Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ
Sáng ngày 01 tháng 8 năm 2014, tại số 178, ấp Lộc Sơn, xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Văn phòng Công chứng Lộc Thuận đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động theo Quyết định số 1356/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc cho phép thành lập Văn phòng Công chứng Lộc Thuận và Giấy đăng ký hoạt động số 12/TP-ĐKHĐ ngày 30 tháng 7 năm 2014 của ... 
 
Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của ... 
 
Ngày 20 tháng 7 năm 2014, Quốc hội thông qua Luật Công chứng, thay thế Luật Công chứng năm 2006 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật Công chứng năm 2014 có 10 chương và 81 điều, trong đó có nhiều quy định đáng chú ý như mở rộng phạm vi công chứng; tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên, về tổ chức hành nghề công chứng,… 
 
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng, phát hiện những sai sót để kịp thời chấn chỉnh, đảm bảo hoạt động hành nghề công chứng tại Bến Tre diễn ra đúng quy định pháp luật, ngày 28 tháng 4 năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-STP về việc kiểm tra về tổ chức và hoạt động đối với 05 Văn phòng Công chứng trên đ... 
 
Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.  
 
Sáng ngày 23 tháng 4 năm 2014, Văn phòng Công chứng Ba Tri đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại địa chỉ số 27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Phan Văn Trung làm Trưởng Văn phòng. Văn phòng Công chứng Ba Tri hiện có 02  Công chứng viên và 02 nhân viên.  
 
Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu... 
 
Theo quy định tại Điều 594 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối. Theo đó, người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ:  
 
Đứng trước vành móng ngựa, anh Thắng với ánh mắt ngân ngấn lệ, vẽ mặt đầy hối hận nhìn về phía gia đình đang ngồi trong phòng xét xử. Câu chuyện thương tâm bắt nguồn từ việc tranh chấp lối đi do chưa hiểu quy định của pháp luật.  
 
Ngày 07 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 10/2014/TT-BTP quy định về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư. Thông tư này quy định về đối tượng, thời gian, hình thức, nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; xử lý luật sư vi phạm nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; học phí tham gia lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Hội nghị trực tuyến về bảo đảm an toàn giao thông 5 tháng đầu năm 2013Hội nghị trực tuyến về bảo đảm an toàn giao thông 5 tháng đầu năm 2013
Sáng ngày 29/5/2013, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tổ chức hội nghị trực tuyến về bảo đảm an toàn giao thông 5 tháng đầu năm 2013. Ông Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ; Kiêm Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông quốc gia đến dự và chủ trì hội nghị

Sáng ngày 29/5/2013, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tổ chức hội nghị trực tuyến về bảo đảm an toàn giao thông 5 tháng đầu năm 2013. Ông Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ; Kiêm Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông quốc gia đến dự và chủ trì hội nghị.

Năm tháng đầu năm 2013, toàn quốc xảy ra 12.052 vụ tai nạn giao thông, chết 4.163 người, bị thương 12.171 người. So với cùng kỳ năm 2012 giảm 2.089 vụ(-14,53%), tăng 28 người chết(0,68%), giảm 3.047 người bị thương (-20,02%). Tại Bến Tre, đã xảy ra 182 vụ, giảm 30 vụ(-14,2%), chết 54 người, (không tăng, không giảm), bị thương 215 người, giảm 33 người(-13,3%).

Công tác tuần tra, kiểm soát được Bộ Công an chỉ đạo công an các cấp tăng cường lực lượng, phương tiện tuần tra, kiểm soát; qua đó đã phát hiện và xử lý nghiêm nhiều hành vi vi phạm; đấu tranh, trấn áp nhiều loại tội phạm trên tuyến giao thông. Bộ Giao thông chỉ đạo Thanh tra giao thông tăng cường kiểm tra phương tiện, người điều khiển phương tiện tham gia hoạt động kinh doanh vận tải tại nhà ga, bến xe, bến tàu, khu vực đầu mối giao thông; kiên quyết đình chỉ hoạt động kinh doanh vận tải đối với tổ chức, cá nhân vi phạm; tổ chức kiểm tra các tổ chức thử nghiệm thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô; kiếm tra điều kiện kinh doanh vận tải đường thủy nội địa; kiểm tra các trung tâm đào tạo, sát hạch, cấp phép lái xe; kiểm tra tải trọng xe lưu động trên một số tuyến quốc lộ. Lực lượng Cảnh sát giao thông đã xử lý trên 2.300.000 trường hợp; thu trên 1.100 tỷ đồng, tạm giữ gần 15.500 xe ô tô, trên 310.000 xe mô tô, tước trên 147 giấy phép lái xe. Năm tháng đầu năm 2013, cả nước đăng ký mới 51.759 xe ô tô, 1.040.647 xe mô tô, nâng tổng số phương tiện cơ giới tham gia giao thông là 39.428.616 chiếc (trong đó, có 2.056.489 ô tô, và 37.372.127 mô tô); kiểm tra, phát hiện 1.676 cơ sở sản xuất, kinh doanh mũ bảo hiểm giả, kém chất lượng; phát hiện, tịch thu, tạm giữ gần 54.000 mũ bảo hiểm, xử phạt hành chính trên 837.000.000 đồng.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc biểu dương 8 tỉnh đã có nhiều cố gắng tập trung chỉ đạo kéo giảm cả 3 tiêu chí số vụ, số người chết, số người bị thương; đồng thời nghiêm khắc phê bình 9 tỉnh để số vụ, số người chết và bị thương tăng cao.

Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ trọng tâm về bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong thời gian tới, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị các bộ, ngành trung ương và các tỉnh nghiêm túc triển khai Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04 tháng 9 năm 2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông; và Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2013 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW của Ban Bí thư.

Giao Bộ Giao thông, khẩn trương ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông; trong đó hướng dẫn về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải; về trách nhiệm và xử lý vi phạm về quản lý chất lượng dịch vụ và bảo đảm an toàn giao thông trong vận tải đường bộ; tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ vận tải; quản lý, khai thác và tích hợp dữ liệu thiết bị giám sát hành trình…Tăng cường các biện pháp quản lý doanh nghiệp vận tải hành khách phải bảo đảm đủ điều kiện kinh doanh, quản lý chặt chẽ luồng tuyến, kiểm tra an toàn xe xuất bến; thanh tra, kiểm tra các cơ sở kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, đặc biệt các cơ sở kinh doanh vận tải các tuyến liên tỉnh; kiên quyết xử lý nghiêm và thu hồi giấy phép kinh doanh đối với cơ sở không đủ điều kiện, tiêu chuẩn, để xảy ra nhiều vụ vi phạm an toàn giao thông nghiêm trọng.

 

Giao Bộ Công an, chỉ đạo các lực lượng công an huy động tối đa lực lượng, phương tiện, tranh thiết bị; tăng cường tuần tra, kiểm soát xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là các lỗi vi phạm tốc độ, lấn đường, chở quá số người quy định, quá khổ, quá tải, vi phạm nòng độ cồn…Nghiêm cấm cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang can thiệp vào việc xử phạt của cơ quan và lực lượng chức năng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với người tham gia giao thông phải thực hiện liên tục, thường xuyên, phối hợp các đoàn thể, tổ dân phố, tổ nhân dân tư quản. Tiếp tục phát động cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nghiêm túc chủ trương không uống rượu, bia trong ngày làm việc; đồng thời thông báo về địa phương, cơ quan đối với các trường hợp vi phạm; xử lý nghiêm cán bộ, chiến sĩ lợi dụng thi hành công vụ để tiêu cực, tham nhũng; khen thưởng kịp thời đối với tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

Bộ Tài chính phối hợp ban hành thông tư hướng dẫn việc thu, nộp tiền phạt, quản lý và sử dụng tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

29/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của tỉnhDanh mục văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh
Để phục vụ cho công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật của các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Sở Tư pháp đăng tải Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành từ năm 2005 đến tháng 10/2011 do Sở Tư pháp thực hiện. Kết quả này là cơ sở để cho các cơ quan, tổ chức và cá nhâ...

Để phục vụ cho công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật của các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Sở Tư pháp đăng tải Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành từ năm 2005 đến tháng 10/2011 do Sở Tư pháp thực hiện. Kết quả này là cơ sở để cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham khảo trong quá trình kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật tại đơn vị mình.
Để xem chi tiết nội dung văn bản, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thể truy cập vào trang Công báo điện tử của tỉnh tại địa chỉ http://congbao.bentre.gov.vn để tải nội dung của văn bản.
Ghi chú: Nếu có sai sót về thông tin của văn bản trong Danh mục hoặc cần tư vấn thêm về hiệu lực của văn bản, có thể liên hệ Phòng Kiểm tra và theo dõi việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, qua số điện thoại: 0753.575.203.

 

Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của HĐND tỉnh

Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh

22/11/2011 12:00 SAĐã ban hành
Đoàn luật sư Bến Tre những khởi sắc mớiĐoàn luật sư Bến Tre những khởi sắc mới
Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre được thành lập từ năm 1989 với 4 luật sư, bộ máy tổ chức, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc… hầu như chưa được bố trí, trang bị đầy đủ. Trong quá trình hoạt động tuy có nhiều khó khăn, nhưng Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre và các luật sư thành viên đã không ngừng phấn đấu, từng bước phát triển và ngày càng khẳng định vị thế và uy tín của mình đối với Đảng, Chính quy...

 

 

Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre được thành lập từ năm 1989 với 4 luật sư, bộ máy tổ chức, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc… hầu như chưa được bố trí, trang bị đầy đủ. Trong quá trình hoạt động tuy có nhiều khó khăn, nhưng Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre và các luật sư thành viên đã không ngừng phấn đấu, từng bước phát triển và ngày càng khẳng định vị thế và uy tín của mình đối với Đảng, Chính quyền, Đoàn thể các cấp trong tỉnh và xã hội.

Trên 24 năm hình thành và phát triển, số lượng đội ngũ luật sư của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre hiện nay là 37 luật sư. Đội ngũ này đã góp phần đáng kể vào hoạt động tố tụng, từng bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong nhiệm kỳ vừa qua, từ ngày 01/10/2008 đến ngày 01/10/2013 số lượng vụ, việc luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho tổ chức, cá nhân trong các vụ án và các vụ, việc cung cấp dịch vụ pháp lý khác là 4073 vụ việc. Trong đó, 424 vụ án hình sự, 1291 vụ việc dân sự, 29 vụ án kinh tế, 118 vụ án hành chính, 15 vụ án lao động, 16 vụ đại diện ngoài tố tụng, 16 vụ việc tư vấn dài hạn và 2164 vụ việc tư vấn khác.

Hiện tại trụ sở của Đoàn Luật sư đặt tại số 29 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tuy nhiên, nơi làm việc cũng còn khá chật hẹp. Trong thời gian qua, Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre luôn nhận được sự quan tâm từ Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh hoàn thiện dần cơ cấu tổ chức, cũng như bố trí cơ sở vật chất, điều kiện hoạt động ngày càng tốt hơn.

Một khởi sắc mới cho Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre là ngày 05 tháng 01 năm 2014, Đại hội Luật sư nhiệm kỳ VIII (2013 – 2018) được tổ chức thành công rực rỡ. Đại hội đã sáng suốt lựa chọn bầu được Ban Chủ nhiệm, Hội đồng thi đua khen thưởng kỷ luật và đại biểu tham dự Đại hội Luật sư toàn quốc lần thứ II. Luật sư Võ Tấn Thành được Đại hội tín nhiệm tái cử giữ nhiệm vụ Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ VIII (2013 – 2018).

Luật sư Võ Tấn Thành, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre quyết tâm tăng cường củng cố, hoàn thiện tổ chức nghề nghiệp của luật sư, thực hiện tốt chức năng làm đầu mối thống nhất đại diện, bảo vệ quyền hợp pháp của luật sư, tích cực đóng góp vào những công việc chung của Đảng bộ, Chính quyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị của tỉnh. Ngoài ra, phải tiếp tục xây dựng đội ngũ luật sư của tỉnh vững vàng về chính trị, tư tưởng, độc lập, trung thực tôn trọng sự thật khách quan, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, thực hiện nghĩa vụ bảo vệ thật tốt quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đồng thời tích cực thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách, phổ biến giáo dục pháp luật và các hoạt động xã hội khác và yêu cầu mỗi luật sư cần có ý thức và hành động nổ lực hết mình, không ngừng học hỏi, trao dồi đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, hoàn thiện kiến thức, chú trọng ngoại ngữ, kinh nghiệm thực tế và kỹ năng nghề nghiệp luật sư.

Với truyền thống đoàn kết và tinh thần vượt khó của Ban Chủ nhiệm và toàn thể luật sư sẽ tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về công tác quản lý cũng như tổ chức và hoạt động của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre, góp phần nâng cao hơn nữa vị thế của luật sư trong hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của  tổ chức, cá nhân cũng như bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, từng bước đưa Đoàn Luật sư Bến Tre phát triển đi lên cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

20/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bến Tre - thực trạng và giải phápCông tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bến Tre - thực trạng và giải pháp
Thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo quy định tại Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp (hiện nay áp dụng theo Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật). Theo đó, ngành Tư pháp được giao nhiệm vụ đầu mối theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn quản lý. Cụ thể: ...

Thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo quy định tại Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp (hiện nay áp dụng theo Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật). Theo đó, ngành Tư pháp được giao nhiệm vụ đầu mối theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn quản lý. Cụ thể: ở cấp tỉnh, cơ quan đầu mối làm công tác theo dõi chung là Sở Tư pháp, ở cấp huyện thì giao cho Phòng Tư pháp là cơ quan đầu mối làm nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn cấp huyện và riêng ở cấp xã thì nhiệm vụ này được giao cho công chức tư pháp - hộ tịch.

Với chức năng, nhiệm vụ được giao, trong những năm qua, công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh được sự quan tâm lãnh đạo và triển khai thực hiện khá tốt của các cơ quan, đơn vị và địa phương. Qua công tác theo dõi đã đánh giá được thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh; từ đó kiến nghị xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong thời gian tới. Nhìn chung, công tác theo dõi thi hành pháp luật đến nay đã mang lại những tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần nâng cao ý thức chấp hành, tuân thủ, chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên, qua gần 03 năm triển khai công tác này, bên cạnh những kết quả đạt được cũng còn gặp không ít những khó khăn, vướng mắc, tồn tại và hạn chế như sau:

Thứ nhất, hiện nay chưa có quy định, cơ chế hoặc cách thức để xác định lĩnh vực cần tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Thực tế ở địa phương khi chọn lĩnh vực theo dõi hàng năm thường căn cứ vào hướng dẫn lĩnh vực trọng tâm cần theo dõi của Bộ Tư pháp, tuy nhiên hướng dẫn của Bộ Tư pháp còn khá rộng, rất nhiều lĩnh vực, trong đó có nhiều lĩnh vực không sát với thực tế địa phương (ví dụ như các lĩnh vực: tiền tệ, kinh doanh vàng miếng, tình trạng đôla hóa, xây dựng chung cư…). Do đó, việc lựa chọn lĩnh vực ở địa phương nhiều lúc phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cán bộ làm tham mưu trong công tác này.

Thứ hai, tính chất công việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật trùng lặp với nhiều chức năng, công việc khác của Nhà nước như: công tác thanh tra, kiểm tra, công tác thông tin báo cáo, thống kê, công tác nghiên cứu khoa học…

Thứ ba, các tiêu chí để theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật, phương pháp thực hiện, kinh phí… quy định trong Thông tư số 03/2010/TT-BTP không rõ ràng. Các nội dung của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP mới ban hành cũng chưa giải quyết được các vấn đề này (quy định mới còn khái quát hơn, chung chung hơn, ví dụ như: quy định đối với nội dung đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đánh giá về hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật; phương pháp, đối tượng, nội dung khi tiến hành điều tra khảo sát...). Do đó, việc theo dõi thi hành pháp luật nhìn chung còn khó triển khai thực hiện.

Thứ tư, ngành Tư pháp chủ trì việc theo dõi, tổng hợp báo cáo, kiến nghị, đề xuất. Tuy nhiên, trong thực tế, đối với việc thực thi các quy định có tính chất chuyên môn của từng ngành, lĩnh vực, cán bộ của ngành Tư pháp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nội dung công việc, ví dụ: các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường ở các làng nghề (khi theo dõi tình hình ô nhiễm môi trường tại các làng nghề) hoặc các quy định pháp luật liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật của ao nuôi tôm, tôm giống, các loại dịch bệnh (khi theo dõi trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản)…

Thứ năm, hiện nay chưa có quy định về tổ chức, biên chế, cơ chế tài chính cụ thể dành cho công tác theo dõi thi hành pháp luật, chưa có nguồn kinh phí phục vụ cho việc triển khai công tác này (mới chỉ có kinh phí cho việc xây dựng báo cáo tổng hợp công tác theo dõi thi hành pháp luật).

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác theo dõi thi hành pháp luật trong thời gian tới mang lại hiệu quả cao hơn, xin đưa ra 05 nhóm giải pháp như sau:

Một là, cần có quy định, cơ chế để xác định lĩnh vực theo dõi thi hành pháp luật hàng năm. Cụ thể hơn, hàng năm đề nghị Bộ Tư pháp căn cứ vào tình hình thực tế của cả nước để xác định lĩnh vực trọng tâm cần theo dõi thi hành pháp luật, lĩnh vực trọng tâm này cần phù hợp với từng vùng miền, khu vực (đồng bằng, miền núi, đô thị và nông thôn) trên cơ sở đó toàn ngành tư pháp sẽ tập trung tham mưu tổ chức theo dõi trong cả nước. Từ đó, toàn Ngành đưa ra giải pháp đồng bộ, toàn diện và triệt để cho từng lĩnh vực theo dõi. Như vậy sẽ phù hợp hơn với thực tế nhân sự, kinh nghiệm và điều kiện vật chất còn thiếu và yếu như hiện nay.

Hai là, cần có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, khả thi hơn về phương thức theo dõi thi hành pháp luật (ví dụ: cách thức triển khai, tiêu chí để theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật…).

Ba là, cần có hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành đồng thời phát huy vai trò, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong việc triển khai thực hiện; quy định về cung cấp thông tin, báo cáo của các cơ quan, đơn vị trong việc theo dõi thi hành pháp luật.

Bốn là, cần có cơ chế để quy định trách nhiệm tiếp thu các kiến nghị, ý kiến góp ý sau khi theo dõi của các cơ quan liên quan.

Năm là, cần có quy định cụ thể về điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp như về tổ chức, biên chế thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật (bố trí công chức chuyên trách), kinh phí và bố trí nguồn kinh phí để thực hiện công tác này.

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá công tác năm 2013Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá công tác năm 2013
Chiều ngày 02/01/2014, Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (Dự án DBRP Bến Tre) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ thực hiện năm 2014. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị.

Chiều ngày 02/01/2014, Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (Dự án DBRP Bến Tre) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ thực hiện năm 2014. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị.

Ông Nguyễn Trúc Sơn, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư, Giám đốc Dự án DBRP Bến Tre báo cáo kết quả hoạt động năm 2013 và triển khai kế hoạch công tác 2014.

Dự án DBRP Bến Tre chính thức có hiệu lực từ ngày 06 tháng 5 năm 2008 với mục tiêu tổng quát là góp phần giảm nghèo bền vững và công bằng thông qua sự năng động của người dân nông thôn. Theo đánh giá chung công tác điều phối, thực hiện Dự án DBRP năm 2013 là ở mức đạt yêu cầu, có nhiều thành tựu hướng đến giảm nghèo mang tính sáng tạo, phù hợp và bền vững.

Năm 2013, tỉ lệ giảm nghèo tại 50 xã của Dự án trung bình đạt 2,45%, trong khi mức trung bình của cả tỉnh là 2,06%; Dự án DBRP tiếp tục tác động theo chiều hướng tích cực đối với chương trình giảm nghèo của tỉnh; môi trường đầu tư kinh doanh đã được cải thiện thông qua xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) hạng 26/63 tỉnh, thành (tăng 4 bậc so với năm 2012); 100 công trình phục vụ giao thông nông thôn, sản xuất (thủy lợi) và thương mại (chợ) đã được xây dựng và đưa vào sử dụng; có 11.530 lượt người từ các cơ quan thực hiện, các nhóm cộng đồng tham gia vào các hoạt động do dự án hỗ trợ bao gồm hoạt động đào tạo nghề, hội thảo chuyên đề, tham quan học tập kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, nghiên cứu thị trường, hội chợ triển lãm, khởi sự kinh doanh và các sự kiện đầu tư …Nhìn chung, các mô hình này được đánh giá là phù hợp, mang tính bền vững cao và có khả năng nhân rộng; Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cung cấp 899 món vay với số tiền 52,2 tỷ VND, kết quả nổi bậc là có sự chuyển biến tốt về thời hạn cho vay. Hiện nay, có 1.276 nhóm tiết kiệm – tín dụng được vay vốn với dư nợ lũy kế là 35,7 tỷ đồng; trong năm 2013, dự án giải ngân 95 tỷ, đạt 80% so với kế hoạch và ngân sách năm 2013, tỷ lệ giải ngân đã được nâng lên đạt mức tốt.

Phát biểu kết luận Hội nghị, ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh biểu dương Ban quản lý Dự án DBRP cấp tỉnh, huyện, xã và đề nghị Ban quản lý Dự án DBRP, các tổ chức cùng quan tâm đẩy nhanh xóa đói, giảm nghèo ở các xã có Dự án; ở mỗi huyện cần rà lại chất lượng của từng mô hình giảm nghèo, quan tâm đến hiệu quả của từng mô hình để giảm nghèo toàn diện hơn; tập trung thanh quyết toán, giải ngân các chương trình hoàn thành và chuẩn bị báo cáo đánh giá và bàn giao Dự án.

07/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Trẻ em cần được yêu thươngTrẻ em cần được yêu thương
Tất cả trẻ em vốn dĩ đều nên có một tuổi thơ trong sáng vui vẻ, được chăm sóc giáo dục với tình yêu thương của cha mẹ và gia đình. Thế nhưng cuộc đời ngoài kia nào chỉ có hoa thơm và trái ngọt, nào đâu phải đứa trẻ nào cũng được chăm sóc và yêu thương; ngoài kia còn rất nhiều những đứa trẻ không cha, không mẹ, không nơi nương tựa, không được sống trong tình thương gia đình, các em phải trải qua...

Tất cả trẻ em vốn dĩ đều nên có một tuổi thơ trong sáng vui vẻ, được chăm sóc giáo dục với tình yêu thương của cha mẹ và gia đình. Thế nhưng cuộc đời ngoài kia nào chỉ có hoa thơm và trái ngọt, nào đâu phải đứa trẻ nào cũng được chăm sóc và yêu thương; ngoài kia còn rất nhiều những đứa trẻ không cha, không mẹ, không nơi nương tựa, không được sống trong tình thương gia đình, các em phải trải qua một tuổi thơ đầy cơ cực và sóng gió.

Còn đó những đứa trẻ không nơi nương tựa, không được học hành, lang thang kiếm sống bằng đủ thứ nghề: bán kẹo, bán chewing-gum, bán vé số, đánh giày,.... Bên cạnh đó còn có cả những đứa trẻ vì không được định hướng tốt, sớm đi vào con đường đen tối: trộm cắp, lừa gạt, cướp giật... Những đứa trẻ không may mắn đó biết làm sao để tự bảo vệ mình trước những nguy hiểm của cuộc đời, biết làm sao để tìm đến tổ chức trợ giúp pháp lý để tìm công lý cho mình khi bị ức hiếp. Các em là những mảnh đời bất hạnh không nơi nương tựa sống lang thang đầu đường xó chợ, ngày ngày chỉ quần quật kiếm miếng cơm manh áo, không được yêu thương, không được học hành, thiếu kiến thức thì việc tiếp cận với pháp luật là một bài toán khó với bản thân những đứa trẻ đó và cả với những người làm công tác pháp luật. Để khi các em trở thành tội phạm, hoặc bị xâm hại quyền lợi rồi mới được giúp đỡ, được trợ giúp pháp lý thì đã muộn màng. Dẫu biết rằng trợ giúp pháp lý sẽ giúp được các em đòi lại công bằng cho mình khi bị xâm hại hoặc giúp các em có thể đón nhận hình phạt khi phạm tội một cách nhẹ nhàng hơn nhưng rồi cuộc đời các em rồi đây sẽ mãi có vết đen, sẽ có những tổn thương không bao giờ có thể chữa lành.

Chính vì thế, việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em luôn cần được quan tâm, cần được những người làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em và cả xã hội đặc biệt quan tâm; nhất là đối với những trẻ em lang thang không nơi nương tựa, thiếu thốn tình thương gia đình, thiếu thốn một mái nhà ấm áp.

Thương lắm nụ cười trẻ thơ.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuậtChế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

Quyết định này quy định chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa- nghệ thuật công lập và ngoài công lập, gồm: Nhạc công kịch hát dân tộc, nhạc công truyền thống Huế, đờn ca tài tử Nam Bộ, diễn viên sân khấu kịch hát, nghệ thuật biểu diễn dân ca, nghệ thuật ca trù, nghệ thuật bài chòi, biểu diễn nhạc cụ truyền thống.

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được giảm 70% học phí. Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật ngoài công lập được giảm mức học phí không vượt quá mức quy định của các ngành đào tạo tương ứng trong các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập.

Ngoài ra, học sinh, sinh viên còn được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề với mức bằng 40% suất học bổng khuyến khích toàn phần/tháng;

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật ngoài công lập được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề không vượt quá mức quy định của các ngành đào tạo tương ứng trong các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập. Chế độ bồi dưỡng nghề chỉ áp dụng đối với những tháng học sinh, sinh viên học tập và được trả vào đầu tháng.

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được trang bị trang phục học tập và cấp một năm 1 lần: Hai (02) bộ quần áo tập; Bốn (04) đôi giày vải; Bảy (07) đôi tất.

Chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật áp dụng kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2014.

13/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Vui xuân, đón tết nên tránh xa cờ bạcVui xuân, đón tết nên tránh xa cờ bạc
Qua một năm tất bật với công việc, Tết là dịp để mọi người nghỉ ngơi, sum họp với gia đình, người thân. Đây là khoảng thời gian vào dịp đầu năm mới mọi người thư giản với nhiều hoạt động vui chơi giải trí. Bên cạnh những hoạt động giải trí lành mạnh vui xuân đón Tết thì đâu đó không ít người chọn những hình thức giải trí không lành mạnh, vi p...

Qua một năm tất bật với công việc, Tết là dịp để mọi người nghỉ ngơi, sum họp với gia đình, người thân. Đây là khoảng thời gian vào dịp đầu năm mới mọi người thư giản với nhiều hoạt động vui chơi giải trí. Bên cạnh những hoạt động giải trí lành mạnh vui xuân đón Tết thì đâu đó không ít người chọn những hình thức giải trí không lành mạnh, vi phạm pháp luật đó là đánh bài ăn tiền. Trong những ngày Tết, nhóm bạn bè hay người thân trong gia đình ngồi lại với nhau đánh bài ăn tiền. Nhiều người nghĩ vui xuân, đón Tết nên việc đánh bài ăn tiền, với số tiền nhỏ là không vi phạm pháp luật. Nhưng việc đánh bài ăn thua bằng tiền dù với số tiền không lớn vẫn là hành vi đánh bạc trái phép. Pháp luật quy định đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp. Đánh bạc trái phép gồm các hình thức như: mua các số lô, số đề; xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật; đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép; cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác; bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề…Hành vi đánh bạc trái phép có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tuỳ theo tính chất và mức độ hành vi vi phạm.

Theo đó, Điều 26 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình quy định xử phạt hành vi đánh bạc trái phép như sau: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây: Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật; Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép; Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác; Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi: Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác; Che giấu việc đánh bạc trái phép. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây: Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép; Dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc; Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép; Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề: Làm chủ lô, đề; Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề; Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề; Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.

Ngoài ra, người có hành vi đánh bạc trái phép còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có đối với hành vi quy định tại Khoản 1; Khoản 2; Điểm a Khoản 3; Điểm b, c, d Khoản 4 và Khoản 5 Điều 26 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính nêu trên thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Người có hành vi đánh bạc trái phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 về tội đánh bạc: Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Ông bà ta thường nói “Cờ bạc là bác thằng bần”. Năm mới, Tết đến mọi người, mọi nhà đều mong muốn được đầm ấm và sung túc, rước tài lộc đến nhà. Vì vậy, mọi người, mọi nhà hãy tránh xa cờ bạc để nhà nhà được an khang thịnh vượng, hưởng một mùa xuân vui tươi, hạnh phúc.

21/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Lãnh đạo Sở Tư pháp thăm và làm việc tại Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 4 huyện Chợ LáchLãnh đạo Sở Tư pháp thăm và làm việc tại Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 4 huyện Chợ Lách
Chi nhánh số 04 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước được thành lập theo Quyết định số 664/QĐ-BUND ngày 25/3/2011 của Ủy Ban nhân dân tỉnh Bến Tre và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2011. Nhằm tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm hoạt động trợ giúp pháp lý của Chi nhánh số 04 sau 01 năm hoạt động, ngày 22/6/2012 lãnh đạo Sở Tư pháp đã tổ chức thăm và làm việc với Chi nhánh số 04.

Chi nhánh số 04 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước được thành lập theo Quyết định số 664/QĐ-BUND ngày 25/3/2011 của Ủy Ban nhân dân tỉnh Bến Tre và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2011. Nhằm tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm hoạt động trợ giúp pháp lý của Chi nhánh số 04 sau 01 năm hoạt động, ngày 22/6/2012 lãnh đạo Sở Tư pháp đã tổ chức thăm và làm việc với Chi nhánh số 04.


Tham dự buổi làm việc có ông Huỳnh Quang Triệu – Giám đốc Sở Tư pháp; các Phó Giám đốc: ông Nguyễn Tấn Nhứt và ông Lê Minh Hiền; lãnh đạo Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và đại biểu đại diện các cơ quan, ban ngành, đoàn thể huyện Chợ Lách.

Sau gần 1 năm đi vào hoạt động, Chi nhánh số 4 đã từng bước cũng cố tổ chức, đi vào hoạt động ổn định và bước đầu đạt được những kết quả thiết thực. Tổng số vụ việc trợ giúp pháp lý là 215 vụ việc cho 215 đối tượng được trợ giúp pháp lý thông qua các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hòa giải…Ngoài ra, Chi nhánh số 04 còn tư vấn, hướng dẫn cho hàng trăm lượt người dân không thuộc đối tượng đến Chi nhánh yêu cầu tư vấn.

Kết luận buổi làm việc, ông Huỳnh Quang Triệu – Giám đốc Sở Tư pháp đã ghi nhận và biểu dương kết quả hoạt động của Chi nhánh số 04, sự phối hợp và tạo điều kiện của các các cơ quan ban ngành huyện Chợ Lách trong thời gian qua, đồng thời chỉ đạo Chi nhánh số 4 – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh cần tập trung phát huy những mặt tích cực, khắc phục những tồn tại hạn chế để đáp ứng tốt hơn nữa các yêu cầu trợ giúp pháp lý của người dân trên địa bàn huyện Chợ Lách trong thời gian tới.

04/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Phát huy vị trí, vai trò của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp Bến Tre trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtPhát huy vị trí, vai trò của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp Bến Tre trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

 

 

Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành phải qua thẩm định của Sở Tư pháp. Xuất phát từ nhiệm vụ trên, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã giao cho Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Hiện tại, Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có 03 biên chế, gồm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và chuyên viên (01 thạc sĩ luật, 02 cử nhân luật - trong đó 01 đang học cao học luật). Từ khi được thành lập cho đến nay, Phòng đã thẩm định 755 văn bản quy phạm pháp luật và tham gia xây dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng khác của tỉnh. Hầu hết, các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được Phòng thẩm định đều đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và có tính khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với kết quả trên, vị trí và vai trò của Phòng trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã được khẳng định, nhiều năm liền được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen tập thể lao động xuất sắc, đặc biệt trong năm 2013 Phòng vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Có thể nói, để đạt được những thành tựu nêu trên là do sự nỗ lực, phấn đấu của tập thể Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Sở Tư pháp, đồng thời công tác thẩm định luôn được đặt ở vị trí ưu tiên trong quá trình hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và được các cấp, các ngành của tỉnh quan tâm thích đáng. Nhiều cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật không còn coi việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật chỉ là một thủ tục luật bắt phải làm, không còn thái độ kiểu đối phó khi gửi hồ sơ sang Sở Tư pháp để thẩm định.

Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, nhiệm vụ của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng nhiều và nặng nề hơn, trong đó công tác xây dựng pháp luật luôn được xem là nhiệm vụ trọng yếu trong các thời kỳ. Ngành Tư pháp tỉnh, nhất là Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã có những thành tựu đáng ghi nhận trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, góp phần quan trọng vào sự phát triển của Ngành và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013
Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổ...

Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống kinh - xã hội.


Tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước được phát động của ngành Tư pháp, của tỉnh và của cụm thi đua Khối Nội chính. Năm 2013, Sở Tư pháp đã phấn đấu, nỗ lực cụ thể hóa nội dung, tiêu chí thi đua vào từng lĩnh vực chuyên môn, gắn liền với từng giai đoạn cụ thể (thi đua ngắn hạn, dài hạn và đột xuất) với một số kết quả đáng ghi nhận. Cụ thể:

Tổ chức góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 - một sự kiện chính trị, pháp lý quan trọng của đất nước. Sở Tư pháp đã tích cực tham mưu Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và báo cáo kết quả về Ủy ban dự thảo, Bộ Tư pháp theo đúng thời gian quy định. Tổ chức in ấn và phát hành 820 quyển, 360.600 phiếu lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với khoảng 43.000.000 lượt ý kiến.

Đã thẩm định, góp ý văn bản kịp thời, đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo chất lượng, tính khả thi, hợp lý của dự thảo văn bản cụ thể gồm: thẩm định 133 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, gồm 37 dự thảo nghị quyết, 85 dự thảo quyết định và 11 dự thảo chỉ thị (tăng 35 văn bản so với năm 2012), tham gia góp ý 160 dự thảo văn bản (trong đó có 60 cuộc họp góp ý và góp ý 18 văn bản của trung ương).

Thực hiện việc tự kiểm tra 1.803 văn bản, trong đó: cấp tỉnh 35 văn bản, cấp huyện 1.768 văn bản theo đúng quy trình, thời gian quy định, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý các văn bản có nội dung và hình thức không phù hợp với quy định. Bên cạnh đó, đã tiếp nhận, kiểm tra theo đúng thẩm quyền 766 văn bản (cấp tỉnh kiểm tra 117 văn bản, cấp huyện kiểm tra 649 văn bản). Đặc biệt trong năm 2013, đã chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch và tổ chức triển khai, báo cáo kết quả tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành từ năm 1976 đến ngày 31/12/2012. Kết quả: đã kiến nghị công bố 260 văn bản hết hiệu lực thi hành; kiến nghị bãi bỏ 192 văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành có nội dung không còn phù hợp; kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần 15 nghị quyết có nội dung không còn phù hợp.


Thời gian qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã mang lại hiệu quả thiết thực; nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Đội ngũ làm công tác PBGDPL cấp tỉnh, cấp huyện thường xuyên được củng cố, kiện toàn, tăng về số lượng, chất lượng; được tập huấn, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo phục vụ ngày càng tốt hơn công tác PBGDPL. Toàn tỉnh hiện có 222 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện; 2.473 tuyên truyền viên pháp luật cấp xã. Hoạt động hòa giải ở cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả. Hiện nay, toàn tỉnh có 983 Tổ hòa giải/983 ấp, khu phố (đạt 100%) với hơn 7.400 hòa giải viên; đã tổ chức 05 lớp tập huấn và cấp phát trên 600 tài liệu cho các Tổ hòa giải. Kết quả hòa giải thành trên địa bàn tỉnh đạt trên 82,5% (tăng 2,16% so với năm 2012).

Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) ở địa phương từng bước củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy và đội ngũ thực hiện công tác TGPL, qua đó nâng cao chất lượng vụ việc TGPL và ngày càng đi vào chiều sâu, tăng cường đưa hoạt động TGPL về cơ sở, gắn chặt với công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chú trọng tại các địa bàn khó khăn, ven biển. Năm 2013, đã thực hiện TGPL cho người thuộc đối tượng là 828 vụ việc. Ngoài ra, còn tư vấn trực tiếp cho một số người không thuộc đối tượng được TGPL thông qua hình thức tư vấn tại trụ sở, TGPL lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ; thực hiện 63 đợt TGPL lưu động với 3.478 người dân tham gia, cấp phát 17.130 tờ gấp pháp luật cho người dân.

Lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch, chứng thực đã đi vào nền nếp, các sự kiện hộ tịch được đăng ký đúng quy định, đặc biệt là người dân đi đăng ký khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn quy định ngày càng tăng, đã kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của người dân. Trong năm, đã giải quyết 211 trường hợp đăng ký kết hôn; đăng ký khai sinh 134 (đăng ký lại 62, trẻ em 72); khai tử 08; nhận cha, mẹ, con 33; ghi chú 103 (kết hôn 27, ly hôn 76); quốc tịch 03; các trường hợp khác 504. Công tác lý lịch tư pháp, được triển khai khá đồng bộ, tiếp tục xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho người dân ngày càng tốt hơn; phối hợp chặt chẽ trong việc đối chiếu thông tin lý lịch tư pháp, đã cấp 3.178 phiếu lý lịch tư pháp trong năm.

Chú trọng xã hội hóa hoạt động công chứng: Năm 2013, toàn tỉnh có 05 tổ chức hành nghề công chứng với 08 công chứng viên; cơ sở vật chất của các tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu theo quy định. Đã giải quyết 21.703 hợp đồng, giao dịch của khách hàng theo đúng quy định của pháp luật (tăng 6.884 hợp đồng, giao dịch so với năm trước), tổng số phí thu được là 4.211.974.000 đồng (tăng 494.989.000 đồng so với năm trước).

Hoạt động bán đấu giá tài sản: đã xây dựng và áp dụng quy trình phần mềm bán đấu giá và chính thức đưa vào hoạt động kể từ tháng 01/2013, trong năm đã thực hiện 588 hợp đồng bán đấu giá tài sản của các cơ quan, đơn vị gửi bán, đã bán được 114 hợp đồng với số phí thu được là 6.164.980.000 đồng.

Về công tác quản lý luật sư: Toàn tỉnh có 35 luật sư với 24 tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động. Thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch, phối hợp đào tạo nghiệp vụ luật sư tại tỉnh Bến Tre với 66 học viên. Tiếp nhận và giải quyết cấp giấy đăng ký hoạt động cho 02 Văn phòng luật sư và quyết định thu hồi 01 giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng và 03 Chi nhánh. Phối hợp kiểm tra về tổ chức và hoạt động của 06 tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.

Với những kết quả đạt được như trên, tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua yêu nước năm 2013 và phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2014, Sở Tư pháp đã vinh dự được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước tỉnh Bến Tre năm 2013.

19/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sởVai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở
 Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các ...

Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.

Luật Hoà giải ở cơ sở đã khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc giới thiệu danh sách bầu làm hoà giải viên ở cơ sở; chủ trì tổ chức bầu hoà giải viên; đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận hoà giải viên sau khi bầu. Cụ thể tại Điều 8 của Luật Hoà giải ở cơ sở về bầu, công nhận hòa giải viên quy định người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật Hoà giải ở cơ sở có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức: Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình. Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý; trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp; trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng; Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

 

Đối với việc thôi làm hòa giải viên được quy định tại Điều 11 của Luật Hoà giải ở cơ sở: Trường hợp thôi làm hòa giải viên quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Trường hợp thôi làm hòa giải viên đối với tổ trưởng tổ hòa giải thì Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Quyết định thôi làm hòa giải viên được gửi Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

Bên cạnh đó vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở, còn thể hiện ở quy định tại Điều 12 của Luật Hoà giải ở cơ sở như đề nghị số lượng tổ hoà giải, số hòa giải viên trong một tổ hòa giải ở địa phương để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định; rà soát, kiến nghị kiện toàn tổ hoà giải.  Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì phối hợp với tổ trưởng tổ hòa giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải và kiến nghị Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã để đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã kiện toàn tổ hòa giải.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở còn thể hiện ở vai trò chủ trì bầu tổ trưởng tổ hoà giải theo quy định tại Điều 14 của Luật Hoà giải ở cơ sở. Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn bản và gửi chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định công nhận.

Ngoài ra, Điều 22 và Điều 26 của Luật Hoà giải ở cơ sở quy định: Trường hợp các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau thì tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố đó phối hợp thực hiện việc hòa giải và thông báo với Trưởng ban công tác Mặt trận tại nơi đó cùng phối hợp thực hiện. Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời thông báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.

Bên cạnh việc quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận nêu trên, Điều 30 của Luật Hoà giải ở cở sở còn quy định Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò quan trọng của Cộng tác viên trợ giúp pháp lýVai trò quan trọng của Cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào kết quả hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (trung tâm) trong thời gian qua chính là sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào kết quả hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (trung tâm) trong thời gian qua chính là sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý hiện nay gồm 144 cộng tác viên; trong đó cấp tỉnh 58, cấp huyện 60, cấp xã 9 và 17 Cộng tác viên là Luật sư. Với lực lượng Trợ giúp viên pháp lý và chuyên viên còn ít như hiện nay thì sự hỗ trợ của đội ngũ cộng tác viên là rất cần thiết. Theo số liệu báo cáo của Trung tâm cho thấy: Trong năm 2012, số lượng vụ việc thực hiện trợ giúp pháp lý là 900 vụ việc; trong đó, hình thức tham gia tố tụng là 291 vụ việc, Luật sư cộng tác viên thực hiện 158 vụ việc chiếm 54% tổng số vụ việc do Trung tâm thực hiện; hòa giải 38 vụ việc; trong đó, cộng tác viên thực hiện 15 vụ việc chiếm 39%; hình thức tư vấn pháp luật là 571 vụ việc, cộng tác viên thực hiện 10 vụ việc chiếm 1.7%. Ngoài ra, các cộng tác viên còn tham gia các đợt trợ giúp pháp lý lưu động cũng như khi gặp người thuộc diện trợ giúp pháp lý có nhu cầu trợ giúp pháp lý liên quan tố tụng luôn tận tình hướng dẫn, giải thích cho họ liên hệ với Trung tâm hoặc Chi nhánh trợ giúp pháp lý yêu cầu trợ giúp pháp lý.

Cộng tác viên không phải Luật sư đa số là công chức, viên chức của các cơ quan ban ngành trong tỉnh có bằng cử nhân luật hoặc bằng đại học khác nhưng làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tư vấn viên pháp luật, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý nên đa phần Cộng tác viên khi tham gia tư vấn pháp luật rất chặt chẽ đúng theo quy định của pháp luật, hợp tình. Bởi lẽ, vừa là cộng tác viên nhưng cũng đồng thời là cán bộ địa phương hoặc là cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực đó nên nắm được khá rõ các trường hợp mà người dân vướng mắc pháp luật.

Riêng đối với đội ngũ cộng tác viên là Luật sư, đây là lực lượng quan trọng hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý nhất là hình thức tham gia tố tụng. Theo số liệu báo cáo trên cho thấy trong năm Luật sư cộng tác viên đã thực hiện hơn 50% tổng số vụ việc trợ giúp pháp lý hình thức tham gia tố tụng của Trung tâm. Mặc dù chế độ bồi dưỡng cho vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định thấp hơn nhiều so với các vụ việc mà đương sự thuê theo hợp đồng dịch vụ pháp lý có thu trên thị trường, hồ sơ gởi đến Trung tâm để thẩm định quyết toán còn nhiều thủ tục giấy tờ nhưng Luật sư cộng tác viên đều nhiệt tình, năng nổ .

Sự tham gia trợ giúp pháp lý của cộng tác viên không chỉ khắc phục tình trạng thiếu nguồn nhân lực của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước còn góp phần triển khai thực hiện Kế hoạch tổng thể thực hiện Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Vì vậy, Nhà nước ta cần có các chính sách về chế độ hỗ trợ cho người thực hiện trợ giúp pháp lý nói chung và chế độ đãi ngộ, hỗ trợ cho đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý nói riêng nhằm khuyến khích sự tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý để nâng cao cả về số lượng và chất lượng trợ giúp pháp lý trong thời gian tới./.

 

30/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòngTổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng
Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo: Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân 3 huyện Biên biển (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú), thành phố Bến Tre; lãnh đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Đồn Biên phòng Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên; các phòng, đơn vị trực thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.

Đại tá Nguyễn Thành Trí, Phó Chỉ huy trưởng – Tham mưu trưởng, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh nêu rõ: Qua 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống tổ chức bộ máy Bộ đội Biên phòng được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả; đã chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức triển khai, quán triệt Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng và các văn bản của Đảng, Nhà nước có liên quan đến công tác biên phòng; đến quốc phòng, an ninh; phòng, chống tội phạm, ma túy, buôn bán người…; gắn với phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới biển. Đặc biệt, đã phối hợp với Sở Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức học tập trên 3.000 buổi, có gần 160 nghìn lượt người tham dự. Qua tuyên truyền, học tập, nhận thức về bảo vệ an ninh quốc gia, phòng, chống tội phạm của đa số cán bộ và nhân dân được nâng lên, đã cung cấp cho Bộ đội Biên phòng trên 2.300 tin, trong đó có gần 1.000 tin có giá trị. Ngoài ra, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Tư lệnh vùng 2 Hải quân, Cảnh sát biển vùng 3 thực hiện tốt Quy chế phối hợp, nắm chắc diễn biến tình hình, quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng, chủ động ngăn chặn, xử lý có hiệu quả mọi hoạt động của các đối tượng. Kết quả, đã phát hiện và xử lý trên 1.000 trường hợp không khai báo tạm trú, gần 300 nhóm thanh niên gây mất trật tự; trên 1.200 tụ điểm đá gà ăn thu bằng tiền; lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 130 đối tượng; ra quyết định xử phạt hành chính trên 840 trường hợp, số tiền trên 560 triệu đồng; đề xuất địa phương xử lý gần 1.400 trường hợp, số tiền trên 1 tỷ đồng; lập hồ sơ ban đầu điều tra, xác minh làm rõ và giao Công an khởi tố 297 vụ phạm pháp hình sự; phối hợp bắt 27 đối tượng có lệnh truy nã…; góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới biển, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Hiếu đánh giá cao kết quả triển khai thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trong 15 năm qua trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đồng thời lưu ý trong thời gian tới, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các ngành, các cấp có liên quan triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, các văn bản có liên quan đến an ninh quốc gia, bảo vệ biên giới biển, phòng chống tội phạm, ma túy, trật tự xã hội…Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác biên phòng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, tập trung xây dựng các xã nông thôn mới theo kế hoạch, giải quyết các vụ việc khiếu kiện có liên quan đến đất đai, tập đoàn sản xuất, nghêu…nhằm ổn định tình hình tranh chấp khiếu kiện trong nhân dân. Bổ sung hoàn thiện Quy chế phối hợp giữa 3 lực lượng Công an, Quân sự, Biên phòng nhằm thực hiện nghiêm và có hiệu quả Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, tổ chức diễn tập, huấn luyện theo các phương án đã đề ra./.

15/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dânSơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dân
Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Văn Tuân, Tỉnh ủy viên, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh trình bày báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân (03/3/2009 – 03/3/2013) của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Hội nghị đã nghe nhiều ý kiến tham luận về công tác phối hợp thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân, đã thông nhất cơ bản nội dung báo cáo; các ngành, địa phương đã phối hợp phố biến về mục đích, ý nghĩa Ngày Biên phòng toàn dân, gắn với việc triển khai Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Biên phòng, Nghị định 161/2003 về Quy chế khu vực biên giới biển… với nhiều hình thức sinh động, phối hợp thực hiện Chuyên mục “Vì chủ quyền an ninh biên giới”, Chuyên trang “Quốc phòng toàn dân”, tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về biên giới quốc gia”.


Phối hợp với ngành công an điều tra, xác minh làm rõ 96/111 vụ án hình sự, đưa ra xử lý hành chính 149 đối tượng. Phối hợp thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; tổ chức nhiều cuộc diễn tập, ứng phó tình huống có thể xảy ra; kịp thời kêu gọi, thông báo tình hình bão, áp thấp nhiệt đới; tổ chức giúp dân khắc phục hậu quả lốc xoáy, lụt bão…

Quan tâm xây dựng, củng cố các công trình phòng thủ bảo vệ biên giới sát hợp với yêu cầu, sẵn sàng chiến đấu; chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng biên phòng vững mạnh toàn diện. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân được vững chắc.

Vận động xây dựng  368 căn nhà “Đại đoàn kết”, 270 căn nhà “Tình thương”, 36 căn nhà “Tình nghĩa”, 07 căn nhà “Nhân ái”, 08 căn nhà “Đồng đội” trị giá 17 tỷ đồng; tặng hơn 2.000 phần quà cho học sinh nghèo hiếu học trị giá trên 500 triệu đồng.

Phối hợp các ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức họp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng gắn với Ngày Biên phòng toàn dân. Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao bước đầu tạo được sinh khí Ngày Biên phòng toàn dân, có ý nghĩa giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ biên giới biển.


Kết luận Hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Võ Thành Hạo đánh giá cao kết quả tổ chức thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân; đồng thời lưu ý trong thời gian tới Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể liên quan tiếp tục phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Ngày Biên phòng toàn dân, thực sự trở thành ngày hội toàn dân; phát động phòng trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc; đề cao cảnh giác, phòng, chống có hiệu quả âm mưu, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các loại đối tượng ở khu vực biên giới biển; tiếp tục triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế biển, xây dựng nông thôn mới, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh; chăm lo gia đình chính sách, thực hiện công tác giảm nghèo; phối hợp các ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến sâu rộng Ngày Biên phòng toàn dân; xây dựng lực lượng biên phòng vững mạnh về tư tưởng, tổ chức; không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

19/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về chế độ bồi dưỡng giám định viên tư pháp Quy định mới về chế độ bồi dưỡng giám định viên tư pháp
Ngày 01 tháng 01 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2014, thay thế Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg ngày 07/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng giám định viên tư pháp.

Ngày 01 tháng 01 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2014, thay thế Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg ngày 07/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng giám định viên tư pháp.

Theo đó, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg là giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước thực hiện giám định tư pháp; Người giúp việc cho người giám định tư pháp hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi, khai quật tử thi.

Về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp, tại Điều 2 và Điều 3 của Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg đã quy định cụ thể về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo ngày công và theo vụ việc, cụ thể như sau:

Chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo ngày công: được áp dụng đối với việc giám định tư pháp trong các lĩnh vực: Pháp y về độc chất, tổ chức học, sinh học, giám định trên hồ sơ; pháp y tâm thần; kỹ thuật hình sự; tài chính; ngân hàng; văn hóa; xây dựng; tài nguyên và môi trường; thông tin và truyền thông; nông - lâm - ngư nghiệp và các lĩnh vực khác. Mức bồi dưỡng giám định tư pháp một ngày công đối với một người thực hiện giám định từ 150.000 đồng đến 500.000 đồng tùy theo từng loại việc giám định.

Ngày công thực hiện giám định tư pháp được tính là 8 giờ thực hiện giám định. Số tiền bồi dưỡng cho một việc giám định được tính như sau:

 

Số tiền bồi dưỡng =

Số giờ giám định x mức bồi dưỡng một ngày công

8 giờ

 

Trường hợp thời gian thực hiện giám định vượt quá 8 giờ/ngày thì tổng thời gian làm giám định tăng thêm không vượt quá 300 giờ/năm; Trường hợp phải thực hiện giám định tư pháp vào ngày nghỉ hằng tuần thì mức bồi dưỡng được tính bằng 02 lần mức bồi dưỡng giám định tư pháp tương ứng loại việc giám định; Trường hợp phải thực hiện giám định tư pháp vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định thì mức bồi dưỡng được tính bằng 03 lần mức bồi dưỡng giám định tư pháp tương ứng với loại việc giám định.

Chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo vụ việc: được áp dụng đối với giám định trên người sống và trên tử thi trong lĩnh vực pháp y. Cụ thể:

Mức bồi dưỡng cho một người thực hiện giám định trên người sống từ 160.000 đồng/nội dung yêu cầu giám định đến đến 300.000 đồng/nội dung yêu cầu giám định tùy từng loại việc yêu cầu giám định.

Mức bồi dưỡng cho một người thực hiện giám định tử thi mà không mổ tử thi và tử thi không được bảo quản theo đúng quy chuẩn hoặc ở trạng thái thối rữa tự nhiên từ 600.000 đồng/tử thi đến 1.000.000 đồng/tử thi tùy thuộc vào thời gian chết của người được giám định.

Mức bồi dưỡng cho một người thực hiện giám định mổ tử thi mà tử thi không được bảo quản theo đúng quy chuẩn hoặc ở trạng thái thối rữa tự nhiên từ 1.500.000 đồng/tử thi đến 4.500.000 đồng/tử thi tùy thuộc vào thời gian chết của người được giám định.

Ngoài ra, Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg cũng quy định trường hợp mức bồi dưỡng khi tử thi được bảo quản theo đúng quy chuẩn, tử thi bị nhiễm HIV/AIDS, mang nguồn bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm hoặc phải thực hiện giám định trong khu vực đang có dịch bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, nguy hiểm thuộc nhóm A, nhóm B quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm; hoặc phải tiếp xúc với chất phóng xạ theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ, hóa chất nguy hiểm thuộc danh mục hóa chất ban hành kèm theo Nghị định số 108/2008/NĐ-CP và Nghị định số 26/2011/NĐ-CP, chất độc hại, nguy hiểm khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

Mức bồi dưỡng cho một người thực hiện giám định hài cốt được quy định như sau: mức 3.000.000 đồng/hài cốt; mức 4.000.000 đồng/hài cốt trong trường hợp phải thực hiện giám định trong khu vực đang có dịch bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, nguy hiểm thuộc nhóm A, nhóm B quy định tại điểm a và điểm b Khoản 1 Điều 3 của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm; hoặc phải tiếp xúc với chất phóng xạ theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ, hóa chất nguy hiểm thuộc danh mục hóa chất ban hành kèm theo Nghị định số108/2008/NĐ-CP và Nghị định số 26/2011/NĐ-CP, chất độc hại, nguy hiểm khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

Như vậy, mức bồi dưỡng giám định tư pháp được tính theo ngày công hoặc theo vụ việc giám định trong Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg được điều chỉnh tăng thêm từ 50% - 100% mức bồi dưỡng giám định tư pháp của Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, nó đánh dấu, khẳng định được sự quan tâm của nhà nước về tầm quan trọng trong công tác giám định. Tạo động lực cho các giám định viên phấn đấu không ngừng học tập và trao dồi kỹ năng giám định góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám định tư pháp.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tại các xã biên giới biển và khu vực phòng thủHiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tại các xã biên giới biển và khu vực phòng thủ
 Bình Đại là một trong ba huyện biển của tỉnh Bến Tre, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và kinh tế biển. Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện nhà đã xác định kinh tế biển là mũi nhọn để tập trung phát triển.Toàn huyện có 16.686,54 ha nuôi thủy sản với tổng sản lượng ước đạt 45.973 tấn, hai hợp tác xã thuỷ sản đã khai thác 1.684,31 tấn nghêu với doanh thu 79,382 tỷ đồng, h...

Bình Đại là một trong ba huyện biển của tỉnh Bến Tre, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và kinh tế biển. Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện nhà đã xác định kinh tế biển là mũi nhọn để tập trung phát triển.Toàn huyện có 16.686,54 ha nuôi thủy sản với tổng sản lượng ước đạt 45.973 tấn, hai hợp tác xã thuỷ sản đã khai thác 1.684,31 tấn nghêu với doanh thu 79,382 tỷ đồng, hoạt động đánh bắt thuỷ sản tiếp tục phát triển, tổng đoàn tàu hiện có 1.270 chiếc, sản lượng khai thác ước 57.000 tấn. Với nguồn lực kinh tế lớn như thế nhưng lại tập trung chủ yếu ở ba xã biển là Bình Thắng, Thừa Đức và Thới Thuận; đây là địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp nên nhận thức của người dân về lĩnh vực kinh tế biển, an ninh-quốc phòng trong các xã biên giới biển và khu vực phòng thủ chưa cao. Tình trạng một số tàu thuyền đánh cá vi phạm lãnh hải nước ngoài, người nước ngoài đến khu vực biên giới biển không trình báo, việc vi phạm an ninh, trật tự còn xảy ra. Chính vì thế, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho nhân dân trong các xã biên giới biển và khu vực phòng thủ là nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng đối với huyện nhà.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, cùng sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy đảng, chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể của huyện. Năm 2012, công tác tuyên truyền, PBGDPL của huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, phục vụ kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương. Hội đồng phối hợp, PBGDPL huyện, ngay từ đầu năm đã xây dựng kế hoạch và phối hợp với các cơ quan hữu quan, đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, PBGDPL; góp phần chuyển tải kịp thời các văn bản pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân.

Nhằm nâng cao công tác phối hợp và phát huy tinh thần trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện công tác PBGDPL tại các xã biên giới biển và khu vực phòng thủ trên địa bàn huyện Bình Đại. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân, để nhân dân có ý thức tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hạn chế hành vi vi phạm pháp luật; góp phần xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh trật tự khu vực biên giới biển. Năm 2012, Phòng Tư pháp huyện đã phối hợp với Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 03, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng Lao động-Thương binh và xã hội, Ban Chỉ huy quân sự  huyện, Đồn Biên phòng Cửa Đại đã Tập trung tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách và quy định của pháp luật có liên quan về an ninh biên giới biển và khu vực phòng thủ như: Luật Biển Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia năm 2003 và Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia; Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới biển; một số nội dung trong Nghị định số 152/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ về khu vực phòng thủ.

Hình thức PBGDPL thông qua bản tin hàng tuần của Đài Truyền thanh huyện, Đài Truyền thanh các xã. Tổ chức 03 lớp (mỗi lớp 50 người) tập huấn kỹ năng tuyên tuyền PBGDPL cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở 03 xã Thới Thuận, Thừa Đức và Bình Thắng. Tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động 3 cuộc với trên 472 người dự, phát 622 tài liệu tuyên truyền pháp luật về biên giới biển và khu vực phòng thủ. Qua công tác tập huấn đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở 03 xã biển đã nâng cao được kỹ năng tuyên truyền, người dân nắm vững kiến thức pháp luật về Luật Biên giới quốc gia, Quy chế khu vực biên giới biển và khu vực phòng thủ; từ đó tổ chức tuyên truyền, học tập sâu rộng đến từng tổ nhân dân tự quảng trong xã. Sau 03 tháng thực hiện, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở 03 xã biển đã tổ chức 416 cuộc, có 14.441 người dự. Qua triển khai, quán triệt, đại bộ phận nhân dân trên địa bàn ba xã biên giới biển đã thông hiểu cơ bản các quy định của pháp luật về Luật Biên giới quốc gia, Quy chế khu vực biên giới biển và khu vực phòng thủ. Tình hình an ninh, trật tự trong khu vực được giữ vững, các phương tiện đánh bắt thuỷ sản chấp hành tốt luật biên giới quốc gia và luật biển…nhân dân tin tưởng vào chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, bám đất, bám biển để sản xuất, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội huyện nhà phát triển không ngừng.

Để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, PBGDPL trong thời gian tới, cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giáo dục pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Phải xây dựng đội ngũ làm công tác PBGDPL có phẩm chất, năng lực, trình độ, có kỹ năng tuyên truyền, giáo dục, hòa giải tốt, có lòng nhiệt tình, say mê với công việc giáo dục pháp luật. Bên cạnh đó, phải đặc biệt chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho họ. Cần đổi mới nội dung giáo dục pháp luật theo hướng không chỉ đáp ứng nhu cầu kiến thức cơ bản về pháp luật cho người dân, mà còn giúp người dân có ý thức tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi vướng mắc pháp luật. Trên cơ sở nội dung pháp luật, các báo cáo viên cần biên soạn lại tài liệu tuyên truyền, PBGDPL cụ thể, phù hợp với đặc điểm, điều kiện, trình độ nhận thức, tính chất công việc của từng đối tượng. Các đề cương giới thiệu không chỉ được xây dựng trên cơ sở nội dung luật mà còn trên cơ sở văn bản hướng dẫn thực hiện. Thường xuyên đổi mới hình  hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật, ngoài việc tuyên truyền, PBGDPL, còn phải cung cấp phương pháp tiếp cận, phương pháp giải quyết vấn đề cho các đối tượng, giúp họ có khả năng vận dụng vào thực tiễn đời sống xã hội. Phải đảm bảo đủ kinh phí cho hoạt động PBGDPL. Tăng cường công tác PBGDPL không tách rời với việc nâng cao trình độ dân trí và cải thiện đời sống cho nhân dân. Trong tổ chức thực hiện pháp luật phải nghiêm minh, triệt để.

Mặt khác công tác tuyên truyền, PBGDPL trên địa bàn huyện thời gian qua tuy còn những hạn chế, song phải nhìn nhận rằng hiệu quả qua công tác tuyên truyền, PBGDPL trên địa bàn các xã biên giới biển đã được nâng lên đáng kể, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến từng nhà, từng người dân và dần dần sẽ ngấm vào tiềm thức và hình thành ý thức tuân thủ và chấp hành pháp luật của mỗi con người trong thời đại mới, thời đại hội nhập và phát triển của đất nước ta hiện nay.

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều kiện công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mớiĐiều kiện công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới
Ngày 14 tháng 03 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 372/QĐ-TTg về việc xét công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, theo đó quy định về điều kiện công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới:

Ngày 14 tháng 03 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 372/QĐ-TTg về việc xét công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, theo đó quy định về điều kiện công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới:

Xã đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo các điều kiện: Có đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới và được Ủy ban nhân dân cấp huyện xác nhận; có 100% tiêu chí thực hiện trên địa bàn xã đạt chuẩn theo quy định.

Huyện đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo các điều kiện: Có đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận; có 75% số xã trên địa bàn huyện đạt chuẩn theo quy định; 25% số xã trên địa bàn huyện chưa đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo có ít nhất 14 tiêu chí trở lên đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 02 tiêu chí chủ yếu là hộ nghèo và thu nhập, các tiêu chí còn lại phải đạt từ 70% trở lên so với quy định.

Tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo các điều kiện: Có đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác nhận; có 80% số huyện trên địa bàn tỉnh đạt chuẩn theo quy định; 20% số huyện trên địa bàn tỉnh chưa đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo các điều kiện: Có ít nhất 50% số xã trên địa bàn huyện đạt chuẩn nông thôn mới; các xã còn lại chưa đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn huyện phải đạt từ 14 tiêu chí trở lên, trong đó có 02 tiêu chí chủ yếu là hộ nghèo và thu nhập; các tiêu chí còn lại phải đạt từ 70% trở lên so với quy định.

Ngoài ra, Quyết định số 372/QĐ-TTg cũng quy định về thẩm quyền xét công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận và công bố xã đạt chuẩn nông thôn mới; Thủ tướng Chính phủ công nhận và công bố huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới.

07/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công khai địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chínhCông khai địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính
Thực hiện Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 785/STP-KSTT, đề nghị các cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành c...

 

 

Thực hiện Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 785/STP-KSTT, đề nghị các cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức công khai nội dung hướng dẫn, địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị về quy định hành chính tại nơi tiếp nhận và trả kết quả, để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền phản ánh, kiến nghị liên quan đến quy định hành chính.

Sở Tư pháp đã công khai nội dung, địa chỉ tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị trên website của Sở, tại địa chỉ http://www.sotuphap.bentre.gov.vn. Rất mong nhận được phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.

Phản ánh, kiến nghị được gửi hoặc liên hệ theo địa chỉ sau:

- Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;

- Địa chỉ: Số 17, đường Cách mạng tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Số điện thoại: 0753.822303;

- Địa chỉ thư điện tử: phongkstthc@bentre.gov.vn

 

30/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre: Tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình hành động quốc gia về phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 2005 - 2010 (Chương trình 212); Triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2011Bến Tre: Tổng kết 05 năm thực hiện Chương trình hành động quốc gia về phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 2005 - 2010 (Chương trình 212); Triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2011
Ngày 05/4/2011, tại hội trường Sở Tư pháp , Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (Hội đồng PHPBGDPL) tỉnh đã tổ chức Hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện chương trình hành động quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật giai đọan 2005-2010 và triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2011. Thành phần tham dự hội nghị gồm: Thành viên Hội đồng PHPBGDPL tỉnh; Đại diện Hội đồ...

gày 05/4/2011, tại hội trường Sở Tư pháp , Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (Hội đồng PHPBGDPL) tỉnh đã tổ chức Hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện chương trình hành động quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật giai đọan 2005-2010 và triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2011. Thành phần tham dự hội nghị gồm: Thành viên Hội đồng PHPBGDPL tỉnh; Đại diện Hội đồng PHPBGDPL các huyện, thành phố; Đại diện các cơ quan thành viên Chương trình 212 cấp tỉnh, huyện. Ông Trương Văn Nghĩa - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, kiêm Chủ tịch Hội đồng PHPBGDPL tỉnh chủ trì hội nghị.
Hội nghị đã tập trung đánh giá những kết quả đã đạt được, mặt hạn chế qua 05 năm thực hiện Chương trình 212. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, cơ sở để triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp cho những năm tiếp theo. Phát biểu hội nghị, Chủ tịch Hội đồng PHPBGDPL tỉnh đã yêu cầu tất cả thành viên Hội đồng PHPBGDPL tỉnh; Hội đồng PHPBGDPL các huyện, thành phố cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:
1. Củng cố, kiện toàn Hội đồng PHPBGDPL; chấn chỉnh công tác phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật giữa các thành viên của Hội đồng PHPBGDPL; giữa Hội đồng PHPBGDPL tỉnh - huyện; giữa thành viên các Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật với nhau và với cơ quan chủ trì, cơ quan thường trực Chương trình sát với quy chế phối hợp đã đề ra.
2. Xây dựng và có chương trình, hành động cụ thể thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương, đơn vị.
3. Hàng năm, UBND các huyện, thành phố phải dành một phần ngân sách để đảm bảo đáp ứng yêu cầu cần thiết của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương. Bên cạnh đó, cần phải tranh thủ vận động kinh phí từ các nguồn khác (nguồn kinh phí phối hợp với các ngành, nguồn xã hội hóa) vào công tác phổ biến giáo dục pháp luật.
4. Hoạt động sơ kết, tổng kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đảm bảo đúng định kỳ, đúng thời gian yêu cầu. Nội dung báo cáo cần tập trung đánh giá hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (Báo cáo cần đánh giá thẳng thắn về hiệu quả tuyên truyền, nhất là đánh giá việc chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời nêu kết quả của sự phối hợp về tính đồng bộ, tính hiệu quả, thường xuyên, liên tục…).
5. Tập trung thực hiện nghiêm túc các công việc trọng tâm về phổ biến, giáo dục pháp luật trong năm 2011, cụ thể:
- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 61/2007/NQ-CP của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 32/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đề án thuộc Chương trình hành động quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2008-2012 (Quyết định 37/2008/QĐ-TTg); Chuẩn bị tiến hành sơ kết giai đoạn 01 của Chương trình vào giữa năm 2011.
- Tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.
- Tiếp tục triển khai và nhân rộng mô hình “Ngày pháp luật” trên phạm vi toàn tỉnh.
- Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho thanh thiếu niên” ban hành kèm theo Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ trên đại bàn tỉnh.
- Triển khai, thực hiện Thông tư số 18/2010/TT-BTP của Bộ Tư pháp về Báo cáo viên pháp luật.
- Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác hòa giải cơ sở, phấn đấu đạt 80% chỉ tiêu tỷ lệ hòa giải thành.
6. Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ, nhân dân theo hướng phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức.
7. Tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra và hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật; cần tập trung hơn nữa cho cơ sở.
Cũng tại hội nghị, Hội đồng PHPBGDPL tỉnh đã trao 22 bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh cho 10 tập thể và 22 cá nhân tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong 05 năm thực hiện Chương trình.

09/05/2011 12:00 SAĐã ban hành
Công chứng Bến Tre trên đường phát triểnCông chứng Bến Tre trên đường phát triển
Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 250/QĐ-TTg ngày 10/02/2010 phê duyệt Đề án “Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến n...

Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 250/QĐ-TTg ngày 10/02/2010 phê duyệt Đề án “Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020”; Quyết định số 240/QĐ-TTg ngày 17/02/2011 ban hành “Tiêu chí quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020” và Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2012 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020. Bến Tre đã chủ động triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng; đến hết năm 2014 mỗi đơn vị hành chính cấp huyện có ít nhất một tổ chức hành nghề công chứng.

Bến Tre từ 01 Phòng Công chứng với 03 công chứng viên, năm 2011 Văn phòng Công chứng đầu tiên tại Bến Tre được thành lập; đến nay đã có 5 tổ chức hành nghề công chứng với 11 Công chứng viên (01 Phòng Công chứng và 04 Văn phòng Công chứng) đã được thành lập và đi vào hoạt động theo chủ trương xã hội hóa. Sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng và đội ngũ công chứng viên về cơ bản đã đáp ứng được phần nào nhu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức; 100% công chứng viên được bổ nhiệm đều có trình độ cử nhân luật trở lên và số lượng này không ngừng được tăng lên. Việc cho phép thành lập và hoạt động đối với Văn phòng Công chứng đã giảm tải cho Phòng Công chứng, Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã (nơi không có Phòng Công chứng) trong việc thực hiện công chứng các hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức, đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của nhân dân. Đồng thời, sự ra đời của các Văn phòng Công chứng đã tạo ra môi trường cạnh tranh để phát triển, mọi yêu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức được giải quyết nhanh chóng, không gây ách tắc, phiền hà; chất lượng phục vụ trong hoạt động công chứng ngày càng nâng lên, đáp ứng yêu cầu của các cá nhân, tổ chức khi có nhu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch.

Bước đầu thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp, nhất là hoạt động công chứng cũng đã gặp phải một số khó khăn, vướng mắc do yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Đặc biệt là việc công chứng các hợp đồng, giao dịch có yếu tố nước ngoài, việc thông qua hoạt động công chứng các đối tượng lừa đảo chuyển dịch quyền sở hữu, quyền sử dụng các loại tài sản… Với vai trò tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động công chứng, Sở Tư pháp đã chủ động phối hợp với các ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố để chấn chỉnh và khắc phục kịp thời. Đồng thời tiếp tục tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện lộ trình phát triển các tổ chức hành nghề công chứng tại Bến Tre theo Quy hoạch được phê duyệt.

Nhìn chung, hoạt động công chứng tại Bến Tre trong thời gian vừa qua đã khẳng định rõ rệt vai trò của công chứng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp công dân, tổ chức, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục phát huy kết quả đạt được, trong thời gian tới, ngoài việc tiếp tục kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực đội ngũ công chứng viên theo hướng chuyên nghiệp, nhanh chóng đưa vào sử dụng mạng thông tin liên thông giữa các tổ chức hành nghề công chứng để các công chứng viên dễ dàng truy cập tình trạng giao dịch của tài sản, tránh tình trạng một tài sản được giao dịch nhiều lần tại các tổ chức hành nghề công chứng khác nhau. Phấn đấu đến năm 2014 tất các các huyện đều có tổ chức hành nghề công chứng và tiến tới thực hiện việc chuyển giao toàn bộ hoạt động chứng nhận hợp đồng giao dịch từ cấp huyện, xã sang các tổ chức hành nghề công chứng, để hoạt động công chứng trở nên chuyên nghiệp hóa hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của tổ chức và cá nhân trong tỉnh.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Giá trị của giấy chứng nhận kết hônGiá trị của giấy chứng nhận kết hôn
Cuộc sống ngày càng hiện đại, cách nhìn và cách sống trong mối quan hệ hôn nhân ngày nay cũng có những thay đổi theo. Không ít đôi nam nữ tổ chức đám cưới thật long trọng nhưng lại không quan tâm đến việc đăng ký kết hôn, do họ quan niệm vợ chồng sống với nhau là quan trọng, tờ giấy chứng nhận kết hôn khi nào cần thì đi đăng ký.

Cuộc sống ngày càng hiện đại, cách nhìn và cách sống trong mối quan hệ hôn nhân ngày nay cũng có những thay đổi theo. Không ít đôi nam nữ tổ chức đám cưới thật long trọng nhưng lại không quan tâm đến việc đăng ký kết hôn, do họ quan niệm vợ chồng sống với nhau là quan trọng, tờ giấy chứng nhận kết hôn khi nào cần thì đi đăng ký. Quả thật đó là quan niệm sai lầm và chưa lường trước hết những hệ lụy khi không đăng ký kết hôn. Khi hai bên nam và nữ đồng lòng cùng nhau xây dựng mái gia đình thì việc đăng ký kết hôn không phải là chuyện thủ tục mà là sự thể hiện mối quan hệ nghiêm túc, hôn nhân hợp pháp sẽ được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chẳng hạn trường hợp chị L và anh N sau thời gian dài tìm hiểu, hai người đã quyết định cưới nhau và sống chung với nhau. Họ đã tổ chức đám cưới ra mắt họ hàng hai bên, nhưng sau khi đám cưới chị L và anh N vẫn chưa muốn đi đăng ký kết hôn vì cho rằng sống với nhau từ từ rồi đăng ký kết hôn cũng được. Vậy là sau khi cưới, cả hai bắt đầu cuộc sống gia đình, chị L đưa hết số tiền dành dụm trước khi cưới và những tài sản khác của mình cho anh N để đầu tư cùng bạn bè làm ăn. Ngày lại ngày, anh N về nhà trong tình trạng say xỉn rồi gây gỗ và đánh đập chị L. Cuộc sống gia đình hạnh phúc mà chị L và anh N mơ ước trước kia giờ được thay vào những trận cãi vã. Chị L không muốn kéo dài cuộc sống gia đình không có gì hạnh phúc và lúc này chị L tìm đến Tòa án để xin ly hôn thì mới vỡ lẽ là mình chưa đăng ký kết hôn. Bởi theo quy định Luật Hôn nhân gia đình thì nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng, cho nên theo quy định pháp luật chị L và anh N không được công nhận là vợ chồng.

Tài sản của chị L và anh N trong trường hợp này sẽ được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ và con. Khi giữa hai người không còn tình cảm với nhau thì tài sản cũng rất khó thỏa thuận và khả năng chứng minh là tài sản riêng của mỗi người cũng không dễ dàng gì, vì trong thời gian tình cảm còn mặn nồng, sống với nhau thì ai lại kêu ký tên, viết giấy đối với tài sản riêng đưa vào sử dụng chung. Giờ đây, chị L mới hiểu ra giá trị của Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì cũng đã muộn màng.

31/05/2012 12:00 SAĐã ban hành
Bộ Tư pháp ban hành Thông tư hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính và rà soát, đánh giá thủ tục hành chính Bộ Tư pháp ban hành Thông tư hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính và rà soát, đánh giá thủ tục hành chính
Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24/2/2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính (TTHC) và rà soát, đánh giá TTHC nhằm cụ thể hóa những quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính và Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát...

Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24/2/2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính (TTHC) và rà soát, đánh giá TTHC nhằm cụ thể hóa những quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính và Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính. Thông tư gồm 04 Chương, 16 Điều, bao gồm các nội dung hướng dẫn cụ thể việc đánh giá tác động của TTHC trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về TTHC; việc rà soát, đánh giá TTHC trong quá trình rà soát, đơn giản hóa TTHC.

Thông tư 07/2014/TT-BTP quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về TTHC thực hiện đánh giá tác động, cơ quan thẩm định trong quá trình đánh giá tác động; hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các tiêu chí về sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp, chi phí tuân thủ trong quá trình xây dựng dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; quy định, hướng dẫn rõ đối với trường hợp TTHC được giao quy định đầy đủ, chi tiết hoặc sửa đổi, bổ sung thì cơ quan chủ trì soạn thảo chỉ đánh giá tác động với những phần liên quan đến những nội dung quy định chi tiết hoặc được sửa đổi, bổ sung; hướng dẫn cách tính chi phí tuân thủ TTHC và việc sử dụng biểu mẫu tính toán.

Theo đó, việc đánh giá tác động của TTHC được tiến hành trong giai đoạn dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và phải hoàn thành trước khi gửi cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật. Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về TTHC thực hiện đánh giá tác động của TTHC theo các bước sau: Tiến hành đánh giá tác động của TTHC; hoàn thiện các quy định về TTHC; tổng hợp kết quả đánh giá tác động của TTHC.

Cụ thể, cơ quan chủ trì soạn thảo sử dụng các biểu mẫu và nội dung quy định để đánh giá về sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp và chi phí tuân thủ của TTHC.

Trong quá trình đánh giá tác động, nếu TTHC được xác định là không cần thiết thì cơ quan chủ trì soạn thảo ngừng việc đánh giá và không quy định TTHC trong dự án, dự thảo văn bản. Nếu TTHC được xác định là cần thiết thì tiếp tục đánh giá và căn cứ kết quả đánh giá, cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh sửa, hoàn thiện quy định về TTHC nhằm bảo đảm TTHC tại dự án, dự thảo văn bản thực sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và hiệu quả.

Sau khi đánh giá tác động của TTHC, cơ quan chủ trì soạn thảo tổng hợp kết quả đánh giá vào nội dung báo cáo đánh giá tác động của dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đối với dự thảo Thông tư, Thông tư liên tịch, dự thảo Quyết định của UBND cấp tỉnh có quy định về TTHC, cơ quan chủ trì soạn thảo tổng hợp kết quả đánh giá tác động của TTHC thành báo cáo riêng.

Về hoạt động rà soát, đánh giá TTHC, Thông tư đã quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình rà soát, đánh giá TTHC; hướng dẫn quy trình từ khâu lập Kế hoạch đến khâu gửi kết quả rà soát, đánh giá; hướng dẫn cách thức rà soát, đánh giá TTHC đối với từng TTHC, nhóm TTHC thông qua việc trả lời các câu hỏi trong biểu mẫu rà soát, đánh giá, sơ đồ hóa và sử dụng biểu mẫu tính chi phí tuân thủ trước và sau đơn giản hóa.

Thông tư số 07/2014/TT-BTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/4/2014.

18/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quyền sở hữu theo quy định của pháp luật Việt NamQuyền sở hữu theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo quy định tại Bộ Luật Dân sự được Quốc hội Khóa XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 thì quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản; cụ thể như sau:

Theo quy định tại Bộ Luật Dân sự được Quốc hội Khóa XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 thì quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản; cụ thể như sau:

Quyền chiếm hữu: là quyền nắm giữ, quản lý tài sản (Điều 182 BLDS). Theo đó, việc nắm giữ và quản lý ở đây bao hàm cả việc thực hiện quyền sử dụng (dùng và khai thác tài sản) hoặc quyền không sử dụng tài sản (quyền cất giữ tài sản).

Quyền sử dụng tài sản: là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản (Điều 192 BLDS). Như vậy, với tư cách là một trong những nội dung của quyền sở hữu, quyền sử dụng bao gồm quyền khai thác công dụng của tài sản và quyền thu nhận hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Theo đó, “khai thác công dụng” nghĩa là chủ sở hữu tự mình thụ hưởng các lợi ích vật chất từ một tài sản. “Hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”  là việc chủ sở hữu được thụ hưởng những kết quả từ việc khai thác sự sinh lợi của tài sản.

Chủ sở hữu có quyền quyết định phương thức sử dụng tài sản cũng như cách thức thu hoa lợi, lợi tức (trực tiếp khai thác hoặc để cho người khác khai thác thông qua hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn). Tài sản có thể được khai thác trực tiếp bằng chính chủ sở hữu hoặc bởi một người khác không phải là chủ sở hữu.

Bên cạnh đó, luật cũng quy định việc hạn chế quyền sử dụng đối với chủ sở hữu (Điều 193 BLDS) theo đó “trong trường hợp chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”. Như vậy, với quy định trên sẽ hạn chế được quyền sử dụng chủ động, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền của chủ sở hữu tài sản.

Quyền định đoạt tài sản: là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó (Điều 195 BLDS). Như vậy, chủ sở hữu có quyền quyết định số phận của tài sản về phương diện vật chất (tiêu dùng, thiêu hủy, chuyển hóa thành một hình thức tồn tại khác...) hoặc về phương diện pháp lý (chuyển nhượng, tặng cho, trao đổi, góp vốn kinh doanh...).

Cũng giống như quyền sử dụng, quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản có thể do chính chủ sở hữu hoặc người khác thực hiện (Điều 198 BLDS). Mọi trường hợp định đoạt tài sản ngoài khuôn khổ giới hạn của quyền tự định đoạt của chủ sở hữu cũng như định đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác đều bị xem là giao dịch vô hiệu.

Ngoài ra, luật còn quy định các trường hợp hạn chế quyền định đoạt của chủ sở hữu tại Điều 199 của BLDS, cụ thể như: Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do pháp luật quy định. Khi tài sản đem bán là di tích lịch sử, văn hoá thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua.

Trong trường hợp pháp nhân, cá nhân, chủ thể khác có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.

Như vậy, với các quy định trên sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân, đảm bảo cho người dân thực hiện đầy đủ các quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình.

15/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phỏng vấn đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.Phỏng vấn đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.
Ngày 28 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, Nghị định này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ qu...

Ngày 28 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, Nghị định này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó để làm thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài. Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký tạm trú của người đó, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Về thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, tại Điều 15 của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định:

Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do người yêu cầu nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này.

Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau: Tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định); bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế; Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người yêu cầu.

Trường hợp công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Ủy ban nhân dân cấp xã gửi văn bản xin ý kiến Sở Tư pháp kèm theo 01 bộ hồ sơ. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp thực hiện thẩm tra, xác minh và có văn bản trả lời Ủy ban nhân dân cấp xã kèm trả hồ sơ; nếu từ chối giải quyết, Sở Tư pháp giải thích rõ lý do bằng văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho người yêu cầu. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và cấp cho người yêu cầu.

Căn cứ tình hình cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định bổ sung thủ tục phỏng vấn để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Ngày 31 tháng 12 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 22/2013/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP. Tại Điều 10 của Thông tư này hướng dẫn trình tự phỏng vấn đối với người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài như sau:

Sở Tư pháp cử cán bộ tiến hành phỏng vấn đối với người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Khi phỏng vấn cán bộ Sở Tư pháp cần làm rõ sự tự nguyện, mục đích kết hôn của công dân Việt Nam; sự hiểu biết của công dân Việt Nam về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài, về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú.

Kết quả thẩm tra, xác minh, phỏng vấn bên công dân Việt Nam cho thấy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Sở Tư pháp yêu cầu bên người nước ngoài về Việt Nam để phỏng vấn làm rõ: Hai bên chênh lệch nhau từ 20 tuổi trở lên; người nước ngoài kết hôn lần thứ ba hoặc đã kết hôn và ly hôn với vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam; công dân Việt Nam không hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài; không hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú; người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho biết sẽ không có mặt để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài. Kết quả phỏng vấn phải ghi thành văn bản, có chữ ký của người phỏng vấn, người được phỏng vấn.

Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Công dân Việt Nam đề nghị cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước ngoài tại Việt Nam. Kết quả kiểm tra, xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân của đương sự trên thực tế không đúng với Tờ khai trong hồ sơ; đương sự không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Kết quả phỏng vấn cho thấy hai bên chưa có sự hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của nhau; không có sự hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của mỗi nước. Việc kết hôn của đương sự không tự nguyện, không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Việc kết hôn thông qua môi giới trái pháp luật. Lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh, kiếm lời hoặc vì mục đích trục lợi khác.

07/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre chỉ đạo thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứngỦy ban nhân dân tỉnh Bến Tre chỉ đạo thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng
Sau khi Luật Công chứng có hiệu lực thi hành đến nay, hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh có bước chuyển biến tích cực. Các tổ chức hành nghề công chứng được mở rộng, việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng được tiến hành từng bước, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, tạo điều ki...

Sau khi Luật Công chứng có hiệu lực thi hành đến nay, hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh có bước chuyển biến tích cực. Các tổ chức hành nghề công chứng được mở rộng, việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng được tiến hành từng bước, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức hành nghề công chứng phát triển, đáp ứng nhu cầu xã hội hóa ngành nghề công chứng, giảm tải công việc cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã để tập trung quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Luật Công chứng, vẫn còn một số khó khăn nhất định như: việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng còn chậm do thiếu đội ngũ công chứng viên dẫn đến việc chuyển giao thầm quyền công chứng không đồng bộ, chưa có phần mềm chia sẻ thông tin giữa các tổ chức hành nghề công chứng với các cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng nên một số ít đối tượng lợi dụng quy định của pháp luật về công chứng để thực hiện hành vi gian dối, lừa đảo.

Để khắc phục tình trạng trên và thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư pháp tại Công văn số 500/BTP-BTTP ngày 24 tháng 02 năm 2014 về việc phối hợp thực hiện tốt một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng và tiếp tục thực hiện tốt Quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh. Ngày 02 tháng 4 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Công văn số 1403/UBND-NC về việc thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng. Trong đó, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo:

Sở Tư pháp tiếp tục thực hiện Quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng theo Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29 tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng khi tổ chức hành nghề công chứng đủ điều kiện về nhân sự. Việc chuyển giao phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương, thuận lợi cho người dân, phù hợp với Luật Công chứng và Nghị định số 88/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Phối hợp với Sở Tài chính, Sở Khoa học Công nghệ và Sở Kế hoạch Đầu tư nghiên cứu khảo sát thực tế và điều kiện để xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông giữa các tổ chức hành nghề công chứng với cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng và các cơ quan Thi hành án Dân sự để cập nhật, nắm bắt thông tin khi thực hiện công chứng, tránh trường hợp lợi dụng hoạt động công chứng thực hiện hành vi lừa đảo.

Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thi hành án Dân sự và Ủy ban nhân dân cấp huyện tăng cường chỉ đạo các tổ chức hành nghề công chứng, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Chi cục Thi hành án Dân sự và Ủy ban nhân dân cấp xã tích cực phối hợp chia sẽ, cung cấp thông tin về tài sản khi thực hiện giao dịch nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch, hạn chế tranh chấp xảy ra góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Chủ trì, phối hợp với Thanh tra tỉnh và cơ quan Thuế nơi tổ chức hành nghề công chứng hoạt động để hàng năm có kế hoạch thanh tra, kiểm tra toàn diện hoạt động công chứng để phát hiện sai sót và chấn chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu người dân; tăng cường chỉ đạo các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục khi thực hiện công chứng; tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho các tổ chức hành nghề công chứng đảm bảo các công chứng viên nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ khi hành nghề, hạn chế sai sót xảy ra.

Thủ trưởng các sở, ngành nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã tùy theo chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện tốt nội dung Công văn này.

11/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2014Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2014
Chiều ngày 17 tháng 01 năm 2014, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và triển khai công tác tư pháp năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các Phó Giám đốc Sở; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, chuyên viên các phòng, trung tâm thuộc Sở; thủ trưởng Phòng T...

Chiều ngày 17 tháng 01 năm 2014, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và triển khai công tác tư pháp năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các Phó Giám đốc Sở; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, chuyên viên các phòng, trung tâm thuộc Sở; thủ trưởng Phòng Tư pháp và đại diện Công chức Tư pháp – Hộ tịch của 9 huyện, thành phố.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp báo cáo tóm tắt kết quả công tác tư pháp năm 2013; triển khai dự thảo Kế hoạch công tác tư pháp năm 2014; báo cáo tổng kết công tác thi đua, khen thưởng ngành Tư pháp năm 2013 và phát động phong trào thi đua năm 2014. Tại hội nghị các ý kiến phát biểu của đại biểu đã thẳng thắn đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại cơ bản trong các lĩnh vực công tác tư pháp năm 2013 của tỉnh, trên cơ sở đó góp ý cho phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp công tác năm 2014.


Công tác tư pháp của tỉnh năm 2013 đã triển khai đồng bộ, rộng khắp, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và cả nước; thể hiện sự chủ động, nhạy cảm với những vấn đề lớn của tỉnh và đã đạt được nhiều thành tích, có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh ở địa phương. Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác tư pháp trên địa bàn tỉnh trong năm 2013 cũng còn một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục khắc phục trong thời gian tới như: Chất lượng một số văn bản quy phạm pháp luật chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu; chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có lúc, có nơi và một số lĩnh vực chưa sâu, kinh phí cho công tác này còn hạn chế nhất là cấp huyện, cấp xã; công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp vẫn còn hạn chế, do số lượng thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp ngày càng nhiều, nhưng chưa bố trí được biên chế đáp ứng yêu cầu thực tế khối lượng công việc; công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở cấp xã vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót; việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng còn chậm so với quy hoạch; bố trí nhân sự thực hiện các nhiệm vụ công tác của Ngành còn thiếu, nhất là trong các lĩnh vực mới như: xử lý vi phạm hành chính, lý lịch tư pháp, bồi trường nhà nước, theo dõi thi hành pháp luật...


Năm 2014, tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong điều kiện ngân sách của tỉnh rất hạn hẹp. Theo phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của Ngành năm 2014 đã được thông qua tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2014 vừa qua là rất nặng nề, đòi hỏi toàn ngành Tư pháp nói chung, tư pháp tỉnh Bến Tre nói riêng phải triển khai đồng bộ, toàn diện các mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình, áp dụng đồng bộ các giải pháp, nhất là những giải pháp mang tính đột phá để tạo chuyển biến mạnh trong năm 2014, tạo đà cho các năm tiếp theo, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám Đốc Sở Tư pháp nhấn mạnh công tác tư pháp năm 2014 cần tập trung một số vấn đề như: Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật nhằm góp phần hoàn thiện thể chế phục vụ công tác chỉ đạo điều hành các mặt kinh tế - xã hội của tỉnh, cải thiện vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; triển khai thực hiện tốt công tác theo dõi thi hành pháp luật, qua đó đưa công tác tư pháp vào cuộc sâu hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý theo các chương trình, đề án đã được phê duyệt; tiếp tục tổ chức tốt Ngày pháp luật Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014; triển khai đồng bộ, quyết tâm thực hiện hiệu quả kế hoạch của Chính phủ về triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013; thực hiện các giải pháp để đưa Luật Hòa giải ở cơ sở đi vào cuộc sống; có giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng công tác trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở; tập trung triển khai có hiệu quả Chiến lược phát triển lý lịch tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030; tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước đối với công tác hộ tịch, chứng thực, nhất là ở cơ sở; tiếp tục quan tâm phát triển đội ngũ công chứng viên, đấu giá viên, giám định viên tư pháp; xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin công chứng và thông tin ngăn chặn để đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chế độ công vụ, công chức, viên chức và trách nhiệm người đứng đầu; tiếp tục quan tâm, kiện toàn tổ chức, bổ sung kịp thời biên chế để thực hiện các nhiệm vụ mới được giao thêm cho Ngành; chú trọng đào tạo nguồn Công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã; kiện toàn và nâng cao vai trò, năng lực cho công chức pháp chế sở, ngành tỉnh để phối hợp triển khai tốt công tác tư pháp trên địa bàn tỉnh; tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tư pháp các cấp trong sạch, vững mạnh.

Cũng tại hội nghị, 3 Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày Nam, Bình Đại và 9 Công chức Tư pháp – Hộ Tịch của 9 huyện, thành phố đã được Sở Tư pháp tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác tư pháp năm 2013 và nhiều tập thể Phòng, Trung tâm, cán bộ, công chức, viên chức Sở Tư pháp nhận Danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn