Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ
Sáng ngày 01 tháng 8 năm 2014, tại số 178, ấp Lộc Sơn, xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Văn phòng Công chứng Lộc Thuận đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động theo Quyết định số 1356/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc cho phép thành lập Văn phòng Công chứng Lộc Thuận và Giấy đăng ký hoạt động số 12/TP-ĐKHĐ ngày 30 tháng 7 năm 2014 của ... 
 
Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của ... 
 
Ngày 20 tháng 7 năm 2014, Quốc hội thông qua Luật Công chứng, thay thế Luật Công chứng năm 2006 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật Công chứng năm 2014 có 10 chương và 81 điều, trong đó có nhiều quy định đáng chú ý như mở rộng phạm vi công chứng; tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên, về tổ chức hành nghề công chứng,… 
 
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng, phát hiện những sai sót để kịp thời chấn chỉnh, đảm bảo hoạt động hành nghề công chứng tại Bến Tre diễn ra đúng quy định pháp luật, ngày 28 tháng 4 năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-STP về việc kiểm tra về tổ chức và hoạt động đối với 05 Văn phòng Công chứng trên đ... 
 
Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.  
 
Sáng ngày 23 tháng 4 năm 2014, Văn phòng Công chứng Ba Tri đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại địa chỉ số 27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Phan Văn Trung làm Trưởng Văn phòng. Văn phòng Công chứng Ba Tri hiện có 02  Công chứng viên và 02 nhân viên.  
 
Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu... 
 
Theo quy định tại Điều 594 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối. Theo đó, người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ:  
 
Đứng trước vành móng ngựa, anh Thắng với ánh mắt ngân ngấn lệ, vẽ mặt đầy hối hận nhìn về phía gia đình đang ngồi trong phòng xét xử. Câu chuyện thương tâm bắt nguồn từ việc tranh chấp lối đi do chưa hiểu quy định của pháp luật.  
 
Ngày 07 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 10/2014/TT-BTP quy định về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư. Thông tư này quy định về đối tượng, thời gian, hình thức, nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; xử lý luật sư vi phạm nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; học phí tham gia lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012Hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012
Hoạt động hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012, nhằm cụ thể hóa Kế hoạch số 242/KH-UBATGTQG ngày 04/9/2012 của Ban An toàn giao thông quốc gia về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại Việt Nam, thực hiện chương trình “Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ ...

 

 

Hoạt động hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012, nhằm cụ thể hóa Kế hoạch số 242/KH-UBATGTQG ngày 04/9/2012 của Ban An toàn giao thông quốc gia về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại Việt Nam, thực hiện chương trình “Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ giai đoạn 2011-2020” theo tinh thần Nghị quyết A/64/L.44 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc. Theo dự kiến, các hoạt động hưởng ứng được phát động và tổ chức trong tỉnh với các nhóm hoạt động chủ yếu sau:

Thứ nhất, hoạt động truyền thông

Tập trung tuyên truyền trước một tháng từ ngày 19/10 đến ngày 19/11/2012 với chủ đề “An toàn mọi lúc - Hạnh phúc mọi nơi”.

Về nội nội dung: Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi mục đích, ý nghĩa cảu sự kiện tưởng niệm nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông, những đau thương, mất mát do tai nạn giao thông; những địa chỉ cần được sự giúp đỡ và chia sẽ cũa xã hội; Cảnh báo các nguy cơ, nguyên nhân gây tai nạn giao thông, cảnh báo những hậu quả nghiêm trọng của tai nạn giao thông đối với toàn xã hội từ đó nâng cao trách nhiệm, ý thức của người tham gia giao thông; Các thông điệp về an toàn giao thông từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông; Pháp luật trật tự an toàn giao thông, văn hóa giao thông.

Về hình thức: Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo viết, báo mạng) tuyên truyền về sự kiện thông qua tin, bài, phóng sự, chuyên mục, clip, phim tài liệu…; Tuyên truyền trực quan qua việc xây dựng các cụm cổ động, panô, ápphích, banroll, tờ rơi, triễn lãm, mít tinh, diễu hành; Tổ chức các buổi tọa đàm, đối thoại, các diễn đàn, các buổi nói chuyện về hậu quả do tai nạn giao thông gây ra.

Về khẩu hiệu: “Thảm hoạ tai nạn giao thông - Hãy hành động ngày”, “Tai nạn giao thông - Nỗi đau còn đó”.

Thứ hai, hoạt động thăm hỏi, động viên các gia đình nạn nhân tại nạn giao thông

Các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm tổ chức các đoàn thăm hỏi động viên và có hình thức giúp đỡ phù hợp các gia đình nạn nhân tai nạn giao thông - đặc biệt là các gia đình có nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông có hoàn cảnh khó khăn - tại các bệnh viện, gia đình của nạn nhân.

Thời gian diễn ra từ ngày 10/11 đến ngày 19/11/2012.

Thứ ba, tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông

Chương trình sẽ được tổ chức từ 7giờ 30 phút đến 09 giờ, ngày 19/11/2012 tại công viên tượng đài Đồng Khởi - thành phố Bến Tre.

Hoạt động hưởng hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012 là hoạt động đầy ý nghĩa, nhằm cảnh báo cho mọi người về thảm họa tai nạn giao thông, các nguyên nhân và nguy cơ gây tai nạn giao thông tại địa phương. Qua đó, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về trật tự - an toàn giao thông, phòng tránh tai nạn giao thông, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các lực lượng làm công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, góp phần thực hiện mục tiêu của Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh là giảm 10% tai nạn giao thông năm 2012.

Ngoài ra, hoạt động này còn hướng tới mục tiêu kêu gọi sự giúp đỡ, chia sẽ từ công đồng cho những tổ thất, mất mát, khó khăn của các nạn nhân, gia đình nạn nhân không mai bị tai nạn giao thông.

 

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công tác lý lịch tư pháp -Những kết quả bước đầuCông tác lý lịch tư pháp -Những kết quả bước đầu
Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. Đây là một đạo luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền của công dân và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp và khó khăn trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, cụ thể như xây dựng cơ sở d...

Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. Đây là một đạo luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền của công dân và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp và khó khăn trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, cụ thể như xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; hình thành cơ chế cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp; chủ động thực hiện cập nhật thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích…. Xác định rõ tầm quan trọng của công tác này, thời gian qua, Sở Tư pháp đã chủ động khắc phục những khó khăn bước đầu, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp cho công dân ngày càng tăng.

Từ khi Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Luật trên địa bàn tỉnh, cụ thể là tổ chức triển khai nội dung Luật cho đại diện các sở, ngành, đoàn thể tỉnh, thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; cán bộ pháp chế của các sở, ban, ngành tỉnh; lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố. Đồng thời, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì tổ chức hội nghị phối hợp thực hiện Luật Lý lịch tư pháp giữa các cơ quan Công an tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự, Sở Nội vụ, Sở Tài chính để chuẩn bị các điều kiện cần thiết thực hiện nhiệm vụ trong khi chờ văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Đối với các cơ quan cung cấp thông tin, Sở Tư pháp định kỳ thực hiện việc đối chiếu thông tin để đảm bảo thông tin không bị bỏ sót hoặc chậm trễ. Năm 2011, Sở Tư pháp đã được phê duyệt kinh phí để trang bị cơ sở vật chất phục vụ công tác Lý lịch tư pháp. Từ nguồn kinh phí được phê duyệt, Sở Tư pháp đã trang bị tủ hồ sơ chuyên dụng, in ấn sổ và bìa hồ sơ để phục vụ lưu trữ hồ sơ giấy.

Sau khi Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2010 được ban hành, Sở Tư pháp đã có Công văn gửi Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin cải chính, chứng tử để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Tính đến tháng 12 năm 2012, Sở Tư pháp đã tiếp nhận 8021 thông thông tin lý lịch tư pháp do Cơ quan Thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố và Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cung cấp; 3556 thông tin chứng tử; 2106 thông tin thay đổi, cải chính hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp. Lượng thông tin tiếp nhận được cập nhật đầy đủ, kịp thời trên cơ sở dữ liệu do việc chủ động ứng dụng công nghệ thông tin, giải quyết những khó khăn bước đầu khi chưa có biên chế phục vụ công tác, chưa có phần mềm quản lý dùng chung. Song song với dữ liệu điện tử, các hồ sơ Lý lịch tư pháp đã lập được lưu trữ trên các bìa giấy, mỗi hồ sơ có mã số riêng, tương ứng với dữ liệu điện tử.

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đang từng bước đi vào hoạt động. Bên cạnh kết quả tra cứu của Công an tỉnh, đầu năm 2012, Sở Tư pháp đã thực hiện tra cứu thông tin từ hệ thống cơ sở dữ liệu đang xây dựng để cấp Phiếu Lý lịch tư pháp. Trong năm 2012, Sở Tư pháp đã tiếp nhận và cấp 1672 Phiếu Lý lịch tư pháp. Sở Tư pháp và Công an tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự đã ký Quy chế phối hợp liên ngành trong việc cung cấp, rà soát, xác minh thông tin lý lịch tư pháp trên địa bàn tỉnh. Đến nay, công tác lý lịch tư pháp tại địa phương đã cơ bản đi vào ổn định; quan hệ phối hợp ngày càng được tăng cường. Dữ liệu lý lịch tư pháp lưu trữ trên phần mềm ứng dụng của Sở đã được chuyển đổi tương ứng và tương đối phù hợp với phần mềm quản lý lý lich tư pháp dùng chung của Bộ Tư pháp.

 

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác lý lich tư pháp cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề biên chế. Theo Quyết định số 2369/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Xây dựng Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chức thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp” thì biên chế tối thiểu làm công tác lý lịch tư pháp tại các Sở Tư pháp tỉnh là 03 biên chế. Thực hiện Quyết định trên, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 967/KH-UBND ngày 16 tháng 3 năm 2011 thực hiện Đề án “Xây dựng Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chức thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp” trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Sở Tư pháp ban hành Kế hoạch kiện toàn Phòng hành chính tư pháp. Theo đó, Sở Tư pháp được bổ sung thêm 4 biên chế làm công tác lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, đến nay số biên chế này vẫn chưa được phân bổ. Mặc dù vậy, để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phương, Sở Tư pháp đã chủ động bố trí cán bộ đang làm công tác hành chính tư pháp kiêm nhiệm công tác này, đồng thời bố trí cán bộ làm việc ngoài giờ hành chính và ký thêm hợp đồng lao động để xử lý thông tin.

Đến nay, lượng thông tin tiếp nhận đã được cập nhật vào cơ sở dữ liệu, lập Lý lịch tư pháp để tra cứu tại Sở, cung cấp cho các Sở Tư pháp khác để xử lý theo thẩm quyền. Tuy nhiên, việc xử lý thông tin lý lịch tư pháp, thông tin cải chính, chứng tử, cung cấp bản lý lịch tư pháp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp vẫn chưa kịp tiến độ do nhiều nguyên nhân, trong đó bên cạnh yếu tố nhân sự còn do chưa có hướng dẫn thống nhất cách xử lý đối với các trường hợp phát sinh trên thực tế. Một trong những vấn đề phát sinh là việc xử lý đối với các thông tin lý lich tư pháp bổ sung như các Quyết định, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận đặc xá…Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp thì cơ sở để lập Lý lich tư pháp là bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc bản án hình sự phúc thẩm. Tuy nhiên, việc đề nghị các Tòa án cung cấp bản án, đặc biệt là các bản án trước ngày 01/7/2010 cần phải có thời gian để Tòa án thực hiện tra cứu. Trong khi đó, nếu chờ có bản án rồi mới thực hiện lập Lý lịch tư pháp thì sẽ dẫn đến việc bỏ sót thông tin khi tra cứu để cấp Phiếu. Trước tình hình này, để đảm bảo không bị bỏ sót thông tin, phục vụ tra cứu, Sở Tư pháp đã chủ động lập Lý lịch tư pháp ngay khi nhận được các quyết định, giấy chứng nhận, sau đó mới thống kê và có công văn gửi các Tòa án để xin bản án, bổ sung thông tin và cung cấp về Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia.

Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu lý lich tư pháp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tư pháp. Qua 2 năm thi hành Luật, cùng với các địa phương khác, Sở Tư pháp Bến Tre đã có nhiều nỗ lực góp phần vào nhiệm vụ chung. Tuy nhiên, để đảm bảo cho công tác lý lich tư pháp tại địa phương đạt hiệu quả cao trong thời gian tới, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, vấn đề cấp thiết là phải quan tâm, củng cố, sớm bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp chuyên trách theo quy định.

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre
   Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, t...
Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo văn bản; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Hoạt động thẩm định VBQPPL được thực hiện theo Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND; Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND và các văn bản có liên quan. Qua thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thẩm định VBQPPL của tỉnh còn một số khó khăn, vướng mắc.

1. Quy định của pháp luật về công tác thẩm định – Thực tiễn áp dụng

Về đối tượng thẩm định

Theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND thì Sở Tư pháp có chức năng thẩm định dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình và VBQPPL của UBND tỉnh. Tại Nghị định số 91/2006/NĐ-CP đã hướng dẫn các yếu tố để xác định một VBQPPL đồng thời liệt kê một số văn bản không phải là VBQPPL. Tuy nhiên, trên thực tế để xác định đâu là VBQPPL, đâu không phải là VBQPPL vẫn chưa được thống nhất, còn nhiều ý kiến khác nhau bởi chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là “quy tắc xử sự chung”. Điều đó dẫn đến việc nhận thức để phân định văn bản có phải là VBQPPL hay không; trong nhiều trường hợp, không có sự thống nhất giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định. Ví dụ: Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước, Nghị quyết thông qua quy hoạch … là VBQPPL hay không phải là VBQPPL … Như vậy, do chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là VBQPPPL, đâu không phải là VBQPPL nên đối tượng thẩm định trong một số trường hợp là không xác định được.

Về thời hạn thẩm định

Theo quy định của Luật thì chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan tư pháp để thẩm định. Đồng thời, chậm nhất là bảy ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan soạn thảo. Luật quy định ở đây chậm nhất 15 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp đây là thời gian tối thiểu để gửi văn bản đến cơ quan thẩm định. Trường hợp, cơ quan soạn thảo gửi sớm hơn thời gian này, cơ quan thẩm định sẽ có thêm thời gian để thu thập, nghiên cứu thêm các tài liệu liên quan đến dự thảo thẩm định, trường hợp gửi muộn hơn thì cơ quan thẩm định không đủ thời gian để nghiên cứu làm ảnh hưởng đến chất lượng văn bản. Như vậy, Luật chưa quy định cụ thể thời hạn thẩm định mà chỉ quy định thời hạn ít nhất được quy định trong Luật là 08 ngày. Thực tế, áp dụng quy định của Luật hầu hết việc gửi dự thảo văn bản muộn hơn so với quy định (có trường hợp yêu cầu thẩm định trong một buổi), gây không ít khó khăn cho cơ quan tư pháp trong quá trình thẩm định đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng văn bản sau khi ban hành của tỉnh.

Về giá trị pháp lý của văn bản thẩm định

Luật và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP quy định thẩm định là một khâu bắt buộc trong quy trình soạn thảo và ban hành VBQPPL của tỉnh, không có văn bản thẩm định thì HĐND, UBND sẽ không xem xét đối với dự thảo văn bản đó. Tuy nhiên, quy định của pháp luật cũng chỉ dừng ở đó mà không có quy định cụ thể giá trị pháp lý của văn bản thẩm định. Văn bản thẩm định chỉ được coi như một kênh thông tin, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định, chỉnh lý dự thảo văn bản, trường hợp không tiếp thu thì phải giải trình. Vì vậy, đối với văn bản thẩm định cơ quan soạn thảo có thể tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc không tiếp thu ý kiến thẩm định.

Về việc thực hiện thẩm định

Luật chỉ quy định cơ quan tư pháp cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh. Thực tế, việc thẩm định VBQPPL sẽ được phân công cho một công chức để thực hiện thẩm định, công chức làm việc độc lập, nghiên cứu và dự thảo Báo cáo thẩm định trình lãnh đạo Phòng Xây dựng văn bản xem xét. Sau khi lãnh đạo Phòng duyệt, trình lãnh đạo Sở xem xét và ký ban hành. Thiết nghĩ công tác thẩm định có vai trò quan trọng, đảm bảo văn bản VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh sau khi ban hành phù hợp với quy định của pháp luật; nhưng việc thực hiện văn bản thẩm định lại do một cá nhân nghiên cứu, khó tránh khỏi những sai sót do trình độ năng lực còn hạn chế. Mặt khác, hoạt động thẩm định VBQPPL có liên quan đến nhiều lĩnh vực như: đất đai, xây dựng, phí, lệ phí, …trong khi đó công chức thực hiện chức năng thẩm định chỉ học cử nhân luật. Do đó, đối với việc thẩm định những văn bản chuyên ngành cũng khó có thể thực hiện tốt.

2. Hoàn thiện pháp luật về công tác thẩm định

Để nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của tỉnh, nhất là để hoàn thiện công tác thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh trong thời gian tới cần:

Thứ nhất, quy định cụ thể đối tượng thẩm định văn bản là QPPL. Trên cơ sở đó có tiêu chí để phân biệt đâu là VBQPPL đâu không phải là VBQPPL.

Thứ hai, quy định giá trị pháp lý của văn bản thẩm định, có giá trị bắt buộc trong văn bản Luật. Cơ quan yêu cầu thẩm định có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định.

Thứ ba, quy định bắt buộc về việc thành lập Tổ thẩm định khi thẩm định đối với những VBQPPL phức tạp, có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực trong văn bản Luật hoặc dưới luật. Như vậy, mới có thể hạn chế thấp nhất việc bỏ sót những nội dung không phù hợp với quy định trong dự thảo văn bản, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng văn bản thẩm định.

Thứ tư, quy định thời hạn thẩm định theo hướng gia tăng thời gian thẩm định. Thời hạn thẩm định sẽ được tính kể từ ngày cơ quan tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.


04/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An QuyThành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy
Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.

Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.Theo Quyết định số 118/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã An quy, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ gồm có 16 thành viên, Ông Lê Phúc Vinh, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm; các thành viên khác là cán bộ các ban ngành, Đoàn thể xã; cùng Trưởng ấp của 6 ấp.

Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy được thành lập sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân địa phương giao lưu, trao đổi những khó khăn, vướng mắc pháp luật trong cuộc sống. Câu lạc bộ sinh hoạt theo định kỳ hai tháng một lần với nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách của xã. Tính đến nay, huyện Thạnh Phú có 18/18 xã thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý.

26/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI)
Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre  đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng ch...

Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng chí thành viên của Đoàn kiểm tra, cùng tham dự có đồng chí Lê Ngọc Duệ, Phó Bí thư Đảng uỷ Khối các Cơ quan tỉnh. Về phía Đảng ủy Sở Tư pháp có đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy; các đồng chí Đảng ủy viên; lãnh đạo Sở Tư pháp và Tổ giúp việc.

Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Đảng ủy viên phụ trách công tác Tuyên giáo của Đảng ủy thay mặt Đảng uỷ Sở Tư Pháp báo cáo tình hình và kết quả lãnh, chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nghe ý kiến góp ý của các đồng chí trong Đoàn kiểm tra, của đại biểu Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc kết luận: Đảng uỷ Sở Tư Pháp có cụ thể hoá Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và các hướng dẫn, kế hoạch của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thành lập Tổ giúp việc; xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ của ngành; có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện ở các chi bộ trực thuộc. Tổ chức triển khai, quán triệt tốt các chuyên đề tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong cơ quan; đồng thời hàng tuần tổ chức kể các mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Đảng uỷ Sở Tư Pháp thực hiện khá tốt việc đưa nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của chi bộ theo Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Đặc biệt, đã thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo; chú trọng phát hiện, biểu dương những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách của Bác; kịp thời nhắc nhỡ, uốn nắn những trường hợp còn hạn chế, thiếu sót. Đảng ủy lãnh đạo thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau đợt kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI); hầu hết cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW vẫn còn một số hạn chế như: Đảng ủy chưa lãnh đạo chính quyền (cơ quan) có văn bản cụ thể hoá việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg, ngày 7/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 5570/UBND-VHXH, ngày 02/12/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ‘‘về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong đơn vị. Tổ giúp việc chưa thực hiện tốt vai trò tham mưu cấp uỷ trong việc cụ thể hoá thực hiện các văn bản chỉ đạo của cấp trên và việc triển khai thực hiện trong Đảng bộ. Nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013 ở một số cán bộ, đảng viên chưa thật cụ thể, chưa đạt yêu cầu. Chưa có giải pháp nhân rộng gương điển hình qua các năm. Báo cáo chưa nêu rõ kết quả khắc phục những hạn chế, yếu kém của các cá nhân trong Đảng uỷ qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI).

Đoàn kiểm tra cũng lưu ý Đảng ủy Sở Tư pháp cần thực hiện một số nội dung trong thời gian tới như sau:

Đảng uỷ cần tiếp tục quán triệt sâu ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và Kế hoạch số 18-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; có giải pháp cụ thể hơn nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc hàng ngày ở các chi bộ, gắn với thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của tập thể và cá nhân sau kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) ; đồng thời lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa, triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống của Ngành.

Nâng cao vai trò tham mưu của Tổ giúp việc, chỉ đạo các chi bộ hướng dẫn một số đảng viên viết lại nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề năm 2013 về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương sát chức năng, nhiệm vụ.

Lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ trực thuộc tiếp tục tuyên truyền một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sinh hoạt chi bộ, chi uỷ phân công đảng viên chuẩn bị nội dung, dành thời gian thích hợp tổ chức sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Tập trung lãnh, chỉ đạo cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò nêu gương theo Quy định 06-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, kịp thời nhắc nhỡ, phê bình những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu trong việc học tập và làm theo Bác.

Quan tâm lãnh đạo, thực hiện tốt Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên trong thực hiện việc đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm.

Cuối năm, tổ chức tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, kịp thời phát hiện tập thể, cá nhân điển hình để biểu dương, khen thưởng; quan tâm bồi dưỡng, nhân rộng, qua đó bình chọn gương điển hình tiêu biểu, làm cơ sở chuẩn bị tổ chức hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến cuối nhiệm kỳ.

27/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Luật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đaiLuật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự c...

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự công bằng trong xã hội; đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thắt chặt tình làng, nghĩa xóm trong nhân dân.

Tuy nhiên, trên thực tế việc giải quyết tranh chấp đất đai diễn biến rất phức tạp. Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, khởi kiện tại Tòa án nhân dân các cấp liên quan đến lĩnh vực đất đai luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng ngày càng tăng. Bên cạnh đó, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai ở một số địa phương vẫn chưa thật sự nhận được sự đồng tình của người dân, dẫn đến nhiều vụ việc phải giải quyết kéo dài, qua nhiều cấp khác nhau; nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn chưa được thi hành.

Ngày 29 tháng 11 năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014, đã mở rộng hơn nữa quyền của công dân trong việc yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai, khi các bên sử dụng đất mâu thuẫn, không thống nhất với nhau trong quá trình sử dụng đất.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”. Hòa giải trong trường hợp này là tự nguyện. Trong trường hợp “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải” (Khoản 2 Điều 202) và đây là thủ tục hòa giải bắt buộc. Theo đó, tại Khoản 3, 4, 5 Điều 202 thì hòa giải theo thủ tục này được quy định như sau: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai; việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp; đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác và Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định đối với việc tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành, thì được giải quyết như sau:

Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.

Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đây là một quy định mới khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2014.

Tại Khoản 3 Điều 203 quy định trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Đây cũng là một quy định mới theo Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011, tại Điều 264.

Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều 203 phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014
Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đ...

Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL (theo Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

Có 95 vụ việc được đánh giá, trong đó, 50 hồ sơ tư vấn pháp luật, 39 hồ sơ tham gia tố tụng, 06 hồ sơ hòa giải. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc theo các nội dung quy định tại Điều 21 Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL và các quy định có liên quan của Bộ Tiêu chuẩn, bằng phương pháp đánh giá trực tiếp kiểm tra, nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ việc TGPL.

Kết quả số vụ việc TGPL đạt chất lượng tốt là 93 vụ việc (chiếm tỷ lệ 97,9 %), số vụ việc TGPL đạt chất lượng là 02 vụ việc (chiếm tỷ lệ 2,1 %), không có  vụ việc TGPL không đạt chất lượng.

Tuy nhiên, chất lượng vụ việc TGPL cũng còn hạn chế, trong hồ sơ người thực hiện TGPL hướng dẫn đối tượng viết đơn yêu cầu TGPL còn nhiều trường hợp ghi thiếu thông tin (như chứng minh nhân dân, đối tượng….). Bên cạnh đó, còn một vài hồ sơ chưa lập phiếu phân công và sắp xếp hồ sơ theo đúng trình tự thời gian của vụ việc.

Qua đó, Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL yêu cầu người thực hiện TGPL rút kinh nghiệm, nghiêm túc khắc phục những sai sót trong quá trình thực hiện TGPL, nhất là ghi chép thông tin, lập phiếu, sắp xếp hồ sơ. Trung tâm TGPL tiếp tục tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, nhất là hướng dẫn các kỹ năng cho người thực hiện TGPL và tiếp tục phổ biến Thông tư 02/2013/TT-BTP về việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đến người thực hiện TGPL trong thời gian tới. Theo kế hoạch, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh sẽ tổ chức tập huấn cho Trợ giúp viên, Luật sư- cộng tác viên vào cuối tháng 8/2014.

12/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thuQuy định mới về bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu
Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, ngày 01 tháng 7 năm 2013, Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre gặp không ít khó khăn trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tịch thu sung công. Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm ...

Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, ngày 01 tháng 7 năm 2013, Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre gặp không ít khó khăn trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tịch thu sung công. Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 quy định việc chuyển giao tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh hoặc Hội đồng bán đấu giá của cấp huyện để thực hiện việc bán đấu giá; trong khi đó Doanh nghiệp bán đấu giá không được thực hiện bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tịch thu sung công đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp.

Nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc và sự bất bình đẳng trong hoạt động bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Theo đó tại điểm đ, khoản 1 Điều 82 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu thì tiến hành thuê tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm để thực hiện việc bán đấu giá; trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá thì thành lập hội đồng để bán đấu giá đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu.


Quy định trước đây về thời hạn xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu tại khoản 1, Điều 36 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP của Chính phủ thì trong thời hạn 10 ngày, cơ quan ra quyết định tịch thu phải chuyển giao tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để bán đấu giá, với số lượng tài sản chuyển giao rất nhỏ, không đáng kể và số tiền có được từ bán đấu giá tài sản đôi khi không đủ trả chi phí cho việc tổ chức, điều hành cuộc bán đấu giá tài sản. Để đảm bảo tài sản chuyển giao với số lượng lớn, đủ trang trải chi phí cho quá trình định giá, chi phí chi trả cho hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; khoản 1 Điều 12 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định thời hạn kéo dài thêm là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì cơ quan ra quyết định tịch thu phải ký hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính.

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp và quan trọng nhất là các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp được thu phí bán đấu giá theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 9 Thông tư số 173/TT-BTC ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính có hiệu lực ngày 05 tháng 01 năm 2014.

Để góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động bán đấu giá các loại tài sản trên địa bàn tỉnh nói chung, tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nói riêng, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre có Công văn số 2319/STP-BTTP ngày 26 tháng 12 năm 2013 về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính trong bán đấu giá tài sản. Sở Tư pháp đề nghị lãnh đạo các Sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc tổ chức thực hiện tốt Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ của luật sưNghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ của luật sư
Ngày 07 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 10/2014/TT-BTP quy định về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư. Thông tư này quy định về đối tượng, thời gian, hình thức, nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; xử lý luật sư vi phạm nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; học phí tham gia lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ ...

Ngày 07 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 10/2014/TT-BTP quy định về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư. Thông tư này quy định về đối tượng, thời gian, hình thức, nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; xử lý luật sư vi phạm nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; học phí tham gia lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; trách nhiệm của luật sư, cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư đối với việc thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng; xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Thông tư này áp dụng đối với các luật sư Việt Nam, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật  sư, cơ sở đào tạo nghề luật sư, cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư.

Theo đó, thì kể từ ngày 21 tháng 5 năm 2014, luật sư phải lựa chọn nội dung, chương trình bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với lĩnh vực hành nghề của mình và tham gia đầy đủ thời gian bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đó. Thời gian bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp tối thiểu là 02 ngày làm việc/năm, tương đương 16 giờ làm việc/năm. Trước ngày 15/12 hàng năm, luật sư phải gửi những giấy tờ chứng minh việc đã thực hiện nghĩa vụ tham gia lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho Đoàn Luật sư nơi là thành viên.

Nội dung của lớp bồi dưỡng bao gồm cập nhật, bổ sung kiến thức pháp luật; kỹ năng hành nghề luật sư chuyên sâu theo từng lĩnh vực; kỹ năng quản trị tổ chức hành nghề luật sư; quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp của luật sư.

Luật sư sẽ được tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng trong thời hạn một năm nếu đang điều trị bệnh dài ngày tại cơ sở khám chữa bệnh, đang tham gia các chương trình đào tạo ở nước ngoài hoặc có lý do chính đáng khác nhưng phải hoàn thành đủ thời gian bồi dưỡng của năm đó vào năm kế tiếp. Nếu Luật sư không tham gia bồi dưỡng thì tùy tính chất, mức độ vi phạm sẽ phải chịu một trong các hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo hoặc bị tạm đình chỉ tư cách thành viên từ 06 tháng đến 01 năm và luật sư trong thời gian bị kỷ luật vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ này trong năm kế tiếp.

Bên cạnh đó, Thông tư số 10/2014/TT-BTP cũng quy định chi tiết các trường hợp được miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng. Luật sư được miễn tham gia lớp bồi dưỡng khi tham gia giảng dạy về pháp luật, kỹ năng hành nghề luật sư, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ luật sư; tham gia các khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về luật sư và hành nghề luật sư ở nước ngoài hoặc tham gia giảng dạy tại lớp bồi dưỡng do Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư, cơ sở đào tạo nghề luật sư hay tổ chức hành nghề luật sư thực hiện. Trong đó, thời gian tham gia giảng dạy hoặc các khóa bồi dưỡng này ít nhất phải bằng thời gian tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/05/2014.

18/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ban hành Kế hoạch Tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn tỉnhBan hành Kế hoạch Tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn tỉnh
Ngày 02/8/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 3243/KH-UBND về tổng kết năm năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn tỉnh Bến Tre.Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp sẽ phối hợp với Đoàn Luật sư để triển khai các nội dung công việc như:

Ngày 02/8/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 3243/KH-UBND về tổng kết năm năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp sẽ phối hợp với Đoàn Luật sư để triển khai các nội dung công việc như:
Đánh giá tình hình triển khai thi hành Luật Luật sư
- Tình hình triển khai Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành; Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành Luật Luật sư.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Việc thi hành Luật Luật sư của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tỉnh.
Đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của Luật sư
- Nhận thức của các cấp, ngành về vị trí vai trò của Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư.
- Sự quan tâm của các Cấp ủy đảng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của luật sư.
- Sự đóng góp của luật sư đối với sự phát triển kinh tế xã hội, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức; đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm; tham gia trợ giúp pháp lý.
- Sự phát triển số lượng luật sư, chất lượng đội ngũ luật sư, luật sư tập sự.
- Việc củng cố, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo Đoàn Luật sư (kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân).
- Về tổ chức Đảng trong Đoàn Luật sư và sinh hoạt của các luật sư là đảng viên.
- Về trụ sở, cơ sở vật chất của Đoàn Luật sư, sự quan tâm hỗ trợ tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho Đoàn Luật sư.
- Việc phát triển các tổ chức hành nghề luật sư.
- Thực trạng về hành nghề luật sư, đánh giá sự đóng góp của luật sư trong tỉnh, những tồn tại, khó khăn và vướng mắc.
- Về tổ chức, điều hành, ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức hành nghề luật sư.
- Những việc làm được, chưa được trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Đoàn Luật sư, vai trò của Đoàn trong việc tập hợp đội ngũ Luật sư thành viên.
- Quan hệ của Đoàn luật sư đối với các cơ quan quản lý nhà nước.
Đánh giá công tác quản lý nhà nước về Luật sư
- Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, kết quả thực hiện quản lý nhà nước, những khó khăn, vướng mắc.
- Sự phối kết hợp giữa Sở Tư pháp và Đoàn luật sư trong quản lý luật sư, tổ chức hành nghề luật sư.
- Việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước theo quy định của Luật Luật sư; chế độ thông tin báo cáo; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình thi hành Luật Luật sư.
Đánh giá về sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Luật sư
- Việc triển khai Chỉ thị 33/CT-TW ngày 30/3/2009 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư.
- Việc củng cố, kiện toàn Đoàn Luật sư theo định hướng của Chỉ thị 33/CT-TW.
- Đánh giá về nhận thức của luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư, cơ quan, tổ chức trên địa bàn về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với luật sư.
- Những hạn chế, bất cập trong việc phát triển đảng viên là luật sư.
Đề xuất, kiến nghị
- Kiến nghị những nội dung cụ thể cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư.
- Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, số lượng luật sư trong thời gian tới.
- Giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.
- Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư.
Sở Tư pháp có trách nhiệm chủ trì phối hợp Đoàn Luật sư theo dõi, đôn đốc và tổng hợp báo cáo trình Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 30 tháng 8 năm 2011 để báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định./.

 

31/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công tác văn thư lưu trữCông tác văn thư lưu trữ


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
CÔNG TÁC VĂN THƯ LƯU TRỮ

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Tiếp nhận và quản lý công văn đi, đến; lưu trữ hồ sơ nhằm phục vụ cho công tác của ngành.

2. Phạm vi áp dụng:

Tất cả các đơn vị thuộc Sở.

3. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

1. Công tác văn thư:

Nhân viên văn thư



Thời gian:

16h cùng ngày đi công văn bình thường; công văn mang tính chất khẩn đi ngay;

trong nội ô thị xã đi trực tiếp



* Công văn đi:

- Các phòng soạn thảo văn bản theo ý kiến của Ban Giám đốc, trình Ban Giám đốc ký duyệt.

- Chuyển đến bộ phận Văn phòng đóng dấu và lấy số công văn đi.

- Đóng dấu, cho số công văn đi và ghi vào sổ theo dõi.

- Chuyển số công văn đã được đóng dấu và lấy số đến bộ phận phát hành công văn.

- Phát hành công văn đến địa chỉ theo đúng yêu cầu của các phòng nghiệp vụ (chuyển đến Bưu điện hoặc đi trực tiếp) và ghi vào sổ theo dõi.

- Trường hợp những công văn đi có tính cấp bách phải gửi đi khẩn cấp thì phải xin ý kiến chỉ đạo của Ban Giám đốc.

* Công văn đến:

- Nhận công văn từ bên ngoài gởi đến.

- Đóng dấu “ Công văn đến”, ghi số công văn đến, ngày nhận công văn. (số công văn được ghi theo thứ tự từ đầu năm, bắt đầu là số 01 cho đến cuối năm).

- Trình Ban Giám đốc xem xét và có ý kiến xử lý.

- Nhận lại số công văn đã có ý kiến của Ban Giám đốc.

- Giao công văn đến các phòng nghiệp vụ theo ý kiến của Ban Giám đốc (có ký nhận).

2. Lưu trữ:

- Soạn thảo “ Thông báo thu gom tài liệu” trình Ban Giám đốc duyệt gửi các phòng nghiệp vụ vào đầu tháng 11 hàng năm.

- Lập và trình duyệt Bảng dự trù văn phòng phẩm, vật dụng cần thiết cho việc chỉnh lý các tài liệu vừa thu gom.

- Soạn thảo các thủ tục giấy tờ cần thiết để tiến hành ký hợp đồng với Trung tâm Lưu trữ tỉnh về việc thuê chỉnh lý và phân loại tài liệu.

- Lập “Danh mục hồ sơ” và sắp xếp hồ sơ vào kho lưu trữ.

- Lập “Danh mục hồ sơ” những tài liệu hết giá trị sử dụng và thành lập Hội đồng tiêu huỷ hồ sơ.

- Khi có nhu cầu tìm hồ sơ tài liệu từ kho lưu trữ thì dò tìm từ bảng “ Danh mục hồ sơ”.

- Thực hiện tốt công tác bảo quản hồ sơ lưu trữ.

4. Phụ lục:

  • Sổ đăng ký công văn đi.
  • Sổ đăng ký công văn đến.

VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP

ĐĂNG KÝ CÔNG VĂN ĐẾN

Người soạn thảo:

Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:

Trần Lương Phổ


...........................................

...........................................



SỔ ĐĂNG KÝ

CÔNG VĂN ĐẾN


..............................................................................



Năm:............



Sổ này gồm:.............trang, đánh số từ............đến.........

Bắt đầu sử dụng ngày……..tháng…….năm……..

CHÁNH VĂN PHÒNG

Số đến

Ngày tháng

vào sổ

ĐƠN VỊ GỬI CÔNG VĂN

Số và ký hiệu công văn

Ngày tháng công văn

TRÍCH YẾU NỘI DUNG

Theo dõi giải quyết công văn

Lưu hồ sơ số

 

N PHÒNG S TƯ PHÁP

ĐĂNG KÝ CÔNG VĂN ĐI

Người soạn thảo:

Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:

 

 

Người duyệt:

Trần Lương Phổ

...........................................

...........................................



SỔ ĐĂNG KÝ

CÔNG VĂN ĐI


..............................................................................



Năm:............




Sổ này gồm:.............trang, đánh số từ............đến.........

Bắt đầu sử dụng ngày……..tháng…….năm……..

CHÁNH VĂN PHÒNG

Số và ký

hiệu CV

Ngày tháng

công văn

Trích yếu nội dung

Người ký công văn

Điơn vị nhận bản lưu và gửi đi

Địa chỉ phát hành (nơi nhận cv)

Lưu

hồ sơ số

Số lượng bản

Số lượng trang

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước; khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp ảnhKhu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước; khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp ảnh
Ngày 22/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 627/QĐ-UBND Về việc xác định khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 626 /QĐ-UBND ban hành quy định về khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp hình trên địa bàn tỉnh Bến Tre; theo đó:

Ngày 22/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 627/QĐ-UBND Về việc xác định khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 626 /QĐ-UBND ban hành quy định về khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp hình trên địa bàn tỉnh Bến Tre; theo đó:

Khu vực cấm, bao gồm: Trụ sở Tỉnh ủy và các cơ quan khối đảng; Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Đài Phát thanh –Truyền hình; Công an tỉnh, Trại tạm giam, Kho vũ khí thuộc Công an tỉnh, Doanh trại các lực lượng Cảnh sát cơ động, Cảnh sát bảo vệ, Trại giam Châu Bình –Bộ Công an; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tại Bến Tre; Kho bạc Nhà nước tỉnh; Trạm biến áp 110Kv thuộc Chi nhánh điện cao thế Bến Tre và trạm biến áp 220Kv Bến Tre thuộc Công ty Truyền tải điện 4 (ấp 1, Sơn Đông, thành phố Bến Tre); Kho xăng dầu Hội Yên (thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam); Nhà máy nước Bến Tre (gồm 2 cơ sở xã Hữu Định và xã Sơn Đông).


Địa điểm cấm, bao gồm: Trung tâm lưu trữ của Văn phòng Tỉnh ủy; Phòng Lưu trữ  hồ sơ của Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; Chi cục Văn thư lưu trữ thuộc Sở Nội vụ; Phòng lưu trữ hồ sơ của Ban Tổ chức Tỉnh ủy; Phòng lưu trữ hồ sơ thuộc Phòng Hồ sơ Công an tỉnh; Phòng Cơ yếu thuộc Văn phòng Công an tỉnh.

Khu vực cấm do cấp huyện quản lý, bao gồm: Trụ sở Huyện ủy, Thành ủy; Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; Trụ sở cơ quan, nhà tạm giam, kho vũ khí Công an các huyện, thành phố.


Địa điểm cấm do cấp huyện quản lý, bao gồm: Phòng lưu trữ hồ sơ cuea Văn phòng các Huyện ủy, Thành ủy; Phòng lưu trữ hồ sơ của Ban Tổ chức Huyện ủy, Thành ủy; Phòng lưu trữ  hồ sơ của Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; nơi lưu trữ hồ sơ, tàng thư hộ khẩu, bộ phận cơ yếu của Công an các huyện, thành phố.

Riêng các khu vực quân sự, biên phòng thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, bao gồm: Khu vực lòng đường, vỉa hè trước trụ sở các cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lực lượng vũ trang và các tổ chức chính trị -xã hội khác đóng trên địa bàn tỉnh, gồm: Khu vực  Trụ sở Tỉnh ủy và các cơ quan khối đảng; Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Trụ sở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Trại giam Châu Bình –Bộ Công an; khu vực trụ sở làm việc của các sở, ban, ngành tỉnh; khu vực trụ sở Huyện ủy, Thành ủy; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; khu vực trụ sở Công an, Ban Chỉ huy Quân sự các huyện, thành phố; các Đồn biên phòng Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên; khu vực hội họp, hội nghị, hội thảo hoặc các sự kiện chính trị quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức quốc tế diễn ra trên địa bàn tỉnh nằm ngoài khu vực đã được quy định cấm.


Khi có các tình huống đe dọa nghiêm trọng đến trật tự công cộng ở những nơi công cộng khác như vỉa hè, lòng đường, quảng trường, cơ sở kinh tế, văn hóa, bến xe, bến phà, nơi sinh hoạt cộng đồng …thì Trưởng Công an huyện, thành phố nơi có sự việc xảy ra báo cáo Giám đốc Công an tỉnh thiết lập khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người; cấn ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; tạm thời cấm hoặc hạn chế người và phương tiện giao thông trên một số tuyến đường hoặc ra vào khu vực nhất định.

Các khu vực bảo vệ, khu vực cấm phải đặt biển cấm theo mẫu thống nhất do Bộ Công an quy định.

27/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúngCông tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúng
 Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh ...

Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh và địa phương đã làm tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, tái định cư đảm bảo tiến độ dự án, đảm bảo chính sách và quyền lợi chính đáng, cuộc sống, việc làm cho người dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, điển hình như công trình cầu Cổ Chiên, 10 cầu trên địa bàn huyện Bình Đại, Khu Công Nghiệp Giao Long, Đường từ Cảng Giao Long đến đường Nguyễn Thị Định, các cầu trên địa bàn huyện Chợ Lách, Thạnh Phú…Tuy nhiên, vẫn còn một vài công trình dự án trong quá trình thực hiện còn để xảy ra sơ sót, công tác phối hợp vận động quần chúng thiếu chặc chẽ dẫn đến người dân chưa đồng tình, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Thiết nghĩ, trong thời gian tới nhằm mở rộng dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác quy hoạch, xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, công tác đền bù giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư; tăng cường hơn nữa vai trò phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đề ra những giải pháp phù hợp nhằm tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện các dự án, nắm bắt, phản ánh và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc, khiếu nại chính đáng của người dân góp phần xây dựng xã hội đồng thuận, tự quản, các cấp chính quyền và hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thề chính trị xã hội trong tỉnh cần thực hiện các bước giải pháp đồng bộ sau :

Bước 1, Đối với công tác dân vận trong giai đoạn chuẩn bị quy hoạch, xây dựng dự án, triển khai đầu tư phát triển kinh tế xã hội: Ngay từ khi dự thảo quy hoạch, dự án, phương án thu hồi đất, giá cả đền bù và phương án tổ chức thực hiện dự án, các cấp chính quyền phải tổ chức họp dân, toạ đàm, lắng nghe, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến tham gia của nhân dân, của MTTQ và các đoàn thể liên quan đến dự án để bổ sung, hoàn thiện dự án; khi được phế duyệt chính thức và trước khi tổ chức thực hiện dự án chính quyền các cấp phải công khai với người dân về nội dung liên quan của dự án bắng nhiều hình thức linh hoạt như mời họp dân, trực tiếp phổ biến, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết văn bản...; tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương về thu hồi đất khi thực hiện dự án, để người dân hiểu đúng, đủ về mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng, quyền lợi của mình khi dự án được thực hiện.

Bước 2, Công tác dân vận trong giai đoạn thực hiện: Chính quyền thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án đảm bảo có thành phần các tổ chức trong hệ thống chính trị như: Dân vận, MTTQ và các đoàn thể; khảo sát, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư , tổ chức lấy ý kiến của người bị thu hồi đất nhằm xây dựng phương án rõ ràng, minh bạch, chính sát, chi tiết từng phương án bao gồm cả phương án kiểm đếm, thanh toán và phương án tuyên truyền vận động đến từng hộ dân có liên quan.

Xây dựng phương án đến bù cụ thể cho từng hộ, chuẩn bị các điều kiện kinh phí, tài chỉnh để thực hiện, phân công rõ từng trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuyên truyền vận động, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng, nghiên cứu tiếp thu, giải quyết ý kiến thắc mắc kiến nghị đến từng hộ dân có liên quan; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền vận động quần chúng, nêu cao quan điểm quần chúng, tôn trọng dân cho cán bộ công chức ( những người được phân công trực tiếp kiểm đếm, chi trả đền bù) và cán bộ trong hệ thống chính trị được phân công tham gia thực hiện dự án, chống hiện tượng lợi dụng bớt xén, quan liêu, hách dịch cửa quyền, mất dân chủ với nhân dân; đồng thời tuyên truyền chống biểu hiện thiếu trung thực về kê khai nhà cửa, tài sản, đất đai, lợi dụng chính sách đền bù giải toả của Nhà nước.

Phải công bố rõ chủ trương thu hồi đất cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; công khai phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, thời gian bàn giao đất, phương án, phương pháp thực hiện chi trả tiền bồi thường và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư kịp thời cho người dân.

Bước 3, Tổ chức lắng nghe tiếp thu ý kiến, đối thoại, giải quyết khiếu tố của nhân dân trong quá trình thực hiện dự án: Trong quá trình thực hiện dự án, các cơ quan chức năng phải thường xuyên theo dõi, lắng nghe tâm tư nguyện vọng chính đáng và ý kiến tham gia góp ý, thắc mắc, khiếu tố của nhân dân để kịp thời tiếp thu những ý kiến đúng đắn, tiếp tục chỉnh sửa bổ sung về cơ chế, chính sách, giá cả đền bù, hỗ trợ, phương pháp tổ chức thực hiện; giải thích rõ những ý kiến kiến nghị của nhân dân; khi có khiếu kiện đông người, phức tạp cấp uỷ, chính quyền có trách nhiệm nghe, đối thoại trực tiếp với nhân dân, nắm tình hình, bàn giải pháp và lập tổ công tác, phân công nhiệm vụ cho các tổ chức cá nhân cụ thể tuyên truyền vận động, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của người dân; công tác giải quyết khiếu nại gay gắt của người dân phải lấy tuyên truyền vận động, thuyết phục là chính, hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp cưỡng chế, bắt người; phát huy tốt vay trò của cả hệ thống chính trị, những người tích cực, có uy tín trong nhân dân; phải tổ chức lực lượng kiên trì vận động đến từng người dân và thực sự cầu thị, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân; nghiêm túc kiểm diểm rút kinh nghiệm nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục sửa chửa và xin lỗi người dân về những khuyết điểm, hạn chế của mình; tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác và cương quyết khôn khéo phát động nhân dân đấu tranh với những người cực đoan lợi dụng dân chủ để tập hợp quần chúng khiếu nại gây mất ổn định về ANCT; công tác cưỡng chế khi thật cần thiết, song phải cân nhắc kỹ, phải được đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ, không để tình hình phức tạp thêm.

Và cuối cùng sau khi dự án đã thực hiện xong, Ban Dân vận, MTTQ và các đoàn thể phải tiếp tục nắm tâm tư nguyện vọng, đời sống ăn ở, sinh hoạt, việc làm thu nhập của nhân dân, nhất là những dự án tái định cư để tiếp tục tuyên truyền, vận động tham mưu giải quyết, hỗ trợ kịp thới những khó khăn, bức xúc, sớm ổn định cuộc sống của nhân dân. Thực hiện đồng bộ các bước giải pháp trể sẽ góp phần rất quan trọng giúp các công trình dự án trọng điểm của tỉnh ta thực hiện một cách thành công, hiệu quả, nhanh chóng, tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở từng địa phương.

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chínhChấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính
Ngày 20 tháng 06 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Theo Chỉ thị thì: ngày 18 tháng 5 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bả...

Ngày 20 tháng 06 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Theo Chỉ thị thì: ngày 18 tháng 5 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (sau đây gọi là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP). Bản sao được chứng thực từ bản chính (sau đây gọi là bản sao có chứng thực) có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính, do đó phần nào đã tạo thuận lợi cho người dân, tạo sự yên tâm cho cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính. Theo đó, tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP quy định "Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao không có chứng thực có quyền yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Người đối chiếu phải ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính".

Thực hiện quy định này, một số cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến thủ tục hành chính đã quy định theo hướng, cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn việc nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao không có chứng thực xuất trình kèm bản chính để đối chiếu.

Trên thực tế, để đáp ứng yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính, đa số các cá nhân, tổ chức vẫn phải nộp bản sao có chứng thực giấy tờ, văn bản. Chính vì vậy, nhu cầu chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản của cá nhân, tổ chức ngày càng gia tăng, từ đó dẫn đến tình trạng sử dụng bản sao có chứng thực đã vượt quá sự cần thiết và trở thành hiện tượng "lạm dụng" bản sao có chứng thực.

Qua tổng kết công tác chứng thực từ năm 2007 đến nay cho thấy, mỗi năm, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trên toàn quốc đã thực hiện chứng thực hàng trăm triệu bản sao. Việc làm này không những gây phiền hà, tốn kém cho người dân, lãng phí cho xã hội mà còn tạo nên áp lực, quá tải đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trong công tác chứng thực.

Để chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản, giảm chi phí cho cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính, Thủ Tướng Chính phủ yêu cầu đối với địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các sở, ban, ngành trong địa phương:

Tổ chức phổ biến, tuyên truyền, quán triệt nội dung quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP theo tinh thần nêu tại điểm a, điểm b Khoản 1 của Chỉ thị này (Tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về quyền của các cá nhân, tổ chức khi trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính thì các giấy tờ trong thành phần hồ sơ có thể là bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu.

Chỉ đạo việc quán triệt thực hiện nghiêm túc quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính. Theo đó, khi cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực thì không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu; trường hợp nộp bản sao không có chứng thực và xuất trình kèm bản chính thì công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tự kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính mà không yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp bản sao có chứng thực).

Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành hoặc những văn bản do cơ quan, tổ chức trực thuộc ban hành dưới hình thức quyết định, thông báo, công văn và các hình thức văn bản khác, phát hiện những quy định về thủ tục hành chính trái với quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP để kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền cho phù hợp, hoàn thành trước ngày 31 tháng 3 năm 2015.

Tăng cường kiểm tra cách thức tổ chức thực hiện cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chấn chỉnh kịp thời tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực giấy tờ, văn bản trái với quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP.

Bố trí đủ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu sao giấy tờ, văn bản của cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính. Thường xuyên quan tâm công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, giáo dục ý thức, trách nhiệm của công chức, viên chức trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục hành chính.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt nội dung của Chỉ thị này tới các cơ quan, tổ chức trực thuộc; có văn bản chỉ đạo cụ thể và thường xuyên kiểm tra các cơ quan, tổ chức trực thuộc trong việc triển khai thực hiện Chỉ thị, sớm khắc phục tình trạng lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng kết, đánh giá tình hình triển khai, báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị gửi Bộ Tư pháp trước ngày 30 tháng 4 năm 2015 để Bộ Tư pháp tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sốngQuy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sống


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Sản xuất các chương trình Truyền hình
Pháp luật và Đời sống
(Ban hành ngày 10/12/2007)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Trịnh Thị Thanh Bình
Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua kênh truyền hình tỉnh,  từng bước nâng cao chất lượng phục vụ của Chương trình này.

II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.

III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, Ban Lãnh đạo Sở;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp và Đài Phát thanh, truyền hình tỉnh Bến Tre.

IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước
Nội dung
Trách nhiệm
Thời gian
Ghi chú
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
1
Lập kế hoạch thực hiện trong tháng. - Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.

Đầu mỗi tháng.

Nội dung sẽ phát trong tháng; Phân công chuyên viên tham gia thực hiện.
2
Chuẩn bị kịch bản - Chuyên viên;
- Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.
Trước ngày phát sóng: 6 ngày Chuẩn bị kịch bản theo nội dung đã dự kiến trong Kế hoạch.
3
Lãnh đạo phê duyệt kịch bản
Lãnh đạo 1 ngày
4
Quay và dàn dựng chương trình Chuyên viên 2 ngày
5
Lãnh đạo duyệt chương trình Lãnh đạo Trước khi phát sóng
6
Theo dõi phát Chương trình - Trưởng phòng,
- Chuyên viên,
- Lãnh đạo.viên.
Thường xuyên - Nhận xét, đánh giá (nếu có).
- Trả lời bạn xem đài (nếu có).
7
Lưu hồ sơ Chuyên viên Sở,
Trưởng phòng,
Chuyên viên.
Ngay sau phát sóng Hồ sơ lưu: kế hoạch, kịch bản.
Băng phát lưu tại Đài PT-TH

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Tuổi tây - Tuổi taTuổi tây - Tuổi ta
Chúng ta luôn nêu cao tinh thần kế thừa và phát huy những phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc, trong đó có cách tính tuổi của con, cháu trong mỗi gia đình. Theo truyền thống thì khi trẻ vừa chào đời đã được tính là một tuổi và cách xác định tuổi đó hiện vẫn còn được áp dụng.

Chúng ta luôn nêu cao tinh thần kế thừa và phát huy những phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc, trong đó có cách tính tuổi của con, cháu trong mỗi gia đình. Theo truyền thống thì khi trẻ vừa chào đời đã được tính là một tuổi và cách xác định tuổi đó hiện vẫn còn được áp dụng.

Cách tính tuổi theo truyền thống, áp dụng trong đời sống thường ngày tưởng chừng vô hại, tuy nhiên nếu đặt trong một số trường hợp cụ thể lại là rất sai lệch, gây ra hậu quả nặng nề mà phần lớn người dân chúng ta cần có sự tìm hiểu cũng như có cái nhìn đúng đắn hơn để tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Chị Nguyễn Thị H, là người phụ nữ bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân. Năm 1996, chị có quan hệ như vợ chồng với người đàn ông cùng xóm và có với nhau một con trai tên H.T (sinh ngày 11/01/1996). Thời gian sống chung không được bao lâu thì người chồng bỏ chị đi biệt tích. Năm 2011, chị bước thêm bước nữa và có tiếp một bé trai nhưng hôn nhân của chị lại một lần nữa đổ vỡ. Một mình chị phải vất vã nuôi hai con trong độ tuổi ăn, học bằng nghề bán dạo quanh các trường học, gánh nặng càng nặng nề hơn khi đứa con trai nhỏ của chị bị bệnh cần phải chữa trị gấp. Cuộc sống khó khăn, buộc chị phải cho đứa con trai lớn nghỉ học để phụ chị mua bán kiếm thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống gia đình và lo cho đứa con trai nhỏ.

Hằng ngày, em H.T kiếm sống trên chiếc xe máy 50 phân khối mà mẹ em đã gom góp hết số tiền dành dụm để mua, đưa cho em làm phương tiện hành nghề bán kẹo kéo. Từ khi có em H.T phụ giúp chị cũng nhẹ bớt gánh nặng nhưng sự việc lại bắt đầu từ đó mà ra. Chiều ngày 16/11/2011 vì trời mưa rất to nên em H.T cố gắng chạy nhanh về nhà, trên đường về do mũ áo mưa sụp xuống che phủ mặt mà trời thì mưa to nên em H.T bị lạc tay lái. Khi đưa tay kéo mũ lên thì cũng là lúc em phát hiện xe mình đã gần sát bà B và dù đã thắng gấp nhưng cuối cùng xe em đã tông thẳng vào bà B làm bà B và em H.T đều ngã xuống đường. Kết quả bà B bị chấn thương sọ não và đã tử vong tại bệnh viện còn em H.T thì bị thương nhẹ.

Vụ việc xảy ra, cơ quan chức năng vào cuộc tiến hành điều tra làm rỏ và người bị truy cứu trách nhiệm hình sự là chị Nguyễn Thị H mà không phải là con chị- người đã trực tiếp gây tai nạn. Điều đó làm cho chị, những người thân trong gia đình và bà con lối xóm vô cùng ngạc nhiên và thắc mắc “Tại sao người gây tai nạn là thằng H.T mà mẹ nó là chị H lại bị bắt mà không phải là nó”.

Căn cứ theo quy định của pháp luật, Điều 12 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 có quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Đồng thời, tại Điều 205 BLHS cũng có quy định về tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ:

1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 60 Luật giao thông đường bộ cũng có quy định về độ tuổi, sức khỏe của người lái xe như sau:

1. Độ tuổi của người lái xe quy định như sau:

a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3;

b) Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi;

c) Người đủ 21 tuổi trở lên được lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ 3.500 kg trở lên; lái xe hạng B2 kéo rơ moóc (FB2);

d) Người đủ 24 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi; lái xe hạng C kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc (FC);

đ) Người đủ 27 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi; lái xe hạng D kéo rơ moóc (FD);

e) Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi là 50 tuổi đối với nữ và 55 tuổi đối với nam.

2. Người lái xe phải có sức khỏe phù hợp với loại xe, công dụng của xe. Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe, việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ô tô và quy định về cơ sở y tế khám sức khoẻ của người lái xe.

Sau khi được các cơ quan chức năng giải thích, chị H mới nhận ra lỗi của mình là do chị không am hiểu về pháp luật, cứ theo cách suy nghĩ truyền thống mà cho rằng con mình đã lớn nhưng đâu ngờ tại thời điểm tai nạn xảy ra con chị chưa tròn 16 tuổi. Đồng thời trước khi đưa xe cho con, chị cũng không tìm hiểu quy định của pháp luật về giao thông, cứ tự cho rằng con chị đã đủ tuổi để lái xe có phân khối nhỏ và càng không biết về việc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có hậu quả xảy ra. Cuối cùng hậu quả cho việc thiếu am hiểu về pháp luật của chị là một năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là hai năm và về trách nhiệm dân sự buộc chị phải bồi thường cho gia đình người bị hại là 35.918.000 đồng.

Trường hợp của chị H xảy ra cũng là bài học đáng quan tâm mà tất cả người dân chúng ta cần rút kinh nghiệm, bởi hầu hết người dân vẫn còn lẫn lộn giữa tuổi tây và tuổi ta.Việc thêm hoặc bớt đi một tuổi trong cách nói có thể là vô hại trong đời sống thường ngày nhưng nó sẽ là vấn đề hết sức quan trọng hoặc mang tính chất quyết định khi có vụ việc liên quan đến pháp luật xảy ra. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, của những người thân trong gia đình và của cả cộng đồng, chúng ta cần tìm hiểu thêm về những quy định của pháp luật nhằm trang bị vốn kiến thức để áp dụng trong đời sống thường ngày, vừa duy trì được những phong tục tập quán của dân tộc ta vừa tránh được những hậu quả đáng tiếc xảy ra, góp phần làm cho xã hội ngày một văn minh, phát triển hơn.

16/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bộ Tư pháp: Hướng dẫn thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữBộ Tư pháp: Hướng dẫn thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữ
  Ngày 19 tháng 11 năm 2012, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 9277/BTP-HCTP hướng dẫn thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữ. 

Ngày 19 tháng 11 năm 2012, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 9277/BTP-HCTP hướng dẫn thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữ.

Theo đó, điểm c khoản 1 Thông tư số 03/TT-BTP ngày 25/08/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/05/2007 của Chính phủ không còn hiệu lực mà phải áp dụng quy định tại Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/01/2012 sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/05/2007 của Chính phủ. Theo quy định trên thì thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản song ngữ thuộc về phòng Tư pháp cấp huyện.

Để hiểu và áp dụng một cách thống nhất khái niệm giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt, song ngữ, tiếng nước ngoài, Bộ Tư pháp tạm thời hướng dẫn như sau:

- “Giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt” là giấy tờ, văn bản chỉ bằng tiếng Việt hoặc giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt nhưng có xen một số từ bằng tiếng nước ngoài như tên riêng, tên địa danh hoặc từ khác mà không thể thay thế bằng tiếng Việt và việc xen một số từ bằng tiếng nước ngoài không làm thay đổi nội dung của giấy tờ, văn bản đó.

- “Giấy tờ, văn bản song ngữ” là giấy tờ, văn bản được thể hiện đầy đủ bằng hai ngôn ngữ, trong đó có một ngôn ngữ là tiếng việt.

- “Giấy tờ, văn bản bằng tiếng  nước ngoài” là giấy tờ, văn bản chỉ bằng tiếng nước ngoài hoặc giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài nhưng có xen một số từ tiếng Việt như tên riêng, tên địa danh hoặc từ khác mà không thể thay thế bằng tiếng nước ngoài và việc xen một số từ bằng tiếng Việt không làm thay đổi nội dung của giấy tờ, văn bản đó.

Việc phân định rõ thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữ và phân biệt các loại giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt, song ngữ, tiếng nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi có yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính các loại giấy tờ này.

21/12/2012 12:00 SAĐã ban hành
Công tác trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, nạn nhân bị bạo lực gia đình, người chưa thành niên, người già cô đơnCông tác trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, nạn nhân bị bạo lực gia đình, người chưa thành niên, người già cô đơn
Kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý khuyết tật, nạn nhân bị bạo lực gia đình, người chưa thành niên, người già cô đơn:Theo quy định của pháp luật, đối tượng được trợ giúp pháp lý (TGPL) không chỉ người nghèo, người có công với cách mạng, mà đối tượng được TGPL còn bao gồm người khuyết tật, nạn nhân bị bạo lực gia đình, người chưa thành niên, người già cô đơn,…đây là chính sách lớn của Đảng và Nh...

Kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý khuyết tật, nạn nhân bị bạo lực gia đình, người chưa thành niên, người già cô đơn:

Theo quy định của pháp luật, đối tượng được trợ giúp pháp lý (TGPL) không chỉ người nghèo, người có công với cách mạng, mà đối tượng được TGPL còn bao gồm người khuyết tật, nạn nhân bị bạo lực gia đình, người chưa thành niên, người già cô đơn,…đây là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất của của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Luật người khuyết tật được Quốc hội khóa XII thông qua vào ngày 17 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2011. Sự ra đời của Luật người khuyết tật thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta nhằm tạo môi trường pháp lý, điều kiện, cơ hội bình đẳng đối với người khuyết tật.

Theo quy định của Luật người khuyết tật thì người khuyết tật không phân biệt hoàn cảnh, điều kiện sống đều là đối tượng được trợ giúp pháp lý. Các hình thức TGPL cho người khuyết tật: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác, thông qua các hoạt động truyền thông, sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL, tổ chức TGPL lưu động,... Sau khi Luật người khuyết tật có hiệu lực thi hành, công tác TGPL cho người khuyết tật ngày càng được xã hội quan tâm. Các đối tượng là người khuyết tật khi có nhu cầu TGPL đều được TGPL.

Trong năm 2012, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh đã thực hiện TGPL cho 09 đối tượng là người tàn tật; 06 tháng đầu năm 2013, đã thực hiện trợ giúp cho 01 đối tượng là người tàn tật. Để góp phần nâng cao nhận thức pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người khuyết tật, bảo đảm 100% người khuyết tật được TGPL khi có nhu cầu. Ngày 28/01/2013, Sở Tư pháp ban hành Kế hoạch số 135/KH-STP để triển khai thực hiện chính sách TGPL cho người khuyết tật năm 2013 theo Quyết định số 3888/QĐ-BTP ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Qua kết quả khảo sát năm 2012, trên địa bàn tỉnh Bến Tre có 23.222 người khuyết tật, chiếm 1,7% dân số trên toàn tỉnh Bến Tre. Trong đó, khuyết tật vận động 9.334 người chiếm 40,19% trên tổng số người khuyết tật ở địa phương; khuyết tật nghe, nói 1.942 người chiếm tỷ lệ 8,36% trên tổng số người khuyết tật ở địa phương; khuyết tật nhìn 1.875 chiếm 8,074% trên tổng số người khuyết tật ở địa phương; khuyết tật thần kinh, tâm thần 5.696 chiếm tỷ lệ 24,53% trên tổng số người khuyết tật ở địa phương, khuyết tật trí tuệ 1.963 người chiếm tỷ lệ 8,45% trên tổng số người khuyết tật ở địa phương và các khuyết tật khác 2.412 người chiếm tỷ lệ 10,38% trên tổng số người khuyết tật ở địa phương. Mức độ khuyết tật đặc biệt nặng trên 81% có 3299 người; khuyết tật nặng từ 61% - 80% có 7349 người; khuyết tật nhẹ dưới 61% có 9092 người. Các dạng tật chủ yếu của người khuyết tật ở Bến Tre là khuyết tật vận động, khuyết tật về thần kinh, tâm thần, khuyết tật về trí tuệ, khuyết tật về nghe, nói và các dạng khuyết tật khác. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến khuyết tật như bẩm sinh, do thương tật trong chiến tranh, do ảnh hưởng chất độc dioxin, do bệnh, do tai nạn.

Nạn nhân bị bạo lực gia đình

Luật phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2008 đã tạo khung pháp lý vững chắc trong việc phòng, chống bạo lực gia đình, đồng thời thay đổi sự nhận thức của xã hội đối với hành vi bạo lực gia đình. Để thực hiện phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh có hiệu quả, ngày 22 tháng 01 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 03/2013/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh. Hàng năm, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh phối hợp với Hội phụ nữ huyện, Ủy ban nhân dân xã tổ chức các đợt TGPL lưu động, các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ để tuyên truyên, phổ biến pháp luật về các quyền của người phụ nữ.

Đối tượng được TGPL là người chưa thành niên

Trong những năm gần đây, tình trạng người chưa thành niên phạm tội ở tỉnh ta ngày càng gia tăng. Thủ đoạn phạm tội của các đối tượng này ngày càng tinh vi, thậm chí trở thành băng nhóm có tính chất nguy hiểm.

Chỉ trong khoảng gần 3 năm trở lại đây, phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng được các ngành, các cấp quan tâm, nhất là đối tượng người chưa thành niên, góp phần bảo vệ quyền lợi ích cho các đối tượng là người chưa thành niên. Phần lớn đối tượng người chưa thành niên phạm tội từ 16 đến 18 tuổi, các hành vi phạm pháp do người chưa thành niên hay phạm và bị Viện kiểm sát truy tố về các tội danh như cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản,…Để đảm bảo quyền lợi của người chưa thành niên phạm tội trong các vụ án hình sự, sau khi nhận quyết định cử Trợ giúp viên tham gia tố tụng. Trợ giúp viên pháp lý có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng để theo dõi, nghiên cứu hồ sơ từ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố. Trong năm 2012, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh đã thực hiện TGPL cho 49 đối tượng là người chưa thành niên ( 06 tháng đầu năm 2013, đã thực hiện TGPL cho 27 đối tượng là người chưa thành niên).

Người già cô đơn

Trong năm 2012, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh đã thực hiện TGPL cho 06 đối tượng là người già cô đơn; (06 tháng đầu năm 2013, đã thực hiện TGPL cho 02 đối tượng là người già cô đơn).

Giải pháp nâng cao hiệu quả TGPL cho các đối tượng đặc biệt

Để công tác TGPL cho các đối tượng đặc biệt mang lại hiệu quả cao cả về số lượng lẫn chất lượng thì cần phải thực hiện các giải pháp sau:

Xây dựng văn bản pháp luật về bảo đảm bình đẳng giới trong trợ giúp pháp lý để có cơ sở pháp lý hướng dẫn các Trung tâm trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho nạn nhân bạo lực gia đình;

Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ; đấu tranh phòng chống bạo lực gia đình, thông tin và phổ biến kịp thời hậu quả do hành vi bạo lực gia đình gây ra từ đó nâng cao nhận thức của người dân để họ tự bảo vệ mình. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền về trợ giúp pháp lý cho người già cô đơn ở vùng sâu, vùng xa để họ biết khi có nhu cầu TGPL;

Có sự phối hợp của các cấp, các ngành để từng bước đẩy lùi và loại bỏ hành vi bạo lực gia đình xảy ra. Hỗ trợ người già cô đơn được sử dụng hình thức trợ giúp pháp lý lưu động hoặc đến các Trung tâm bảo trợ xã hội của Nhà nước nơi người già cô đơn đang sinh sống để thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí;

Thuê giáo viên là người biết được ngôn ngữ của người khiếm thính để truyền trải thông tin của người khuyết dật dạng khiếm thính khi họ có nhu cầu TGPL. Trang bị kỹ năng khi tiếp xúc với người già cô đơn, trang bị kiến thức cho người làm công tác trợ giúp pháp lý biết được đặc điểm tâm sinh lý của người già cô đơn;

Kết hợp với các cơ quan chính quyền đoàn thể địa phương, nhà trường và gia đình để tìm hiểu rõ nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội. Kết hợp với việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trong các trường học để nâng cao nhận thức hiểu biết pháp luật, có ý thức chấp hành pháp luật ngày tốt hơn, tránh tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên.

09/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nhọc nhằn yêu cầu thi hành án cấp dưỡngNhọc nhằn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng
Một mái ấm gia đình thật sự sẽ không thể thiếu tiếng nói cười của trẻ thơ, bất cứ đôi vợ chồng nào đến với nhau, đều mong muốn có những đứa con và con trẻ sẽ là sợi dây thắt chặt hơn nữa tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, khi đời sống hôn nhân gặp mâu thuẩn và những đứa con không đủ sức mạnh để níu kéo tinh cảm vợ chồng thì con lại là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mặt vật chất lẫn tinh thần. Tro...

Một mái ấm gia đình thật sự sẽ không thể thiếu tiếng nói cười của trẻ thơ, bất cứ đôi vợ chồng nào đến với nhau, đều mong muốn có những đứa con và con trẻ sẽ là sợi dây thắt chặt hơn nữa tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, khi đời sống hôn nhân gặp mâu thuẩn và những đứa con không đủ sức mạnh để níu kéo tinh cảm vợ chồng thì con lại là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mặt vật chất lẫn tinh thần. Trong một số trường hợp, con trẻ còn là gánh nặng, là rào cản cho những cuộc ly hôn của cha mẹ chúng.

Nếu hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện thì khi đời sống vợ chồng không còn được hạnh phúc thì vợ, chồng có quyền thỏa thuận ly hôn hoặc một trong các bên vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu ly hôn. Trong quá trình chung sống nếu có con chung thì khi ly hôn, pháp luật về hôn nhân và gia đình có quy định "Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình và người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con".

Tuy nhiên, trên thực tế việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện còn nhiều khó khăn, một số trường hợp khi có bản án của Tòa án, người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, thực hiện việc cấp dưỡng trong một khoảng thời gian ngắn thì không tiếp tục thực hiện, nguyên nhân do người có nghĩa vụ cấp dưỡng không có điều kiện cấp dưỡng hoặc cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ này mà phần lớn các vụ án liên quan đến việc cấp dưỡng là do người có nghĩa vụ không tự nguyện hoặc cố tình không thực hiện.

Theo quy định của pháp luật về thi hành án thì "Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án" và " Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án". Trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.

Vấn đề đặt ra là khi người trực tiếp nuôi con yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành theo bản án, buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng thực hiện việc cấp dưỡng nhưng khi cơ quan thi hành án tiến hành thi hành án thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng cố tình né tránh bằng cách không có hoặc không đủ điều kiện để thi hành, cũng như không có hoặc không còn tài sản để cưỡng chế việc thi hành án. Trong những trường hợp đó, người trực tiếp nuôi con phải chủ động tìm cơ sở chứng minh người có nghĩa vụ cấp dưỡng có đủ điều kiện mà không tự nguyện thi hành, để tiếp tục yêu cầu thi hành án.

Vì thế việc thi hành án về cấp dưỡng chủ yếu dựa vào sự tự nguyện thi hành của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu họ cố tình né tránh trong khi việc cấp dưỡng nuôi con lại kéo dài từ lúc đứa trẻ còn nhỏ cho đến lúc trưởng thành thì việc thực hiện theo đúng bản án đã tuyên về thực tế là rất khó đảm bảo.

Thiết nghĩ khi quan hệ vợ chồng chấm dứt, trách nhiệm nuôi con cũng phải là trách nhiệm chung của cha và mẹ, một trong các bên không có lý do gì để né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm cho bên còn lại mà phần lớn sự né tránh hoặc không tự nguyện đó là của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Pháp luật bảo vệ quyền con người đặc biệt là đối với trẻ em, các bậc làm cha, làm mẹ cũng vì tương lai của các em mà cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định tương lai cho cuộc hôn nhân của mình và điều đặt biệt hơn hết là khi đã ly hôn, cũng nên đặt quyền lợi của các em lên trên để cùng nhau nuôi dạy các em, để các em không phải chịu quá nhiều thiệt thòi về vật chất lẫn tinh thần.

04/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
 Thành lập Tổ rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre Thành lập Tổ rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Ngày 28 tháng 5 năm 2014, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1048/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre. Theo đó, Tổ rà soát gồm 10 thành viên, Tổ trưởng do ông Lê Văn Sáu, Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách; các thành viên là đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp, công chức Phòng Kiểm soát ...

Ngày 28 tháng 5 năm 2014, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1048/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre. Theo đó, Tổ rà soát gồm 10 thành viên, Tổ trưởng do ông Lê Văn Sáu, Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách; các thành viên là đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp, công chức Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính và cán bộ đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính của các sở, ban, ngành tỉnh có liên quan (Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp).

Tổ rà soát có nhiệm vụ tham mưu giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện việc rà soát nhằm cắt giảm mạnh các quy định hành chính, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, mất nhiều thời gian giải quyết tại các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, đăng ký kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; tổ chức các hoạt động tham vấn ý kiến của người dân, doanh nghiệp (nếu cần thiết) và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình rà soát, đánh giá độc lập quy định, thủ tục hành chính; xác định những thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực cần ưu tiên rà soát trong từng giai đoạn và tổ chức nghiên cứu, đề xuất những giải pháp nhằm đơn giản hoá các thủ tục hành chính đảm bảo có hiệu lực, hiệu quả; kết thúc mỗi đợt rà soát, Tổ trưởng có trách nhiệm tổng hợp báo cáo kết quả cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời xây dựng phương án đơn giản hoá thủ tục hành chính, sáng kiến cải cách thủ tục hành chính trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Tổ rà soát được quyền phối hợp với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh để thực hiện tốt việc rà soát độc lập quy định hành chính, thủ tục hành chính tại các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, đăng ký kinh doanh; được quyền huy động sự đóng góp trí tuệ của các nhà quản lý, các chuyên gia trong và ngoài khu vực công cho việc rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính.

Thời gian hoạt động của Tổ rà soát: Từ tháng 6/2014 đến tháng 10/2015.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre thành lập thêm ba Văn phòng Công chứngBến Tre thành lập thêm ba Văn phòng Công chứng
Tính đến tháng 4/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã quyết định thành lập thêm 03 Văn phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng Ba Tri (thuộc huyện Ba Tri); Văn phòng Công chứng Chợ Lách (thuộc huyện Chợ Lách) và Văn phòng Công chứng Mỏ Cày Nam (thuộc huyện Mỏ Cày Nam). Văn phòng Công chứng Chợ Lách khai trương và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 26 tháng 3 năm 2014, nâng tổng s...

Tính đến tháng 4/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã quyết định thành lập thêm 03 Văn phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng Ba Tri (thuộc huyện Ba Tri); Văn phòng Công chứng Chợ Lách (thuộc huyện Chợ Lách) và Văn phòng Công chứng Mỏ Cày Nam (thuộc huyện Mỏ Cày Nam). Văn phòng Công chứng Chợ Lách khai trương và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 26 tháng 3 năm 2014, nâng tổng số Văn phòng công chứng của tỉnh Bến Tre hiện nay là 07. Văn phòng Công chứng Ba Tri và Văn phòng Công chứng Mỏ Cày Nam đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đi vào hoạt động.


Văn phòng Công chứng Ba Tri được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân, có trụ sở  đặt tại đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Phan Văn Trung làm Trưởng Văn phòng; Văn phòng Công chứng Chợ Lách do một công chứng viên thành lập, có trụ sở  đặt tại số 806/10, ấp Bình An B, thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Lê Phúc Vĩnh  làm Trưởng Văn phòng; Văn phòng Công chứng Mỏ Cày Nam do Công chứng viên Nguyễn Thanh Lương  làm Trưởng Văn phòng, có trụ sở  đặt tại số 78A, quốc lộ 60, khu phố 7, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.


Các tổ chức hành nghề công chứng hoạt động gắn kết với địa bàn dân cư, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020”, đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức, đảm bảo và tăng cường an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động công chứng, góp phần phục vụ hiệu quả cho quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre .

04/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn kiến thức trợ giúp pháp lý cho 150 cán bộ, cộng tác viênTập huấn kiến thức trợ giúp pháp lý cho 150 cán bộ, cộng tác viên
 Ngày 31 tháng 5 năm 2012, Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý tỉnh đã tổ chức hội nghị tập huấn kiến thức về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Có 150 cán bộ thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng, trợ giúp viên pháp lý và luật sư là cộng tác viên trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh.

Ngày 31 tháng 5 năm 2012, Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý tỉnh đã tổ chức hội nghị tập huấn kiến thức về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Có 150 cán bộ thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng, trợ giúp viên pháp lý và luật sư là cộng tác viên trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh.

Nội dung tập huấn xoay quanh các chuyên đề: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006; Nghị định số 07/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; Thông tư liên tịch số 10/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; Thông tư liên tịch số 01 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên.

Mục đích là nhằm nâng cao trình độ nhận thức, trình độ và kỹ năng trợ giúp pháp lý cho cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng giúp nắm vững kiến thức pháp luật về trợ giúp pháp lý để trong hoạt động phối hợp trợ giúp pháp lý thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đạt hiệu quả cao và kết quả ngày càng tốt hơn.

Được biết, từ nay đến cuối năm 2012, Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý tỉnh sẽ tổ chức thêm hai lớp tập huấn cho đối tượng là thành viên ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý và chuyên viên, cộng tác viên, trợ giúp viên pháp lý.

28/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật cho thành viên ban chủ nhiệm câu lạc bộ trợ giúp pháp lý năm 2012Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật cho thành viên ban chủ nhiệm câu lạc bộ trợ giúp pháp lý năm 2012
 Với mục đích giúp người dân nghèo được nâng cao kiến thức, ý thức pháp luật, biết vận dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình; Giúp người nghèo ở nông thôn giảm nghèo một cách bền vững và đảm bảo công bằng xã hội; thực hiện theo Kế hoạch số 06/ KH-TGPL ngày 06/11/2011 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre về công tác trợ giúp pháp lý năm ...

Với mục đích giúp người dân nghèo được nâng cao kiến thức, ý thức pháp luật, biết vận dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình; Giúp người nghèo ở nông thôn giảm nghèo một cách bền vững và đảm bảo công bằng xã hội; thực hiện theo Kế hoạch số 06/ KH-TGPL ngày 06/11/2011 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre về công tác trợ giúp pháp lý năm 2012 và  Kế hoạch số 284 /KH-TGPL ngày 7  tháng  8 năm 2012 về việc Phối hợp thực hiện Dự án Phát triển Kinh doanh với Người nghèo Nông thôn (DBRP Bến Tre) trên lĩnh vực trợ giúp pháp lý; ngày 31 tháng 8 năm 2012 Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật cho thành viên Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý.


Đến dự khai mạc Hội nghị có bà Nguyễn Thị Yến Nhi – Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, ông Nguyễn Trúc Sơn - Giám đốc Trung tâm xúc tiến đầu tư tỉnh Bến Tre, Giám đốc dự án DBRB Bến Tre; lãnh đạo Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh, đại biểu Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và 122 đại biểu đại diện cho Ban Chủ nhiệm các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý trên toàn tỉnh.

Các học viên đã được nghe các Báo cáo viên trình bày các chuyên đề: Một số nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý và văn bản hướng dẫn thi hành; Kỹ năng tổ chức và điều hành sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý; Quy trình giải quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai; Chế định ly hôn trong Luật Hôn nhân và Gia đình.

Phương pháp tập huấn được đổi mới, kết hợp thuyết giảng với việc trao đổi, thảo luận, giải quyết tình huống và giải đáp khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Sử dụng công cụ hỗ trợ như máy chiếu, hình ảnh minh họa để phục vụ cho việc thuyết giảng được tốt hơn, giúp người nghe nắm bắt cơ bản những nội dung chính.


Tại Hội nghị, Ban chủ nhiệm các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý tích cực tham gia góp ý thảo luận từ đó làm sáng tỏ nhiều vấn đề đang vướng mắc trong thực tiễn hoạt động nhằm góp phần đưa hình thức sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý ở địa phương  ngày càng hiệu quả hơn ./.

 

31/10/2012 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnNghị định quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Ngày 30 tháng 9 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Ngày 30 tháng 9 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Theo Nghị định, đối tượng, thời hiệu, thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được quy định như sau:

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với các đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều này để giám sát, quản lý, giáo dục họ tại nơi cư trú, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, khắc phục các nguyên nhân và điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật.

Đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính và thời hiệu áp dụng quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính đối với các đối tượng này được xác định như sau:

Đối tượng là người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự, thì thời hiệu là 01 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm;

Đối tượng là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự, thì thời hiệu là 06 tháng, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm;

Đối tượng là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, trong 06 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng, thì thời hiệu là 06 tháng, kể từ ngày thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm hành chính nêu trên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định;

Đối tượng là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày đối tượng có hành vi sử dụng ma túy bị phát hiện;

Đối tượng là người từ đủ 18 tuổi trở lên, trong 06 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội, thì thời hiệu là 06 tháng, kể từ ngày thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm hành chính nêu trên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nước ngoài.

Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 03 tháng đến 06 tháng, tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng của người vi phạm.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2013 và thay thế Nghị định số 163/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

18/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến TreChính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 11 tháng 12 năm 2012, Bộ Tài chính  ban hành Công văn số 17217/BTC-NSNN về việc bổ sung kinh phí cho các địa phương thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết về phân bổ kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Ngày 11 tháng 12 năm 2012, Bộ Tài chính  ban hành Công văn số 17217/BTC-NSNN về việc bổ sung kinh phí cho các địa phương thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết về phân bổ kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Theo Công văn này, Bến Tre được hỗ trợ 14.551 triệu đồng, trong đó, kinh phí hỗ trợ địa phương sản xuất trồng lúa là 7.275,5 triệu đồng, kinh phí hỗ trợ cho người sản xuất lúa là 7.275,5 triệu đồng.


Chính sách hỗ trợ địa phương sản xuất lúa, căn cứ vào diện tích đất trồng lúa, Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho địa phương sản xuất trồng lúa (gồm chi đầu tư và chi thường xuyên) như sau: 500.000 đồng/ha/năm đối với đất chuyên trồng lua nước; 100.000 đồng/ha/năm đối với đất lúa khác (trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa); kinh phí hỗ trợ sản xuất lúa, tập trung cho đầu tư và duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, trong đó ưu tiên đầu tư thủy lợi, giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, hạ tầng làng nghề ở nông thôn, hạ tầng nuôi thủy sản và các nội dung đầu tư khác liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; hỗ trợ các hoạt động khuyến nông giúp các hộ và tổ chức tiếp cận dịch vụ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; hỗ trợ xây dựng và phổ biến nhân rộng mô hình sản xuất mới có hiệu quả và ngành nghề nông thôn, như: Hỗ trợ giống lúa, phân bón, thuốc phòng trị sâu bệnh, máy móc thiết bị, công cụ sản xuất, vật tư khác.

Đối với chính sách hỗ trợ người trồng lúa, được hỗ trợ 500.000 đồng/na/năm cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa trên đất chuyên trồng lúa nước; 100.000 đồng/ha/năm đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa trên đất chuyên trồng lúa khác (trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa); người sản xuất sử dung kinh phí được hỗ trợ để phát triển sản xuất lúa có hiệu quả (ứng dụng khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất mới, đầu tư giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…) nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng lúa, góp phần xây dựng nông thôn mới.

27/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”Phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”
Ngày 12/02/2014, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 188/KH-STP về phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”.

 

 

Ngày 12/02/2014, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 188/KH-STP về phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”.

Kế hoạch nêu rõ những vấn đề cần tập trung: Phổ biến, quán triệt thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng. Trong đó, trọng tâm năm 2014 là tổ chức triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, phát huy mọi nguồn lực, vượt qua khó khăn, thách thức; phấn đấu 100% hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch công tác tư pháp năm 2014; đồng thời, tiếp tục thực hiện sâu rộng, thiết thực, hiệu quả phong trào thi đua “Cán bộ Tư pháp tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tập trung quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp. Chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, không để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại đơn vị; tiếp tục thực hiện thiết thực, có hiệu quả các hoạt động của Ngành phục vụ tích cực sự nghiệp xây dựng nông thôn mới; theo đó, năm 2014 chọn ít nhất 03 điểm cấp xã trên địa bàn tỉnh để triển khai phát động phong trào thi đua.

Ngoài ra, theo Kế hoạch thì Thủ trưởng các phòng, trung tâm thuộc Sở và Phòng Tư pháp các huyện, thành phố tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thuộc phạm vi được giao gắn với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trong các lĩnh vực về: Xây dựng, thi hành pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải cơ sở; hành chính tư pháp; bổ trợ tư pháp; lý lịch tư pháp; trợ giúp pháp lý… tập trung khắc phục những hạn chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng nông thôn mới.

 

21/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sảnQuy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản.

 

 

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản.

Theo đó, các vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản bao gồm: Vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản; về khai thác thủy sản; về quản lý tàu cá và quản lý thuyền viên tàu cá; về nuôi trồng thủy sản, sử dụng mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản; về thu gom, sơ chế, bảo quản, vận chuyển, chế biến, mua bán, nhập khẩu thủy sản…

Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa trong hoạt động thủy sản áp dụng đối với cá nhân là 100.000.000 đồng, đối với tổ chức là 200.000.000 đồng.

Nghị định nêu rõ, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi hủy hoại rạn san hô, thảm cỏ biển, thảm rong biển. Mức phạt tiền đối với hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển san hô được quy định như sau: phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng nếu khối lượng san hô dưới 10 kg; phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu khối lượng san hô từ 10kg đến dưới 50kg; phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu khối lượng san hô từ 50kg đến dưới 100kg; phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu khối lượng san hô từ 100 kg trở lên.

Về mức phạt đối với hành vi sử dụng giấy phép khai thác thủy sản đã quá hạn vào hoạt động khai thác thủy sản (áp dụng đối với tàu cá có tổng công suất máy chính đến dưới 90 sức ngựa) như sau: Cảnh cáo đối với trường hợp giấy phép khai thác thủy sản đã quá hạn dưới 15 ngày; Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với trường hợp sử dụng giấy phép khai thác thủy sản quá hạn từ 15 ngày trở lên đến dưới 30 ngày; Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với trường hợp sử dụng giấy phép khai thác thủy sản quá hạn từ 30 ngày trở lên đến dưới 60 ngày; đối với trường hợp sử dụng giấy phép khai thác thủy sản quá hạn từ 60 ngày trở lên được quy định cụ thể tại khoản 3, Điều 10 Nghị định này;

Nghị định còn quy định phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với chủ tàu cá hoặc thuyền trưởng có hành vi cố ý đưa tàu cá, ngư dân Việt Nam đi khai thác thủy sản trái phép tại vùng biển của quốc gia hoặc lãnh thổ khác. Đối với quy định về quản lý khai thác của tàu cá nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam, mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Không có sổ nhật ký khai thác, không ghi nhật ký khai thác, không thực hiện chế độ báo cáo khai thác hoặc không báo cáo hoạt động của tàu cá theo quy định của pháp luật Việt Nam; Không tiếp nhận và trả giám sát viên theo đúng địa điểm được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hoặc không bảo đảm điều kiện làm việc, sinh hoạt cho giám sát viên Việt Nam theo tiêu chuẩn sĩ quan trên tàu cá; Không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết việc đưa tàu cá vào Việt Nam để khai thác thủy sản…

Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam mà giấy phép hoạt động thủy sản hết hạn; Tàu cá nước ngoài có giấy phép hoạt động thủy sản nhưng hoạt động sai vùng cho phép; Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động khai thác thủy san trong vùng biển Việt Nam mà không có giấy phép hoạt động thủy sản…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2013, thay thế Nghị định số 31/2010/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vưc thủy sản.

23/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn