Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ - Phòng phổ biến giáo dục pháp luật
Sáng ngày 20 tháng 8 năm 2014, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã đến dự và chủ trì Hội nghị. Tại đầu cầu Bến Tre, dự Hội nghị có lãnh đạo Ban Tuyên giáo ... 
 
Sáng ngày 14/8/2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tổ chức Hội thảo “Mùa hè xanh Đồng Khởi 15 năm – Những con số biết nói” giai đoạn 2000 -2014. Dự Hội thảo có Thành đoàn, Hội sinh viên, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh; thành viên Ban Chỉ đạo Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre; các đồng chí nguyên là Bí thư Tỉnh đoàn qua... 
 
Nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng công an cấp xã trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy nội địa và kiến thức, kỹ năng tuyên truyền pháp luật cho cán bộ cấp xã tham gia công tác tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt giữ gìn, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông tại cơ sở, góp phần xây dựng nông thôn mới;... 
 
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.  
 
Sáng ngày 08 tháng 8 năm 2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị giao ban lần 02 sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh chủ trì Hội nghị.  
 
Trong xã hội, các mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình luôn diễn ra đa dạng, phức tạp, với những hình thức khác nhau. Vì vậy để xây dựng và hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, chậm tiến bộ trong hôn nhân gia đình là vấn đề đang được quan tâm.  
 
Ngày 4 tháng 8 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng lý thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi”.  
 
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước. Vì vậy, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã được xác định từ năm 1980 đến nay là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, Hiến pháp năm 2013 quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng ... 
 
Thời gian qua, thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính và cải cách chế độ công vụ, công chức trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả khá toàn diện, các cơ quan hành chính thường xuyên rà soát thủ tục hành chính, kiến nghị kịp thời cấp có thẩm quyền về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính; ... 
 
Ngày 28 tháng 7 năm 2014, Công an tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã ban hành Chương trình phối hợp về “Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”; với mục đích nâng cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và Công an các cấp, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chín... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI)
Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre  đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng ch...

Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng chí thành viên của Đoàn kiểm tra, cùng tham dự có đồng chí Lê Ngọc Duệ, Phó Bí thư Đảng uỷ Khối các Cơ quan tỉnh. Về phía Đảng ủy Sở Tư pháp có đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy; các đồng chí Đảng ủy viên; lãnh đạo Sở Tư pháp và Tổ giúp việc.

Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Đảng ủy viên phụ trách công tác Tuyên giáo của Đảng ủy thay mặt Đảng uỷ Sở Tư Pháp báo cáo tình hình và kết quả lãnh, chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nghe ý kiến góp ý của các đồng chí trong Đoàn kiểm tra, của đại biểu Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc kết luận: Đảng uỷ Sở Tư Pháp có cụ thể hoá Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và các hướng dẫn, kế hoạch của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thành lập Tổ giúp việc; xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ của ngành; có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện ở các chi bộ trực thuộc. Tổ chức triển khai, quán triệt tốt các chuyên đề tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong cơ quan; đồng thời hàng tuần tổ chức kể các mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Đảng uỷ Sở Tư Pháp thực hiện khá tốt việc đưa nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của chi bộ theo Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Đặc biệt, đã thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo; chú trọng phát hiện, biểu dương những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách của Bác; kịp thời nhắc nhỡ, uốn nắn những trường hợp còn hạn chế, thiếu sót. Đảng ủy lãnh đạo thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau đợt kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI); hầu hết cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW vẫn còn một số hạn chế như: Đảng ủy chưa lãnh đạo chính quyền (cơ quan) có văn bản cụ thể hoá việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg, ngày 7/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 5570/UBND-VHXH, ngày 02/12/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ‘‘về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong đơn vị. Tổ giúp việc chưa thực hiện tốt vai trò tham mưu cấp uỷ trong việc cụ thể hoá thực hiện các văn bản chỉ đạo của cấp trên và việc triển khai thực hiện trong Đảng bộ. Nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013 ở một số cán bộ, đảng viên chưa thật cụ thể, chưa đạt yêu cầu. Chưa có giải pháp nhân rộng gương điển hình qua các năm. Báo cáo chưa nêu rõ kết quả khắc phục những hạn chế, yếu kém của các cá nhân trong Đảng uỷ qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI).

Đoàn kiểm tra cũng lưu ý Đảng ủy Sở Tư pháp cần thực hiện một số nội dung trong thời gian tới như sau:

Đảng uỷ cần tiếp tục quán triệt sâu ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và Kế hoạch số 18-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; có giải pháp cụ thể hơn nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc hàng ngày ở các chi bộ, gắn với thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của tập thể và cá nhân sau kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) ; đồng thời lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa, triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống của Ngành.

Nâng cao vai trò tham mưu của Tổ giúp việc, chỉ đạo các chi bộ hướng dẫn một số đảng viên viết lại nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề năm 2013 về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương sát chức năng, nhiệm vụ.

Lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ trực thuộc tiếp tục tuyên truyền một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sinh hoạt chi bộ, chi uỷ phân công đảng viên chuẩn bị nội dung, dành thời gian thích hợp tổ chức sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Tập trung lãnh, chỉ đạo cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò nêu gương theo Quy định 06-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, kịp thời nhắc nhỡ, phê bình những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu trong việc học tập và làm theo Bác.

Quan tâm lãnh đạo, thực hiện tốt Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên trong thực hiện việc đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm.

Cuối năm, tổ chức tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, kịp thời phát hiện tập thể, cá nhân điển hình để biểu dương, khen thưởng; quan tâm bồi dưỡng, nhân rộng, qua đó bình chọn gương điển hình tiêu biểu, làm cơ sở chuẩn bị tổ chức hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến cuối nhiệm kỳ.

27/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công tác văn thư lưu trữCông tác văn thư lưu trữ


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
CÔNG TÁC VĂN THƯ LƯU TRỮ

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Tiếp nhận và quản lý công văn đi, đến; lưu trữ hồ sơ nhằm phục vụ cho công tác của ngành.

2. Phạm vi áp dụng:

Tất cả các đơn vị thuộc Sở.

3. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

1. Công tác văn thư:

Nhân viên văn thư



Thời gian:

16h cùng ngày đi công văn bình thường; công văn mang tính chất khẩn đi ngay;

trong nội ô thị xã đi trực tiếp



* Công văn đi:

- Các phòng soạn thảo văn bản theo ý kiến của Ban Giám đốc, trình Ban Giám đốc ký duyệt.

- Chuyển đến bộ phận Văn phòng đóng dấu và lấy số công văn đi.

- Đóng dấu, cho số công văn đi và ghi vào sổ theo dõi.

- Chuyển số công văn đã được đóng dấu và lấy số đến bộ phận phát hành công văn.

- Phát hành công văn đến địa chỉ theo đúng yêu cầu của các phòng nghiệp vụ (chuyển đến Bưu điện hoặc đi trực tiếp) và ghi vào sổ theo dõi.

- Trường hợp những công văn đi có tính cấp bách phải gửi đi khẩn cấp thì phải xin ý kiến chỉ đạo của Ban Giám đốc.

* Công văn đến:

- Nhận công văn từ bên ngoài gởi đến.

- Đóng dấu “ Công văn đến”, ghi số công văn đến, ngày nhận công văn. (số công văn được ghi theo thứ tự từ đầu năm, bắt đầu là số 01 cho đến cuối năm).

- Trình Ban Giám đốc xem xét và có ý kiến xử lý.

- Nhận lại số công văn đã có ý kiến của Ban Giám đốc.

- Giao công văn đến các phòng nghiệp vụ theo ý kiến của Ban Giám đốc (có ký nhận).

2. Lưu trữ:

- Soạn thảo “ Thông báo thu gom tài liệu” trình Ban Giám đốc duyệt gửi các phòng nghiệp vụ vào đầu tháng 11 hàng năm.

- Lập và trình duyệt Bảng dự trù văn phòng phẩm, vật dụng cần thiết cho việc chỉnh lý các tài liệu vừa thu gom.

- Soạn thảo các thủ tục giấy tờ cần thiết để tiến hành ký hợp đồng với Trung tâm Lưu trữ tỉnh về việc thuê chỉnh lý và phân loại tài liệu.

- Lập “Danh mục hồ sơ” và sắp xếp hồ sơ vào kho lưu trữ.

- Lập “Danh mục hồ sơ” những tài liệu hết giá trị sử dụng và thành lập Hội đồng tiêu huỷ hồ sơ.

- Khi có nhu cầu tìm hồ sơ tài liệu từ kho lưu trữ thì dò tìm từ bảng “ Danh mục hồ sơ”.

- Thực hiện tốt công tác bảo quản hồ sơ lưu trữ.

4. Phụ lục:

  • Sổ đăng ký công văn đi.
  • Sổ đăng ký công văn đến.

VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP

ĐĂNG KÝ CÔNG VĂN ĐẾN

Người soạn thảo:

Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:

Trần Lương Phổ


...........................................

...........................................



SỔ ĐĂNG KÝ

CÔNG VĂN ĐẾN


..............................................................................



Năm:............



Sổ này gồm:.............trang, đánh số từ............đến.........

Bắt đầu sử dụng ngày……..tháng…….năm……..

CHÁNH VĂN PHÒNG

Số đến

Ngày tháng

vào sổ

ĐƠN VỊ GỬI CÔNG VĂN

Số và ký hiệu công văn

Ngày tháng công văn

TRÍCH YẾU NỘI DUNG

Theo dõi giải quyết công văn

Lưu hồ sơ số

 

N PHÒNG S TƯ PHÁP

ĐĂNG KÝ CÔNG VĂN ĐI

Người soạn thảo:

Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:

 

 

Người duyệt:

Trần Lương Phổ

...........................................

...........................................



SỔ ĐĂNG KÝ

CÔNG VĂN ĐI


..............................................................................



Năm:............




Sổ này gồm:.............trang, đánh số từ............đến.........

Bắt đầu sử dụng ngày……..tháng…….năm……..

CHÁNH VĂN PHÒNG

Số và ký

hiệu CV

Ngày tháng

công văn

Trích yếu nội dung

Người ký công văn

Điơn vị nhận bản lưu và gửi đi

Địa chỉ phát hành (nơi nhận cv)

Lưu

hồ sơ số

Số lượng bản

Số lượng trang

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình trợ giúp pháp lý tại trụ sởQuy trình trợ giúp pháp lý tại trụ sở


TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
QUY TRÌNH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI TRỤ SỞ

Người soạn:



Nguyễn Thị Bích Lan Thu

Người kiểm tra:



Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt:



Trần Lương Phổ


QUY TRÌNH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI TRỤ SỞ


1. Mục đích:

Mục đích của trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý bao gồm người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Hiện người được trợ giúp pháp lý ngày càng mở rộng do đó cần phải có một thủ tục cụ thể trong hoạt động trợ giúp tránh tình trạng người được trợ giúp pháp lý phải chờ đợi lâu mới được trợ giúp pháp lý.

2. Phạm vi áp dụng:

Trợ giúp pháp lý tại trụ sở do các chuyên viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý thực hiện.

3. Quy trình trợ giúp pháp lý tại trụ sở

Trình tự

Nội dung công việc

Tài liệu áp dụng

Trách nhiệm

Thời gian

1

Tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý; kiểm tra điều kiện thụ lý

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.

Chuyên viên,


30 phút

2

Thụ lý hoặc từ chối thụ lý vụ việc

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;


Chuyên viên, Giám đốc

15 phút

3

Phân công người thực hiện TGPL

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;


Giám đốc,

Phó Giám đốc

5 – 10 phút

4

Thực hiện trợ giúp pháp lý ( ghi phiếu thực hiện TGPL)

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;


Chuyên viên,

Phó Giám đốc.

Giám đốc

Tuỳ theo vụ việc đơn giản hay phức tạp: từ 10 - 60 phút

5

Lưu hồ sơ vụ việc TGPL

- Luật Trợ giúp pháp lý;

- Nghị định số 07/2007/NĐ – CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;


Chuyên viên

15 phút


4. Phụ lục:

Mẫu sổ trợ giúp pháp lý

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúngCông tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúng
 Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh ...

Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh và địa phương đã làm tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, tái định cư đảm bảo tiến độ dự án, đảm bảo chính sách và quyền lợi chính đáng, cuộc sống, việc làm cho người dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, điển hình như công trình cầu Cổ Chiên, 10 cầu trên địa bàn huyện Bình Đại, Khu Công Nghiệp Giao Long, Đường từ Cảng Giao Long đến đường Nguyễn Thị Định, các cầu trên địa bàn huyện Chợ Lách, Thạnh Phú…Tuy nhiên, vẫn còn một vài công trình dự án trong quá trình thực hiện còn để xảy ra sơ sót, công tác phối hợp vận động quần chúng thiếu chặc chẽ dẫn đến người dân chưa đồng tình, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Thiết nghĩ, trong thời gian tới nhằm mở rộng dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác quy hoạch, xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, công tác đền bù giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư; tăng cường hơn nữa vai trò phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đề ra những giải pháp phù hợp nhằm tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện các dự án, nắm bắt, phản ánh và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc, khiếu nại chính đáng của người dân góp phần xây dựng xã hội đồng thuận, tự quản, các cấp chính quyền và hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thề chính trị xã hội trong tỉnh cần thực hiện các bước giải pháp đồng bộ sau :

Bước 1, Đối với công tác dân vận trong giai đoạn chuẩn bị quy hoạch, xây dựng dự án, triển khai đầu tư phát triển kinh tế xã hội: Ngay từ khi dự thảo quy hoạch, dự án, phương án thu hồi đất, giá cả đền bù và phương án tổ chức thực hiện dự án, các cấp chính quyền phải tổ chức họp dân, toạ đàm, lắng nghe, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến tham gia của nhân dân, của MTTQ và các đoàn thể liên quan đến dự án để bổ sung, hoàn thiện dự án; khi được phế duyệt chính thức và trước khi tổ chức thực hiện dự án chính quyền các cấp phải công khai với người dân về nội dung liên quan của dự án bắng nhiều hình thức linh hoạt như mời họp dân, trực tiếp phổ biến, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết văn bản...; tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương về thu hồi đất khi thực hiện dự án, để người dân hiểu đúng, đủ về mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng, quyền lợi của mình khi dự án được thực hiện.

Bước 2, Công tác dân vận trong giai đoạn thực hiện: Chính quyền thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án đảm bảo có thành phần các tổ chức trong hệ thống chính trị như: Dân vận, MTTQ và các đoàn thể; khảo sát, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư , tổ chức lấy ý kiến của người bị thu hồi đất nhằm xây dựng phương án rõ ràng, minh bạch, chính sát, chi tiết từng phương án bao gồm cả phương án kiểm đếm, thanh toán và phương án tuyên truyền vận động đến từng hộ dân có liên quan.

Xây dựng phương án đến bù cụ thể cho từng hộ, chuẩn bị các điều kiện kinh phí, tài chỉnh để thực hiện, phân công rõ từng trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuyên truyền vận động, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng, nghiên cứu tiếp thu, giải quyết ý kiến thắc mắc kiến nghị đến từng hộ dân có liên quan; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền vận động quần chúng, nêu cao quan điểm quần chúng, tôn trọng dân cho cán bộ công chức ( những người được phân công trực tiếp kiểm đếm, chi trả đền bù) và cán bộ trong hệ thống chính trị được phân công tham gia thực hiện dự án, chống hiện tượng lợi dụng bớt xén, quan liêu, hách dịch cửa quyền, mất dân chủ với nhân dân; đồng thời tuyên truyền chống biểu hiện thiếu trung thực về kê khai nhà cửa, tài sản, đất đai, lợi dụng chính sách đền bù giải toả của Nhà nước.

Phải công bố rõ chủ trương thu hồi đất cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; công khai phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, thời gian bàn giao đất, phương án, phương pháp thực hiện chi trả tiền bồi thường và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư kịp thời cho người dân.

Bước 3, Tổ chức lắng nghe tiếp thu ý kiến, đối thoại, giải quyết khiếu tố của nhân dân trong quá trình thực hiện dự án: Trong quá trình thực hiện dự án, các cơ quan chức năng phải thường xuyên theo dõi, lắng nghe tâm tư nguyện vọng chính đáng và ý kiến tham gia góp ý, thắc mắc, khiếu tố của nhân dân để kịp thời tiếp thu những ý kiến đúng đắn, tiếp tục chỉnh sửa bổ sung về cơ chế, chính sách, giá cả đền bù, hỗ trợ, phương pháp tổ chức thực hiện; giải thích rõ những ý kiến kiến nghị của nhân dân; khi có khiếu kiện đông người, phức tạp cấp uỷ, chính quyền có trách nhiệm nghe, đối thoại trực tiếp với nhân dân, nắm tình hình, bàn giải pháp và lập tổ công tác, phân công nhiệm vụ cho các tổ chức cá nhân cụ thể tuyên truyền vận động, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của người dân; công tác giải quyết khiếu nại gay gắt của người dân phải lấy tuyên truyền vận động, thuyết phục là chính, hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp cưỡng chế, bắt người; phát huy tốt vay trò của cả hệ thống chính trị, những người tích cực, có uy tín trong nhân dân; phải tổ chức lực lượng kiên trì vận động đến từng người dân và thực sự cầu thị, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân; nghiêm túc kiểm diểm rút kinh nghiệm nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục sửa chửa và xin lỗi người dân về những khuyết điểm, hạn chế của mình; tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác và cương quyết khôn khéo phát động nhân dân đấu tranh với những người cực đoan lợi dụng dân chủ để tập hợp quần chúng khiếu nại gây mất ổn định về ANCT; công tác cưỡng chế khi thật cần thiết, song phải cân nhắc kỹ, phải được đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ, không để tình hình phức tạp thêm.

Và cuối cùng sau khi dự án đã thực hiện xong, Ban Dân vận, MTTQ và các đoàn thể phải tiếp tục nắm tâm tư nguyện vọng, đời sống ăn ở, sinh hoạt, việc làm thu nhập của nhân dân, nhất là những dự án tái định cư để tiếp tục tuyên truyền, vận động tham mưu giải quyết, hỗ trợ kịp thới những khó khăn, bức xúc, sớm ổn định cuộc sống của nhân dân. Thực hiện đồng bộ các bước giải pháp trể sẽ góp phần rất quan trọng giúp các công trình dự án trọng điểm của tỉnh ta thực hiện một cách thành công, hiệu quả, nhanh chóng, tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở từng địa phương.

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dânSơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dân
Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Văn Tuân, Tỉnh ủy viên, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh trình bày báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân (03/3/2009 – 03/3/2013) của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Hội nghị đã nghe nhiều ý kiến tham luận về công tác phối hợp thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân, đã thông nhất cơ bản nội dung báo cáo; các ngành, địa phương đã phối hợp phố biến về mục đích, ý nghĩa Ngày Biên phòng toàn dân, gắn với việc triển khai Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Biên phòng, Nghị định 161/2003 về Quy chế khu vực biên giới biển… với nhiều hình thức sinh động, phối hợp thực hiện Chuyên mục “Vì chủ quyền an ninh biên giới”, Chuyên trang “Quốc phòng toàn dân”, tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về biên giới quốc gia”.


Phối hợp với ngành công an điều tra, xác minh làm rõ 96/111 vụ án hình sự, đưa ra xử lý hành chính 149 đối tượng. Phối hợp thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; tổ chức nhiều cuộc diễn tập, ứng phó tình huống có thể xảy ra; kịp thời kêu gọi, thông báo tình hình bão, áp thấp nhiệt đới; tổ chức giúp dân khắc phục hậu quả lốc xoáy, lụt bão…

Quan tâm xây dựng, củng cố các công trình phòng thủ bảo vệ biên giới sát hợp với yêu cầu, sẵn sàng chiến đấu; chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng biên phòng vững mạnh toàn diện. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân được vững chắc.

Vận động xây dựng  368 căn nhà “Đại đoàn kết”, 270 căn nhà “Tình thương”, 36 căn nhà “Tình nghĩa”, 07 căn nhà “Nhân ái”, 08 căn nhà “Đồng đội” trị giá 17 tỷ đồng; tặng hơn 2.000 phần quà cho học sinh nghèo hiếu học trị giá trên 500 triệu đồng.

Phối hợp các ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức họp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng gắn với Ngày Biên phòng toàn dân. Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao bước đầu tạo được sinh khí Ngày Biên phòng toàn dân, có ý nghĩa giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ biên giới biển.


Kết luận Hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Võ Thành Hạo đánh giá cao kết quả tổ chức thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân; đồng thời lưu ý trong thời gian tới Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể liên quan tiếp tục phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Ngày Biên phòng toàn dân, thực sự trở thành ngày hội toàn dân; phát động phòng trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc; đề cao cảnh giác, phòng, chống có hiệu quả âm mưu, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các loại đối tượng ở khu vực biên giới biển; tiếp tục triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế biển, xây dựng nông thôn mới, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh; chăm lo gia đình chính sách, thực hiện công tác giảm nghèo; phối hợp các ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến sâu rộng Ngày Biên phòng toàn dân; xây dựng lực lượng biên phòng vững mạnh về tư tưởng, tổ chức; không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

19/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre
   Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, t...
Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo văn bản; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Hoạt động thẩm định VBQPPL được thực hiện theo Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND; Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND và các văn bản có liên quan. Qua thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thẩm định VBQPPL của tỉnh còn một số khó khăn, vướng mắc.

1. Quy định của pháp luật về công tác thẩm định – Thực tiễn áp dụng

Về đối tượng thẩm định

Theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND thì Sở Tư pháp có chức năng thẩm định dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình và VBQPPL của UBND tỉnh. Tại Nghị định số 91/2006/NĐ-CP đã hướng dẫn các yếu tố để xác định một VBQPPL đồng thời liệt kê một số văn bản không phải là VBQPPL. Tuy nhiên, trên thực tế để xác định đâu là VBQPPL, đâu không phải là VBQPPL vẫn chưa được thống nhất, còn nhiều ý kiến khác nhau bởi chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là “quy tắc xử sự chung”. Điều đó dẫn đến việc nhận thức để phân định văn bản có phải là VBQPPL hay không; trong nhiều trường hợp, không có sự thống nhất giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định. Ví dụ: Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước, Nghị quyết thông qua quy hoạch … là VBQPPL hay không phải là VBQPPL … Như vậy, do chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là VBQPPPL, đâu không phải là VBQPPL nên đối tượng thẩm định trong một số trường hợp là không xác định được.

Về thời hạn thẩm định

Theo quy định của Luật thì chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan tư pháp để thẩm định. Đồng thời, chậm nhất là bảy ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan soạn thảo. Luật quy định ở đây chậm nhất 15 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp đây là thời gian tối thiểu để gửi văn bản đến cơ quan thẩm định. Trường hợp, cơ quan soạn thảo gửi sớm hơn thời gian này, cơ quan thẩm định sẽ có thêm thời gian để thu thập, nghiên cứu thêm các tài liệu liên quan đến dự thảo thẩm định, trường hợp gửi muộn hơn thì cơ quan thẩm định không đủ thời gian để nghiên cứu làm ảnh hưởng đến chất lượng văn bản. Như vậy, Luật chưa quy định cụ thể thời hạn thẩm định mà chỉ quy định thời hạn ít nhất được quy định trong Luật là 08 ngày. Thực tế, áp dụng quy định của Luật hầu hết việc gửi dự thảo văn bản muộn hơn so với quy định (có trường hợp yêu cầu thẩm định trong một buổi), gây không ít khó khăn cho cơ quan tư pháp trong quá trình thẩm định đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng văn bản sau khi ban hành của tỉnh.

Về giá trị pháp lý của văn bản thẩm định

Luật và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP quy định thẩm định là một khâu bắt buộc trong quy trình soạn thảo và ban hành VBQPPL của tỉnh, không có văn bản thẩm định thì HĐND, UBND sẽ không xem xét đối với dự thảo văn bản đó. Tuy nhiên, quy định của pháp luật cũng chỉ dừng ở đó mà không có quy định cụ thể giá trị pháp lý của văn bản thẩm định. Văn bản thẩm định chỉ được coi như một kênh thông tin, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định, chỉnh lý dự thảo văn bản, trường hợp không tiếp thu thì phải giải trình. Vì vậy, đối với văn bản thẩm định cơ quan soạn thảo có thể tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc không tiếp thu ý kiến thẩm định.

Về việc thực hiện thẩm định

Luật chỉ quy định cơ quan tư pháp cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh. Thực tế, việc thẩm định VBQPPL sẽ được phân công cho một công chức để thực hiện thẩm định, công chức làm việc độc lập, nghiên cứu và dự thảo Báo cáo thẩm định trình lãnh đạo Phòng Xây dựng văn bản xem xét. Sau khi lãnh đạo Phòng duyệt, trình lãnh đạo Sở xem xét và ký ban hành. Thiết nghĩ công tác thẩm định có vai trò quan trọng, đảm bảo văn bản VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh sau khi ban hành phù hợp với quy định của pháp luật; nhưng việc thực hiện văn bản thẩm định lại do một cá nhân nghiên cứu, khó tránh khỏi những sai sót do trình độ năng lực còn hạn chế. Mặt khác, hoạt động thẩm định VBQPPL có liên quan đến nhiều lĩnh vực như: đất đai, xây dựng, phí, lệ phí, …trong khi đó công chức thực hiện chức năng thẩm định chỉ học cử nhân luật. Do đó, đối với việc thẩm định những văn bản chuyên ngành cũng khó có thể thực hiện tốt.

2. Hoàn thiện pháp luật về công tác thẩm định

Để nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của tỉnh, nhất là để hoàn thiện công tác thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh trong thời gian tới cần:

Thứ nhất, quy định cụ thể đối tượng thẩm định văn bản là QPPL. Trên cơ sở đó có tiêu chí để phân biệt đâu là VBQPPL đâu không phải là VBQPPL.

Thứ hai, quy định giá trị pháp lý của văn bản thẩm định, có giá trị bắt buộc trong văn bản Luật. Cơ quan yêu cầu thẩm định có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định.

Thứ ba, quy định bắt buộc về việc thành lập Tổ thẩm định khi thẩm định đối với những VBQPPL phức tạp, có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực trong văn bản Luật hoặc dưới luật. Như vậy, mới có thể hạn chế thấp nhất việc bỏ sót những nội dung không phù hợp với quy định trong dự thảo văn bản, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng văn bản thẩm định.

Thứ tư, quy định thời hạn thẩm định theo hướng gia tăng thời gian thẩm định. Thời hạn thẩm định sẽ được tính kể từ ngày cơ quan tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.


04/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đình công đúng pháp luậtĐình công đúng pháp luật
Mặc dù đình công là giải pháp cuối cùng để người lao động đấu tranh đòi quyền lợi với người sử dụng lao động nhưng trong thời gian qua đã có rất nhiều cuộc đình công diễn ra đều mang tính tự phát và không theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Điều này, vừa gây thiệt hại cho doanh nghiệp, vừa không "đòi" được đầy đủ quyền lợi chính đáng cho người lao động. Do đó, theo quy định của Luật s...

Mặc dù đình công là giải pháp cuối cùng để người lao động đấu tranh đòi quyền lợi với người sử dụng lao động nhưng trong thời gian qua đã có rất nhiều cuộc đình công diễn ra đều mang tính tự phát và không theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Điều này, vừa gây thiệt hại cho doanh nghiệp, vừa không "đòi" được đầy đủ quyền lợi chính đáng cho người lao động. Do đó, theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006, một cuộc đình công được xem là hợp pháp phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố sau:

1. Cuộc đình công phải xuất phát từ tranh chấp lao động tập thể. Tranh chấp lao động tập thể bao gồm tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Theo đó, tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp về việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp mà tập thể lao động cho rằng người sử dụng lao động vi phạm. Còn tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp về việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.

2.  Tranh chấp lao động tập thể đó đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng tập thể người lao động không đồng ý với phương án mà các cơ quan có thẩm quyền đưa ra trong quá trình giải quyết tranh chấp. Hoặc trong thời gian quy định mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp không tiến hành giải quyết tranh chấp, thì tập thể người lao động cũng có quyền tổ chức đình công.

3. Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện người lao động phải tổ chức lấy ý kiến về cuộc đình công theo quy định sau: Đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới ba trăm người lao động thì lấy ý kiến trực tiếp của người lao động; đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ ba trăm người lao động trở lên thì lấy ý kiến của thành viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở, Tổ trưởng tổ công đoàn và Tổ trưởng tổ sản xuất; trường hợp không có công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của Tổ trưởng, Tổ phó tổ sản xuất. Sau đó, Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động ra quyết định đình công bằng văn bản và lập bản yêu cầu khi có ý kiến đồng ý của trên 50% tổng số người lao động đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới ba trăm người lao động hoặc trên 75% số người được lấy ý kiến đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ ba trăm người lao động trở lên.

4. Đình công phải do Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời tổ chức và lãnh đạo. Đối với doanh nghiệp chưa có Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì việc tổ chức và lãnh đạo đình công phải do đại diện được tập thể lao động cử và việc cử này đã được thông báo với công đoàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc tương đương.

5. Doanh nghiệp nơi người lao động đình công không thuộc danh mục doanh nghiệp không được đình công theo quy định của Chính phủ. Đối với những doanh nghiệp thuộc danh mục doanh nghiệp không được đình công cho dù là đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về đình công thì cuộc đình công đó vẫn được xác định là bất hợp pháp.

6. Cuộc đình công phải do người lao động trong cùng một doanh nghiệp hoặc cùng một bộ phận doanh nghiệp tiến hành. Trường hợp người lao động ở các doanh nghiệp khác nhau tổ chức đình công thì cuộc đình công này được xác định là bất hợp pháp.

7. Cuộc đình công đó không bị hoãn hoặc ngừng đình công theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Do vậy, người lao động trong các doanh nghiệp và các cơ quan chức năng, đặc biệt là công đoàn cơ sở cần có những hướng dẫn cụ thể tạo điều kiện cho người lao động nắm rõ quy định của pháp luật, để việc tổ chức các cuộc đình công tuân thủ đúng quy định, từ đó bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động; duy trì và làm hài hoà mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp; góp phần ổn định tình hình trật tự của địa phương nơi doanh nghiệp có trụ sở.

29/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Phát huy vị trí, vai trò của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp Bến Tre trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtPhát huy vị trí, vai trò của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp Bến Tre trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

 

 

Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành phải qua thẩm định của Sở Tư pháp. Xuất phát từ nhiệm vụ trên, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã giao cho Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Hiện tại, Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có 03 biên chế, gồm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và chuyên viên (01 thạc sĩ luật, 02 cử nhân luật - trong đó 01 đang học cao học luật). Từ khi được thành lập cho đến nay, Phòng đã thẩm định 755 văn bản quy phạm pháp luật và tham gia xây dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng khác của tỉnh. Hầu hết, các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được Phòng thẩm định đều đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và có tính khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với kết quả trên, vị trí và vai trò của Phòng trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã được khẳng định, nhiều năm liền được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen tập thể lao động xuất sắc, đặc biệt trong năm 2013 Phòng vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Có thể nói, để đạt được những thành tựu nêu trên là do sự nỗ lực, phấn đấu của tập thể Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Sở Tư pháp, đồng thời công tác thẩm định luôn được đặt ở vị trí ưu tiên trong quá trình hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và được các cấp, các ngành của tỉnh quan tâm thích đáng. Nhiều cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật không còn coi việc thẩm định văn bản quy phạm pháp luật chỉ là một thủ tục luật bắt phải làm, không còn thái độ kiểu đối phó khi gửi hồ sơ sang Sở Tư pháp để thẩm định.

Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, nhiệm vụ của Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng nhiều và nặng nề hơn, trong đó công tác xây dựng pháp luật luôn được xem là nhiệm vụ trọng yếu trong các thời kỳ. Ngành Tư pháp tỉnh, nhất là Phòng Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã có những thành tựu đáng ghi nhận trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, góp phần quan trọng vào sự phát triển của Ngành và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thăm chiến sĩ tình nguyện hè năm 2013Thăm chiến sĩ tình nguyện hè năm 2013
Sáng ngày 26 tháng 7 năm 2013, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, thành viên Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè tỉnh Bến Tre năm 2013, và các đoàn viên Chi đoàn Sở Tư pháp đã đến thăm, tặng quà cho các bạn sinh viên là Chiến sĩ tình nguyện hè của Trường Đại học Kinh tế - Luật Thành phố Hồ Chí Minh đóng quân trên địa bàn xã Hữu Định và các bạn học sinh trung học phổ thông...

Sáng ngày 26 tháng 7 năm 2013, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, thành viên Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè tỉnh Bến Tre năm 2013, và các đoàn viên Chi đoàn Sở Tư pháp đã đến thăm, tặng quà cho các bạn sinh viên là Chiến sĩ tình nguyện hè của Trường Đại học Kinh tế - Luật Thành phố Hồ Chí Minh đóng quân trên địa bàn xã Hữu Định và các bạn học sinh trung học phổ thông tham gia Đội hình “Niềm tin xanh” đóng quân trên địa bàn xã An Phước, huyện Châu Thành.


Tại buổi gặp mặt, ông Nguyễn Tấn Nhứt đã ân cần hỏi thăm sức khỏe, sinh hoạt và hoạt động của các Chiến sĩ tình nguyện trong thời gian qua; lắng nghe, chia sẽ những đóng góp của các các Chiến sĩ. Thay mặt Đoàn, đồng chí chúc sức khỏe và gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên, học sinh đã không ngại khó khăn về tham gia Chiến dịch tại Bến Tre, góp sức cùng tỉnh nhà xây dựng quê hương Đồng Khởi ngày một tươi đẹp hơn.

31/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Địa phương chưa thể in được mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôiĐịa phương chưa thể in được mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi
Ngày 27 tháng 6 năm 2011, Bộ Tư pháp ban hành Thông Tư số 12/2011/TT-BTP về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi. Thông Tư số 12/2011/TT-BTP quy định việc ban hành các loại biểu mẫu về nuôi con nuôi và Sổ đăng ký nuôi con nuôi; đối tượng sử dụng, thẩm quyền in, phát hành, cách ghi chép biểu mẫu về nuôi con nuôi và Sổ đăng ký nuôi con nuôi; cách thức khó...

Ngày 27 tháng 6 năm 2011, Bộ Tư pháp ban hành Thông Tư số 12/2011/TT-BTP về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi. Thông Tư số 12/2011/TT-BTP quy định việc ban hành các loại biểu mẫu về nuôi con nuôi và Sổ đăng ký nuôi con nuôi; đối tượng sử dụng, thẩm quyền in, phát hành, cách ghi chép biểu mẫu về nuôi con nuôi và Sổ đăng ký nuôi con nuôi; cách thức khóa Sổ và lưu trữ Sổ đăng ký nuôi con nuôi.
Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2011. Điều 3 Thông Tư số 12/2011/TT-BTP ban hành 26 loại biểu mẫu và 01 loại Sổ đăng ký nuôi con nuôi, theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 4 của Thông tư số 12/2011/TT-BTP, Sở Tư pháp in và phát hành một loại sổ là Sổ đăng ký nuôi con nuôi và một loại mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) tại số thứ tự 01 và số thứ tự 02 Mục I theo danh mục quy định tại Điều 3 của Thông tư số 12/2011/TT-BTP. Đồng thời tại Khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 12/2011/TT-BTP cũng có hướng dẫn mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) được in màu, có họa tiết hoa văn. Tuy nhiên, Thông tư số 12/2011/TT-BTP không có hướng dẫn mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) được in màu gì, có họa tiết hoa văn như thế nào. Như vậy, do không có quy định cụ thể về màu sắc và họa tiết hoa văn của mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) sẽ dẫn đến tình trạng sau khi Thông tư số 12/2011/TT-BTP có hiệu lực, mỗi tỉnh sẽ tổ chức in mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) có màu sắc và họa tiết hoa văn khác nhau, tạo ra sự không thống nhất trong biểu mẫu. Từ việc không thống nhất trong màu sắc, họa tiết hoa văn mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã) sẽ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân khi sử dụng Giấy chứng nhận nuôi con nuôi đã được cấp, vì cơ quan tiếp nhận Giấy chứng nhận nuôi con nuôi khó khăn trong xác định được mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi nào là chính thức và hợp lệ.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương sớm tổ chức in mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã), kịp thời đăng ký các trường hợp nuôi con nuôi phát sinh tại địa phương sau khi Thông tư số 12/2011/TT-BTP có hiệu lực thi hành vào ngày 15 tháng 8 năm 2011 và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi sử dụng mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, thiết nghĩ Bộ Tư pháp nên sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể màu sắc, họa tiết hoa văn mẫu Giấy chứng nhận nuôi con nuôi (bản chính - mẫu sử dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã).

 

19/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre học tập kinh nghiệm tỉnh Cà Mau và Bạc LiêuHội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre học tập kinh nghiệm tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu
Từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 21 tháng 7 năm 2012, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý (TGPL) trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre tổ chức giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm tại hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; do ông Huỳnh Quang Triệu, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch Hội đồng làm Trưởng đoàn.

Từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 21 tháng 7 năm 2012, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý (TGPL) trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre tổ chức giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm tại hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; do ông Huỳnh Quang Triệu, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch Hội đồng làm Trưởng đoàn.

Tại hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre được nghe Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu báo cáo về kiện toàn tổ chức của Hội đồng phối hợp liên ngành. Để nâng cao chất lượng hoạt động, Hội đồng phối hợp tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu đã 3 lần kiện toàn tổ chức với cơ cấu thành phần theo đúng quy định.


Về xây dựng quy chế, chương trình và kế hoạch hoạt động, cũng giống như Hội đồng phối hợp tỉnh Bến Tre, ngay từ khi thành lập, Hội đồng phối hợp hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu đã ban hành quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ từng thành viên của Hội đồng; quy định chế độ làm việc, mối quan hệ phối hợp, công tác kiểm tra, giám sát và chế độ thông tin, báo cáo; trong quá trình phối hợp nếu ngành nào có vướng mắc về TGPL trong hoạt động tố tụng thì cơ quan thường trực Hội đồng sẽ tổng hợp và gửi thành viên của ngành đó để chỉ đạo thực hiện thống nhất. Hiện nay, Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng  tỉnh Cà Mau đang dự thảo nội dung sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động của Hội đồng nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan thành viên Hội đồng.

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau đã xây dựng quy chế hoạt động của trợ giúp viên pháp lý, Luật sư công tác viên, quy định hàng tháng trợ giúp viên, luật sư cộng tác viên phải báo cáo kết quả hoạt động TGPL với Giám đốc Trung tâm.

Về kinh phí của Hội đồng phối hợp: Đối với tỉnh Cà Mau được dự toán chung với kinh phí hoạt động của Trung tâm ngay từ đầu năm (năm 2012 khoảng 800.000.000 triệu đồng). Kinh phí xây dựng và duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý do Trung tâm TGPL dự toán theo Thông tư liên tịch số 81/2008/TTLT-BTC-BTP và được Ủy ban nhân dân tỉnh cấp 500.000 đồng/câu lạc bộ/tháng.

Đối với tỉnh Bạc Liêu: Kinh phí hoạt động của Hội đồng phối hợp do Tổ giúp việc của Hội đồng dự trù kinh phí và lập dự toán riêng với kinh phí hoạt động của Trung tâm (năm 2012 được cấp là 50.000.000 đồng). Kinh phí xây dựng và duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý, Trung tâm TGPL có dự toán nhưng chưa được cấp.


Tại buổi làm việc với hai tỉnh, ông Huỳnh Quang Triệu thay mặt Đoàn Bến Tre chia sẻ một số thông tin về tình hình hoạt động của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre như: Công tác kiện toàn tổ chức; ban hành Quy chế làm việc, chương trình, kế hoạch hoạt động; công tác phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, việc cung cấp Bảng thông tin, Hộp tin về TGPL, mẫu đơn đề nghị, tờ gấp và các tài liệu pháp luật có liên quan cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, trại tạm giam, nhà tạm giữ; thông báo danh sách và số điện thoại của trợ giúp viên, luật sư là cộng tác viên của trung tâm, chi nhánh cho cơ quan tiến hành tố tụng và đặt tại hộp tin TGPL để thuận tiện trong việc liên hệ.

Ông Huỳnh Quang Triệu cám ơn Hội đồng phối hợp liên ngành hai tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu đã tạo điều kiên thuận lợi để Bến Tre được nghiên cứu, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm; qua đó, giúp Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre có thêm kinh nghiệm, sẽ vận dụng vào điều kiện thực tế của địa phương để góp phần đưa công tác của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre ngày càng nề nếp và đạt chất lượng tốt hơn./.

10/08/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tội phạm chưa thành niên – vấn đề báo độngTội phạm chưa thành niên – vấn đề báo động
 Thời gian gần đây, tình hình phạm tội của những người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Bến Tre có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Hành vi phạm tội của các đối tượng ngày một tinh vi, chuyên nghiệp và có tính tổ chức. Các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội không đơn giản do sự bồng bột hay thiếu suy nghĩ mà có sự tính toán, c...

Thời gian gần đây, tình hình phạm tội của những người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Bến Tre có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Hành vi phạm tội của các đối tượng ngày một tinh vi, chuyên nghiệp và có tính tổ chức. Các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội không đơn giản do sự bồng bột hay thiếu suy nghĩ mà có sự tính toán, chuẩn bị kỉ càng; nhiều trường hợp, đối tượng tổ chức cả băng nhóm để thực hiện hành vi phạm tội như trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản......nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người bị hại, điển hình là vụ án Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995 cùng đồng bọn thực hiện hành vi "Trộm cắp tài sản" là một ví dụ.

Xuất phát từ mục đích tư lợi bất chính và để có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 28/10/2012 lợi dụng lúc chủ vắng nhà Nguyễn Th H , Nguyễn Th L, Lê Văn Ng (là người làm công) đã có hành vi cấu kết với nhau đột nhập vào nhà, xưởng của cơ sở thạch dừa P lấy đi nhiều tài sản gồm vàng, tiền mặt, máy móc, thiết bị... Tổng giá tài sản chiếm đoạt hàng chục triệu đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Với tội danh trên, Tòa án nhân thành phố Bến Tre tuyên các bị cáo Nguyễn Th H, Nguyễn Th L, Lê Văn Ng về tội "Trộm cắp tài sản", theo khoản 1, Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp mức hình phạt cho các bị cáo là 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Trường hợp của Nguyễn V. K, sinh năm 1996, cũng xuất phát từ mục đích tư lợi bất chính và có tiền để nuôi sống bản thân, thiếu sự quản lý của gia đình nên Nguyễn V. K đã rủ rê Trương V.P sinh năm 1997 dùng xe môtô cùng thực hiện nhiều vụ "cướp giật tài sản" trên địa bàn huyện Mỏ Cày Nam…

Từ thực trạng trên cho thấy, tình hình phạm tội của những người chưa thành niên hiện nay còn rất nhiều tiềm ẩn. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn; cha, mẹ lo làm ăn xa không quan tâm chăm sóc đến trẻ; gia đình thường phát sinh mâu thuẫn hay cha, mẹ ly hôn. Từ đó dẫn đến tình trạng tâm lý của trẻ chán nản, bỏ học, học theo thối xấu của bạn bè. Bên cạnh đó cùng với sự bùng nổ của internet, phim ảnh, các văn hóa phẩm độc hại nhưng chưa được quản lý chặt chẽ đã có sức thu hút và gây tác động nghiêm trọng đến giới trẻ. Hiện nay cũng có một số bậc cha, mẹ do thiếu hiểu biết về tâm lý lứa tuổi của trẻ nên áp dụng các biện pháp giáo dục quá hà khắc, thậm chí đánh đập, hành hạ con cái, không quan tâm chăm sóc, giáo dục con cái mà ỷ lại nhà trường; thậm chí nhiều trường hợp cha, mẹ vì thương con mà bao che cả hành vi vi phạm pháp luật của con cái. Từ đó tạo cho trẻ có thói quen ỷ lại dẫn đến tình trạng ngày càng lún sâu vào con đường phạm pháp. Do đó đối với các bậc cha, mẹ cần phải quan tâm chăm sóc, giáo dục con cái, tạo điều kiện cho trẻ có cuộc sống lành mạnh. Bên cạnh đó gia đình cần phải lựa chọn phương pháp giáo dục con cái một cách đúng đắng, đồng thời kiểm tra các hoạt động hằng ngày của trẻ để kịp thời uốn nắn, sửa chữa các lệch lạc trong suy nghĩ, hành động không để cho bọn xấu lợi dụng, lôi kéo dẫn đến hành vi phạm tội. Đối với xã hội cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến từng người dân, đặc biệt là giới trẻ, để người dân có ý thức tôn trọng pháp luật, đồng thời nâng cáo ý thức phòng ngừa tội phạm.

27/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tạm trú 2 năm mới được đăng ký thường trúTạm trú 2 năm mới được đăng ký thường trú
  Ngày 20 tháng 06 năm 2013, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú, số 36/2013/QH13, trong đó đáng chú ý là quy định về đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương.

Ngày 20 tháng 06 năm 2013, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú, số 36/2013/QH13, trong đó đáng chú ý là quy định về đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương.

Nếu như trước đây, Luật Cư trú năm 2008 quy định một trong những trường hợp được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương là công dân có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm trở lên; thì Luật sửa đổi, bổ sung này đã điều chỉnh như sau: Công dân có chỗ ở hợp pháp, nếu đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ 01 năm trở lên; nếu đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố từ 02 năm trở lên.

Bên cạnh đó, trong trường hợp công dân đăng ký thường trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ nhà của cá nhân, tổ chức, ngoài việc đáp ứng điều kiện được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản, thì còn phải đảm bảo diện tích bình quân của chỗ ở đó theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố và có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về điều kiện diện tích bình quân.

Một điều chỉnh đáng chú ý khác của Luật này là quy định đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở khác khi có người đến lưu trú phải có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn (thay vì quy định người đến cư trú từ đủ 14 tuổi trở lên thì đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ mới cần thông báo). Đồng thời, Luật này cũng bổ sung thêm quy định về trường hợp chủ gia đình, nhà ở tập thể không đăng ký thường trú tại địa bàn xã, phường, thị trấn đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm đến thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn.

Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

 

17/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nhọc nhằn yêu cầu thi hành án cấp dưỡngNhọc nhằn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng
Một mái ấm gia đình thật sự sẽ không thể thiếu tiếng nói cười của trẻ thơ, bất cứ đôi vợ chồng nào đến với nhau, đều mong muốn có những đứa con và con trẻ sẽ là sợi dây thắt chặt hơn nữa tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, khi đời sống hôn nhân gặp mâu thuẩn và những đứa con không đủ sức mạnh để níu kéo tinh cảm vợ chồng thì con lại là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mặt vật chất lẫn tinh thần. Tro...

Một mái ấm gia đình thật sự sẽ không thể thiếu tiếng nói cười của trẻ thơ, bất cứ đôi vợ chồng nào đến với nhau, đều mong muốn có những đứa con và con trẻ sẽ là sợi dây thắt chặt hơn nữa tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, khi đời sống hôn nhân gặp mâu thuẩn và những đứa con không đủ sức mạnh để níu kéo tinh cảm vợ chồng thì con lại là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mặt vật chất lẫn tinh thần. Trong một số trường hợp, con trẻ còn là gánh nặng, là rào cản cho những cuộc ly hôn của cha mẹ chúng.

Nếu hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện thì khi đời sống vợ chồng không còn được hạnh phúc thì vợ, chồng có quyền thỏa thuận ly hôn hoặc một trong các bên vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu ly hôn. Trong quá trình chung sống nếu có con chung thì khi ly hôn, pháp luật về hôn nhân và gia đình có quy định "Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình và người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con".

Tuy nhiên, trên thực tế việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện còn nhiều khó khăn, một số trường hợp khi có bản án của Tòa án, người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, thực hiện việc cấp dưỡng trong một khoảng thời gian ngắn thì không tiếp tục thực hiện, nguyên nhân do người có nghĩa vụ cấp dưỡng không có điều kiện cấp dưỡng hoặc cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ này mà phần lớn các vụ án liên quan đến việc cấp dưỡng là do người có nghĩa vụ không tự nguyện hoặc cố tình không thực hiện.

Theo quy định của pháp luật về thi hành án thì "Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án" và " Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án". Trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.

Vấn đề đặt ra là khi người trực tiếp nuôi con yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành theo bản án, buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng thực hiện việc cấp dưỡng nhưng khi cơ quan thi hành án tiến hành thi hành án thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng cố tình né tránh bằng cách không có hoặc không đủ điều kiện để thi hành, cũng như không có hoặc không còn tài sản để cưỡng chế việc thi hành án. Trong những trường hợp đó, người trực tiếp nuôi con phải chủ động tìm cơ sở chứng minh người có nghĩa vụ cấp dưỡng có đủ điều kiện mà không tự nguyện thi hành, để tiếp tục yêu cầu thi hành án.

Vì thế việc thi hành án về cấp dưỡng chủ yếu dựa vào sự tự nguyện thi hành của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu họ cố tình né tránh trong khi việc cấp dưỡng nuôi con lại kéo dài từ lúc đứa trẻ còn nhỏ cho đến lúc trưởng thành thì việc thực hiện theo đúng bản án đã tuyên về thực tế là rất khó đảm bảo.

Thiết nghĩ khi quan hệ vợ chồng chấm dứt, trách nhiệm nuôi con cũng phải là trách nhiệm chung của cha và mẹ, một trong các bên không có lý do gì để né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm cho bên còn lại mà phần lớn sự né tránh hoặc không tự nguyện đó là của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Pháp luật bảo vệ quyền con người đặc biệt là đối với trẻ em, các bậc làm cha, làm mẹ cũng vì tương lai của các em mà cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định tương lai cho cuộc hôn nhân của mình và điều đặt biệt hơn hết là khi đã ly hôn, cũng nên đặt quyền lợi của các em lên trên để cùng nhau nuôi dạy các em, để các em không phải chịu quá nhiều thiệt thòi về vật chất lẫn tinh thần.

04/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước; khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp ảnhKhu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước; khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp ảnh
Ngày 22/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 627/QĐ-UBND Về việc xác định khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 626 /QĐ-UBND ban hành quy định về khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp hình trên địa bàn tỉnh Bến Tre; theo đó:

Ngày 22/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 627/QĐ-UBND Về việc xác định khu vực cấm, địa điểm cấm thuộc phạm vi bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 626 /QĐ-UBND ban hành quy định về khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp hình trên địa bàn tỉnh Bến Tre; theo đó:

Khu vực cấm, bao gồm: Trụ sở Tỉnh ủy và các cơ quan khối đảng; Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Đài Phát thanh –Truyền hình; Công an tỉnh, Trại tạm giam, Kho vũ khí thuộc Công an tỉnh, Doanh trại các lực lượng Cảnh sát cơ động, Cảnh sát bảo vệ, Trại giam Châu Bình –Bộ Công an; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tại Bến Tre; Kho bạc Nhà nước tỉnh; Trạm biến áp 110Kv thuộc Chi nhánh điện cao thế Bến Tre và trạm biến áp 220Kv Bến Tre thuộc Công ty Truyền tải điện 4 (ấp 1, Sơn Đông, thành phố Bến Tre); Kho xăng dầu Hội Yên (thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam); Nhà máy nước Bến Tre (gồm 2 cơ sở xã Hữu Định và xã Sơn Đông).


Địa điểm cấm, bao gồm: Trung tâm lưu trữ của Văn phòng Tỉnh ủy; Phòng Lưu trữ  hồ sơ của Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; Chi cục Văn thư lưu trữ thuộc Sở Nội vụ; Phòng lưu trữ hồ sơ của Ban Tổ chức Tỉnh ủy; Phòng lưu trữ hồ sơ thuộc Phòng Hồ sơ Công an tỉnh; Phòng Cơ yếu thuộc Văn phòng Công an tỉnh.

Khu vực cấm do cấp huyện quản lý, bao gồm: Trụ sở Huyện ủy, Thành ủy; Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; Trụ sở cơ quan, nhà tạm giam, kho vũ khí Công an các huyện, thành phố.


Địa điểm cấm do cấp huyện quản lý, bao gồm: Phòng lưu trữ hồ sơ cuea Văn phòng các Huyện ủy, Thành ủy; Phòng lưu trữ hồ sơ của Ban Tổ chức Huyện ủy, Thành ủy; Phòng lưu trữ  hồ sơ của Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; nơi lưu trữ hồ sơ, tàng thư hộ khẩu, bộ phận cơ yếu của Công an các huyện, thành phố.

Riêng các khu vực quân sự, biên phòng thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người, cấm ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, bao gồm: Khu vực lòng đường, vỉa hè trước trụ sở các cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lực lượng vũ trang và các tổ chức chính trị -xã hội khác đóng trên địa bàn tỉnh, gồm: Khu vực  Trụ sở Tỉnh ủy và các cơ quan khối đảng; Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Trụ sở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Trại giam Châu Bình –Bộ Công an; khu vực trụ sở làm việc của các sở, ban, ngành tỉnh; khu vực trụ sở Huyện ủy, Thành ủy; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; khu vực trụ sở Công an, Ban Chỉ huy Quân sự các huyện, thành phố; các Đồn biên phòng Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên; khu vực hội họp, hội nghị, hội thảo hoặc các sự kiện chính trị quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức quốc tế diễn ra trên địa bàn tỉnh nằm ngoài khu vực đã được quy định cấm.


Khi có các tình huống đe dọa nghiêm trọng đến trật tự công cộng ở những nơi công cộng khác như vỉa hè, lòng đường, quảng trường, cơ sở kinh tế, văn hóa, bến xe, bến phà, nơi sinh hoạt cộng đồng …thì Trưởng Công an huyện, thành phố nơi có sự việc xảy ra báo cáo Giám đốc Công an tỉnh thiết lập khu vực bảo vệ, khu vực cấm tập trung đông người; cấn ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; tạm thời cấm hoặc hạn chế người và phương tiện giao thông trên một số tuyến đường hoặc ra vào khu vực nhất định.

Các khu vực bảo vệ, khu vực cấm phải đặt biển cấm theo mẫu thống nhất do Bộ Công an quy định.

27/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thạnh Phú tổng kết công tác tư pháp năm 2012Thạnh Phú tổng kết công tác tư pháp năm 2012
Ngày 21 tháng 12 năm 2012, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Tư pháp năm 2012. Ông Nguyễn Minh Cảnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện chủ trì hội nghị; Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

Ngày 21 tháng 12 năm 2012, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Tư pháp năm 2012. Ông Nguyễn Minh Cảnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện chủ trì hội nghị; Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

Năm 2012, công tác Tư pháp huyện Thạnh Phú đã đạt được nhiều kết quả khá tốt. Trong đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) được quan tâm phối hợp thực hiện thường xuyên; tỷ lệ hòa giải thành đạt 87.35%, vượt chỉ tiêu so với Bộ Tư pháp đề ra; đã phối hợp thành lập được 03/13 Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý (TGPL) đi vào hoạt động ổn định; phối hợp TGPL lưu động 05 cuộc; tổ chức 2 lớp tập huấn nghiệp vụ công tác hòa giải cơ sở có gần 360 đại biểu dự.

Tuy nhiên, công tác PBGDPL cũng còn nhiều hạn chế, chậm đổi mới, chưa đi vào chiều sâu, chưa sát đối tượng, hình thức, nội dung chưa thiết thực; việc góp ý, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật chưa được chú trọng.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp lưu ý thời gian tới, Phòng Tư pháp cần quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp trong sạch, vững mạnh, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Không ngừng tu dưỡng, rèn luyện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp.

 

Phát huy vai trò Thường trực Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL. Chủ động phối hợp các ngành có liên quan trong việc thực hiện các Chương trình, Đề án trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016. Nhằm hoàn thành mục tiêu mà Kế hoạch thực hiện các Đề án đã đề ra.

Phó Giám đốc Sở Tư pháp Nguyễn Tấn Nhứt yêu cầu Phòng Tư pháp cần nghiên cứu đổi mới công tác PBGDPL đi vào chiều sâu, sát đối tượng, đổi mới hình thức, nội dung, loại hình, mô hình, tập trung hướng về cơ sở; quan tâm bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho lực lượng làm công tác PBGDPL. Trong đó, đặc biệt tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại các xã biển, xã xây dựng nông thôn mới, những địa bàn thường xảy ra vụ việc vi phạm pháp luật về hụi và vay tín dụng đen. Chú trọng triển khai Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đến ngành, đối tượng có liên quan vào quí I năm 2013.

 

Ngoài ra, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú cần quan tâm, đẩy mạnh công tác theo dõi thi hành pháp luật, công tác bồi thường nhà nuớc. Vì đây là hai nhiệm vụ mới của ngành Tư pháp, đòi hỏi dành nhiều thời gian và công sức để thực hiện.

 

25/12/2012 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sốngQuy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sống


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Sản xuất các chương trình Truyền hình
Pháp luật và Đời sống
(Ban hành ngày 10/12/2007)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Trịnh Thị Thanh Bình
Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua kênh truyền hình tỉnh,  từng bước nâng cao chất lượng phục vụ của Chương trình này.

II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.

III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, Ban Lãnh đạo Sở;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp và Đài Phát thanh, truyền hình tỉnh Bến Tre.

IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước
Nội dung
Trách nhiệm
Thời gian
Ghi chú
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
1
Lập kế hoạch thực hiện trong tháng. - Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.

Đầu mỗi tháng.

Nội dung sẽ phát trong tháng; Phân công chuyên viên tham gia thực hiện.
2
Chuẩn bị kịch bản - Chuyên viên;
- Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.
Trước ngày phát sóng: 6 ngày Chuẩn bị kịch bản theo nội dung đã dự kiến trong Kế hoạch.
3
Lãnh đạo phê duyệt kịch bản
Lãnh đạo 1 ngày
4
Quay và dàn dựng chương trình Chuyên viên 2 ngày
5
Lãnh đạo duyệt chương trình Lãnh đạo Trước khi phát sóng
6
Theo dõi phát Chương trình - Trưởng phòng,
- Chuyên viên,
- Lãnh đạo.viên.
Thường xuyên - Nhận xét, đánh giá (nếu có).
- Trả lời bạn xem đài (nếu có).
7
Lưu hồ sơ Chuyên viên Sở,
Trưởng phòng,
Chuyên viên.
Ngay sau phát sóng Hồ sơ lưu: kế hoạch, kịch bản.
Băng phát lưu tại Đài PT-TH

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Tạm giữ xe ô tô và giấy tờ có liên quanTạm giữ xe ô tô và giấy tờ có liên quan
 Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính; tránh, hạn chế tối đa những hậu quả do người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô gây ra, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 10 ngày trước khi ra quyết định xử phạt. Những hành vi bị tạm giữ phương tiện và giấy tờ liên quan đối với xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô, đó là:

Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính; tránh, hạn chế tối đa những hậu quả do người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô gây ra, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 10 ngày trước khi ra quyết định xử phạt. Những hành vi bị tạm giữ phương tiện và giấy tờ liên quan đối với xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô, đó là:

* Vi phạm điểm b khoản 5, điểm b, điểm c khoản 6 Điều 8 Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (Nghị định 34/2010/NĐ-CP)

- Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; và trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

- Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy.

* Vi phạm khoản 4, điểm d, điểm đ khoản 5 Điều 19 Nghị định 34/2010/NĐ-CP

- Không có Giấy đăng ký xe, đăng ký rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc theo quy định;

- Không gắn biển số (nếu có quy định phải gắn biển số);

- Không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

- Điều khiển xe lắp đặt, sử dụng còi vượt quá âm lượng theo quy định;

- Điều khiển xe gắn biển số không đúng với giấy đăng ký xe hoặc biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp;

- Sử dụng sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).

* Vi phạm khoản 5, khoản 7, khoản 8 Điều 24 Nghị định 34/2010/NĐ-CP

- Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng dưới 6 (sáu) tháng.

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô.

- Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

+ Có Giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển hoặc đã hết hạn sử dụng từ 6 (sáu) tháng trở lên;

+ Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.

* Vi phạm điểm c khoản 2 Điều 38 Nghị định 34/2010/NĐ-CP

Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

Người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô không chỉ bị tạm giữ phương tiện, giấy tờ mà còn bị phạt tiền theo đúng quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm hành chính về an toàn giao thông đường bộ.

 

 

03/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Đại hội nhiệm kỳ VIIIĐoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Đại hội nhiệm kỳ VIII
Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉ...

Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy; ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, cùng các đại biểu Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Hội Luật gia tỉnh và đông đủ các luật sư thành viên Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre.

Nhiệm kỳ VII (2008 - 2013), về tổ chức và hoạt động của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre còn nhiều khó khăn, nhất là về cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động. Nhưng với tinh thần quyết tâm cao, Ban Chủ nhiệm cùng các thành viên Đoàn Luật sư đã xác định đúng vị trí, chức năng của Đoàn Luật sư nói riêng và sự phát triển nghề luật sư tỉnh nhà nói chung nên đã tiếp tục phát huy những thành tích, những mặt tiến bộ của các nhiệm kỳ qua, rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế khuyết điểm; tích cực, chủ động bám sát các kế hoạch Chiến lược của Đoàn luật sư Việt Nam, các chủ trương, Nghị quyết của Tỉnh ủy, kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh và các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Luật sư nhiệm kỳ VII, tổ chức triển khai thực hiện đạt kết quả trên các lĩnh vực công tác. Bến Tre hiện có 24 tổ chức hành nghề luật sư; trong đó có 01 Công ty luật hợp danh, 23 Văn phòng Luật sư.


Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Đại hội, ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam ghi nhận những kết quả đạt được của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre trong nhiệm kỳ qua, nhất là việc phát triển đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật miễn phí, hoạt động trợ giúp pháp lý, … Bên cạnh thành tích, vẫn còn một số vấn đề tồn tại như chưa phát triển mạnh đội ngũ luật sư trẻ, giỏi kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Ông Lê Thúc Anh cũng đề nghị trong nhiệm kỳ VIII, Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre cần nỗ lực nhiều hơn, phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại, tiếp tục xây dựng Đoàn Luật sư đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và nâng cao năng lực tranh tụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, Đoàn Luật sư cũng cần  tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích của luật sư thành viên, đặc biệt là quyền hành nghề.

Thay mặt Tỉnh ủy, ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy biểu dương sự cố gắng phấn đấu của Đoàn Luật sư tỉnh, đã vượt qua khó khăn để đạt được những thành tích đáng kể trong nhiệm kỳ vừa qua. Tuy nhiên, tỷ lệ luật sư của tỉnh hiện nay còn rất thấp (37/1,3 triệu dân), chất lượng hành nghề luật sư chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và yêu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng cao của công dân. Do vậy, nhiệm kỳ tới, các luật sư cần nghiên cứu, học tập nhiều hơn để tự khẳng định mình, bồi dưỡng thường xuyên về lý luận chính trị cũng như kiến thức, kỹ năng hành nghề luật sư và đạo đức nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Phấn đấu thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu đề ra trong Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020.


Đại hội đã bầu Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh nhiệm kỳ VIII với 03 thành viên là Luật sư Võ Tấn Thành, Luật sư Lê Chiến Ly và Luật sư Nguyễn Thị Kim Hạnh. Luật sư Võ Tấn Thành được bầu làm Chủ nhiệm Đoàn Luật sư; đồng thời tại Đại hội cũng đã bầu Hội đồng khen thưởng – kỷ luật gồm 03 Luật sư và Đại biểu tham dự Đại hội cấp trên.

08/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
GIỚI THIỆU MÔ HÌNH DÂN VẬN KHÉO VỀ AN NINH TRÂT TỰ - Mô hình “Chiếc gậy an ninh” ấp Long Hoà II xã Long Định, huyện Bình ĐạiGIỚI THIỆU MÔ HÌNH DÂN VẬN KHÉO VỀ AN NINH TRÂT TỰ - Mô hình “Chiếc gậy an ninh” ấp Long Hoà II xã Long Định, huyện Bình Đại
 Nhằm phát huy hiệu quả hoạt động các mô hình dân vận khéo trên địa bàn toàn tỉnh; thông tin đến các cấp chính quyền và quần chúng nhân dân được biết để nghiên cứu, học tập, vận dụng vào thực tiển công tác vận động quần chúng ở địa phương, đơn vị mình, đồng thời góp ý rút kinh nghiệm cùng xây dựng mô hình dân vận khéo được tốt hơn trong thời gian tới.

 

 

Nhằm phát huy hiệu quả hoạt động các mô hình dân vận khéo trên địa bàn toàn tỉnh; thông tin đến các cấp chính quyền và quần chúng nhân dân được biết để nghiên cứu, học tập, vận dụng vào thực tiển công tác vận động quần chúng ở địa phương, đơn vị mình, đồng thời góp ý rút kinh nghiệm cùng xây dựng mô hình dân vận khéo được tốt hơn trong thời gian tới.

Với thực trạng của ấp Long Hoà II, xã Long Định cặp hai bên tuyến lô thuộc Tổ NDTQ số 01, 02 các hộ dân thường hay bị mất trộm chó, gà, vịt và trộm vặt, ý thức cảnh giác và sự phối hợp cùng nhau phòng chống tội phạm của người dân chưa cao, nên khi xảy ra sự việc đối tượng dễ dàng trốn thoát và an ninh trật tự nơi đây luôn không được ổn định.

Trên cơ sở đó ấp Long Hoà được huyện chọn thực hiện mô hình “Chiếc gậy an ninh”, bước đầu Ban vận động ấp phối hợp cùng Công an xã tổ chức mời các hộ dân cặp hai bên tuyến lộ để họp bàn về chủ trương và cách thức thực hiện mô hình, ngay lập tức chủ trương trên được nhân dân đồng tình và hưởng ứng rất cao; tiếp sau đó mỗi hộ dân đã cùng làm 25 chiếc gậy chiều dài 2m sơn màu trắng, đỏ (mỗi nhà một chiếc gậy) cùng 50m dây dù và 8 mõ tre (cứ 5 nhà sẽ có một mõ tre).

Mô hình được Công an huyện và chính quyền địa phương chủ trì diễn tập với tình huống đặt ra là “khi đối tượng trộm cắp thực hiện hành vi trên địa bàn tổ và bị phát hiện thì những tiếng mõ tre được đánh lên trong toàn tổ, các gia đình với gậy an ninh và dây dù cùng nhau truy bắt đối tượng giao nộp cho chính quyền địa phương, ngoài ra người dân trong tổ còn phân công nhau thay phiên tuần tra với gậy an ninh trên toàn địa bàn nhằm góp phần đảm bảo an ninh trật tự cho nhân dân trong xóm, ấp”.

Từ khi triển khai và áp dụng mô hình này trên địa bàn ấp, ý thức tự giác phòng chống tội phạm của người dân trong khu vực được nâng lên, nhân dân đoàn kết một lòng cùng nhau phòng chống tôi phạm, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn giảm hẳn, trộm cắp và ăn cắp vặt trên địa bàn không còn xãy ra, đời sống bà con nhân dân trong khu vực ổn định, người dân an tâm làm ăn phát triển sản xuất và tăng thu nhập.

 

08/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả công tác thi hành án dân sự từ năm 1993 đến nayKết quả công tác thi hành án dân sự từ năm 1993 đến nay
Qua 20 năm thực hiện công tác thi hành án dân sự và quản lý công tác thi hành án dân sự; với chủ trương không ngừng tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự; các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên; đã ban hành nhiều văn bản của cấp ủy, chính quyền; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể địa phương để phối hợp, hỗ trợ cơ quan thi hành án dân sự đ...

Qua 20 năm thực hiện công tác thi hành án dân sự và quản lý công tác thi hành án dân sự; với chủ trương không ngừng tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự; các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên; đã ban hành nhiều văn bản của cấp ủy, chính quyền; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể địa phương để phối hợp, hỗ trợ cơ quan thi hành án dân sự địa phương thực hiện công tác thi hành án dân sự đạt nhiều kết quả khá tốt.

Ngày 21/4/1993, Ủy ban Thường vu Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự, theo đó, công tác thi hành án dân sự tách ra khỏi hệ thống cơ quan Tòa án nhân dân; ngày 08/6/1993, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 52 về thành lập Phòng Thi hành án dân sự thuộc Sở Tư pháp  và 08 Đội Thi hành án dân sự cấp huyện, lúc này chỉ có 19 cán bộ.

Đến ngày 14/01/2004, Pháp lệnh Thi hành án dân sự quy định tên gọi từ Phòng Thi hành án dân sự cấp tỉnh thành Cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Đội Thi hành án dân sự cấp huyện thành Cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện thuộc Bộ Tư pháp.

Đến ngày 14/11/2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực từ 01/7/2009, trên cớ sở đó, ngày 13/7/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 58 quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án dân sự, và ngày 09/9/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 74 quy định tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Thi hành án dân sự; theo đó Cục Luật Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Chi Cục Luật Thi hành án dân sự cấp huyện được thành lập, đến nay biên chế có 127/131; trong đó có 40 Cấp hành viên, 12 thẩm tra viên, 50 cán bộ khác.


Về Kết quả thi hành án dân sự: Giai đoạn 1993 – 2003, khi mới bàn giao có 1.600 hồ sơ, 40.187.830 đồng, từ 1993 – 2003 đã thụ lý 19.853 việc án, hơn 228, 373 tỷ đồng, thi hành xong 16.124 việc, với số tiền 150,343 tỷ đồng; giai đoạn 2004-2008:Thụ lý 31.218 việc, 331,137 tỷ đồng; thi hành xong 28.669 việc, với 268,132 tỷ đồng; Giai đoạn 2009- đến nay: Thụ lý 43.975 việc, 798,392 tỷ đồng; thi hành xong 38.532 việc, 451, 645 tỷ đồng.

Tuy nhiên, qua 20 năm thực hiện công tác thi hành án dân sự cũng còn nhiều khó khăn vướng mắc; nhất là về cơ chế pháp lý, mặc dù Luật thi hành án dân sự đã được triển khai thực hiện sau gần 05 năm, nhưng đã bộc lộ, phát sinh nhiều bất cập; nhiều quy định chưa rõ ràng, cụ thể, chồng chéo giữa các ngành luật; làm cản trở trong hoạt động tác nghiệp, chậm tiến độ, người phải thi hành án lợi dụng kẻ hở của pháp luật để tẩu tán tài sản, khiếu nại để kéo dài thời gian thi hành án; số vụ việc thi hành án ngày càng tăng, tính chất phức tạp, giá trị lớn nhưng không có tài sản đảm bảo thi hành; biên chế ít so với ngành Tòa án, Viện kiểm sát (Biên chế thi hành án hiện nay là 131 người, trong khi ngành Tòa án 219 người, Viện Kiểm sát 198 người) trong khi hiện nay đang thụ lý là 13.218 vụ việc, với số tiền trên 433,07 tỷ đồng.

02/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòngTổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng
Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo: Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân 3 huyện Biên biển (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú), thành phố Bến Tre; lãnh đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Đồn Biên phòng Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên; các phòng, đơn vị trực thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.

Đại tá Nguyễn Thành Trí, Phó Chỉ huy trưởng – Tham mưu trưởng, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh nêu rõ: Qua 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống tổ chức bộ máy Bộ đội Biên phòng được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả; đã chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức triển khai, quán triệt Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng và các văn bản của Đảng, Nhà nước có liên quan đến công tác biên phòng; đến quốc phòng, an ninh; phòng, chống tội phạm, ma túy, buôn bán người…; gắn với phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới biển. Đặc biệt, đã phối hợp với Sở Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức học tập trên 3.000 buổi, có gần 160 nghìn lượt người tham dự. Qua tuyên truyền, học tập, nhận thức về bảo vệ an ninh quốc gia, phòng, chống tội phạm của đa số cán bộ và nhân dân được nâng lên, đã cung cấp cho Bộ đội Biên phòng trên 2.300 tin, trong đó có gần 1.000 tin có giá trị. Ngoài ra, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Tư lệnh vùng 2 Hải quân, Cảnh sát biển vùng 3 thực hiện tốt Quy chế phối hợp, nắm chắc diễn biến tình hình, quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng, chủ động ngăn chặn, xử lý có hiệu quả mọi hoạt động của các đối tượng. Kết quả, đã phát hiện và xử lý trên 1.000 trường hợp không khai báo tạm trú, gần 300 nhóm thanh niên gây mất trật tự; trên 1.200 tụ điểm đá gà ăn thu bằng tiền; lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 130 đối tượng; ra quyết định xử phạt hành chính trên 840 trường hợp, số tiền trên 560 triệu đồng; đề xuất địa phương xử lý gần 1.400 trường hợp, số tiền trên 1 tỷ đồng; lập hồ sơ ban đầu điều tra, xác minh làm rõ và giao Công an khởi tố 297 vụ phạm pháp hình sự; phối hợp bắt 27 đối tượng có lệnh truy nã…; góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới biển, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Hiếu đánh giá cao kết quả triển khai thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trong 15 năm qua trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đồng thời lưu ý trong thời gian tới, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các ngành, các cấp có liên quan triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, các văn bản có liên quan đến an ninh quốc gia, bảo vệ biên giới biển, phòng chống tội phạm, ma túy, trật tự xã hội…Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác biên phòng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, tập trung xây dựng các xã nông thôn mới theo kế hoạch, giải quyết các vụ việc khiếu kiện có liên quan đến đất đai, tập đoàn sản xuất, nghêu…nhằm ổn định tình hình tranh chấp khiếu kiện trong nhân dân. Bổ sung hoàn thiện Quy chế phối hợp giữa 3 lực lượng Công an, Quân sự, Biên phòng nhằm thực hiện nghiêm và có hiệu quả Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, tổ chức diễn tập, huấn luyện theo các phương án đã đề ra./.

15/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Chủ tịch nước ban hành Quyết định về đặc xá năm 2013Chủ tịch nước ban hành Quyết định về đặc xá năm 2013
Thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc đối với người phạm tội bị kết án phạt tù, khuyến khích họ phấn đấu học tập, rèn luyện tiến bộ trở thành người có ích cho xã hội; ngày 20 tháng 07 năm 2013, Chủ tịch nước đã ban hành Quyết định số 1251/2013/QĐ-CTN  về đặc xá năm 2013.

 

Thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc đối với người phạm tội bị kết án phạt tù, khuyến khích họ phấn đấu học tập, rèn luyện tiến bộ trở thành người có ích cho xã hội; ngày 20 tháng 07 năm 2013, Chủ tịch nước đã ban hành Quyết định số 1251/2013/QĐ-CTN  về đặc xá năm 2013.

Thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/2013).Thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc xá tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2013.

Đối tượng đặc xá bao gồm: Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý.

Điều kiện được đề nghị đặc xá

Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây: Đã chấp hành án phạt tù ít nhất là một phần ba thời gian đối với án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là mười bốn năm đối với án phạt tù chung thân, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành án phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tiền truy thu, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác, trừ những phạm nhân không bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng đã 70 tuổi trở lên hoặc trên 60 tuổi nhưng thường xuyên ốm đau hoặc người đang mắc bệnh hiểm nghèo mà bản thân người đó và gia đình không còn khả năng thực hiện;

Người bị kết án phạt tù đã chấp hành ít nhất là một phần tư thời gian đối với án phạt tù có thời hạn, ít nhất là mười hai năm đối với án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn và có đủ các điều kiện khác quy định ở điểm b, c khoản 1 Điều 3, thì được đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện; là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu: Anh hùng lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân, Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; được tặng thưởng một trong các loại Huân chương, Huy chương kháng chiến; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước;

Khi phạm tội là người chưa thành niên; là người từ 70 tuổi trở lên; là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc từ 60 tuổi trở lên mà thường xuyên ốm đau, không tự phục vụ bản thân được, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền; có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; nữ phạm nhân đang có thai hoặc có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ.

Các trường hợp không đề nghị đặc xá là người có đủ điều kiện quy định tại Điều 3 của Quyết định này không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác; trước đó đã được đặc xá; có từ hai tiền án trở lên; phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia;

Thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên sáu năm đối với người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3; trên tám năm đối với người được quy định tại khoản 2 Điều 3 của Quyết định này;

Phạm các tội về ma túy bị phạt tù đến bảy năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên một năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù trên bảy năm đến mười lăm năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên hai năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù trên mười lăm năm, tù chung thân mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên ba năm;

Có căn cứ khẳng định đã sử dụng trái phép các chất ma túy; đồng thời phạm hai tội: giết người và cướp tài sản; giết người và hiếp dâm; giết người và hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản và hiếp dâm; cướp tài sản và hiếp dâm trẻ em;

Đang chấp hành án phạt tù do phạm nhiều tội (từ ba tội trở lên), kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt; phạm tội giết người có tổ chức; hiếp dâm có tính chất loạn luân; cướp tài sản có sử dụng vũ khí; cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; cướp tài sản nhiều lần, cướp giật tài sản nhiều lần, trộm cắp tài sản nhiều lần (từ hai lần trở lên);

Có một tiền án hoặc đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục hoặc trường giáo dưỡng mà bị kết án phạt tù về một trong các tội sau đây: về ma túy; giết người; hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; chống người thi hành công vụ; mua bán phụ nữ hoặc mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; gây rối trật tự công cộng; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; cố ý gây thương tích có tính chất côn đồ hoặc băng, nhóm thanh toán lẫn nhau.

Đặc xá trong trường hợp đặc biệt: Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt theo Điều 21, 22 của Luật Đặc xá để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo, hướng dẫn Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp phối hợp với Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu lập hồ sơ, danh sách đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt cho người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và tập hợp hồ sơ, danh sách để các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này xét duyệt và trình Chủ tịch nước quyết định.

21/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò quan trọng của Cộng tác viên trợ giúp pháp lýVai trò quan trọng của Cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào kết quả hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (trung tâm) trong thời gian qua chính là sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào kết quả hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (trung tâm) trong thời gian qua chính là sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý hiện nay gồm 144 cộng tác viên; trong đó cấp tỉnh 58, cấp huyện 60, cấp xã 9 và 17 Cộng tác viên là Luật sư. Với lực lượng Trợ giúp viên pháp lý và chuyên viên còn ít như hiện nay thì sự hỗ trợ của đội ngũ cộng tác viên là rất cần thiết. Theo số liệu báo cáo của Trung tâm cho thấy: Trong năm 2012, số lượng vụ việc thực hiện trợ giúp pháp lý là 900 vụ việc; trong đó, hình thức tham gia tố tụng là 291 vụ việc, Luật sư cộng tác viên thực hiện 158 vụ việc chiếm 54% tổng số vụ việc do Trung tâm thực hiện; hòa giải 38 vụ việc; trong đó, cộng tác viên thực hiện 15 vụ việc chiếm 39%; hình thức tư vấn pháp luật là 571 vụ việc, cộng tác viên thực hiện 10 vụ việc chiếm 1.7%. Ngoài ra, các cộng tác viên còn tham gia các đợt trợ giúp pháp lý lưu động cũng như khi gặp người thuộc diện trợ giúp pháp lý có nhu cầu trợ giúp pháp lý liên quan tố tụng luôn tận tình hướng dẫn, giải thích cho họ liên hệ với Trung tâm hoặc Chi nhánh trợ giúp pháp lý yêu cầu trợ giúp pháp lý.

Cộng tác viên không phải Luật sư đa số là công chức, viên chức của các cơ quan ban ngành trong tỉnh có bằng cử nhân luật hoặc bằng đại học khác nhưng làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tư vấn viên pháp luật, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý nên đa phần Cộng tác viên khi tham gia tư vấn pháp luật rất chặt chẽ đúng theo quy định của pháp luật, hợp tình. Bởi lẽ, vừa là cộng tác viên nhưng cũng đồng thời là cán bộ địa phương hoặc là cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực đó nên nắm được khá rõ các trường hợp mà người dân vướng mắc pháp luật.

Riêng đối với đội ngũ cộng tác viên là Luật sư, đây là lực lượng quan trọng hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý nhất là hình thức tham gia tố tụng. Theo số liệu báo cáo trên cho thấy trong năm Luật sư cộng tác viên đã thực hiện hơn 50% tổng số vụ việc trợ giúp pháp lý hình thức tham gia tố tụng của Trung tâm. Mặc dù chế độ bồi dưỡng cho vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định thấp hơn nhiều so với các vụ việc mà đương sự thuê theo hợp đồng dịch vụ pháp lý có thu trên thị trường, hồ sơ gởi đến Trung tâm để thẩm định quyết toán còn nhiều thủ tục giấy tờ nhưng Luật sư cộng tác viên đều nhiệt tình, năng nổ .

Sự tham gia trợ giúp pháp lý của cộng tác viên không chỉ khắc phục tình trạng thiếu nguồn nhân lực của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước còn góp phần triển khai thực hiện Kế hoạch tổng thể thực hiện Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Vì vậy, Nhà nước ta cần có các chính sách về chế độ hỗ trợ cho người thực hiện trợ giúp pháp lý nói chung và chế độ đãi ngộ, hỗ trợ cho đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý nói riêng nhằm khuyến khích sự tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý để nâng cao cả về số lượng và chất lượng trợ giúp pháp lý trong thời gian tới./.

 

30/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước
Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 7, Ngày 17 tháng 6 năm 2010. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Luật Nuôi con nuôi được xây dựng trên quan điểm xuyên suốt là bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em, bảo đảm việc cho trẻ em làm con nuôi được thực hiện trên tinh thần n...
Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 7, Ngày 17 tháng 6 năm 2010. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Luật Nuôi con nuôi được xây dựng trên quan điểm xuyên suốt là bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em, bảo đảm việc cho trẻ em làm con nuôi được thực hiện trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ, minh bạch, góp phần đấu tranh phòng chống hiện tượng mua bán trẻ em làm con nuôi hoặc lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi. Lần đầu tiên, pháp luật nước ta đã điều chỉnh thống nhất vấn đề nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong một Luật, trong đó có biện pháp bảo đảm tăng cường giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trong nước, việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ là biện pháp thay thế cuối cùng sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thu xếp được cho trẻ em làm con nuôi trong nước. Đây cũng chính là một trong những Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 4 Luật Nuôi con nuôi, đó là “Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước”.
Đây cũng là nguyên tắc quan trọng được thừa nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế. Lời nói đầu của Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh cực con nuôi quốc tế ghi nhận “Công nhận rằng, nuôi con nuôi quốc tế có lợi thế là đem lại mái ấm gia đình lâu dài cho trẻ em không tìm được một gia đình thích hợp tại nước gốc của mình”, và “Nhắc lại rằng, mỗi nước cần ưu tiên tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình”.
Xuất phát từ lợi ích tốt nhất của trẻ em, nếu việc nuôi dưỡng trong phạm vi gia đình không thể thực hiện được thì mới tính đến các biện pháp chăm sóc thay thế ở trong nước, trong đó có việc nuôi con nuôi. Chỉ sau khi đã xem xét thỏa đáng các giải pháp trong nước mà vẫn không tìm được mái ấm gia đình cho trẻ thì mới tính đến việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài. Để thực hiện nguyên tắc này, Điều 15 Luật Nuôi con nuôi đã quy định hết sức đầy đủ và cụ thể về trách nhiệm, thủ tục về việc tìm gia đình thay thế trong nước, nhằm bảo đảm trẻ em có cơ hội được nhận làm con nuôi trong nước. Việc tìm gia đình thay thế trong nước được thực hiện ở 3 cấp (xã, tỉnh, trung ương) trong thời hạn 150 ngày (đối với trẻ em bị bỏ rơi, kể cả thời gian tìm thân nhân cho trẻ theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch) hoặc 180 ngày (đối với trường hợp trẻ em mồ côi hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ nhưng cha mẹ đẻ không có điều kiện nuôi dưỡng). Nếu hết thời hạn này mà không có người trong nước nhận làm con nuôi, thì trẻ em mới được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài.
Ngoài ra, Điều 36 của Luật Nuôi con nuôi còn quy định, nếu hết thời hạn nêu trên, trẻ em đang được xem xét để giới thiệu cho làm con nuôi người nước ngoài nhưng Sở Tư pháp chưa giới thiệu cho người xin con nuôi cụ thể nào đó, mà có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì vẫn được xem xét giải quyết. Tại Điều 16 Luật Nuôi con nuôi còn quy định công dân trong nước có nhu cầu và nguyện vọng nhận trẻ em làm con nuôi mà chưa xác định được trẻ em cần nhận làm con nuôi, thì có thể đăng ký nhu cầu với Sở Tư pháp nơi thường trú, nếu có trẻ em để giới thiệu thì Sở Tư pháp giới thiệu người đó đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thường trú để xem xét giải quyết. Đây là biện pháp tích cực nhằm bảo đảm việc nuôi con nuôi trong nước, bảo đảm trẻ em có cơ hội tìm được mái ấm gia đình thay thế ngay trên lãnh thổ Việt Nam.
Theo quy định Luật Nuôi con nuôi thì không phải mọi trường hợp đều phải thực hiện lần lượt theo thứ tự tìm gia đình thay thế trong nước sau đó mới tìm gia đình thay thế ở nước ngoài. Ở đây có một quy định mang tính chất ngoại lệ so với những trường hợp tìm gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh bình thường là trong những trường hợp đặc biệt, khi lợi ích tốt nhất của trẻ em đòi hỏi và chỉ có thể có được khi cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài, chẳng hạn trường hợp đoàn tụ gia đình (làm con nuôi của người có quan hệ họ hàng hoặc của cha dượng/mẹ kế ở nước ngoài); trường hợp trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo mà người trong nước không đủ điều kiện để nhận nuôi hoặc trường họp trẻ em đã lớn tuổi không có cơ hội được nhận làm con nuôi trong nước. Đối với những trường hợp này, pháp luật cho phép không cần tiến hành biện pháp tìm gia đình thay thế trong nước mà ưu tiên giải quyết cho làm con nuôi người nước ngoài theo thủ tục nhận con nuôi đích danh.                                                       

15/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Tuổi tây - Tuổi taTuổi tây - Tuổi ta
Chúng ta luôn nêu cao tinh thần kế thừa và phát huy những phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc, trong đó có cách tính tuổi của con, cháu trong mỗi gia đình. Theo truyền thống thì khi trẻ vừa chào đời đã được tính là một tuổi và cách xác định tuổi đó hiện vẫn còn được áp dụng.

Chúng ta luôn nêu cao tinh thần kế thừa và phát huy những phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc, trong đó có cách tính tuổi của con, cháu trong mỗi gia đình. Theo truyền thống thì khi trẻ vừa chào đời đã được tính là một tuổi và cách xác định tuổi đó hiện vẫn còn được áp dụng.

Cách tính tuổi theo truyền thống, áp dụng trong đời sống thường ngày tưởng chừng vô hại, tuy nhiên nếu đặt trong một số trường hợp cụ thể lại là rất sai lệch, gây ra hậu quả nặng nề mà phần lớn người dân chúng ta cần có sự tìm hiểu cũng như có cái nhìn đúng đắn hơn để tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Chị Nguyễn Thị H, là người phụ nữ bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân. Năm 1996, chị có quan hệ như vợ chồng với người đàn ông cùng xóm và có với nhau một con trai tên H.T (sinh ngày 11/01/1996). Thời gian sống chung không được bao lâu thì người chồng bỏ chị đi biệt tích. Năm 2011, chị bước thêm bước nữa và có tiếp một bé trai nhưng hôn nhân của chị lại một lần nữa đổ vỡ. Một mình chị phải vất vã nuôi hai con trong độ tuổi ăn, học bằng nghề bán dạo quanh các trường học, gánh nặng càng nặng nề hơn khi đứa con trai nhỏ của chị bị bệnh cần phải chữa trị gấp. Cuộc sống khó khăn, buộc chị phải cho đứa con trai lớn nghỉ học để phụ chị mua bán kiếm thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống gia đình và lo cho đứa con trai nhỏ.

Hằng ngày, em H.T kiếm sống trên chiếc xe máy 50 phân khối mà mẹ em đã gom góp hết số tiền dành dụm để mua, đưa cho em làm phương tiện hành nghề bán kẹo kéo. Từ khi có em H.T phụ giúp chị cũng nhẹ bớt gánh nặng nhưng sự việc lại bắt đầu từ đó mà ra. Chiều ngày 16/11/2011 vì trời mưa rất to nên em H.T cố gắng chạy nhanh về nhà, trên đường về do mũ áo mưa sụp xuống che phủ mặt mà trời thì mưa to nên em H.T bị lạc tay lái. Khi đưa tay kéo mũ lên thì cũng là lúc em phát hiện xe mình đã gần sát bà B và dù đã thắng gấp nhưng cuối cùng xe em đã tông thẳng vào bà B làm bà B và em H.T đều ngã xuống đường. Kết quả bà B bị chấn thương sọ não và đã tử vong tại bệnh viện còn em H.T thì bị thương nhẹ.

Vụ việc xảy ra, cơ quan chức năng vào cuộc tiến hành điều tra làm rỏ và người bị truy cứu trách nhiệm hình sự là chị Nguyễn Thị H mà không phải là con chị- người đã trực tiếp gây tai nạn. Điều đó làm cho chị, những người thân trong gia đình và bà con lối xóm vô cùng ngạc nhiên và thắc mắc “Tại sao người gây tai nạn là thằng H.T mà mẹ nó là chị H lại bị bắt mà không phải là nó”.

Căn cứ theo quy định của pháp luật, Điều 12 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 có quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Đồng thời, tại Điều 205 BLHS cũng có quy định về tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ:

1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 60 Luật giao thông đường bộ cũng có quy định về độ tuổi, sức khỏe của người lái xe như sau:

1. Độ tuổi của người lái xe quy định như sau:

a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3;

b) Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi;

c) Người đủ 21 tuổi trở lên được lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ 3.500 kg trở lên; lái xe hạng B2 kéo rơ moóc (FB2);

d) Người đủ 24 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi; lái xe hạng C kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc (FC);

đ) Người đủ 27 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi; lái xe hạng D kéo rơ moóc (FD);

e) Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi là 50 tuổi đối với nữ và 55 tuổi đối với nam.

2. Người lái xe phải có sức khỏe phù hợp với loại xe, công dụng của xe. Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe, việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ô tô và quy định về cơ sở y tế khám sức khoẻ của người lái xe.

Sau khi được các cơ quan chức năng giải thích, chị H mới nhận ra lỗi của mình là do chị không am hiểu về pháp luật, cứ theo cách suy nghĩ truyền thống mà cho rằng con mình đã lớn nhưng đâu ngờ tại thời điểm tai nạn xảy ra con chị chưa tròn 16 tuổi. Đồng thời trước khi đưa xe cho con, chị cũng không tìm hiểu quy định của pháp luật về giao thông, cứ tự cho rằng con chị đã đủ tuổi để lái xe có phân khối nhỏ và càng không biết về việc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có hậu quả xảy ra. Cuối cùng hậu quả cho việc thiếu am hiểu về pháp luật của chị là một năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là hai năm và về trách nhiệm dân sự buộc chị phải bồi thường cho gia đình người bị hại là 35.918.000 đồng.

Trường hợp của chị H xảy ra cũng là bài học đáng quan tâm mà tất cả người dân chúng ta cần rút kinh nghiệm, bởi hầu hết người dân vẫn còn lẫn lộn giữa tuổi tây và tuổi ta.Việc thêm hoặc bớt đi một tuổi trong cách nói có thể là vô hại trong đời sống thường ngày nhưng nó sẽ là vấn đề hết sức quan trọng hoặc mang tính chất quyết định khi có vụ việc liên quan đến pháp luật xảy ra. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, của những người thân trong gia đình và của cả cộng đồng, chúng ta cần tìm hiểu thêm về những quy định của pháp luật nhằm trang bị vốn kiến thức để áp dụng trong đời sống thường ngày, vừa duy trì được những phong tục tập quán của dân tộc ta vừa tránh được những hậu quả đáng tiếc xảy ra, góp phần làm cho xã hội ngày một văn minh, phát triển hơn.

16/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến TreNhìn lại chặng đường hình thành và phát triển của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre
 Bán đấu giá tài sản là một dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội; là một trong những cách thức linh hoạt để chuyển quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác; góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa nói riêng phát triển một cách đa dạng.

Bán đấu giá tài sản là một dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội; là một trong những cách thức linh hoạt để chuyển quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác; góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa nói riêng phát triển một cách đa dạng.

Tại tỉnh Bến Tre, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản (sau đây gọi là Trung tâm) thuộc Sở Tư pháp, được thành lập vào đầu năm 1998 theo Quyết định số 2021/QĐ-UB ngày 24 tháng 11 năm 1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre. Khi mới thành lập, Trung tâm hoạt động theo Nghị định số 86/CP ngày 19/12/1997 của Chính phủ về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản và Thông tư số 399/PLDSKT ngày 07/4/1997 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định về bán đấu giá tài sản. Sau khi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản được ban hành; khi chuyển tiếp hoạt động theo Nghị định 05/2005/NĐ-CP, Trung tâm chỉ có 03 cán bộ, gồm 01 Giám đốc, 01 kế toán và 01 chuyên viên (theo quy định của Nghị định 05/2005/NĐ-CP là 05 biên chế), trụ sở làm việc của Trung tâm nằm chung trong Sở Tư pháp, được bố trí 01 phòng với diện tích chỉ khoảng 20m2. Mặc dù chưa đủ biên chế, nhưng cán bộ, viên chức làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình với công việc và luôn đoàn kết phấn đấu để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động bán đấu giá.

Ngày 15/5/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 18/2006/CT-TTg về tăng cường thực hiện Nghị định số 05/2005/NĐ-CP tại khoản 3 Điều 36 của Nghị định 05/2005/NĐ-CP quy định Trung tâm có nhiệm vụ bán đấu giá tài sản để thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật; ngoài ra, Trung tâm có thể ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân có yêu cầu để bán đấu giá các loại tài sản khác. Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài chính phối hợp với Sở Tư pháp họp thống nhất triển khai thực hiện Chỉ thị số 18/2006/CT-TTg, nhưng hai đơn vị chưa thực hiện được, do Thông tư số 34/2005/TT-BTC ngày 12/5/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc chuyển giao tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước vẫn do Hội đồng bán đấu giá tài sản thuộc Sở Tài chính thực hiện. Do vậy, sau khi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP có hiệu lực, Trung tâm chủ yếu thực hiện bán đấu giá các loại tài sản như: tài sản đảm bảo thế chấp của các tổ chức tín dụng để thu hồi nợ vay, tài sản để thi hành án, nhưng thường những loại tài sản này đa số nằm trong vùng sâu, xa; với tâm lý không muốn mất tài sản nên người vay, người phải thi hành án có thái độ đe dọa khi có khách hàng xem tài sản, vì vậy khi bán đấu giá thành, việc bàn giao cho người trúng đấu giá rất khó khăn, phức tạp, đa các trường hợp phải áp dụng biện pháp cưỡng chế để bàn giao tài sản nên khách hàng ngại đăng ký tham gia đấu giá.

Ngoài ra, còn một số văn bản pháp luật khác cũng quy định về việc bán đấu giá tài sản nhưng lại mâu thuẫn, chống chéo chức năng, nhiện vụ bán đấu giá tài sản giữa các cơ quan, tổ chức, như Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai; Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005 về bán đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất. Quy trình thủ tục bán đấu giá tài sản, cũng như quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân chưa được bảo đảm.

Ngày 04 tháng 3 năm 2010 Nghị định 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ về bán đấu giá tài sản ra đời, thay thế Nghị định 05/2005/NĐ-CP. Cũng từ đây, hoạt động bán đấu giá có nhiều khởi sắc. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị số 02/2011/CT-UBND ngày 06/7/2011 về triển khai thực hiện Nghị định 17/2010/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh và nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bán đấu giá tài sản, tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên Để Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đủ điều kiện tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 17/2010/NĐ-CP. Sở Tư pháp đã xây dựng Đề án củng cố tổ chức, biên chế cho Trung tâm được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Hiện tại, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre có 06 biên chế và 02 hợp đồng ngoài biên chế; lãnh đạo Trung tâm có Giám đốc và 01 phó Giám đốc, 03 đấu giá viên (vào tháng 5/2013 Trung tâm cử 01 cán bộ đi học nghiệp vụ đấu giá viên, dự kiến cuối năm 2013 sẽ nâng lên 04 đấu giá viên). Trung tâm đã chuyển về trụ sở mới, địa chỉ số 15, Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre. Đến nay, hoạt động bán đấu giá thực hiện chuyên nghiệp ổn định, nề nếp và có bước tiến triển hơn trước; nhận thức của các ngành, địa phương về vị trí, vai trò của hoạt động đấu giá ngày  được nâng lên. Kết quả đấu giá thành năm sau cao hơn năm trước, năm 2010 là 20 hợp đồng, tổng số tiền thu được 8.076.402.500đ; năm 2011 là 64 hợp đồng, tổng số tiền thu được 25.162.385.000đ; năm 2012 là 137 hợp đồng, tổng số tiền thu được là 59.564.001.198đ.

Sau hơn 3 năm thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP; hoạt động bán đấu giá tài sản đến nay đã đi vào ổn định, tháo gỡ được một số vướng mắc về thủ tục, trình tự bán đấu giá tài sản; đã góp phần quan trọng trong lĩnh vực thi hành án, phát mãi tài sản để thu hồi nợ vay của các tổ chức tín dụng, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước khi xử lý tài sản vi phạm hành chính tịch thu sung công quỹ nhà nước…đảm bảo công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

02/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn