Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Quyền sở hữu theo quy định của pháp luật Việt NamQuyền sở hữu theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo quy định tại Bộ Luật Dân sự được Quốc hội Khóa XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 thì quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản; cụ thể như sau:

Theo quy định tại Bộ Luật Dân sự được Quốc hội Khóa XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 thì quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản; cụ thể như sau:

Quyền chiếm hữu: là quyền nắm giữ, quản lý tài sản (Điều 182 BLDS). Theo đó, việc nắm giữ và quản lý ở đây bao hàm cả việc thực hiện quyền sử dụng (dùng và khai thác tài sản) hoặc quyền không sử dụng tài sản (quyền cất giữ tài sản).

Quyền sử dụng tài sản: là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản (Điều 192 BLDS). Như vậy, với tư cách là một trong những nội dung của quyền sở hữu, quyền sử dụng bao gồm quyền khai thác công dụng của tài sản và quyền thu nhận hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Theo đó, “khai thác công dụng” nghĩa là chủ sở hữu tự mình thụ hưởng các lợi ích vật chất từ một tài sản. “Hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”  là việc chủ sở hữu được thụ hưởng những kết quả từ việc khai thác sự sinh lợi của tài sản.

Chủ sở hữu có quyền quyết định phương thức sử dụng tài sản cũng như cách thức thu hoa lợi, lợi tức (trực tiếp khai thác hoặc để cho người khác khai thác thông qua hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn). Tài sản có thể được khai thác trực tiếp bằng chính chủ sở hữu hoặc bởi một người khác không phải là chủ sở hữu.

Bên cạnh đó, luật cũng quy định việc hạn chế quyền sử dụng đối với chủ sở hữu (Điều 193 BLDS) theo đó “trong trường hợp chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”. Như vậy, với quy định trên sẽ hạn chế được quyền sử dụng chủ động, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền của chủ sở hữu tài sản.

Quyền định đoạt tài sản: là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó (Điều 195 BLDS). Như vậy, chủ sở hữu có quyền quyết định số phận của tài sản về phương diện vật chất (tiêu dùng, thiêu hủy, chuyển hóa thành một hình thức tồn tại khác...) hoặc về phương diện pháp lý (chuyển nhượng, tặng cho, trao đổi, góp vốn kinh doanh...).

Cũng giống như quyền sử dụng, quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản có thể do chính chủ sở hữu hoặc người khác thực hiện (Điều 198 BLDS). Mọi trường hợp định đoạt tài sản ngoài khuôn khổ giới hạn của quyền tự định đoạt của chủ sở hữu cũng như định đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác đều bị xem là giao dịch vô hiệu.

Ngoài ra, luật còn quy định các trường hợp hạn chế quyền định đoạt của chủ sở hữu tại Điều 199 của BLDS, cụ thể như: Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do pháp luật quy định. Khi tài sản đem bán là di tích lịch sử, văn hoá thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua.

Trong trường hợp pháp nhân, cá nhân, chủ thể khác có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.

Như vậy, với các quy định trên sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người dân, đảm bảo cho người dân thực hiện đầy đủ các quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình.

15/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phỏng vấn đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.Phỏng vấn đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.
Ngày 28 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, Nghị định này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ qu...

Ngày 28 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, Nghị định này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó để làm thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài. Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký tạm trú của người đó, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Về thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, tại Điều 15 của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định:

Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do người yêu cầu nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này.

Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau: Tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định); bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế; Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người yêu cầu.

Trường hợp công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Ủy ban nhân dân cấp xã gửi văn bản xin ý kiến Sở Tư pháp kèm theo 01 bộ hồ sơ. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp thực hiện thẩm tra, xác minh và có văn bản trả lời Ủy ban nhân dân cấp xã kèm trả hồ sơ; nếu từ chối giải quyết, Sở Tư pháp giải thích rõ lý do bằng văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho người yêu cầu. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và cấp cho người yêu cầu.

Căn cứ tình hình cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định bổ sung thủ tục phỏng vấn để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Ngày 31 tháng 12 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 22/2013/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP. Tại Điều 10 của Thông tư này hướng dẫn trình tự phỏng vấn đối với người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài như sau:

Sở Tư pháp cử cán bộ tiến hành phỏng vấn đối với người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Khi phỏng vấn cán bộ Sở Tư pháp cần làm rõ sự tự nguyện, mục đích kết hôn của công dân Việt Nam; sự hiểu biết của công dân Việt Nam về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài, về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú.

Kết quả thẩm tra, xác minh, phỏng vấn bên công dân Việt Nam cho thấy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Sở Tư pháp yêu cầu bên người nước ngoài về Việt Nam để phỏng vấn làm rõ: Hai bên chênh lệch nhau từ 20 tuổi trở lên; người nước ngoài kết hôn lần thứ ba hoặc đã kết hôn và ly hôn với vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam; công dân Việt Nam không hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài; không hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú; người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho biết sẽ không có mặt để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài. Kết quả phỏng vấn phải ghi thành văn bản, có chữ ký của người phỏng vấn, người được phỏng vấn.

Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Công dân Việt Nam đề nghị cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước ngoài tại Việt Nam. Kết quả kiểm tra, xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân của đương sự trên thực tế không đúng với Tờ khai trong hồ sơ; đương sự không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Kết quả phỏng vấn cho thấy hai bên chưa có sự hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của nhau; không có sự hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của mỗi nước. Việc kết hôn của đương sự không tự nguyện, không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Việc kết hôn thông qua môi giới trái pháp luật. Lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh, kiếm lời hoặc vì mục đích trục lợi khác.

07/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre chỉ đạo thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứngỦy ban nhân dân tỉnh Bến Tre chỉ đạo thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng
Sau khi Luật Công chứng có hiệu lực thi hành đến nay, hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh có bước chuyển biến tích cực. Các tổ chức hành nghề công chứng được mở rộng, việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng được tiến hành từng bước, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, tạo điều ki...

Sau khi Luật Công chứng có hiệu lực thi hành đến nay, hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh có bước chuyển biến tích cực. Các tổ chức hành nghề công chứng được mở rộng, việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng được tiến hành từng bước, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức hành nghề công chứng phát triển, đáp ứng nhu cầu xã hội hóa ngành nghề công chứng, giảm tải công việc cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã để tập trung quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Luật Công chứng, vẫn còn một số khó khăn nhất định như: việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng còn chậm do thiếu đội ngũ công chứng viên dẫn đến việc chuyển giao thầm quyền công chứng không đồng bộ, chưa có phần mềm chia sẻ thông tin giữa các tổ chức hành nghề công chứng với các cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng nên một số ít đối tượng lợi dụng quy định của pháp luật về công chứng để thực hiện hành vi gian dối, lừa đảo.

Để khắc phục tình trạng trên và thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư pháp tại Công văn số 500/BTP-BTTP ngày 24 tháng 02 năm 2014 về việc phối hợp thực hiện tốt một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng và tiếp tục thực hiện tốt Quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh. Ngày 02 tháng 4 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Công văn số 1403/UBND-NC về việc thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng. Trong đó, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo:

Sở Tư pháp tiếp tục thực hiện Quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng theo Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29 tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng khi tổ chức hành nghề công chứng đủ điều kiện về nhân sự. Việc chuyển giao phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương, thuận lợi cho người dân, phù hợp với Luật Công chứng và Nghị định số 88/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Phối hợp với Sở Tài chính, Sở Khoa học Công nghệ và Sở Kế hoạch Đầu tư nghiên cứu khảo sát thực tế và điều kiện để xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông giữa các tổ chức hành nghề công chứng với cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng và các cơ quan Thi hành án Dân sự để cập nhật, nắm bắt thông tin khi thực hiện công chứng, tránh trường hợp lợi dụng hoạt động công chứng thực hiện hành vi lừa đảo.

Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thi hành án Dân sự và Ủy ban nhân dân cấp huyện tăng cường chỉ đạo các tổ chức hành nghề công chứng, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Chi cục Thi hành án Dân sự và Ủy ban nhân dân cấp xã tích cực phối hợp chia sẽ, cung cấp thông tin về tài sản khi thực hiện giao dịch nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch, hạn chế tranh chấp xảy ra góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Chủ trì, phối hợp với Thanh tra tỉnh và cơ quan Thuế nơi tổ chức hành nghề công chứng hoạt động để hàng năm có kế hoạch thanh tra, kiểm tra toàn diện hoạt động công chứng để phát hiện sai sót và chấn chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu người dân; tăng cường chỉ đạo các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục khi thực hiện công chứng; tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho các tổ chức hành nghề công chứng đảm bảo các công chứng viên nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ khi hành nghề, hạn chế sai sót xảy ra.

Thủ trưởng các sở, ngành nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã tùy theo chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện tốt nội dung Công văn này.

11/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2014Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2014
Chiều ngày 17 tháng 01 năm 2014, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và triển khai công tác tư pháp năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các Phó Giám đốc Sở; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, chuyên viên các phòng, trung tâm thuộc Sở; thủ trưởng Phòng T...

Chiều ngày 17 tháng 01 năm 2014, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và triển khai công tác tư pháp năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các Phó Giám đốc Sở; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, chuyên viên các phòng, trung tâm thuộc Sở; thủ trưởng Phòng Tư pháp và đại diện Công chức Tư pháp – Hộ tịch của 9 huyện, thành phố.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp báo cáo tóm tắt kết quả công tác tư pháp năm 2013; triển khai dự thảo Kế hoạch công tác tư pháp năm 2014; báo cáo tổng kết công tác thi đua, khen thưởng ngành Tư pháp năm 2013 và phát động phong trào thi đua năm 2014. Tại hội nghị các ý kiến phát biểu của đại biểu đã thẳng thắn đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại cơ bản trong các lĩnh vực công tác tư pháp năm 2013 của tỉnh, trên cơ sở đó góp ý cho phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp công tác năm 2014.


Công tác tư pháp của tỉnh năm 2013 đã triển khai đồng bộ, rộng khắp, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và cả nước; thể hiện sự chủ động, nhạy cảm với những vấn đề lớn của tỉnh và đã đạt được nhiều thành tích, có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh ở địa phương. Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác tư pháp trên địa bàn tỉnh trong năm 2013 cũng còn một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục khắc phục trong thời gian tới như: Chất lượng một số văn bản quy phạm pháp luật chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu; chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có lúc, có nơi và một số lĩnh vực chưa sâu, kinh phí cho công tác này còn hạn chế nhất là cấp huyện, cấp xã; công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp vẫn còn hạn chế, do số lượng thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp ngày càng nhiều, nhưng chưa bố trí được biên chế đáp ứng yêu cầu thực tế khối lượng công việc; công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở cấp xã vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót; việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng còn chậm so với quy hoạch; bố trí nhân sự thực hiện các nhiệm vụ công tác của Ngành còn thiếu, nhất là trong các lĩnh vực mới như: xử lý vi phạm hành chính, lý lịch tư pháp, bồi trường nhà nước, theo dõi thi hành pháp luật...


Năm 2014, tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong điều kiện ngân sách của tỉnh rất hạn hẹp. Theo phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của Ngành năm 2014 đã được thông qua tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2014 vừa qua là rất nặng nề, đòi hỏi toàn ngành Tư pháp nói chung, tư pháp tỉnh Bến Tre nói riêng phải triển khai đồng bộ, toàn diện các mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình, áp dụng đồng bộ các giải pháp, nhất là những giải pháp mang tính đột phá để tạo chuyển biến mạnh trong năm 2014, tạo đà cho các năm tiếp theo, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám Đốc Sở Tư pháp nhấn mạnh công tác tư pháp năm 2014 cần tập trung một số vấn đề như: Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật nhằm góp phần hoàn thiện thể chế phục vụ công tác chỉ đạo điều hành các mặt kinh tế - xã hội của tỉnh, cải thiện vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; triển khai thực hiện tốt công tác theo dõi thi hành pháp luật, qua đó đưa công tác tư pháp vào cuộc sâu hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý theo các chương trình, đề án đã được phê duyệt; tiếp tục tổ chức tốt Ngày pháp luật Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014; triển khai đồng bộ, quyết tâm thực hiện hiệu quả kế hoạch của Chính phủ về triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013; thực hiện các giải pháp để đưa Luật Hòa giải ở cơ sở đi vào cuộc sống; có giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng công tác trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở; tập trung triển khai có hiệu quả Chiến lược phát triển lý lịch tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030; tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước đối với công tác hộ tịch, chứng thực, nhất là ở cơ sở; tiếp tục quan tâm phát triển đội ngũ công chứng viên, đấu giá viên, giám định viên tư pháp; xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin công chứng và thông tin ngăn chặn để đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chế độ công vụ, công chức, viên chức và trách nhiệm người đứng đầu; tiếp tục quan tâm, kiện toàn tổ chức, bổ sung kịp thời biên chế để thực hiện các nhiệm vụ mới được giao thêm cho Ngành; chú trọng đào tạo nguồn Công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã; kiện toàn và nâng cao vai trò, năng lực cho công chức pháp chế sở, ngành tỉnh để phối hợp triển khai tốt công tác tư pháp trên địa bàn tỉnh; tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tư pháp các cấp trong sạch, vững mạnh.

Cũng tại hội nghị, 3 Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày Nam, Bình Đại và 9 Công chức Tư pháp – Hộ Tịch của 9 huyện, thành phố đã được Sở Tư pháp tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác tư pháp năm 2013 và nhiều tập thể Phòng, Trung tâm, cán bộ, công chức, viên chức Sở Tư pháp nhận Danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp phối hợp đài phát thanh - truyền hình Bến Tre thực hiện chương trình tư vấn pháp luật trực tiếp trên sóng phát thanhSở Tư pháp phối hợp đài phát thanh - truyền hình Bến Tre thực hiện chương trình tư vấn pháp luật trực tiếp trên sóng phát thanh
Nhằm đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật,  cung cấp thông tin pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu  pháp luật của bạn nghe đài một cách nhanh chóng và kịp thời;
Nhằm đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, cung cấp thông tin pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của bạn nghe đài một cách nhanh chóng và kịp thời; Sở Tư pháp và Đài Phát thanh – Truyền hình Bến Tre phối hợp thực hiện chương trình Tư vấn pháp luật - Trực tiếp trên sóng AM tần số 1098 Khz và sóng FM tần số 97,9 Mhz kết nối cho giao lưu trực tiếp giữa thính giả với các diễn giả của chương trình.

  • Thời gian tư vấn: 30 phút/ chương trình.
  • Chương trình thực hiện định kỳ: 02 tuần một lần vào lúc 9 giờ sáng, thứ ba hàng tuần và được phát lại vào lúc 9 giờ sáng, thứ ba của tuần tiếp theo.

Mọi yêu cầu tư vấn về pháp luật bạn nghe đài gọi về số điện thoại 0753.836.995 để được giải đáp. Hộp thư thoại của chương trình được mở để tiếp nhận thông tin tư vấn 24/24 giờ.

22/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Tăng cường kiểm soát các quy định về thủ tục hành chínhTăng cường kiểm soát các quy định về thủ tục hành chính
Thực hiện Công văn số 2039/VPCP-TCCV ngày 27 tháng 3 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ về công tác cải cách thủ tục hành chính, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Công văn số 1402/UBND-TH ngày 02 tháng 4 năm 2014 về việc kiểm tra, đánh giá thủ tục hành chính năm 2014.

Thực hiện Công văn số 2039/VPCP-TCCV ngày 27 tháng 3 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ về công tác cải cách thủ tục hành chính, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Công văn số 1402/UBND-TH ngày 02 tháng 4 năm 2014 về việc kiểm tra, đánh giá thủ tục hành chính năm 2014.

Theo đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố tăng cường kiểm soát các quy định về thủ tục hành chính ngay từ trong quá trình xây dựng các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Thực hiện ban hành thủ tục hành chính theo đúng quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; đồng thời kiểm tra, đánh giá việc thực hiện thủ tục hành chính tại các đơn vị trực thuộc để kịp thời phát hiện, khắc phục những hạn chế, vướng mắc; nghiên cứu, phát hiện, đề xuất các sáng kiến cải cách về thủ tục hành chính. Định kỳ hàng quý báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh kết quả kiểm tra, đánh giá để theo dõi, chỉ đạo.

11/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Chống người thi hành công vụ lãnh án 2 năm tù giamChống người thi hành công vụ lãnh án 2 năm tù giam
Sáng ngày 28 tháng 5 năm 2014, tại sân Uỷ ban nhân dân xã Hưng Khánh Trung B, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách tổ chức xét xử lưu động đối với bị cáo Nguyễn Bá Cường, sinh năm 1992, đăng ký thường trú tại ấp Phú Hưng, xã Hưng Khánh Trung B, về tội chống người thi hành công vụ; cố ý dùng hung khí gây thương tích cho lực lượng Công an xã, có hơn 100 người dân đến xem. Nguyễn Bá Cường đã khai nhận h...

Sáng ngày 28 tháng 5 năm 2014, tại sân Uỷ ban nhân dân xã Hưng Khánh Trung B, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách tổ chức xét xử lưu động đối với bị cáo Nguyễn Bá Cường, sinh năm 1992, đăng ký thường trú tại ấp Phú Hưng, xã Hưng Khánh Trung B, về tội chống người thi hành công vụ; cố ý dùng hung khí gây thương tích cho lực lượng Công an xã, có hơn 100 người dân đến xem. Nguyễn Bá Cường đã khai nhận hoàn toàn hành vi phạm tội của mình và Hội đồng xét xử tuyên phạt Nguyễn Bá Cường  2 (hai) năm tù giam.

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát, sau khi Cường và người bạn tên Nguyễn Văn Công Đỉnh ở xã Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc cùng nhau uống rượu tại chợ Ba Vát xong, thì Cường kiêu Đỉnh chở Cường về nhà ở ấp Phú Hưng để nhậu tiếp, nhưng khi về tới nhà Cường nổi máu côn đồ dùng mã tấu đi tìm người gây chuyện để chém. Khoảng 18 giờ ngày 8 tháng 4 năm 2013, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân là Cường đi gây sự chém người tại ấp Phú Hưng thì anh Trần Minh Hiếu, Trưởng Công an xã Hưng Khánh Trung B phân công anh Võ Minh Hòa, Phó Công an xã cùng anh Phùng Văn Lượm (tên thường gọi Tùng) Công an viên phụ trách địa bàn ấp Phú Hưng đến hiện trường và ra hiệu lệnh cho Cường dừng xe và giao nộp hung khí, nhưng Cường không chấp hành và có thái độ chống trả lại lực lượng công an thi hành nhiệm vụ. Ngay lúc đó anh Hòa, Phó Công an xã liền khống chế Cường và Cường dùng mã tấu dài 73 cm, lưỡi dài 58 cm, cán dài 15 cm đâm vào đùi phải anh Hòa và cắn vào tay trái anh Hòa và làm đứt sợ dây chuyền vàng của anh Hòa. Theo kết quả giám định pháp y tỷ lệ thương tật của anh Hòa là 2%.

Được biết Cường chỉ học lớp 01(một), đã có tiền án, tiền sự như vào ngày 5 tháng 4 năm 2011 Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tuyên phạt Cường 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo về tội cố ý gây thương tích; vào ngày 22 tháng 10 năm 2012 Công an xã Hưng Khánh Trung B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng đối với hành vi uống rượu đánh nhau với người khác (chưa chấp hành xong).

13/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Những hành vi tham nhũng bị xử lý theo quy định của Bộ Luật hình sựNhững hành vi tham nhũng bị xử lý theo quy định của Bộ Luật hình sự
Tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, người có hành vi tham nhũng tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tại Điều 4 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định nguyên tắc xử lý tham nhũng như sau: Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử l...

Tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, người có hành vi tham nhũng tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tại Điều 4 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định nguyên tắc xử lý tham nhũng như sau: Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh. Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật. Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát hiện, tích cực hạn chế thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng thì có thể được xem xét giảm nhẹ hình thức kỷ luật, giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc xử lý tham nhũng phải được thực hiện công khai theo quy định của pháp luật. Người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác vẫn phải bị xử lý về hành vi tham nhũng do mình đã thực hiện.

Các hành vi tham nhũng được quy định cụ thể tại Điều 3 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 gồm các hành vi: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013  của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng thì các hành vi tham nhũng được quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng được xác định theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999.

Cụ thể, Bộ Luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định các hành vi tham nhũng ở phần các tội phạm về tham nhũng như sau:

Tội tham ô tài sản (Điều 278): Hành vi tham nhũng thuộc tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp: gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Tội nhận hối lộ (Điều 279): Hành vi tham nhũng thuộc tội nhận hối lộ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280): Hành vi tham nhũng thuộc tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281): Hành vi tham nhũng thuộc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282): Hành vi tham nhũng thuộc tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi (Điều 283): Hành vi tham nhũng thuộc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm.

Tội giả mạo trong công tác (Điều 284): Hành vi tham nhũng thuộc tội giả mạo trong công tác là hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi: sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

21/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định của pháp luật về hình thức xử lý kỷ luật sa thải người lao động và thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải Quy định của pháp luật về hình thức xử lý kỷ luật sa thải người lao động và thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải
Sa thải là một trong các hình thức xử lý kỷ luật lao động, đây là hình thức xử lý kỷ luật cao nhất mà người sử dụng lao động áp dụng để xử lý đối với người lao động. Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

Sa thải là một trong các hình thức xử lý kỷ luật lao động, đây là hình thức xử lý kỷ luật cao nhất mà người sử dụng lao động áp dụng để xử lý đối với người lao động. Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động.

Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này.

Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.”

Khi bị sa thải, người lao động bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập; nếu bị sa thải theo khoản 1, khoản 2 Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012 thì người lao động không được trợ cấp thôi việc.

Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động. Đối với tranh chấp lao động về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khi tranh chấp lao động cá nhân xảy ra, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là Hoà giải viên lao động, Toà án nhân dân. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:  Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế; về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Như vậy, tranh chấp lao động cá nhân về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết.

Quy định trên còn được quy định, cụ thể hóa tại Điều 31 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004; sửa đổi, bổ sung năm 2011: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở: Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động; về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

25/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về thủ tục công nhận và cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lýQuy định mới về thủ tục công nhận và cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Ngày 02 tháng 02 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2012. Trong đó, Điều 2 Nghị định số 05/2012/NĐ-CP quy định sửa đổi, bổ sung Điều 27 của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ...

 

Ngày 02 tháng 02 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2012. Trong đó, Điều 2 Nghị định số 05/2012/NĐ-CP quy định sửa đổi, bổ sung Điều 27 của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý như sau:

“1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật Trợ giúp pháp lý, nếu tự nguyện làm cộng tác viên thì gửi hồ sơ đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý ở địa phương nơi mình cư trú hoặc công tác.

Hồ sơ đề nghị làm cộng tác viên bao gồm:

a) Đơn đề nghị làm cộng tác viên theo mẫu;

b) Bản sao bằng cử nhân luật; bằng đại học khác hoặc bằng trung cấp luật;

c) Sơ yếu lý lịch cá nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc của cơ quan nơi người đề nghị làm cộng tác viên làm việc và hai ảnh màu chân dung cỡ 2 cm x 3 cm.

Trong trường hợp người đề nghị làm cộng tác viên thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi mà có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng thì trong hồ sơ đề nghị làm cộng tác viên ngoài các giấy tờ tài liệu quy định tại điểm a, c nêu trên cần có giấy xác nhận thời gian công tác pháp luật của cơ quan, tổ chức nơi người đó đã hoặc đang công tác hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về kiến thức pháp luật và uy tín trong cộng đồng của người đề nghị.

2. Trong thời hạn bốn ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Giám đốc Trung tâm kiểm tra tính đầy đủ và đúng đắn của hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ thì trình Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên. Trong trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì trả lại hồ sơ cho người đề nghị làm cộng tác viên và thông báo rõ lý do bằng văn bản.

3. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Giám đốc Trung tâm trình, Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, ký quyết định công nhận và cấp thẻ cộng tác viên. Trong trường hợp từ chối phải thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người đề nghị làm cộng tác viên. Người bị từ chối có quyền khiếu nại đối với việc từ chối công nhận và cấp thẻ cộng tác viên. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại.”

Như vậy, so với quy định trước đây, Điều 2 Nghị định số 05/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung theo hướng rút gọn thủ tục và thời gian. Chẳng hạn hồ sơ đề nghị cộng tác viên trợ giúp pháp lý đối với người đề nghị không thuộc trường hợp thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi thì không phải làm giấy xác nhận thời gian công tác pháp luật của cơ quan, tổ chức nơi người đó đã hoặc đang công tác.

Bên cạnh đó, thời gian Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý kiểm tra tính đúng đắn và đầy đủ của hồ sơ cũng được rút ngắn trong thời hạn 04 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, không phải là 15 ngày như quy định trước đây. Thời gian Giám đốc Sở Tư pháp xem xét ký quyết định công nhận và cấp thẻ cộng tác viên cũng được rút ngắn trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do Giám đốc Trung tâm trình, sớm hơn 04 ngày so với quy định trước.

01/03/2012 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tập trung kéo giảm hộ nghèo năm 2014 xuống còn 7%Tập trung kéo giảm hộ nghèo năm 2014 xuống còn 7%
Hiện nay, toàn tỉnh có 31.657 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 8,59%, 22.707 hộ cận nghèo, chiếm 6,16%. Có nhiều nguyên nhân; trong đó phần lớn do thiếu vốn, thiếu đất, thiếu phương tiện sản xuất, thiếu lao động, không biết cách làm ăn, không có tay nghề, chây lười lao động, ốm đau, bệnh tật kéo dài…

Hiện nay, toàn tỉnh có 31.657 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 8,59%, 22.707 hộ cận nghèo, chiếm 6,16%. Có nhiều nguyên nhân; trong đó phần lớn do thiếu vốn, thiếu đất, thiếu phương tiện sản xuất, thiếu lao động, không biết cách làm ăn, không có tay nghề, chây lười lao động, ốm đau, bệnh tật kéo dài…

Để góp phần kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo; nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nghèo cả về vật chất lẫn tinh thần, quan tâm cải thiện các dịch vụ xã hội về văn hóa, giáo dục, y tế, nhà ở, điện, nước sinh hoạt; các dịch vụ phúc lợi xã hội thiết yếu khác; phấn đấu nâng cao mức thu nhập của hộ nghèo, gia đình chính chính sách,

Trước hết, cần tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền; sự tham gia phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; đặc biệt là vai trò của Ban Chỉ đạo giảm nghèo các cấp; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, quyết tâm chính trị cao để kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 7%.

Trên cơ sở phân loại hộ nghèo để có các giải pháp tác động, hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập; hỗ trợ vốn vay, đảm bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu được vay vốn để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xuất khẩu lao động; học sinh, sinh viên đầu tư học tập; xây dựng các công trình thiết yếu về vệ sinh môi trường; hỗ trợ đối với các hộ sản xuất kinh doanh tại các vùng khó khăn xã bãi ngang ven biển. Khuyến khích hộ vay vốn theo dự án khả thi có thể đầu tư mức vốn tối đa và cho vay với thời gian trung hoặc dài hạn.

Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động; gắn với việc giới thiệu và giải quyết việc làm cho người học, phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 48%. Tư vấn, giới thiệu việc làm cho 5.000 người, xuất khẩu lao động cho 500 người; chú ý thị trường tiềm năng và có thu nhập ổn định.

Phối hợp triển khai chướng trình xây dựng mô hình giảm nghèo; chú ý mô hình làm ăn có hiệu quả, phù hợp với điều kiện sản xuất của từng địa phương nhằm sử dung nguồn vốn hỗ trợ đúng mục đích, tránh rủi ro, mất vốn.

Tổ chức thực hiện công tác khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư cho hộ nghèo; khuyến khích hộ nghèo, hộ cận nghèo mạnh dạn chuyển đổi vật nuôi, cây trồng có năng xuất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện, đặc điểm từng vùng, từng địa phương; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ; thành lập các tổ hợp tác làm đầu mối thu mua, đảm bảo tiêu thụ sản phẩm.

Tập trung thực hiện các chính sách xã hội như: hỗ trợ thẻ Bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; hỗ trợ về miễn giảm học phí, chi phí học tập; khuyến khích xây dựng và mở rộng Quỹ khuyến học; vận động hỗ trợ học bổng, học phẩm, dụng cụ học tập và phương tiện đi lại cho học sinh, sinh viên nghèo ở những vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bãi ngang ven biển; hỗ trợ về nhà ở, nước sinh hoạt;

Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo; hỗ trợ người nghèo tiếp cận văn hóa, thông tin; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội đối với người khuyết tật, trẻ mồ côi, người già cô đơn, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, gia đình bị thiên tai, rủi ro…; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ các xã bãi ngang ven biển; triển khai thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực công tác giảm nghèo; tăng cường công tác thông tin, truyền thông về các chính sách giảm nghèo; thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác giảm nghèo; đồng thời có kế hoạch quản lý, bình nghị hộ nghèo, đảm bảo chặt chẽ, chính xác, khách quan, dân chủ, công khai và công bằng.

04/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp làm việc với Sở Tư pháp Bến Tre về hoạt động Trợ giúp pháp lýCục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp làm việc với Sở Tư pháp Bến Tre về hoạt động Trợ giúp pháp lý
 Ngày 26 tháng 3 năm 2014, Cục TGPL phối hợp Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị khảo sát về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) để phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL. Bà Nguyễn Thị Minh, Cục trưởng Cục TGPL – Bộ Tư pháp chủ trì Hội nghị. Cùng chủ trì Hội nghị có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt – Phó Giám đốc Sở Tư pháp. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hộ...

Ngày 26 tháng 3 năm 2014, Cục TGPL phối hợp Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị khảo sát về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) để phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL. Bà Nguyễn Thị Minh, Cục trưởng Cục TGPL – Bộ Tư pháp chủ trì Hội nghị. Cùng chủ trì Hội nghị có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt – Phó Giám đốc Sở Tư pháp. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hội luật gia tỉnh; đại diện các cơ quan: Tòa án nhân dân tỉnh; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh; Công an tỉnh; Sở Tài chính; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; Sở Nội vụ; lãnh đạo Trung tâm TGPL nhà nước; Phòng Tư pháp các huyện, thành phố; các Văn phòng Luật sư; Trung tâm Tư vấn pháp luật; các Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư Cộng tác viên, Cộng tác viên Tư vấn pháp luật.


Tại Hội nghị, Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động TGPL ở địa phương; có 12 ý kiến của các đại biểu phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phối hợp hoạt động TGPL; vẫn còn nhiều trường hợp bỏ sót, bỏ lọt đối tượng TGPL (nhất là các đối nghèo trong các vụ án dân sự, hành chính, hôn nhân gia đình...); vẫn còn một số ít cơ quan tố tụng chưa thực hiện tốt việc cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng; chưa gửi các văn bản, quyết định có liên quan đến hoạt động tố tụng cho Trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên, như: Kết luận điều tra, cáo trạng, bản sao bản án, chưa ghi rõ quan điểm, ý kiến bào chữa của Trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên trong bản án; trách nhiệm, chất lượng TGPL  của một số Trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên còn hạn chế; kinh phí trung ương hỗ trợ chậm giải ngân nên đã phần nào ảnh hưởng đến việc triển khai kế hoạch TGPL hàng năm; có ý kiến đề nghị nên có quy định đối tượng hộ cận nghèo được TGPL, tiếp tục thực hiện xã hội hóa trong hoạt động TGPL nhằm huy động nguồn lực của các tổ chức, cá nhân tham gia; không đồng ý việc thu phí TGPL đối với người không thuộc đối tượng.


Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Cục trưởng Cục TGPL – Bộ Tư pháp Nguyễn Thị Minh trân trọng cám ơn các đại biểu đã tham dự Hội nghị và ghi nhận ý kiến của các đại biểu rất thiết thực và trách nhiệm; trong đó đồng chí Cục trưởng đồng tình với ý kiến của quý đại biểu về những khó khăn, vướng mắc. Cục TGPL sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất bổ sung việc sửa đổi Luật TGPL theo hướng làm rõ hơn khái niệm về TGPL tránh chồng chéo chức năng hoạt động TGPL với phổ biến, giáo dục pháp luật; đối với Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL sẽ đề xuất theo hướng nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm TGPL, không thành lập mới Chi nhánh, tiếp tục củng cố các Chi nhánh hiện có, nơi nào Chi nhánh hoạt động không hiệu quả thì mạnh dạn đề xuất giải thể; tiếp tục củng cố các Câu lạc bộ TGPL; nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung chức danh Trợ giúp viên pháp lý theo hướng quy định chức danh Luật sư TGPL trong Luật TGPL; tiếp tục đề xuất về chính sách đối với viên chức hoạt động TGPL về phụ cấp công vụ, trang phục và chi phí hỗ trợ hoạt động cho Trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên.

31/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hai vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 ngườiHai vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người
Trong tuần (từ ngày 20/5 đến 26/5/2014), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ va chạm giao thông, làm bị thương 02 người và 02 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người, như:

 

Trong tuần (từ ngày 20/5 đến 26/5/2014), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ va chạm giao thông, làm bị thương 02 người và 02 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người, như:

- Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, lúc 12 giờ, ngày 22/5/2014, trên Đại lộ Đồng Khởi, thuộc địa bàn phường Phú Khương, thành phố Bến Tre. Bà Đặng Thị Thu Hà, sinh năm 1965, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành điều khiển xe mô tô lưu thông theo hướng từ vòng xoay Phú Khương về phường 4, đến khu vực trên thì đụng vào xe lăn (3 bánh) do ông Nguyễn Văn Hai, sinh năm 1931, phường 5, thành phố Bến Tre điều khiển lưu thông cùng chiều. Nguyên nhân do bà Hà điều khiển phương tiện vượt xe không đảm bảo an toàn, làm ông Hai bị thương vùng đầu, sau đó chết tại bệnh viện.

- Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, lúc 19 giờ, ngày 25/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc. Ông Lê Thành Trung, sinh năm 1987, huyện Măng Thích, tỉnh Vĩnh Long, điều khiển xe ô tô khách lưu thông theo hướng từ thành phố Bến Tre đi qua khu trên thì đụng vào xe đạp do ông Trần Văn Bự, sinh năm 1968, xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc điều khiển, làm ông Bự tử vong tại hiện trường. Nguyên nhân do ông Bự điều khiển xe chạy ngược chiều.

- Vụ va chạn giao thông, lúc 9 giờ, ngày 20/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú. Ông Trần Minh Hồ, sinh năm 1979, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, điều khiển ô tô tải lưu thông theo hướng từ huyện Mỏ Cày Nam đi huyện Thạnh Phú, qua khu vực trên va chạm với xe mô tô do bà Lê Thị Mỹ Tiên, sinh năm 1991, xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú điều khiển xe mô tô theo hướng  ngược lại. Nguyên nhân do ông Hồ điều khiển phương tiện chạy lấn tuyến, làm Tiên bị thương tại vùng đầu

- Vụ va chạn giao thông, lúc 21 giờ 50 phút, ngày 24/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc. Ông Lê Vũ Hòa, sinh năm 1979, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, điều khiển xe mô tô theo hướng Cầu Hòa Lộc đi Cầu Mỏ Cày, khi đến khu vực trên va chạm với xe tải, do ông Trần Văn Du, sinh năm 1978, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, lưu thông theo hướng ngược lại, làm ông Lê Thị Hòa bị thương. Nguyên nhân do ông Hòa điều khiển phương tiên không đúng phần đường quy định.

Ngoài ra, lực lượng Cảnh sát giao thông đã ra quyết định xử phạt 878 trường hợp vi phạm hành chính trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, trong đó lỗi vị phạm do uống rượu, bia vượt quá nồng độ cồn cho phép là 159 trường hợp, chạy qua tốc độ 108 trường hợp, không có giấy phép lái xe 275 trường hợp, chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô trên 50cm3 36 trường hợp, khôngđội muxc bảo hiểm 95 trường hợp, điều khiển phương tiện đi không đúng phần đường quy định 29 trường hợp, chở quá tải 39 trường hợp…

Nguyên nhân, do lỗi chủ quan của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông; ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn giao thông của phần lớn người ttham gia giao thông vi phạm trật tự an toàn giao thông còn rất hạn chế.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên
Sáng ngày 05 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hà Nội và 62 điểm cầu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tham dự Hội nghị ...

Sáng ngày 05 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hà Nội và 62 điểm cầu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Hà Nội có đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị; các đồng chí lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương; Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam; Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Về phía Bộ Tư pháp có đồng chí Hà Hùng Cường, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và các đồng chí Thứ trưởng Bộ Tư pháp.


Tại điểm cầu tỉnh Bến Tre, đồng chí Trần Ngọc Tam, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh dự và chủ trì Hội nghị, tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông, các Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, Báo Đồng Khởi và Đài Phát Thanh – Truyền hình tỉnh dự và đưa tin.

Hội nghị đã nghe Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Phó Giáo sư tiến sĩ Hoàng Thế Liên, Thứ trưởng Bộ Tư pháp giới thiệu về ý nghĩa, nội dung của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013.


Hội nghị này đã cung cấp cho các Báo cáo viên phát luật và Báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng về ý nghĩa, nội dung, đặc biệt là những điểm mới của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các Báo cáo viên pháp luật sau Hội nghị này sẽ phát huy vai trò của mình trong công tác tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp đến các tầng lớp nhân dân; cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn tỉnh.

07/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúngCông tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúng
 Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh ...

Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh và địa phương đã làm tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, tái định cư đảm bảo tiến độ dự án, đảm bảo chính sách và quyền lợi chính đáng, cuộc sống, việc làm cho người dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, điển hình như công trình cầu Cổ Chiên, 10 cầu trên địa bàn huyện Bình Đại, Khu Công Nghiệp Giao Long, Đường từ Cảng Giao Long đến đường Nguyễn Thị Định, các cầu trên địa bàn huyện Chợ Lách, Thạnh Phú…Tuy nhiên, vẫn còn một vài công trình dự án trong quá trình thực hiện còn để xảy ra sơ sót, công tác phối hợp vận động quần chúng thiếu chặc chẽ dẫn đến người dân chưa đồng tình, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Thiết nghĩ, trong thời gian tới nhằm mở rộng dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác quy hoạch, xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, công tác đền bù giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư; tăng cường hơn nữa vai trò phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đề ra những giải pháp phù hợp nhằm tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện các dự án, nắm bắt, phản ánh và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc, khiếu nại chính đáng của người dân góp phần xây dựng xã hội đồng thuận, tự quản, các cấp chính quyền và hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thề chính trị xã hội trong tỉnh cần thực hiện các bước giải pháp đồng bộ sau :

Bước 1, Đối với công tác dân vận trong giai đoạn chuẩn bị quy hoạch, xây dựng dự án, triển khai đầu tư phát triển kinh tế xã hội: Ngay từ khi dự thảo quy hoạch, dự án, phương án thu hồi đất, giá cả đền bù và phương án tổ chức thực hiện dự án, các cấp chính quyền phải tổ chức họp dân, toạ đàm, lắng nghe, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến tham gia của nhân dân, của MTTQ và các đoàn thể liên quan đến dự án để bổ sung, hoàn thiện dự án; khi được phế duyệt chính thức và trước khi tổ chức thực hiện dự án chính quyền các cấp phải công khai với người dân về nội dung liên quan của dự án bắng nhiều hình thức linh hoạt như mời họp dân, trực tiếp phổ biến, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết văn bản...; tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương về thu hồi đất khi thực hiện dự án, để người dân hiểu đúng, đủ về mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng, quyền lợi của mình khi dự án được thực hiện.

Bước 2, Công tác dân vận trong giai đoạn thực hiện: Chính quyền thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án đảm bảo có thành phần các tổ chức trong hệ thống chính trị như: Dân vận, MTTQ và các đoàn thể; khảo sát, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư , tổ chức lấy ý kiến của người bị thu hồi đất nhằm xây dựng phương án rõ ràng, minh bạch, chính sát, chi tiết từng phương án bao gồm cả phương án kiểm đếm, thanh toán và phương án tuyên truyền vận động đến từng hộ dân có liên quan.

Xây dựng phương án đến bù cụ thể cho từng hộ, chuẩn bị các điều kiện kinh phí, tài chỉnh để thực hiện, phân công rõ từng trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuyên truyền vận động, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng, nghiên cứu tiếp thu, giải quyết ý kiến thắc mắc kiến nghị đến từng hộ dân có liên quan; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền vận động quần chúng, nêu cao quan điểm quần chúng, tôn trọng dân cho cán bộ công chức ( những người được phân công trực tiếp kiểm đếm, chi trả đền bù) và cán bộ trong hệ thống chính trị được phân công tham gia thực hiện dự án, chống hiện tượng lợi dụng bớt xén, quan liêu, hách dịch cửa quyền, mất dân chủ với nhân dân; đồng thời tuyên truyền chống biểu hiện thiếu trung thực về kê khai nhà cửa, tài sản, đất đai, lợi dụng chính sách đền bù giải toả của Nhà nước.

Phải công bố rõ chủ trương thu hồi đất cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; công khai phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, thời gian bàn giao đất, phương án, phương pháp thực hiện chi trả tiền bồi thường và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư kịp thời cho người dân.

Bước 3, Tổ chức lắng nghe tiếp thu ý kiến, đối thoại, giải quyết khiếu tố của nhân dân trong quá trình thực hiện dự án: Trong quá trình thực hiện dự án, các cơ quan chức năng phải thường xuyên theo dõi, lắng nghe tâm tư nguyện vọng chính đáng và ý kiến tham gia góp ý, thắc mắc, khiếu tố của nhân dân để kịp thời tiếp thu những ý kiến đúng đắn, tiếp tục chỉnh sửa bổ sung về cơ chế, chính sách, giá cả đền bù, hỗ trợ, phương pháp tổ chức thực hiện; giải thích rõ những ý kiến kiến nghị của nhân dân; khi có khiếu kiện đông người, phức tạp cấp uỷ, chính quyền có trách nhiệm nghe, đối thoại trực tiếp với nhân dân, nắm tình hình, bàn giải pháp và lập tổ công tác, phân công nhiệm vụ cho các tổ chức cá nhân cụ thể tuyên truyền vận động, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của người dân; công tác giải quyết khiếu nại gay gắt của người dân phải lấy tuyên truyền vận động, thuyết phục là chính, hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp cưỡng chế, bắt người; phát huy tốt vay trò của cả hệ thống chính trị, những người tích cực, có uy tín trong nhân dân; phải tổ chức lực lượng kiên trì vận động đến từng người dân và thực sự cầu thị, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân; nghiêm túc kiểm diểm rút kinh nghiệm nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục sửa chửa và xin lỗi người dân về những khuyết điểm, hạn chế của mình; tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác và cương quyết khôn khéo phát động nhân dân đấu tranh với những người cực đoan lợi dụng dân chủ để tập hợp quần chúng khiếu nại gây mất ổn định về ANCT; công tác cưỡng chế khi thật cần thiết, song phải cân nhắc kỹ, phải được đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ, không để tình hình phức tạp thêm.

Và cuối cùng sau khi dự án đã thực hiện xong, Ban Dân vận, MTTQ và các đoàn thể phải tiếp tục nắm tâm tư nguyện vọng, đời sống ăn ở, sinh hoạt, việc làm thu nhập của nhân dân, nhất là những dự án tái định cư để tiếp tục tuyên truyền, vận động tham mưu giải quyết, hỗ trợ kịp thới những khó khăn, bức xúc, sớm ổn định cuộc sống của nhân dân. Thực hiện đồng bộ các bước giải pháp trể sẽ góp phần rất quan trọng giúp các công trình dự án trọng điểm của tỉnh ta thực hiện một cách thành công, hiệu quả, nhanh chóng, tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở từng địa phương.

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bảo vệ nguồn tài nguyên nước là bảo vệ cuộc sốngBảo vệ nguồn tài nguyên nước là bảo vệ cuộc sống
Con người chúng ta tồn tại hẳn không thể thiếu “nước”, nước gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của con người và nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng để tạo ra các nguồn năng lượng cũng hết sức quan trọng phục vụ cho đời sống con người, mà qua đó cũng đánh dấu được sự phát triển ngày một hiện đại của xã hội. Nước và năng lượng có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, các nguồn năn...

Con người chúng ta tồn tại hẳn không thể thiếu “nước”, nước gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của con người và nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng để tạo ra các nguồn năng lượng cũng hết sức quan trọng phục vụ cho đời sống con người, mà qua đó cũng đánh dấu được sự phát triển ngày một hiện đại của xã hội. Nước và năng lượng có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, các nguồn năng lượng được tạo ra và được truyền tải hầu như đều phải sử dụng đến tài nguyên nước, đặc biệt là đối với năng lượng thủy điện và nhiệt điện.

Ngày nay việc bảo vệ và sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên nước đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi nước có tầm quan trọng liên quan đến sự sinh tồn và phát triển của con người và của toàn xã hội đồng thời nước không phải là nguồn tài nguyên thiên nhiên “vô tận”, nếu không có ý thức bảo vệ và giữ gìn thì chính chúng ta đã tự hủy diệt môi trường sống của chính mình.

Có thể nói con người sẽ không thể tồn tại nếu thiếu nước nhưng dường như con người chưa đề cao vai trò của nước trong cuộc sống của mình, không ít các trường hợp những nhà máy, công ty, xí nghiệp đã xả chất thải, các chất độc hại chưa qua xử lý vào các sông, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân. Trong đời sống sinh hoạt thường ngày không ít người dân sử dụng nguồn nước và các nguồn năng lượng khác một cách lãng phí, chưa có ý thức tiết kiệm, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn ảnh hưởng nghiệm trọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Nước giữ một vai trò đặc biệt trong đời sống và sự phát triển của con người. Do đó, việc bảo vệ tài nguyên nước đang trở thành vấn đề hết sức quan trọng của cộng đồng, trong đó ý thức của mỗi người là điều mang tính chất cần thiết và quyết định trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tiết kiệm và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước không chỉ là tiết kiệm tiền mà còn bảo vệ cuộc sống của chính mình. Mỗi người cần nhận thức và có hành động tiết kiệm nước, điều đó sẽ góp phần rất lớn trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá và đang ngày càng “hữu hạn” này, góp phần bảo vệ sự sống, sự phát triển của con người và mọi sinh vật trên trái đất.

04/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
 Thực hiện Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI), Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 2330/KH-UBND ngày 24 tháng 5 năm 2012 triển khai thực hiện Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4...

Thực hiện Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI), Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 2330/KH-UBND ngày 24 tháng 5 năm 2012 triển khai thực hiện Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016.

Để triển khai toàn diện, đồng bộ, thống nhất nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật bám sát Chương trình hành động của Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã đưa ra những nội dung phải thực hiện trong giai đoạn 2012-2016 và phân công trách nhiệm cụ thể cho các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, theo đó:

Sở Tư pháp là cơ quan chủ trì giúp Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi, hướng dẫn các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao xây dựng và tổ chức thực hiện các nội dung đảm bảo phù hợp nội dung Kế hoạch; định kỳ sơ kết, tổng kết, kiểm tra, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất khen thưởng tổ chức, cá nhân về Ủy ban nhân dân tỉnh.

Các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh trên cơ sở nội dung thực hiện và phân công trách nhiệm của Kế hoạch triển khai thực hiện nội dung theo chức năng, nhiệm vụ do ngành mình phụ trách.

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố căn cứ vào nội dung Kế hoạch xây dựng kế hoạch triển khai, thực hiện phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương giai đoạn 2012-2016.

Định kỳ hàng năm, các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện nội dung theo Kế hoạch.

 

 

03/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thăm và tặng quà cho các gia đình Thương binh - Liệt sĩThăm và tặng quà cho các gia đình Thương binh - Liệt sĩ
Nhân kỷ niệm 67 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2014) và thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, ghi nhớ những công ơn to lớn của các anh hùng liệt sĩ, các thương bệnh binh, các gia đình có công với cách mạng. Từ ngày 21/7 đến ngày 23/7, Đoàn cán bộ Sở Tư pháp gồm đại diện Đảng ủy, Ban Giám đốc, Ban chấp hành Công đoàn, Chi Đoàn, do ông Phan Tuấn Thanh, Bí th...

Nhân kỷ niệm 67 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2014) và thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, ghi nhớ những công ơn to lớn của các anh hùng liệt sĩ, các thương bệnh binh, các gia đình có công với cách mạng. Từ ngày 21/7 đến ngày 23/7, Đoàn cán bộ Sở Tư pháp gồm đại diện Đảng ủy, Ban Giám đốc, Ban chấp hành Công đoàn, Chi Đoàn, do ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp làm Trưởng đoàn, đã đến thăm, tặng quà cho 16 gia đình cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có cha, mẹ, vợ, chồng là thương binh, liệt sỹ và bản thân là thương binh.


Đoàn cán bộ Sở Tư pháp đã ân cần thăm hỏi sức khỏe, động viên tình thần các gia đình tiếp tục giữ vững truyền thống cách mạng của các thể hệ cha, anh đi trước, vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước và giáo dục con cháu phát huy và giữ vững những giá trị cao đẹp đó.

29/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thành phố Bến Tre tổ chức tập huấn cho hòa giải viên cơ sởThành phố Bến Tre tổ chức tập huấn cho hòa giải viên cơ sở
Ngày 21/10/2010, UBND thành phố Bến Tre phối hợp cùng Sở tư pháp tổ chức lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ công tác hòa giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hơn 200 hòa giải viên cơ sở trên địa bàn thành phố Bến Tre. Ông Trần Khánh Dư phó chủ tịch UBND thành phố đã đến dự.

Ngày 21/10/2010, UBND thành phố Bến Tre phối hợp cùng Sở tư pháp tổ chức lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ công tác hòa giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hơn 200 hòa giải viên cơ sở trên địa bàn thành phố Bến Tre. Ông Trần Khánh Dư phó chủ tịch UBND thành phố đã đến dự.

Bà Nguyễn Thị Yến Nhi chánh văn phòng Sở tư pháp đã triển khai cho các hòa giải viên một số quy định của pháp luật liên quan thiết thực đến công tác hòa giải như: luật bình đẳng giới; luật phòng chống bạo lực gia đình; luật thi hành án dân sự và một số vấn đề chung trong quản lý nhà nước về công tác hòa giải cơ sở, hướng dẫn cho các hòa giải viên những kỹ năng, nghiệp vụ và những kinh nghiệm trong công tác hòa giải.

Lớp tập huấn nhằm giúp lực lượng hòa giải viên cơ sở nắm vững một số nội dung cơ bản của pháp luật và những kỹ năng hòa giải từ đó nâng cao chất lượng và tỉ lệ hòa giải thành các vụ việc tranh chấp tại địa phương, góp phần củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, hạn chế đơn thư khiếu kiện, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm ngay từ cơ sở.

QUANG KHỞI

26/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Cá ảo tiền thậtCá ảo tiền thật
Nơi tôi ở là một dãy phố có rất nhiều cửa hàng mua bán đông đúc. Tuy nhiên, cả tháng nay có một sự việc lạ xảy ra là người mua thì vẫn đến mua hàng nhưng người bán thì đã lơ là việc bán buôn. Một số cửa hàng thì người mua cứ đứng kêu chủ hàng ra bán nhưng lâu thật lâu mới thấy chủ hàng về bán hoặc người mua đợi lâu quá họ tự đi nơi khác để mua hàng. Chắc hẳn mọi người đang thắc mắc tại sao chủ...

Nơi tôi ở là một dãy phố có rất nhiều cửa hàng mua bán đông đúc. Tuy nhiên, cả tháng nay có một sự việc lạ xảy ra là người mua thì vẫn đến mua hàng nhưng người bán thì đã lơ là việc bán buôn. Một số cửa hàng thì người mua cứ đứng kêu chủ hàng ra bán nhưng lâu thật lâu mới thấy chủ hàng về bán hoặc người mua đợi lâu quá họ tự đi nơi khác để mua hàng. Chắc hẳn mọi người đang thắc mắc tại sao chủ các cửa hàng lại không thiết tha việc mua bán vì đã mở cửa hàng thì quan trọng là bán được hàng.

Trong một lần đi mua đồ dùng trong nhà tại một cửa hàng, tôi đã tình cờ giải đáp được thắc mắc trên, sau một hồi lâu đứng gọi chủ tiệm thì Chị chủ mới chạy về từ một tiệm chơi game gần đó để bán hàng cho tôi. Do Chị chủ cũng là chỗ quen biết nên tôi hỏi vui là Chị kêu con đi chơi game về hay sao mà ở đó. Chị cho biết  tiệm game đó mới mở chỉ có một trò chơi duy nhất nhưng rất thú vị, chơi rồi là dính vào đó, không phải chỉ có trẻ em mà người lớn cũng rất mê; mấy người bán hàng ở đây cũng đến đó chơi, trò chơi đó là Game Bắn cá.

Trên đường về nhà, tôi cứ suy nghĩ về những điều Chị chủ cửa hàng nói lúc nãy, tôi để ý đến ba từ Game Bắn cá và bất ngờ nhận ra trên con đường từ cửa hàng về đến nhà tôi chỉ khoảng 5km lại có đến 4 nơi treo bảng “Game Bắn cá giải trí” và rất đông người chơi. Trò chơi Game Bắn cá mà tôi nhìn thấy đó là một trò chơi điện tử được chơi trên máy bắn cá, nhìn giống như cái bàn hình chữ nhật, bốn cạnh được thiết kế nút chỉnh, ngắm bắn cá, ở mặt bàn là kính trong suốt nhìn vào bên trong thấy có rất nhiều cá, sinh vật biển như dưới lòng đại dương. Một máy ở tiệm có thể cho 06 người chơi cùng một lúc. Về cách chơi thì người chơi chỉ cần mua thẻ tại tiệm, mỗi thẻ sẽ quy ra một số điểm nhất định, cho càng nhiều thẻ vào máy thì sẽ càng nhiều điểm. Tại vị trí người chơi sẽ có hai nút điều khiển, một nút dùng để ngắm bắn cá, một nút dùng để chọn loại đạn, nếu chọn đạn lớn sẽ bắn được cá to nhưng số điểm bị trừ nếu bắn trật sẽ nhiều, còn nếu bắn trúng sẽ được cộng điểm. Khi người chơi ngừng chơi thì nhấn nút xả để lấy lại thẻ. Khi tham gia trò chơi mắt, đầu óc người chơi đã tập trung vào màn hình nhìn những chú cá bơi qua bơi lại, tay thì nhấn nút điều khiển với mục đích bắn trúng cá nên số điểm quy ra từ thẻ của họ sẽ mau chóng hết vì tỷ lệ bắn trúng cá luôn thấp hơn bắn trật. Chính vì sự mê mẩn đó nên họ sẽ mua thêm nhiều thẻ để chơi. Một người chơi đã cho tôi biết nếu em trở thành người chơi thường xuyên thì em sẽ biết được nhiều điều thú vị hơn dù có ngày thua ngày thắng vài trăm đến cả triệu đồng.

Với tiêu chí là trò chơi giải trí lành mạnh, thiết nghĩ đối với trẻ em thì gia đình cần giới hạn và giáo dục cho trẻ lúc nào được phép tham gia và chơi trong khoảng thời gian bao lâu nhằm tránh tình trạng trẻ bị nghiện game ảnh hưởng đến học tập, sức khỏe và các hệ lụy như nói dối để xin tiền hoặc có thể trộm cắp hoặc dễ bị người khác dụ dỗ làm việc sai trái để có tiền chơi game. Còn đối với người lớn nếu mê mẩn chơi game sẽ bỏ bê công việc, không quan tâm giáo dục con cái; tiền bạc ra đi theo những con cá ảo, kéo theo hệ lụy đáng tiếc như nợ nần, gia đình từ đó sẽ dẫn đến mất hạnh phúc…

Vui chơi giải trí là nhu cầu thiết yếu của con người, một ngày lao động vất vả, đầu óc căng thẳng nếu được thư giản qua các hình thức giải trí để lấy lại tinh thần hẳn là một điều vô cùng tốt lành. Tuy nhiên, giải trí như thế nào là có ích thật sự, vừa mang tính chất thư giản vừa không gây thiệt hại về mặt vật chất, chơi để giải trí nhưng không “nghiện”,  hoang phí tiền bạc hay bỏ bê công việc, học hành mới là điều quan trọng.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sốngQuy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sống


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Sản xuất các chương trình Truyền hình
Pháp luật và Đời sống
(Ban hành ngày 10/12/2007)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Trịnh Thị Thanh Bình
Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua kênh truyền hình tỉnh,  từng bước nâng cao chất lượng phục vụ của Chương trình này.

II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.

III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, Ban Lãnh đạo Sở;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp và Đài Phát thanh, truyền hình tỉnh Bến Tre.

IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước
Nội dung
Trách nhiệm
Thời gian
Ghi chú
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
1
Lập kế hoạch thực hiện trong tháng. - Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.

Đầu mỗi tháng.

Nội dung sẽ phát trong tháng; Phân công chuyên viên tham gia thực hiện.
2
Chuẩn bị kịch bản - Chuyên viên;
- Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.
Trước ngày phát sóng: 6 ngày Chuẩn bị kịch bản theo nội dung đã dự kiến trong Kế hoạch.
3
Lãnh đạo phê duyệt kịch bản
Lãnh đạo 1 ngày
4
Quay và dàn dựng chương trình Chuyên viên 2 ngày
5
Lãnh đạo duyệt chương trình Lãnh đạo Trước khi phát sóng
6
Theo dõi phát Chương trình - Trưởng phòng,
- Chuyên viên,
- Lãnh đạo.viên.
Thường xuyên - Nhận xét, đánh giá (nếu có).
- Trả lời bạn xem đài (nếu có).
7
Lưu hồ sơ Chuyên viên Sở,
Trưởng phòng,
Chuyên viên.
Ngay sau phát sóng Hồ sơ lưu: kế hoạch, kịch bản.
Băng phát lưu tại Đài PT-TH

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Bộ Tư pháp tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về ngành Tư pháp và về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamBộ Tư pháp tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về ngành Tư pháp và về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ngày 07 tháng 7 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch số 2989/KH-BTP tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về ngành Tư pháp và về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp ban hành Thông báo số 3145/TB-BTP ngày 16 tháng 7 năm 2014 thể lệ cuộc thi sáng tác ca khúc về ngành Tư pháp và về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (9/11).

Ngày 07 tháng 7 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch số 2989/KH-BTP tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về ngành Tư pháp và về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp ban hành Thông báo số 3145/TB-BTP ngày 16 tháng 7 năm 2014 thể lệ cuộc thi sáng tác ca khúc về ngành Tư pháp và về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (9/11).

Đối tượng dự thi: Mọi công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập, lao động ở trong và ngoài nước, người nước ngoài đang sinh sống, làm việc, học tập, lao động tại Việt Nam đều có quyền tham gia cuộc thi sáng tác ca khúc về ngành Tư pháp và về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (9/11). Thành viên Ban Tổ chức, Hội đồng chấm thi, Tổ thư ký được quyền tham gia hưởng ứng sáng tác nhưng tác phẩm không được tham dự xét giải thưởng.

Chủ đề tác phẩm về ngành Tư pháp: Ca ngợi truyền thống lịch sử 70 năm ngành Tư pháp Việt Nam, khẳng định vai trò và những đóng góp to lớn của ngành Tư pháp trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc; trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Ca ngợi phẩm chất tư tưởng, đạo đức, lòng tự hào yêu ngành, yêu nghề, yêu lao động, yêu quê hương đất nước; tinh thần ý chí, hoài bão, khát vọng cống hiến, xây dựng ngành Tư pháp của các thế hệ cán bộ Tư pháp. Phản ánh về các hoạt động, phong trào thi đua sâu rộng, sôi nổi, về các điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt trong toàn ngành Tư pháp.

Chủ đề tác phẩm về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (9/1): Tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (9/11), nhằm khẳng định vị trí, vai trò của Hiến pháp, pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội, tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội, tuyên truyền, phổ biến các quy định của Hiến pháp, pháp luật thiết thực với đời sống của nhân dân, vận động nhân dân chấp hành pháp luật .v.v…; cổ vũ, động viên, giáo dục cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể nhân dân ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật; xây dựng trong mỗi người dân ý thức bảo vệ pháp luật, lợi ích của việc chấp hành pháp luật.

Số lượng tác phẩm dự thi không hạn chế. Tác phẩm có thể được thể hiện dưới mọi phong cách, thể loại âm nhạc của ca khúc; lời ca bằng tiếng Việt, trong sáng, dễ nhớ, dễ thuộc mang tính cộng đồng cao, ca từ và nội dung ca khúc không vi phạm thuần phong mỹ tục của dân tộc, nằm trong khuôn khổ cho phép của pháp luật và bám sát chủ đề sáng tác; giai điệu đẹp, cấu trúc gọn gàng, phong cách mới và sáng tạo; là sáng tác mới, chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào và không có sự tranh chấp về bản quyền tác phẩm và quyền tác giả.

Quy định về hồ sơ dự thi: Mỗi tác phẩm dự thi được thể hiện bằng bản ký âm (ghi rõ tác giả phần lời và phần nhạc), được đánh máy hoặc viết tay rõ ràng trên khổ giấy A4, kèm theo đĩa CD thu âm tác phẩm (trên bìa đĩa CD ghi rõ: Tác phẩm dự thi sáng tác ca khúc về ngành Tư pháp và về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Phiếu đăng ký dự thi bao gồm các nội dung: Tên tác giả đăng ký dự thi, nghệ danh (nếu có); chủ đề tác phẩm dự thi; ngày, tháng, năm sinh; số chứng minh nhân dân; địa chỉ liên hệ; số điện thoại liên lạc; số lượng tác phẩm dự thi. Trong trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì ghi đầy đủ thông tin của các tác giả.

Các tác phẩm dự thi (gồm bản ký âm và đĩa CD) và Phiếu đăng ký dự thi được cho vào 01 phong bì lớn, dán kín gửi về Bộ Tư pháp, ngoài phong bì ghi rõ Bài dự thi sáng tác ca khúc ngành Tư pháp và về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cách thức và thời gian gửi bài dự thi: Bài dự thi có thể gửi qua đường bưu điện hoặc gửi trực tiếp tại Bộ Tư pháp. Thời hạn nhận bài dự thi: hết ngày 25 tháng 12 năm 2014 (tính theo dấu bưu điện).

Địa điểm nhận bài dự thi: Văn phòng Bộ Tư pháp, số 58-60 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội. Đầu mối liên hệ: đồng chí Nguyễn Thanh Huyền, chuyên viên, số điện thoại: 04.62739326-0947.793.555.

Cơ cấu giải thưởng cuộc thi bao gồm:

Tác phẩm về ngành Tư pháp: 01 giải nhất: trị giá 25.000.000 đồng; 02 giải nhì: mỗi giải trị giá: 15.000.000 đồng; 03 giải ba: mỗi giải trị giá: 10.000.000 đồng; 04 giải khuyến khích: mỗi giải trị giá: 5.000.000 đồng.

Tác phẩm về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: 01 giải nhất: trị giá 15.000.000 đồng; 02 giải nhì: mỗi giải trị giá: 10.000.000 đồng; 03 giải ba: mỗi giải trị giá: 7.000.000 đồng; 04 giải khuyến khích: mỗi giải trị giá: 3.000.000 đồng.

23/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanhMột số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh
Ngày 06 tháng 6 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 43/NQ-CP về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh (gọi tắt là Nghị quyết số 43/NQ-CP).

Ngày 06 tháng 6 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 43/NQ-CP về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh (gọi tắt là Nghị quyết số 43/NQ-CP).

Về mục tiêu cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư và bảo đảm thi hành có hiệu quả Luật Đất đai; tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi; cắt giảm ít nhất 40% thời gian thực hiện gắn với tiết kiệm tối đa chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế; nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam về chỉ số thuận lợi kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia; thúc đẩy thu hút đầu tư, góp phần phòng chống tham nhũng và phát triển kinh tế - xã hội.

Một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh theo Nghị quyết 43/NQ-CP đề ra như sau:

Thực hiện đơn giản hoá các quy định về thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất theo hướng: Chuẩn hoá, quy định cụ thể, đơn giản, rõ ràng các bộ phận cấu thành của thủ tục lựa chọn nhà đầu tư có sử dụng đất theo 03 hình thức (đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất và giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư không thông qua đấu giá, đấu thầu); về thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư (bãi bỏ thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư có sử dụng đất không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện...); về các thủ tục liên quan đến quy hoạch xây dựng (không yêu cầu nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép quy hoạch, các nội dung của giấy phép quy hoạch phải được thể hiện ngay trong nội dung kết quả giải quyết thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư.

Căn cứ kết quả giải quyết thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, chủ đầu tư dự án tổ chức lập và phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết làm cơ sở để lập đồ án quy hoạch); không yêu cầu nhà đầu tư phải nộp trích lục bản đồ địa chính hoặc phải thực hiện trích đo địa chính khu đất trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư;...

Xây dựng, chuẩn hoá, ban hành quy trình và các nội dung quy định chi tiết về các thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để đảm bảo thống nhất trong cả nước.

Thực hiện công khai, minh bạch thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư: Nghiêm túc thực hiện công tác công bố, công khai thủ tục hành chính làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính và phòng ngừa, hạn chế tham nhũng, tiêu cực, trong đó tập trung tổ chức thực hiện tốt công bố, công khai các thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư tại các cấp chính quyền; xử lý nghiêm và kịp thời những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi nhũng nhiễu, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về thủ tục hành chính, các cơ quan, tổ chức không thực hiện nghiêm túc việc công khai, minh bạch thủ tục hành chính, cũng như chậm trễ trong việc sửa đổi các quy định về thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp và không hiệu quả theo chỉ đạo của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.

Để tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 43/NQ-CP, Chính phủ chỉ đạo: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi thẩm quyền có trách nhiệm xây dựng văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính theo các nhiệm vụ đã được phê duyệt tại Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trước ngày 15 tháng 10 năm 2014, trong đó ưu tiên áp dụng hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn;

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan xây dựng văn bản về quy trình liên thông giải quyết các thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trước ngày 15 tháng 10 năm 2014 theo các nhiệm vụ đã được phê duyệt tại Điểm a Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP. Đối với nhiệm vụ tại Điểm b Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP, việc sửa đổi, bổ sung quy trình liên thông sẽ được thực hiện sau khi luật, pháp lệnh được ban hành;...

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ nội dung văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan trung ương ban hành để thực thi các nhiệm vụ nêu tại Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP, thực hiện ngay việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ các quy định có liên quan tại các văn bản thuộc thẩm quyền, ban hành để bảo đảm thi hành khi các văn bản của Trung ương nói trên có hiệu lực; căn cứ phạm vi chức năng quản lý nhà nước tổ chức triển khai các nhiệm vụ liên quan đến công tác thực hiện thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 43/NQ-CP.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương kiểm tra, đôn đốc thực hiện và tổng hợp vướng mắc của các Bộ, ngành, địa phương có liên quan để kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ tháo gỡ trong quá trình thực thi các nhiệm vụ đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 43/NQ-CP; tổ chức sơ kết báo cáo Chính phủ vào cuối năm 2016 về tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 43/NQ-CP.

19/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩmQuy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm
Ngày 8 tháng 11 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2012/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm (ATTP). Theo đó,

Ngày 8 tháng 11 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2012/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm (ATTP). Theo đó,

Cục an toàn vệ sinh thực phẩm có thể phạt cảnh cáo, phạt tiền với mức phạt tối đa của một hành vi vi phạm về ATTP là 100 triệu đồng.

Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về sử dụng nguyên liệu thực phẩm có thể bị phạt từ 3-20 triệu đồng.

Đối với cơ sở vi phạm quy định về sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm trong sản xuất, chế biến thực phẩm có thể bị phạt từ 3-40 triệu đồng tùy trường hợp. Vi phạm quy định về sử dụng hóa chất trong sản xuất, chế biến thực phẩm bị phạt từ 15-50 triệu đồng. Đối với hành vi sử dụng hóa chất bị cấm sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm bị phạt tiền từ 30-50 triệu đồng.

Ngoài phạt tiền, tùy vào mức độ vi phạm mà tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị tước quyền sử dụng giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy; Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm; Giấy xác nhận nội dung quảng cáo.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 12 năm 2012.


10/12/2012 12:00 SAĐã ban hành
Ngộ độc thực phẩm “ con sâu làm sầu nồi canh”Ngộ độc thực phẩm “ con sâu làm sầu nồi canh”
 Từ sau vụ ngộ độc thực phẩm do ăn bánh mì từ chiều tối ngày 22 đến sáng 26/5/2013, có đến 171 người phải vào cấp cứu tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, Bệnh xá quân y Bến Tre và Trung tâm y tế TP Bến Tre với các triệu chúng như : ói mửa, tiêu chảy, sốt và theo thông tin chúng tôi ghi nhận từ bệnh viện hầu hết bệnh nhân đã ăn bánh mì mua tại tiệm bánh mì Minh Tuyến ( phường Phú Khương, TP Bến Tre)...

Từ sau vụ ngộ độc thực phẩm do ăn bánh mì từ chiều tối ngày 22 đến sáng 26/5/2013, có đến 171 người phải vào cấp cứu tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, Bệnh xá quân y Bến Tre và Trung tâm y tế TP Bến Tre với các triệu chúng như : ói mửa, tiêu chảy, sốt và theo thông tin chúng tôi ghi nhận từ bệnh viện hầu hết bệnh nhân đã ăn bánh mì mua tại tiệm bánh mì Minh Tuyến ( phường Phú Khương, TP Bến Tre) vào chiều ngày 22-5-2013 và một số ăn vào ngày hôm sau, tuy nhiên vụ việc ở trong tỉnh chưa dịu xuống thì lại có thông tin thêm một vụ ngộ độc vì ăn bánh mì ở Thành phố Đà Nẵng làm cho một số người phải nhập viện, liên tiếp xảy ra các vụ việc liên quan đến ngô độc vì ăn bánh mì thịt đã làm cho người dân trong tỉnh lo lắng và cảnh giác với việc mua bánh mì thịt ăn, do vậy những ngày gần đây theo ghi nhận của chúng tôi tại các điểm bán bánh mì thịt trong địa bàn thành phố Bến Tre lựơng người mua bánh mì giảm rất nhiều, một chị chuyên bán bánh mì thịt tại địa bàn phường 7, TP. Bến Tre cho biết thêm, cuộc sống khó khăn, cả gia đình, con cái đi học phụ thuộc rất nhiều vào xe bánh mì này, nhưng mấy hôm nay bán bánh ế ẩm vì người dân hạn chế ăn bánh nên cả nhà phải ăn bánh mì ế trừ cơm; một chị có xe bánh mì khá nổi tiếng tại khu vực chợ phường 2, mỗi buổi chiều tối bán trên 4 đến 5 trăm bánh, có ngày gần cả ngàn bánh cũng thổ lộ, không biết vụ việc ngộ độc bánh mì như thế nào? ai làm ăn cẩu thả, mà giờ đây người mua bánh của tôi giảm đi rất nhiều, kinh tế khó khăn, buốn bán ế ẩm kiểu này thật là khổ cho người dân, đúng là con sâu làm rầu nồi canh, thậm chí có xe bánh mì mấy hôm nay phải tạm nghĩ vì không bán bánh được.

Thiết nghĩ sau sự việc trên các cấp chính quyền trong tỉnh và thành phố Bến Tre cần nên vào cuộc quyết liệt và sớm có kết luận, thông tin rộng khắp trên báo đài góp phần trấn an dư luận và tháo gỡ khó khăn cho người dân; ngoài ra để tránh tình trạng ngộ độc thực phẩm tiếp tục xảy ra gây ảnh hưởng đến dư luận, đòi hỏi các ngành chức năng, đặc biệt là cơ quan chịu trách nhiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm cần có những giải pháp triệt để, tăng cường kiểm tra xử lý các điểm buôn bán thực phẩm, thức ăn thiếu an toàn góp phần bảo vệ sức khoẻ chung trong nhân dân.

08/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đội mũ bảo hiểm, ý thức của mỗi ngườiĐội mũ bảo hiểm, ý thức của mỗi người
Hiện nay, việc đội mũ bảo hiểm đã quá quen thuộc đối với người dân khi tham gia giao thông, việc đội mũ bảo hiểm được thực hiện một cách đồng bộ và việc xử phạt các trường hợp không đội mũ bảo hiểm cũng được các lực lượng chức năng xử lý nghiêm chỉnh. Bên cạnh việc chấp hành đó, vẫn còn không ít người thiếu ý thức, thiếu quan tâm trong việc đội mũ bảo hiểm, hoặc đội nón bảo hiểm không đạt tiêu ch...

Hiện nay, việc đội mũ bảo hiểm đã quá quen thuộc đối với người dân khi tham gia giao thông, việc đội mũ bảo hiểm được thực hiện một cách đồng bộ và việc xử phạt các trường hợp không đội mũ bảo hiểm cũng được các lực lượng chức năng xử lý nghiêm chỉnh. Bên cạnh việc chấp hành đó, vẫn còn không ít người thiếu ý thức, thiếu quan tâm trong việc đội mũ bảo hiểm, hoặc đội nón bảo hiểm không đạt tiêu chuẩn, chất lượng để đối phó với cơ quan chức năng; điều đó sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường nếu có tai nạn giao thông xảy ra. Nếu đội mũ bảo hiểm để bảo vệ sức khỏe và hạn chế thiệt hại về sức khỏe khi xảy ra tai nạn thì việc đội mũ kém chất lượng là đi ngược với mục tiêu đề ra, vì thế người dân nên có ý thức chấp hành tốt việc đội nón bảo hiểm cũng như có ý thức đội nón bảo hiển đạt chất lượng để tự bảo vệ bản thân mình. Chúng ta không nên có suy nghĩ đội mũ bảo hiểm là để đối phó với lực lượng cảnh sát giao thông hay các cơ quan chức năng, với suy nghĩ như vậy sẽ vô hình chung tiếp tay cho những người sản xuất, mua bán mũ bảo hiểm kém chất lượng diễn ra một cách công khai, tràn lan, khó kiểm soát, mà hơn hết đã góp phần làm gia tăng số lượng người chết hoặc bị thương do tai nạn giao thông gây ra.

Chúng ta không khó để tìm thấy nơi bán mũ bảo hiểm, vì nón bảo hiêm được bày bán ở khắp mọi nơi, không chỉ ở các cửa hàng mà ngay cả ở những vỉa hè, lề đường với những kiểu dáng đa dạng, bắt mắt và điều đặc biệt là có giá bán rất thấp, người dân rất dễ dàng sở hữu một hoặc nhiều nón mà không mất nhiều thời gian. Chính điều đó đã làm cho những người tham gia giao thông quên mất đến việc bảo vệ sức khỏe, tính mạng của mình, chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt, không phải tốn kém nhiều tiền, lại không bị lực lượng chức năng xử lý vi phạm khi tham gia giao thông. Một điều đáng quan tâm hơn nữa, đó là việc các bậc phụ huynh khi đưa đón con nhỏ đi học thường xuyên không đội mũ cho trẻ vì cho rằng các bé còn nhỏ nên không đội mũ cũng không sao, một số trường hợp có cho trẻ đội mũ bảo hiểm nhưng không đảm bảo chất lượng, chỉ mang tính hình thức, chống chế.

Căn cứ Điều 9 Nghị định số 71/2012/NĐ-CP ngày 19 tháng 09 năm 2012 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, quy định về việc xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ như sau:

Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi:

- Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;

- Chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.

Để hạn chế tình trạng trên, Ủy ban an toàn giao thông quốc gia cũng đã ban hành Kế hoạch số 47/KH-UBATGTQG ngày 11/3/2013 về tổ chức chiến dịch tuyên truyền và cao điểm xử lý vi phạm về sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm, thời gian thực hiện chiến dịch từ 15/3 đến 15/6/2013. Nội dung kế hoạch trên nhằm tuyên truyền đội mũ bảo hiểm đạt chất lượng và cao điểm xử lý vi phạm về sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm giả, nâng cao ý thức của người dân trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm. Trên cơ sở đó, nhằm quản lý chặt chẽ việc sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh mũ bảo hiểm để ngăn chặn các loại mũ giả mạo mũ bảo hiểm trên thị trường và xử lý nghiêm các hành vi trên.

Pháp luật đã quy định các biện pháp xử lý đối với hàng vi sản xuất, mua bán mũ bảo hiểm kém chất lượng, nhưng hơn ai hết mỗi người dân cần đề cao ý thức tự bảo vệ mình, đừng vì lợi ích trước mắt mà phải trả giá bằng sức khỏe thậm chí bằng cả tính mạng của chính bản thân mình và kể cả người thân của mình. Hãy là người tiêu dùng thông minh, luôn đặt những lợi ý lâu dài lên trên cũng như luôn nêu cao tinh thần tự bảo vệ mình là chính, đối với những nhà sản xuất, những người kinh doanh mũ bảo hiểm cũng nên đặt lợi ích của người tiêu dùng làm mục tiêu kinh doanh, tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về sản xuất, kinh doanh mũ bảo hiểm.

17/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014
Ngày 14 tháng 2 năm 2014, tại tỉnh Bạc Liêu, Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long tổ chức Hội nghị phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014. Đến dự Hội nghị có ông Nguyễn Bá Yên, Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp; ông Lê Thanh Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; đại diện lãnh đạo Sở Tư ...

Ngày 14 tháng 2 năm 2014, tại tỉnh Bạc Liêu, Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long tổ chức Hội nghị phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014. Đến dự Hội nghị có ông Nguyễn Bá Yên, Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp; ông Lê Thanh Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp của 13 tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long; đơn vị Bến Tre có ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp.


Hội nghị đã thông qua Kế hoạch phát động phong trào thi đua và ký kết giao ước thi đua năm 2014 với các nội dung nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo 100% các văn bản quy pham pháp luật được xây dựng, thẩm định, kiểm tra đúng tiến độ;

Tập trung theo dõi thi hành pháp luật ở các lĩnh vực thuộc các nhiệm vụ, giải pháp ở địa phương về lĩnh vực kinh tế, xã hội có nhiều bức xúc như đầu tư, đất đai, xây dựng, xử phạt vi phạm hành chính….;

Triển khai và thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính; rà soát công bố kịp thời 100% thủ tục hành chính mới hoặc đã được sửa đổi, bổ sung, bảo đảm sự thống nhất áp dụng thủ tục hành chính trong toàn quốc;

Tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tập trung triển khai có hiệu quả 100% các luật đã được ban hành như: Hiến pháp năm 2013, Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Đất đai năm 2013;

Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động Trợ giúp pháp lý, đảm bảo thực hiện có hiệu quả các chương trình về hỗ trợ pháp lý cho 100% đối tượng chính sách, cho người nghèo, đảm bảo 100% xã xây dựng Nông thôn mới đều xây dựng Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý;


Nâng cao chất lượng hoạt động hành chính tư pháp, lý lịch tư pháp; tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động bổ trợ tư pháp; kiện toàn công tác tổ chức, cán bộ, phấn đấu đến cuối năm 2014, có trên 70% Ủy ban nhân dân cấp xã có 02 công chức Tư pháp - Hộ tịch và 90% công chức này có trình độ từ trung cấp luật trở lên;

Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành; đổi mới công tác thi đua, khen thưởng và tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 69 năm ngày truyền thống Ngành Tư pháp.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Bá Yên, Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, Bộ Tư pháp ghi nhận những thành tích mà Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long đã đạt được trong thời gian qua và đề nghị các đơn vị cần tiếp tục tuyên truyền phổ biến, quán triệt các chủ trương về thi đua khen thưởng trong toàn Ngành; căn cứ theo từng chỉ tiêu, nội dung thi đua và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương mà cụ thể hóa và triển khai thực hiện; tiếp tục nhân rộng các điển hình tiên tiến nhằm tạo động lực thúc đẩy công chức, viên chức và người lao động trong toàn Ngành hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2014.

21/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn