đẻ.

Giấy khai sinh là căn cứ để các ngành điều chỉnh những thông tin sai lệch trong các giấy tờ cá nhân của đương sự. Trường hợp đương sự không có Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh không còn lưu thì căn cứ vào những hồ sơ giấy tờ cá nhân như: CMND, hộ khẩu, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên để tiến hành đăng ký lại việc sinh theo giấy tờ được xác lập đầu tiên. Ủy ban nhân dân cấp xã không được căn cứ vào những giấy tờ khác như huân huy chương, thẻ thương binh, bằng lái xe.. để làm căn cứ đăng ký lại việc sinh. Căn cứ vào Giấy khai sinh (đăng ký lại) các cơ quan có liên quan điều chỉnh các giấy tờ cá nhân sai lệch đã cấp cho đương sự mà do ngành mình quản lý như ngành bảo hiểm điều chỉnh thông tin sai trong sổ bảo hiểm; ngành công an điều chỉnh những thông tin sai trong sổ hộ khẩu và CMND; ngành lao động thương binh xã hội điều chỉnh thông tin sai trong thẻ thương binh; ngành giáo dục và đào tạo điều chỉnh những thông tin sai trong bằng tốt nghiệp... Ủy ban nhân dân cấp xã không được đăng ký lại việc sinh theo yêu cầu sai lệch của đương sự để hợp thức hoá giấy tờ cá nhân, nếu đăng ký lại việc sinh sai thì Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh đó, không được làm thủ tục cải chính, không được hợp thức hóa giấy tờ cho công dân.

Ủy ban nhân dân cấp xã không được thu giữ bản chính Giấy khai sinh trong hồ sơ cải chính hộ tịch. Sau khi ghi bổ sung những thay đổi cải chính ở mặt sau bản chính Giấy khai sinh và cột ghi chú trong Sổ đăng ký khai sinh thì trả lại bản chính Giấy khai sinh cho đương sự.

Điều chỉnh hộ tịch là việc cán bộ hộ tịch căn cứ vào Giấy khai sinh hoặc các giấy tờ có liên quan khác điều chỉnh những thông tin trong các giấy tờ hộ tịch như: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy chứng tử ....cho phù hợp. Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã đều có thẩm quyền thực hiện điều chỉnh hộ tịch và bổ sung hộ tịch. Điều chỉnh hộ tịch và bổ sung hộ tịch không ban hành quyết định mà chỉ ghi vào mặt sau của giấy tờ hộ tịch cần điều chỉnh.

16/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòngTổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng
Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo: Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân 3 huyện Biên biển (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú), thành phố Bến Tre; lãnh đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Đồn Biên phòng Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên; các phòng, đơn vị trực thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.

Đại tá Nguyễn Thành Trí, Phó Chỉ huy trưởng – Tham mưu trưởng, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh nêu rõ: Qua 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống tổ chức bộ máy Bộ đội Biên phòng được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả; đã chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức triển khai, quán triệt Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng và các văn bản của Đảng, Nhà nước có liên quan đến công tác biên phòng; đến quốc phòng, an ninh; phòng, chống tội phạm, ma túy, buôn bán người…; gắn với phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới biển. Đặc biệt, đã phối hợp với Sở Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức học tập trên 3.000 buổi, có gần 160 nghìn lượt người tham dự. Qua tuyên truyền, học tập, nhận thức về bảo vệ an ninh quốc gia, phòng, chống tội phạm của đa số cán bộ và nhân dân được nâng lên, đã cung cấp cho Bộ đội Biên phòng trên 2.300 tin, trong đó có gần 1.000 tin có giá trị. Ngoài ra, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Tư lệnh vùng 2 Hải quân, Cảnh sát biển vùng 3 thực hiện tốt Quy chế phối hợp, nắm chắc diễn biến tình hình, quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng, chủ động ngăn chặn, xử lý có hiệu quả mọi hoạt động của các đối tượng. Kết quả, đã phát hiện và xử lý trên 1.000 trường hợp không khai báo tạm trú, gần 300 nhóm thanh niên gây mất trật tự; trên 1.200 tụ điểm đá gà ăn thu bằng tiền; lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 130 đối tượng; ra quyết định xử phạt hành chính trên 840 trường hợp, số tiền trên 560 triệu đồng; đề xuất địa phương xử lý gần 1.400 trường hợp, số tiền trên 1 tỷ đồng; lập hồ sơ ban đầu điều tra, xác minh làm rõ và giao Công an khởi tố 297 vụ phạm pháp hình sự; phối hợp bắt 27 đối tượng có lệnh truy nã…; góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới biển, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Hiếu đánh giá cao kết quả triển khai thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trong 15 năm qua trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đồng thời lưu ý trong thời gian tới, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các ngành, các cấp có liên quan triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, các văn bản có liên quan đến an ninh quốc gia, bảo vệ biên giới biển, phòng chống tội phạm, ma túy, trật tự xã hội…Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác biên phòng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, tập trung xây dựng các xã nông thôn mới theo kế hoạch, giải quyết các vụ việc khiếu kiện có liên quan đến đất đai, tập đoàn sản xuất, nghêu…nhằm ổn định tình hình tranh chấp khiếu kiện trong nhân dân. Bổ sung hoàn thiện Quy chế phối hợp giữa 3 lực lượng Công an, Quân sự, Biên phòng nhằm thực hiện nghiêm và có hiệu quả Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, tổ chức diễn tập, huấn luyện theo các phương án đã đề ra./.

15/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Khiếu nại hành chính về đất đaiKhiếu nại hành chính về đất đai
Quyền khiếu nại là một trong những quyền thể hiện rõ và cơ bản nhất của công dân được quy định tại Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” đã thể hiện rõ đường lối, chủ trương của Đảng, của Nhà nước ta là luôn đề cao nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền con n...

Quyền khiếu nại là một trong những quyền thể hiện rõ và cơ bản nhất của công dân được quy định tại Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” đã thể hiện rõ đường lối, chủ trương của Đảng, của Nhà nước ta là luôn đề cao nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền con người, nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện pháp luật.

Đất đai vốn là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, giáo dục, quốc phòng và an ninh. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ít nhiều đã ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất của người dân cũng như quá trình quản lý đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến việc công dân khiếu nại hành chính về đất đai ngày càng tăng và diễn biến rất phức tạp.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Và như vậy, khiếu nại hành chính về đất đai là: Việc công dân, tổ chức, cơ quan đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình trong quá trình quản lý và sử dụng đất.

Công dân có thể thực hiện quyền khiếu nại của mình thông qua các hình thức theo quy định tại Điều 8, Khoản 1 Điều 12 Luật Khiếu nại năm 2011 và Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại năm 2011 như sau: Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại, đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Khiếu nại hiện hành.

Khi nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung của vụ việc thì thực hiện như sau: Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Khiếu nại năm 2011, việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật Khiếu nại năm 2011. Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Khiếu nại năm 2011, có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải là một trong những người khiếu nại, có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại hiện hành.

Để thực hiện quyền khiếu nại của mình và được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý về đất đai giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật, đúng thẩm quyền tránh vượt cấp và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì mỗi công dân chúng ta cần xác dịnh đúng đối tượng khiếu nại hành chính về đất đai. Theo quy định tại Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai xác định đối tượng bị khiếu nại về đất đai là các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính. Quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất.

Ngoài ra theo quy định tại Điều 264 Luật Tố tụng hành chính năm 2010, nếu người dân không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các giấy tờ quy định tại Khoản 1, 2 và Khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai hiện hành thì vẫn có quyền khiếu nại. Như vậy, sau khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khiếu nại cũng là một trong những quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại.

Tại Khoản 2 Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định về hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 162 Nghị định này là đối tượng bị khiếu nại hành chính về đất đai.

07/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
 Thành lập Tổ rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre Thành lập Tổ rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Ngày 28 tháng 5 năm 2014, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1048/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre. Theo đó, Tổ rà soát gồm 10 thành viên, Tổ trưởng do ông Lê Văn Sáu, Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách; các thành viên là đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp, công chức Phòng Kiểm soát ...

Ngày 28 tháng 5 năm 2014, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1048/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre. Theo đó, Tổ rà soát gồm 10 thành viên, Tổ trưởng do ông Lê Văn Sáu, Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách; các thành viên là đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp, công chức Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính và cán bộ đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính của các sở, ban, ngành tỉnh có liên quan (Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp).

Tổ rà soát có nhiệm vụ tham mưu giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện việc rà soát nhằm cắt giảm mạnh các quy định hành chính, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, mất nhiều thời gian giải quyết tại các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, đăng ký kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; tổ chức các hoạt động tham vấn ý kiến của người dân, doanh nghiệp (nếu cần thiết) và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình rà soát, đánh giá độc lập quy định, thủ tục hành chính; xác định những thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực cần ưu tiên rà soát trong từng giai đoạn và tổ chức nghiên cứu, đề xuất những giải pháp nhằm đơn giản hoá các thủ tục hành chính đảm bảo có hiệu lực, hiệu quả; kết thúc mỗi đợt rà soát, Tổ trưởng có trách nhiệm tổng hợp báo cáo kết quả cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời xây dựng phương án đơn giản hoá thủ tục hành chính, sáng kiến cải cách thủ tục hành chính trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Tổ rà soát được quyền phối hợp với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh để thực hiện tốt việc rà soát độc lập quy định hành chính, thủ tục hành chính tại các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, đăng ký kinh doanh; được quyền huy động sự đóng góp trí tuệ của các nhà quản lý, các chuyên gia trong và ngoài khu vực công cho việc rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính.

Thời gian hoạt động của Tổ rà soát: Từ tháng 6/2014 đến tháng 10/2015.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An QuyThành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy
Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.

Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.Theo Quyết định số 118/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã An quy, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ gồm có 16 thành viên, Ông Lê Phúc Vinh, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm; các thành viên khác là cán bộ các ban ngành, Đoàn thể xã; cùng Trưởng ấp của 6 ấp.

Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy được thành lập sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân địa phương giao lưu, trao đổi những khó khăn, vướng mắc pháp luật trong cuộc sống. Câu lạc bộ sinh hoạt theo định kỳ hai tháng một lần với nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách của xã. Tính đến nay, huyện Thạnh Phú có 18/18 xã thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý.

26/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình cấp phiếu lý lịch tư phápQuy trình cấp phiếu lý lịch tư pháp


PHÒNG HỘ TỊCH

QUY TRÌNH

CẤP PHIẾU LÝ LỊCH TƯ PHÁP

Người soạn:



Nguyễn Thị Ngọc Huệ

Người Kiểm Tra:



Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt:



Trần Lương Phổ

1. Mục đích

Công khai việc giải quyết hồ sơ cấp phiếu lý lịch tư pháp, giúp người dân biết một cách rõ ràng, cụ thể về quá trình giải quyết hồ sơ.

2. Phạm vi áp dụng

Quy trình này áp dụng cho việc cấp phiếu lý lịch tư pháp.

3. Tài liệu áp dụng

  • Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA ngày 08/02/1999 của Bộ Tư pháp và Bộ Công an quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp;
  • Quy chế tổ chức và hoạt động của Sở Tư pháp ngày 03/10/2005;
  • Bảng hướng dẫn về thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp.

4. Nội dung chính

Trình tự

Nội dung công việc

Trách nhiệm

Thời hạn

 




- Hướng dẫn và tiếp nhận hồ sơ

- Soạn đề nghị tra cứu hồ sơ

- Ký phiếu đề nghị tra cứu hồ sơ

- Chuyển VP Sở đóng dấu

- Chuyên viên tiếp nhận

 

- Chuyên viên đánh máy

- Lãnh đạo phòng


- Chuyên viên thẩm tra

Thời hạn giải quyết hồ sơ là 10 ngày đối với trường hợp bình thường và 30 ngày đối với trường hợp cần tra cứu thêm (tính từ ngày thụ lý hồ sơ đến ngày Lãnh đạo Sở ký phiếu Lý lịch tư pháp).

- Chuyển Công an tỉnh lưu hồ sơ

- Chuyên viên thẩm tra

- Xem xét kết quả tra cứu hồ sơ và ký phiếu lý lịch tư pháp

- Chuyển Vp Sở đóng dấu

- Lãnh đạo phòng

- Phó Giám đốc

- Chuyên viên thẩm tra.

Cấp phiếu lý lịch tư pháp

- Chuyên viên tiếp nhận

Lưu hồ sơ

- Chuyên viên thẩm tra

5. Biểu mẫu

  • Đơn xin cấp phiếu lý lịch tư pháp;
  • Phiếu xác minh lý lịch tư pháp;
  • Phiếu lý lịch tư pháp.
08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Cái cái nhìn đúngCái cái nhìn đúng
Một câu chuyện buồnNgồi chăm chú bên bàn học, bất chợt thằng bé thốt lên “Mẹ ơi! Con không muốn đến trường nữa, mẹ cho con nghỉ học nha mẹ”. Câu nói phát ra như phá tan đi cái không khí lặng lẽ trong căn nhà chỉ có hai mẹ con. Chị tiến lại gần nó để hỏi lý do tại sao, chị quá bất ngờ khi nghe con mình nói như vậy, vì nhiều lần nó đã nói với chị rằng nó sẽ cố gắng học, nó sẽ trở thành bác sĩ để chữ...

Một câu chuyện buồn
Ngồi chăm chú bên bàn học, bất chợt thằng bé thốt lên “Mẹ ơi! Con không muốn đến trường nữa, mẹ cho con nghỉ học nha mẹ”. Câu nói phát ra như phá tan đi cái không khí lặng lẽ trong căn nhà chỉ có hai mẹ con. Chị tiến lại gần nó để hỏi lý do tại sao, chị quá bất ngờ khi nghe con mình nói như vậy, vì nhiều lần nó đã nói với chị rằng nó sẽ cố gắng học, nó sẽ trở thành bác sĩ để chữa bệnh cho chị. Câu nói tuy trẻ con ấy nhưng chị cảm thấy ấm lòng, nó đâu biết rằng mẹ nó đang mang trong người căn bệnh mà hiện nay người ta gọi là “căn bệnh thế kỷ”. Thằng bé lí nhí trả lời câu hỏi của mẹ: “Mấy bạn trong trường không ai chơi với con, mấy bạn nói con bị si đa, chơi chung bị lây ốm nhom, chết ngắt”. Chị ôm con vào lòng, khoé mắt cay cay, dường như chị đã hết nước mắt để khóc cho cuộc đời mình.
Lớn lên trong trại mồ coi, chị gặp anh cũng là một trẻ không cha, không mẹ. Hai người đến với nhau, bằng cả tình yêu thương và mơ ước về một mái nhà mà cả hai chưa từng có. Thằng bé ra đời làm cho ước mơ đó càng mãnh liệt hơn. Để đảm bảo cho cuộc sống gia đình thêm sung túc, anh tạm xa chị và con để đi làm ăn xa. Hàng tháng anh vẫn về thăm chị, thăm con và mỗi lần anh về thì căn nhà lại có thêm những tiện nghi mới. Những tưởng hạnh phúc đang mở rộng cửa để chào đón chị, thế nhưng cho đến một ngày, cái ngày mà với chị đó là ngày khủng khiếp nhất đời. Anh trở về nhà sau thời gian dài không tin tức, trong sự chờ đợi và lo lắng của chị. Chị ngã quỵ, cả trời đất dường như sụp đổ, anh nói mình bị nhiễm HIV. Một phút nông nổi, không kiềm chế bản thân, nghe theo lời đám bạn, anh tìm niềm vui qua đường và đó là kết quả của sự lầm lỡ. Và sự đau đớn không dừng lại ở đó, bản thân chị cũng đã bị nhiễm HIV từ anh. Thế là tan nát hết cả ước mơ và hy vọng về một mái nhà hạnh phúc, con chị rồi sẽ ra sao khi mà anh và chị đang chết dần cùng với căn bệnh quái ác này.
Ngày chồng chị mất, chỉ vài người hiểu HIV/AIDS là như thế nào mới dám đến chia buồn cùng chị. Chị đã khóc rất nhiều, khóc cho anh, cho chính bản thân mình và cho cả con trai của chị. Số phận nó rồi cũng sẽ mồ côi như cha, mẹ của nó, nhưng chị biết chắc rằng nó thiệt thòi hơn anh, chị bởi ngoài sự thiếu vắng tình thương của cha, mẹ nó còn phải chịu cái nhìn xa lánh, kỳ thị của xã hội.
Và giờ đây, điều mà chị lo lắng đang dần trở thành hiện thực…

Cần cái nhìn đúng
Trước tác hại nguy hiểm của căn bệnh HIV/AIDS, cùng với nhận thức chưa đúng về nó, đã làm cho không ít người xa lánh, kỳ thị với những người mắc phải căn bệnh này và cả với người thân của họ. Đau lòng hơn thế nữa hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị với người bệnh lại diễn ra bởi chính những người thân của người bệnh; đã có không ít những bậc cha, mẹ đã đẩy con mình ra khỏi nhà hoặc cho sống cách ly với mọi người khi biết con mình bị nhiễm HIV. Dường như trong suy nghĩ của mọi người HIV là đồng nghĩa với tệ nạn xã hội và họ lấy đó làm thước đo đánh giá về đạo đức của con người mà quên đi rằng đây là một căn bệnh.
Trong cuộc đấu tranh phòng, chống căn bệnh chết người này, chúng ta cần lắm những cái nhìn đúng, hiểu đúng về HIV/AIDS. Hành vi xa lánh, kỳ thị người nhiễm HIV sẽ có tác động tiêu cực đối với bản thân người nhiễm và tác động đến cộng đồng. Với hành vi đó, vô tình chúng ta đã đẩy người nhiễm vào ngỏ cụt, họ sẽ mất niềm tin vào cuộc sống, có lối sống tiêu cực (rượu chè, cờ bạc, tiêm chích ma túy…), thậm chí sẽ có hành động trả thù đời bằng cách cố tình làm lây nhiễm HIV cho người khác. Nếu chúng ta có cái nhìn đúng, không kỳ thị, phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV, thì người nhiễm sẽ không giấu giếm tình trạng bệnh, hợp tác tốt với chúng ta trong việc phòng lây nhiễm HIV ra cộng đồng, góp phần tích cực trong việc phòng, chống HIV/AIDS.
Gia đình, người thân của những người bị nhiễm HIV là những người vô tội, họ đã gánh phải nỗi đau xé lòng khi chứng kiến cảnh người thân của họ đang chết dần cùng với căn bệnh chết người. Chúng ta đừng làm cho vết thương lòng ấy thêm đau bởi cái nhìn thiếu thiện cảm, những lời bàn tán xì xầm, những hành vi xa lánh… Sự nhận thức đúng, hành vi cư xử đúng không những góp thêm sức cho người bệnh, gia đình của họ mà còn chung sức cho cả cộng đồng cùng nhau đấu tranh phòng, chống hiệu quả căn bệnh thế kỷ này.

* Khoản 3, Điều 8 Luật phòng chống nhiễm virut gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) quy định “Cấm kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV”.
* Điều 22 Nghị định 69/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:
- Cản trở hoặc từ chối tiếp nhận trẻ em, học sinh, sinh viên, học viên vào học trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân vì lý do người đó nhiễm HIV hoặc là thành viên trong gia đình có người nhiễm HIV.
- Tách biệt, hạn chế, cấm đoán học sinh, sinh viên, học viên tham gia các hoạt động, dịch vụ của cơ sở vì lý do người đó nhiễm HIV hoặc là thành viên trong gia đình có người nhiễm HIV
- Cha, mẹ bỏ rơi con chưa thành niên nhiễm HIV; người giám hộ bỏ rơi người được mình giám hộ nhiễm HIV.

13/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Chuẩn bị sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015Chuẩn bị sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015
Thực hiện Kế hoạch số 1006/KH-ĐA ngày 08 tháng 4 năm 2014 của Ban chỉ đạo Đề án Trung ương về việc thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên năm 2014 và Công văn số 1007/BCĐ-ĐA ngày 08 tháng 4 năm 2014 của Ban chỉ đạo Đề án về việc hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án năm 2014, Uỷ ban nhân dân ti...

Thực hiện Kế hoạch số 1006/KH-ĐA ngày 08 tháng 4 năm 2014 của Ban chỉ đạo Đề án Trung ương về việc thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên năm 2014 và Công văn số 1007/BCĐ-ĐA ngày 08 tháng 4 năm 2014 của Ban chỉ đạo Đề án về việc hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3111/KH-UBND ngày 02 tháng 7 năm 2014 thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh năm 2014. Việc triển khai thực hiện Đề án trong năm 2014 tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật, cung cấp kiến thức pháp luật mới, tài liệu cần thiết cho đội ngũ thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên: Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật mới cho cán bộ quản lý trại giam, nhà tạm giữ, cán bộ Đoàn, công chức, viên chức là đoàn viên tại các sở, ban, ngành tỉnh, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; in ấn các tài liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên.

Tổ chức các phong trào, chương trình tuyên truyền đối với từng nhóm thanh thiếu niên: Xây dựng, thực hiện các chương trình truyền thông trên báo, đài, Trang thông tin điện tử (Website), bản tin chuyên ngành; tổ chức các cuộc thi có chủ đề pháp luật dành cho thanh thiếu niên và tổ chức phát động tham gia cuộc thi viết Gương sáng thanh niên, thiếu niên chấp hành pháp luật do Bộ Tư pháp tổ chức; tổ chức phổ biến, tư vấn, giải đáp pháp luật, trợ giúp pháp lý cho thanh thiếu niên trường học, thanh thiếu niên vi phạm pháp luật thuộc diện quản lý, giám sát tại cộng đồng, thanh niên nông thôn; tổ chức xét xử lưu động các vụ án có liên quan tới thanh thiếu niên; biên soạn, phát hành tờ gấp tuyên truyền pháp luật về lao động cho thanh thiếu niên tại các khu công nghiệp, Sổ tay sinh hoạt Câu lạc bộ Tuổi trẻ với pháp luật cho thanh thiếu niên; tổ chức Diễn đàn thanh niên với công tác phòng, chống mại dâm và xâm hại tình dục vị thành niên.

Triển khai thí điểm mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên tại một số địa phương: Các huyện, thành phố chọn 01 xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện, thành phố xây dựng mô hình điểm (gọi chung là xã điểm) tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho thanh thiếu niên. Về tiêu chí lựa chọn xã điểm: Xã đại diện, đặc thù theo từng địa phương; có tỷ lệ thanh thiếu niên thuộc diện quản lý, cư trú trên địa bàn cao; xã thực hiện tốt hoặc còn nhiều hạn chế về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên. Địa bàn triển khai các hoạt động điểm cần tập trung vào các khu dân cự, ấp, khu phố nơi có nhiều thanh thiếu niên.

Đánh giá kết quả thực hiện Đề án năm 2014 (kết hợp rà soát, đánh giá mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên để rút kinh nghiệm, đề xuất phương hướng tiếp tục triển khai). Các sở, ngành tỉnh; Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố gửi báo cáo năm về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Tư pháp) trước ngày 25/11/2014 (có thể lồng ghép trong báo cáo năm 2014 về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật). Sở Tư pháp tổng họp báo cáo năm gửi Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 31/12/2014.

Sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Đề án: Các sở, ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố báo cáo kết quả thực hiện, đánh giá toàn diện việc triển khai thực hiện Đề án từ ngày 24/01/2011 đến ngày 30/6/2014 để tổ chức sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Đề án trên địa bàn tỉnh. Nội dung đánh giá: Kết quả đạt được, tỷ lệ các chỉ tiêu đạt được, khó khăn, hạn chế, nguyên nhân, kiến nghị, đề xuất giải pháp, phương hướng. Thời hạn báo cáo: Các sở, ngành tỉnh; Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố gửi báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Tư pháp) trước ngày 15/7/2014. Sở Tư pháp tổng họp báo cáo gửi Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 25/7/2014.

16/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước; khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp ảnhKhu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước; khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp ảnh
Ngày 22/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 627/QĐ-UBND Về việc xác định khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 626 /QĐ-UBND ban hành quy định về khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp hình trên địa bàn tỉnh Bến Tre; theo đó:

Ngày 22/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 627/QĐ-UBND Về việc xác định khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 626 /QĐ-UBND ban hành quy định về khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp hình trên địa bàn tỉnh Bến Tre; theo đó:

Khu vực cấm, bao gồm: Trụ sở Tỉnh ủy và các cơ quan khối đảng; Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Đài Phát thanh –Truyền hình; Công an tỉnh, Trại tạm giam, Kho vũ khí thuộc Công an tỉnh, Doanh trại các lực lượng Cảnh sát cơ động, Cảnh sát bảo vệ, Trại giam Châu Bình –Bộ Công an; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tại Bến Tre; Kho bạc Nhà nước tỉnh; Trạm biến áp 110Kv thuộc Chi nhánh điện cao thế Bến Tre và trạm biến áp 220Kv Bến Tre thuộc Công ty Truyền tải điện 4 (ấp 1, Sơn Đông, thành phố Bến Tre); Kho xăng dầu Hội Yên (thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam); Nhà máy nước Bến Tre (gồm 2 cơ sở xã Hữu Định và xã Sơn Đông).


Địa điểm cấm, bao gồm: Trung tâm lưu trữ của Văn phòng Tỉnh ủy; Phòng Lưu trữ  hồ sơ của Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; Chi cục Văn thư lưu trữ thuộc Sở Nội vụ; Phòng lưu trữ hồ sơ của Ban Tổ chức Tỉnh ủy; Phòng lưu trữ hồ sơ thuộc Phòng Hồ sơ Công an tỉnh; Phòng Cơ yếu thuộc Văn phòng Công an tỉnh.

Khu vực cấm do cấp huyện quản lý, bao gồm: Trụ sở Huyện ủy, Thành ủy; Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; Trụ sở cơ quan, nhà tạm giam, kho vũ khí Công an các huyện, thành phố.


Địa điểm cấm do cấp huyện quản lý, bao gồm: Phòng lưu trữ hồ sơ cuea Văn phòng các Huyện ủy, Thành ủy; Phòng lưu trữ hồ sơ của Ban Tổ chức Huyện ủy, Thành ủy; Phòng lưu trữ  hồ sơ của Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; nơi lưu trữ hồ sơ, tàng thư hộ khẩu, bộ phận cơ yếu của Công an các huyện, thành phố.

Riêng các khu vực quân sự, biên phòng thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, bao gồm: Khu vực lòng đường, vỉa hè trước trụ sở các cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lực lượng vũ trang và các tổ chức chính trị -xã hội khác đóng trên địa bàn tỉnh, gồm: Khu vực  Trụ sở Tỉnh ủy và các cơ quan khối đảng; Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Trụ sở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Trại giam Châu Bình –Bộ Công an; khu vực trụ sở làm việc của các sở, ban, ngành tỉnh; khu vực trụ sở Huyện ủy, Thành ủy; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; khu vực trụ sở Công an, Ban Chỉ huy Quân sự các huyện, thành phố; các Đồn biên phòng Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên; khu vực hội họp, hội nghị, hội thảo hoặc các sự kiện chính trị quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức quốc tế diễn ra trên địa bàn tỉnh nằm ngoài khu vực đã được quy định cấm.


Khi có các tình huống đe dọa nghiêm trọng đến trật tự công cộng ở những nơi công cộng khác như vỉa hè, lòng đường, quảng trường, cơ sở kinh tế, văn hóa, bến xe, bến phà, nơi sinh hoạt cộng đồng …thì Trưởng Công an huyện, thành phố nơi có sự việc xảy ra báo cáo Giám đốc Công an tỉnh thiết lập khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người; cấn ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; tạm thời cấm hoặc hạn chế người và phương tiện giao thông trên một số tuyến đường hoặc ra vào khu vực nhất định.

Các khu vực bảo vệ, khu vực cấm phải đặt biển cấm theo mẫu thống nhất do Bộ Công an quy định.

27/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014
Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đ...

Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL (theo Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

Có 95 vụ việc được đánh giá, trong đó, 50 hồ sơ tư vấn pháp luật, 39 hồ sơ tham gia tố tụng, 06 hồ sơ hòa giải. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc theo các nội dung quy định tại Điều 21 Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL và các quy định có liên quan của Bộ Tiêu chuẩn, bằng phương pháp đánh giá trực tiếp kiểm tra, nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ việc TGPL.

Kết quả số vụ việc TGPL đạt chất lượng tốt là 93 vụ việc (chiếm tỷ lệ 97,9 %), số vụ việc TGPL đạt chất lượng là 02 vụ việc (chiếm tỷ lệ 2,1 %), không có  vụ việc TGPL không đạt chất lượng.

Tuy nhiên, chất lượng vụ việc TGPL cũng còn hạn chế, trong hồ sơ người thực hiện TGPL hướng dẫn đối tượng viết đơn yêu cầu TGPL còn nhiều trường hợp ghi thiếu thông tin (như chứng minh nhân dân, đối tượng….). Bên cạnh đó, còn một vài hồ sơ chưa lập phiếu phân công và sắp xếp hồ sơ theo đúng trình tự thời gian của vụ việc.

Qua đó, Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL yêu cầu người thực hiện TGPL rút kinh nghiệm, nghiêm túc khắc phục những sai sót trong quá trình thực hiện TGPL, nhất là ghi chép thông tin, lập phiếu, sắp xếp hồ sơ. Trung tâm TGPL tiếp tục tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, nhất là hướng dẫn các kỹ năng cho người thực hiện TGPL và tiếp tục phổ biến Thông tư 02/2013/TT-BTP về việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đến người thực hiện TGPL trong thời gian tới. Theo kế hoạch, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh sẽ tổ chức tập huấn cho Trợ giúp viên, Luật sư- cộng tác viên vào cuối tháng 8/2014.

12/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014
Ngày 01 và ngày 02 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường lớn Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính cho cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính (cán bộ, đầu mối) của các sở, ban, ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn (các cơ quan, địa phương). Tham dự ...

Ngày 01 và ngày 02 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường lớn Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính cho cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính (cán bộ, đầu mối) của các sở, ban, ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn (các cơ quan, địa phương). Tham dự Hội nghị có hơn 280 đại biểu là lãnh đạo trực tiếp phụ trách công tác kiểm soát thủ tục hành chính và cán bộ, công chức đầu mối của các cơ quan, địa phương trong tỉnh. Bà Nguyễn Thị Yến Nhi - Phó Giám đốc Sở Tư pháp dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.


Các đại biểu đã được nghe các Báo cáo viên của Sở Tư pháp truyền đạt những nội dung cơ bản, trọng tâm về nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính như: Tổng quan về kiểm soát thủ tục hành chính; các chuyên đề giới thiệu hướng dẫn thực hiện Thông tư số 05/2014/TT-BTP của Bộ Tư pháp về công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính; Thông tư số 07/2014/TT-BTP của Bộ Tư pháp về hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính và rà soát, đánh giá thủ tục hành chính; quy chế phối hợp trong thực hiện giải quyết thủ tục hành chính giữa các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh; Quy chế phối hợp tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, các đại biểu tham dự cũng được cung cấp thêm thông tin, liên hệ thực tiễn để làm rõ thêm nội dung các chuyên đề, khái quát lại nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính trong giai đoạn từ 2011-2020, nhiệm vụ trọng tâm năm 2014… để các cơ quan, địa phương tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới.

Tại Hội nghị, các đại biểu cũng đã trao đổi, thảo luận về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính để tìm giải pháp tháo gỡ hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Hội nghị này có ý nghĩa thiết thực, nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, nâng cao nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính, góp phần triển khai thành công nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính của từng cơ quan, địa phương trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

07/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công tác thẩm định văn bản trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Bến TreCông tác thẩm định văn bản trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trước khi trình Hội đồng nhân dân thông qua hay Ủy ban nhân dân ký ban hành (đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và dự thảo văn bản QPPL Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện) thì dự thảo văn bản QPPL phải được chuyển đến cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định.

Trước khi trình Hội đồng nhân dân thông qua hay Ủy ban nhân dân ký ban hành (đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và dự thảo văn bản QPPL Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện) thì dự thảo văn bản QPPL phải được chuyển đến cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định. 
Như vậy, thẩm định là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND tỉnh, UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Vì vậy, công tác thẩm định có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL nói chung.
Trước đây, công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL chưa có quy định cụ thể. Tuy vậy, từ năm 1996, Sở Tư pháp Bến Tre đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản QPPL của UBND tỉnh trước khi ban hành. Kể từ khi có Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND được ban hành ngày 3 tháng 12 năm 2004, thì thẩm định là một khâu bắt buộc trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND. Trách nhiệm thẩm định được giao cho cơ quan tư pháp thực hiện. Phạm vi thẩm định thường xem xét những nội dung của dự thảo về sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh, tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo; ngôn ngữ kỹ thuật trình bày văn bản. Trong một số trường hợp cần thiết cơ quan thẩm định đánh giá thêm về tính khả thi của dự thảo văn bản.
Theo quy định của Luật thì Sở Tư pháp chỉ có chức năng thẩm định dự thảo Nghị quyết QPPL của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình và dự thảo Quyết định, Chỉ thị QPPL của UBND cấp tỉnh. Phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm thẩm định đối với dự thảo Quyết định, Chỉ thị QPPL của UBND cùng cấp. Đối với văn bản QPPL của HĐND tỉnh không do UBND tỉnh trình, dự thảo văn bản QPPL của HĐND cấp huyện, dự thảo văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp xã thì Luật không quy định việc thẩm định văn bản.
Các dự thảo văn bản QPPL ở cấp tỉnh đều được Sở Tư pháp thẩm định trước khi ban hành, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản QPPL do tỉnh ban hành với hệ thống pháp luật. Trung bình hàng năm, Sở Tư pháp thẩm định khoảng 90 dự thảo văn bản (năm 2010: thẩm định 82 văn bản, năm 2011: thẩm định 77 văn bản). Chất lượng thẩm định ngày càng được nâng lên, góp phần nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện thể chế cấp tỉnh. Qua kiểm tra công tác văn bản hàng năm, đối với cấp huyện, sau những lúng túng ban đầu, những năm gần đây, công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL của UBND các huyện, thành phố cũng đã phần nào đi vào nề nếp, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Nhận thức rõ được vai trò và tầm quan trọng không thể thiếu của công tác văn bản trong việc chỉ đạo và điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội theo hướng đổi mới, thống nhất có trọng tâm, trọng điểm; tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn về chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan trong cùng một văn bản do địa phương ban hành. Từng bước đưa công tác ban hành văn bản QPPL đi vào nề nếp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý và chỉ đạo điều hành để thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao. Góp phần không nhỏ trong những thành công đó là công tác thẩm định VBQPPL; một trong những công tác có tính quyết định tới chất lượng và hiệu quả của các văn bản QPPL sau khi được ban hành và đây được xem là công tác “tiền kiểm” có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng.
Để chất lượng ban hành văn bản QPPL ngày càng được nâng cao, trong thời gian tới, cần có sự quan tâm hơn nữa của cấp uỷ và chính quyền địa phương đối với công tác văn bản nói chung và công tác thẩm định nói riêng; chắc chắn sẽ đi vào nề nếp, tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của pháp luật góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, việc nâng cao nhận thức và tinh thần phối hợp giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định cũng có ý nghĩa quan trọng. Bởi lẽ, thẩm định là công đoạn nằm trong quy trình xây dựng văn bản QPPL và có mối quan hệ mật thiết với giai đoạn soạn thảo văn bản QPPL. Sự phối hợp này góp phần phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động soạn thảo, thẩm định văn bản QPPL cũng như giúp cho cơ quan thẩm định hiểu rõ hơn ý đồ quản lý của cơ quan soạn thảo. Bên cạnh đó, cơ quan, đơn vị khi gửi dự thảo yêu cầu thẩm định cần phải đảm bảo về mặt hồ sơ và thời gian theo quy định. Vấn đề nâng cao hơn nữa trình độ và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định văn bản cũng là một nhu cầu rất cần thiết./.

 

06/01/2012 12:00 SAĐã ban hành
Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến TreNhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre
 Bán đấu giá tài sản là một dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội; là một trong những cách thức linh hoạt để chuyển quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác; góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa nói riêng phát triển một cách đa dạng.

Bán đấu giá tài sản là một dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội; là một trong những cách thức linh hoạt để chuyển quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác; góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa nói riêng phát triển một cách đa dạng.

Tại tỉnh Bến Tre, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản (sau đây gọi là Trung tâm) thuộc Sở Tư pháp, được thành lập vào đầu năm 1998 theo Quyết định số 2021/QĐ-UB ngày 24 tháng 11 năm 1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre. Khi mới thành lập, Trung tâm hoạt động theo Nghị định số 86/CP ngày 19/12/1997 của Chính phủ về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản và Thông tư số 399/PLDSKT ngày 07/4/1997 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định về bán đấu giá tài sản. Sau khi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản được ban hành; khi chuyển tiếp hoạt động theo Nghị định 05/2005/NĐ-CP, Trung tâm chỉ có 03 cán bộ, gồm 01 Giám đốc, 01 kế toán và 01 chuyên viên (theo quy định của Nghị định 05/2005/NĐ-CP là 05 biên chế), trụ sở làm việc của Trung tâm nằm chung trong Sở Tư pháp, được bố trí 01 phòng với diện tích chỉ khoảng 20m2. Mặc dù chưa đủ biên chế, nhưng cán bộ, viên chức làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình với công việc và luôn đoàn kết phấn đấu để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động bán đấu giá.

Ngày 15/5/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 18/2006/CT-TTg về tăng cường thực hiện Nghị định số 05/2005/NĐ-CP tại khoản 3 Điều 36 của Nghị định 05/2005/NĐ-CP quy định Trung tâm có nhiệm vụ bán đấu giá tài sản để thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật; ngoài ra, Trung tâm có thể ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân có yêu cầu để bán đấu giá các loại tài sản khác. Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài chính phối hợp với Sở Tư pháp họp thống nhất triển khai thực hiện Chỉ thị số 18/2006/CT-TTg, nhưng hai đơn vị chưa thực hiện được, do Thông tư số 34/2005/TT-BTC ngày 12/5/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc chuyển giao tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước vẫn do Hội đồng bán đấu giá tài sản thuộc Sở Tài chính thực hiện. Do vậy, sau khi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP có hiệu lực, Trung tâm chủ yếu thực hiện bán đấu giá các loại tài sản như: tài sản đảm bảo thế chấp của các tổ chức tín dụng để thu hồi nợ vay, tài sản để thi hành án, nhưng thường những loại tài sản này đa số nằm trong vùng sâu, xa; với tâm lý không muốn mất tài sản nên người vay, người phải thi hành án có thái độ đe dọa khi có khách hàng xem tài sản, vì vậy khi bán đấu giá thành, việc bàn giao cho người trúng đấu giá rất khó khăn, phức tạp, đa các trường hợp phải áp dụng biện pháp cưỡng chế để bàn giao tài sản nên khách hàng ngại đăng ký tham gia đấu giá.

Ngoài ra, còn một số văn bản pháp luật khác cũng quy định về việc bán đấu giá tài sản nhưng lại mâu thuẫn, chống chéo chức năng, nhiện vụ bán đấu giá tài sản giữa các cơ quan, tổ chức, như Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai; Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005 về bán đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất. Quy trình thủ tục bán đấu giá tài sản, cũng như quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân chưa được bảo đảm.

Ngày 04 tháng 3 năm 2010 Nghị định 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ về bán đấu giá tài sản ra đời, thay thế Nghị định 05/2005/NĐ-CP. Cũng từ đây, hoạt động bán đấu giá có nhiều khởi sắc. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị số 02/2011/CT-UBND ngày 06/7/2011 về triển khai thực hiện Nghị định 17/2010/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh và nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bán đấu giá tài sản, tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên Để Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đủ điều kiện tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 17/2010/NĐ-CP. Sở Tư pháp đã xây dựng Đề án củng cố tổ chức, biên chế cho Trung tâm được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Hiện tại, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre có 06 biên chế và 02 hợp đồng ngoài biên chế; lãnh đạo Trung tâm có Giám đốc và 01 phó Giám đốc, 03 đấu giá viên (vào tháng 5/2013 Trung tâm cử 01 cán bộ đi học nghiệp vụ đấu giá viên, dự kiến cuối năm 2013 sẽ nâng lên 04 đấu giá viên). Trung tâm đã chuyển về trụ sở mới, địa chỉ số 15, Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre. Đến nay, hoạt động bán đấu giá thực hiện chuyên nghiệp ổn định, nề nếp và có bước tiến triển hơn trước; nhận thức của các ngành, địa phương về vị trí, vai trò của hoạt động đấu giá ngày  được nâng lên. Kết quả đấu giá thành năm sau cao hơn năm trước, năm 2010 là 20 hợp đồng, tổng số tiền thu được 8.076.402.500đ; năm 2011 là 64 hợp đồng, tổng số tiền thu được 25.162.385.000đ; năm 2012 là 137 hợp đồng, tổng số tiền thu được là 59.564.001.198đ.

Sau hơn 3 năm thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP; hoạt động bán đấu giá tài sản đến nay đã đi vào ổn định, tháo gỡ được một số vướng mắc về thủ tục, trình tự bán đấu giá tài sản; đã góp phần quan trọng trong lĩnh vực thi hành án, phát mãi tài sản để thu hồi nợ vay của các tổ chức tín dụng, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước khi xử lý tài sản vi phạm hành chính tịch thu sung công quỹ nhà nước…đảm bảo công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

02/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thuQuy định mới về bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu
Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, ngày 01 tháng 7 năm 2013, Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre gặp không ít khó khăn trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tịch thu sung công. Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm ...

Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, ngày 01 tháng 7 năm 2013, Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre gặp không ít khó khăn trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tịch thu sung công. Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 quy định việc chuyển giao tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh hoặc Hội đồng bán đấu giá của cấp huyện để thực hiện việc bán đấu giá; trong khi đó Doanh nghiệp bán đấu giá không được thực hiện bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tịch thu sung công đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp.

Nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc và sự bất bình đẳng trong hoạt động bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Theo đó tại điểm đ, khoản 1 Điều 82 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu thì tiến hành thuê tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm để thực hiện việc bán đấu giá; trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá thì thành lập hội đồng để bán đấu giá đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu.


Quy định trước đây về thời hạn xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu tại khoản 1, Điều 36 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP của Chính phủ thì trong thời hạn 10 ngày, cơ quan ra quyết định tịch thu phải chuyển giao tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để bán đấu giá, với số lượng tài sản chuyển giao rất nhỏ, không đáng kể và số tiền có được từ bán đấu giá tài sản đôi khi không đủ trả chi phí cho việc tổ chức, điều hành cuộc bán đấu giá tài sản. Để đảm bảo tài sản chuyển giao với số lượng lớn, đủ trang trải chi phí cho quá trình định giá, chi phí chi trả cho hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; khoản 1 Điều 12 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định thời hạn kéo dài thêm là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì cơ quan ra quyết định tịch thu phải ký hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính.

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp và quan trọng nhất là các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp được thu phí bán đấu giá theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 9 Thông tư số 173/TT-BTC ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính có hiệu lực ngày 05 tháng 01 năm 2014.

Để góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động bán đấu giá các loại tài sản trên địa bàn tỉnh nói chung, tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nói riêng, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre có Công văn số 2319/STP-BTTP ngày 26 tháng 12 năm 2013 về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính trong bán đấu giá tài sản. Sở Tư pháp đề nghị lãnh đạo các Sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc tổ chức thực hiện tốt Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI)
Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre  đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng ch...

Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng chí thành viên của Đoàn kiểm tra, cùng tham dự có đồng chí Lê Ngọc Duệ, Phó Bí thư Đảng uỷ Khối các Cơ quan tỉnh. Về phía Đảng ủy Sở Tư pháp có đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy; các đồng chí Đảng ủy viên; lãnh đạo Sở Tư pháp và Tổ giúp việc.

Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Đảng ủy viên phụ trách công tác Tuyên giáo của Đảng ủy thay mặt Đảng uỷ Sở Tư Pháp báo cáo tình hình và kết quả lãnh, chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nghe ý kiến góp ý của các đồng chí trong Đoàn kiểm tra, của đại biểu Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc kết luận: Đảng uỷ Sở Tư Pháp có cụ thể hoá Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và các hướng dẫn, kế hoạch của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thành lập Tổ giúp việc; xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ của ngành; có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện ở các chi bộ trực thuộc. Tổ chức triển khai, quán triệt tốt các chuyên đề tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong cơ quan; đồng thời hàng tuần tổ chức kể các mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Đảng uỷ Sở Tư Pháp thực hiện khá tốt việc đưa nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của chi bộ theo Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Đặc biệt, đã thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo; chú trọng phát hiện, biểu dương những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách của Bác; kịp thời nhắc nhỡ, uốn nắn những trường hợp còn hạn chế, thiếu sót. Đảng ủy lãnh đạo thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau đợt kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI); hầu hết cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW vẫn còn một số hạn chế như: Đảng ủy chưa lãnh đạo chính quyền (cơ quan) có văn bản cụ thể hoá việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg, ngày 7/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 5570/UBND-VHXH, ngày 02/12/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ‘‘về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong đơn vị. Tổ giúp việc chưa thực hiện tốt vai trò tham mưu cấp uỷ trong việc cụ thể hoá thực hiện các văn bản chỉ đạo của cấp trên và việc triển khai thực hiện trong Đảng bộ. Nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013 ở một số cán bộ, đảng viên chưa thật cụ thể, chưa đạt yêu cầu. Chưa có giải pháp nhân rộng gương điển hình qua các năm. Báo cáo chưa nêu rõ kết quả khắc phục những hạn chế, yếu kém của các cá nhân trong Đảng uỷ qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI).

Đoàn kiểm tra cũng lưu ý Đảng ủy Sở Tư pháp cần thực hiện một số nội dung trong thời gian tới như sau:

Đảng uỷ cần tiếp tục quán triệt sâu ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và Kế hoạch số 18-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; có giải pháp cụ thể hơn nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc hàng ngày ở các chi bộ, gắn với thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của tập thể và cá nhân sau kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) ; đồng thời lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa, triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống của Ngành.

Nâng cao vai trò tham mưu của Tổ giúp việc, chỉ đạo các chi bộ hướng dẫn một số đảng viên viết lại nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề năm 2013 về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương sát chức năng, nhiệm vụ.

Lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ trực thuộc tiếp tục tuyên truyền một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sinh hoạt chi bộ, chi uỷ phân công đảng viên chuẩn bị nội dung, dành thời gian thích hợp tổ chức sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Tập trung lãnh, chỉ đạo cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò nêu gương theo Quy định 06-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, kịp thời nhắc nhỡ, phê bình những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu trong việc học tập và làm theo Bác.

Quan tâm lãnh đạo, thực hiện tốt Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên trong thực hiện việc đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm.

Cuối năm, tổ chức tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, kịp thời phát hiện tập thể, cá nhân điển hình để biểu dương, khen thưởng; quan tâm bồi dưỡng, nhân rộng, qua đó bình chọn gương điển hình tiêu biểu, làm cơ sở chuẩn bị tổ chức hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến cuối nhiệm kỳ.

27/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn