Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Bến Tre tập trung phổ biến, giáo dục pháp luật cho một số đối tượng đặc thù 6 tháng cuối năm 2014Bến Tre tập trung phổ biến, giáo dục pháp luật cho một số đối tượng đặc thù 6 tháng cuối năm 2014
Ngày 16/7/2014, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 3134/BTP về việc hướng dẫn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho một số đối tượng đặc thù 6 tháng cuối năm 2014. Theo đó, Bến Tre tập trung vào thực hiện nội dung sau:

Ngày 16/7/2014, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 3134/BTP về việc hướng dẫn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho một số đối tượng đặc thù 6 tháng cuối năm 2014. Theo đó, Bến Tre tập trung vào thực hiện nội dung sau:

Đối với người dân ở vùng sâu, vùng xa, ven biển, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân

Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn: Nội dung PBGDPL tập trung các quy định pháp luật về tôn giáo, về bảo vệ quốc phòng, biên giới, chủ quyền của quốc gia; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; pháp luật về đất đai, tài nguyên khoáng sản; pháp luật về phòng, chống ma túy, và những quy định của pháp luật khác gắn liền với đời sống, sản xuất của người dân. Hình thức PBGDPL cho đối tượng thông qua trợ giúp pháp lý lưu động, tư vấn pháp luật, hòa giải ở cơ sở, cung cấp miễn phí thông tin, tài liệu pháp luật; lồng ghép PBGDPL trong các hoạt động văn hóa; hoạt động thanh niên tình nguyện.

Lồng ghép trong thực hiện Kế hoạch triển khai Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2016”, Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại một số địa bàn trọng điểm về vi phạm pháp luật giai đoạn 2013-2016”.

Người dân sống ở ven biển và ngư dân: Nội dung PBGDPL tập trung về Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Luật Biển Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia, Luật An ninh quốc gia, Luật Thủy sản. Hình thức PBGDPL cho đối tượng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng; tổ chức trao đổi, sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề về các vấn đề pháp lý liên quan đến biển; tổ chức hội diễn văn nghệ, thông tin lưu động có lồng ghép tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển tại các xã biển hoặc tổ chức kết hợp với hoạt động đoàn, hội, đội, hoạt động thanh niên tình nguyện; xây dựng panô, áp phích, pháp miễn phí các tài liệu, tờ gấp, tờ rơi pháp luật.

Lồng ghép trong thực hiện Kế hoạch triển khai Đề án “Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân vùng biên giới, hải đảo giai đoạn 2013-2016”; Kế hoạch tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh năm 2014

Đối với người lao động trong các doanh nghiệp

Nội dung PBGDPL tập trung vào các quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động; Bộ luật Lao động và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, các qui định của pháp luật về việc làm, hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động và vệ sinh lao động; pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, pháp luật công đoàn.

Hình thức PBGDPL cho đối tượng thông qua việc phổ biến trực tiếp, niêm yết các quy định pháp luật tại nơi làm việc, tủ sách pháp luật, pháp hành tờ gấp, lồng ghép trong các hoạt động văn hóa văn nghệ.

Lồng ghép trong tổ chức thực hiện Kế hoạch triển khai Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp đến năm 2016”.

Với đối tượng nạn nhân bạo lực gia đình, người có hành vi bạo lực gia đình

Nội dung PBGDPL tập trung vào Luật Hôn nhân gia đình và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật; Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Hình thức PBGDPL cho đối tượng thông qua tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật; hòa giải các mâu thuẩn ở cộng đồng dân cư; gắn với thực hiện phong trào tuyên truyền và vận động nhân dân chấp hành pháp luật ở cộng đồng dân cư, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư”; lồng ghép với các phong trào của các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc; tiếp tục phát động và tổ chức cho các hộ gia đình, cá nhân ký cam kết không vi phạm pháp luật, chú trọng nêu gương người tốt việc tốt trong chấp hành pháp luật và đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật.

Lồng ghép tổ chức thực hiện Kế hoạch triển khai Đề án “Tiếp tục xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư giai đoạn 2013-2016”.

Đối với người khuyết tật

Nội dung PBGDPL tập trung về các quy định pháp luật liên quan đến quyền của người khuyết tật; chế độ, chính sách của Nhà nước trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ người khuyết tật.

Hình thức PBGDPL đối với người khuyết tật được thực hiện thông qua các phương thức, phương tiện, tài liệu phù hợp với từng loại đối tượng người khuyết tật; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc gia.

Lồng ghép trong tổ chức thực hiện Kế hoạch triển khai Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ).

Đối với đối tượng là người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo

Người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc:  Nội dung PBGDPL tập trung vào các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về hình sự, thi hành án hình sự, xử lý vi phạm hành chính; pháp luật về phòng, chống ma túy và tệ nạn xã hội. Đối với người nghiện ma túy, cần PBGDPL về phòng, chống HIV/AIDS, vệ sinh môi trường và công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Hình thức PBGDPL cho đối tượng thông qua chương trình học pháp luật, giáo dục công dân và lồng ghép trong các chương trình học văn hóa, học nghề, giáo dục tái hòa nhập cộng đồng, phổ biến thông tin, thời sự, chính sách; tổ chức đọc sách báo; sinh hoạt câu lạc bộ, nhóm đồng đẳng và các hoạt động quản lý, giáo dục pháp luật khác.

Người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo: Nội dung PBGDPL tập trung về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật hình sự, thi hành án hình sự, xử lý vi phạm hành chính, các quy định của pháp luật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của người được giáo dục. Hình thức PBGDPL cho đối tượng thông qua các hình thức phù hợp, chú trọng phổ biến pháp luật trực tiếp; phổ biến, giáo dục chung, giáo dục riêng, sinh hoạt câu lạc bộ…

Lồng ghép trong tổ chức thực hiện Kế hoạch triển khai Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011-2015”, Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại một số địa bàn trọng điểm về vi phạm pháp luật giai đoạn 2013-2016”.

05/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Câu đối ngày tếtCâu đối ngày tết
MỪNG ĐẢNG QUANG VINH THI ĐUA CHUNG SỨC CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ NÂNG TẦM THÀNH PHỐ TRẺ       VUI XUÂN ĐẮC LỘC NỔ LỰC KẾT ĐOÀN PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI MỚI Dân tộc Việt Nam nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã một lòng đi theo con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn là độc lập dân tộc tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đ...

MỪNG ĐẢNG QUANG VINH THI ĐUA CHUNG SỨC CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ NÂNG TẦM THÀNH PHỐ TRẺ

VUI XUÂN ĐẮC LỘC NỔ LỰC KẾT ĐOÀN PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI MỚI

Dân tộc Việt Nam nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã một lòng đi theo con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn là độc lập dân tộc tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đây được xem là chân lý và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, ánh sáng và chân lý ấy của Đảng, của Bác Hồ kính yêu luôn vẫn còn nguyên giá trị.  “Mừng Đảng quang vinh” mừng những chủ trương đường lối xây dựng đất nước đúng đắn của Đảng dẫn dắt và soi đường cho toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn gian khổ mà phát triển đi lên, để mọi người dân cùng nhau “Thi đua chung sức” chung lòng cùng xây dựng quê hương giàu đẹp. Với những kết quả bước đầu đã đạt được trong việc xây dựng và nâng tầm thị xã Bến Tre lên thành phố mới, một thành phố trẻ, để thành phố Bến Tre trở thành đô thị loại II theo tinh thần Nghị quyết của Tỉnh uỷ và đúng với nguyện vọng, Nghị quyết của Đảng bộ và nhân dân thành phố Bến Tre, việc đầu tiên cần phải làm là tiếp tục tuyên truyền vận động nhân dân toàn thành phố ra sức thi đua chung sức chung lòng cùng nhau làm đẹp và giữ gìn cảnh quan đô thị góp phần nâng tầm thành phố trẻ Bến Tre anh hùng.

Sự chỉnh trang đô thị nầy cũng là dịp để chúng ta lập thành tích chào đón  một mùa xuân mới  đang về “ Mừng Đảng Quang vinh, mừng xuân đắc lộc”, cùng cầu chúc cho muôn nhà hưởng một mùa xuân tươi vui, đầm ấm, hạnh phúc, đắc lộc; chúng ta phải phấn đấu nhiều hơn trong công việc, trong cuộc sống, nổ lực cùng nhau xây dựng xã hội ngày một tốt hơn. Với tinh thần đoàn kết cùng nhau xây dựng thành công nông thôn mới dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng cùng với khí thế tiến công, quyết tâm nối tiếp truyền thống hào hùng của quê hương Đồng Khởi anh hùng năm xưa, thế hệ hôm nay, trên thành phố mới quyết tâm đoàn kết, nổ lực phấn đấu xây dựng thành phố Bến Tre ngày thêm giàu đẹp, tiến lên làm cuộc Đồng Khởi mới xứng danh quê hương xứ dừa.

06/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Văn phòng công chứng Nguyễn Rậm khai trương và đi vào hoạt độngVăn phòng công chứng Nguyễn Rậm khai trương và đi vào hoạt động
Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của ...

Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của huyện Ba Tri và các đại biểu đại diện Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn huyện.

Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm thành lập và đi vào hoạt động theo Quyết định số 1115/QĐ-UBND ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc cho phép thành lập Văn phòng công chứng Nguyễn Rậm và Sở Tư pháp đã cấp Giấy đăng ký hoạt động số 10/TP-ĐKHĐ ngày 18 tháng 6 năm 2014. Bước đầu đi vào hoạt động Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm có 04 nhân viên và công chứng viên.

Đây là Văn phòng công chứng thứ 02 (hai) trên địa bàn huyện Ba Tri đi vào hoạt động và huyện Ba Tri là huyện thứ hai sau thành phố Bến Tre hoàn thành xong giai đoạn II (2015-2020) của Quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

16/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Xảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọngXảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng
Trong tuần qua, từ ngày 30/6 đến ngày 06/7/2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre xảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng, và 5 vụ va chạm giao thông đường bộ, làm chết 4 người và bị thương 6 người, so với tuần trước tình hình tai nạn giao thông có chiều hướng giảm, cụ thể như: giảm 3 vụ tai nạn và giảm 3 người chết do tai nạn giao thông.

Trong tuần qua, từ ngày 30/6 đến ngày 06/7/2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre xảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng, và 5 vụ va chạm giao thông đường bộ, làm chết 4 người và bị thương 6 người, so với tuần trước tình hình tai nạn giao thông có chiều hướng giảm, cụ thể như: giảm 3 vụ tai nạn và giảm 3 người chết do tai nạn giao thông.

Trong 4 vụ tai nạn giao thông, thì có 3 vụ người điều khiển phương tiện giao thông sử dụng rượu bia vượt quá mức cho phép dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Vào lúc 23 giờ, ngày 01/7/2014 trên Quốc lộ 57 thuộc địa bàn xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, Hồ Văn Súl, sinh năm 1972, đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, điều khiển xe mô tô 3 bánh lưu thông theo hướng từ An Nhơn đi Giao Thạnh, đến khu vực trên tự té xuống ao tôm ven đường và chết tại hiện trường, nguyên nhân do Hồ Văn Súl đã uống rượu, bia không làm chủ được tay lái khi điều khiển phương tiện giao thông.

Vào lúc 19 giờ, ngày 05/7/2014 trên lộ K20 thuộc địa bàn xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, Trần Văn Trọng, sinh năm 1995, điều khiển xe mô tô lưu thông theo hướng từ xã Châu Bình đi thị trấn Giồng Trôm, trong khi vượt xe mô tô khác chạy cùng chiều, xe của Trọng đã va chạm với xe gắn máy do Trần Thị Tho, sinh năm 1983, điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại, hậu quả làm Trọng bị thương nặng và sau đó tử vong tại bệnh viện.

Nhìn chung, các vụ tai nạn giao thông xảy ra trong tuần qua do người điều khiển phương tiện giao thông đã sử dụng rượu, bia, và điều khiển phương tiên thiếu chú ý quan sát, đi không đúng phần đường quy định…

Trước tình hình tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra cho thấy sự thiếu ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông, thực trạng sử dụng rượu, bia vượt quá mức cho phép, và tình trạng tránh vượt không đúng quy định, hậu quả là rất nghiêm trọng, dẫn đến chết người.

24/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2014Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2014
Sáng ngày 18 tháng 7 năm 2014, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) 6 tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh là đại diện lãnh đạ...

Sáng ngày 18 tháng 7 năm 2014, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) 6 tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh là đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh; Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố và đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

Hội nghị đã thông qua dự thảo Báo cáo kết quả công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở 6 tháng đầu năm 2014, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014. Hội nghị cũng đã nghe nhiều ý kiến phát biểu của các ngành và địa phương về những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế, khó khăn trong công tác PBGDPL; các đại biểu cơ bản thống nhất với dự thảo Báo cáo và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014. Đồng thời, tại Hội nghị các đại biểu cũng đã góp ý dự thảo Kế hoạch tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014 trước khi trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành.


Trong 6 tháng đầu năm 2014, công tác PBGDPL được các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; những kế hoạch, chủ trương, chỉ đạo của trung ương, cấp trên, của UBND tỉnh về công tác PBGDPL được triển khai kịp thời trên địa bàn tỉnh; nội dung PBGDPL phù hợp, có liên quan mật thiết đến đời sống của đối tượng được tuyên truyền; hình thức PBGDPL phong phú, đa dạng, kết hợp nhiều loại hình, mô hình đã tuyên truyền sâu, rộng những quy định của pháp luật đến với người dân; việc phối hợp trong công tác PBGDPL của một số cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện dần đi vào nền nếp, phát huy được vai trò của từng cơ quan, đơn vị trong công tác phối hợp PBGDPL.

Bên cạnh những mặt đạt được, công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở năm 2014 vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế: Việc thực hiện công tác PBGDPL còn dàn trãi; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ, kịp thời. Tuy lực lượng làm công tác PBGDPL có tăng về số lượng nhưng còn hạn chế về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm. Trong công tác hoà giải ở cơ sở, tỷ lệ hoà giải thành trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt 78%, một số huyện tỷ lệ hoà giải thành còn thấp. Việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật chưa phát huy hiệu quả. Do Trung ương chậm ban hành văn bản hướng dẫn nên việc triển khai thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh còn chậm. Năm 2014, tỉnh chưa được ngân sách trung ương hỗ trợ cho công tác PBGDPL nên kinh phí hoạt động PBGDPL còn khó khăn.

Kết luận chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đánh giá cao kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2014; đồng thời nhấn mạnh một số nhiệm vụ công tác PBGDPL 6 tháng cuối năm 2014; trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, từng địa phương và vai trò, trách nhiệm thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL được phân công, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh, Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

Từng cơ quan, đơn vị, thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố cần rà soát và tiếp tục phối hợp tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả, đúng tiến độ công tác PBGDPL theo Kế hoạch công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014 của UBND tỉnh.

Tiếp tục tổ chức triển khai, tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật mới ban hành, các quy định của pháp luật có liên quan mật thiết với đời sống của nhân dân; tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014.

Tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác PBGDPL, tăng cường xã hội hoá hoạt động này. Đổi mới, nâng cao hiệu quả mô hình “Ngày pháp luật” tại các cơ quan, đơn vị, địa phương trở thành nội dung sinh hoạt thường xuyên định kỳ, thật sự đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả. Tổ chức “Ngày Pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” năm 2014 (9/11) hiệu quả, thiết thực.

Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch số 4240/KH-UBND ngày 06/9/2013 của UBND tỉnh về xây dựng xã, phường, thị trấn tiếp cận pháp luật trên địa bàn tỉnh. Đối với việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở tạm dừng theo Công văn số 4793/VPCP-PL ngày 27/6/2014 của Văn Phòng Chính phủ về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg.

Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân; đồng thời nghiêm túc tổ chức triển khai thực hiện Quyết định số 1133/QĐ-TTG ngày 15/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt và tổ chức thực hiện các Đề án tại Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW.

Tiếp tục củng cố đội ngũ Báo cáo viên cấp tỉnh, cấp huyện; Tuyên truyền viên pháp luật cấp xã, phát huy vai trò của đội ngũ này trong công tác PBGDPL. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ PBGDPL; cung cấp tài liệu, tổ chức trao đổi kinh nghiệm trong công tác PBGDPL.

Sở Tư pháp chủ động phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức cho các Hội viên Hội Luật gia tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở. UBND các huyện, thành phố tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Hoà giải ở cơ sở; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải cơ sở, bảo đảm chỉ tiêu hòa giải thành đạt 85%; phải đảm bảo kinh phí chi cho hoạt động của tổ hoà giải và chi thù lao hoà giải thành cho Hoà giải viên trên địa bàn huyện; phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thành phố tổ chức rà soát, củng cố, kiện toàn các tổ hòa giải trên địa bàn huyện.

Trên cơ sở kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng xây dựng, quản lý và khai thác Tủ sách pháp luật tại xã, phường, thị trấn; UBND các huyện thành phố nhân rộng các mô hình hay, tập trung khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả khai thác tủ sách pháp luật trên địa bàn huyện.

23/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của trợ giúp viên, luật sư cộng tác viên 6 tháng đầu năm 2014Sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của trợ giúp viên, luật sư cộng tác viên 6 tháng đầu năm 2014
Ngày 14 tháng 7 năm 2014, Trung tâm Trợ giúp pháp lý (TGPL) nhà nước tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư cộng tác viên sáu tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự và phát biểu tại hội nghị.

Ngày 14 tháng 7 năm 2014, Trung tâm Trợ giúp pháp lý (TGPL) nhà nước tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư cộng tác viên sáu tháng đầu năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự và phát biểu tại hội nghị.

Sáu tháng qua, Trung tâm đã cử Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng là 207 vụ việc cho 207 đối tượng được TGPL. Trong đó, có 109 vụ án hình sự, 33 vụ việc dân sự, 26 vụ đất đai, 32 vụ hôn nhân gia đình, 07 vụ hành chính. Trong đó, các Trợ giúp viên thực hiện bào chữa, bảo vệ 127 vụ việc và cử Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ cho 80 trường hợp.

Nhìn chung thời gian qua, Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh đã có các giải pháp tác động để các cơ quan tiến hành tố tụng trong tỉnh tạo điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều cho các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng. Mặt khác, khi tham gia tố tụng các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên nâng cao tinh thần trách nhiệm, luôn đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng theo quy định pháp luật. Cụ thể là khi được phân công thực hiện TGPL, các Luật sư cộng tác viên đã chủ động đến với Trung tâm TGPL để nhận quyết định cử Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng đảm bảo đúng nguyên tắc, yêu cầu, thời gian, trình tự thủ tục, góp phần nâng cao chất lượng TGPL trong hoạt động tố tụng.


Phát biểu tại hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đánh giá cao kết quả hoạt động tham gia tố tụng của các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên đã có sự khởi sắc, hướng đến mục tiêu chất lượng và tính phục vụ đến người dân, đó là những người thiệt thòi của xã hội rất cần sự hỗ trợ của nhà nước, cụ thể là rất cần sự TGPL của Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên. Tuy nhiên, Giám đốc Sở Tư pháp cũng lưu ý thời gian tới Trung tâm TGPL cần tăng cường bồi dưỡng, đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ tham gia tố tụng và các văn bản mới cho đội ngũ Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên hơn nữa. Cùng với việc thực hiện tốt việc đánh giá thực chất, sát với bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL. Từ đó, rút ra những kinh nghiệm để ngày càng nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên hơn nữa. Ông cũng đề nghị các Trợ giúp viên và Luật sư cộng tác viên bằng hoạt động tác nghiệp của mình, luôn hướng đến chất lượng, giữ vững uy tín, thương hiệu cá nhân, tổ chức mình để phục vụ ngày càng tốt hơn đối tượng, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt đối tượng.

17/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thực hiện đúng với nguyên tắc “Bốn không, ba có”  khi tham gia giao thôngThực hiện đúng với nguyên tắc “Bốn không, ba có”  khi tham gia giao thông
Tai nạn giao thông, đây là vấn đề mà các cấp chính quyền, các ngành chức năng đang tìm giải pháp để kéo giảm đến mức tối thiểu. Trong 6 tháng đầu năm 2014, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre so với cùng kỳ năm 2013, có chiều hướng giảm mạnh số vụ tai nạn giao thông (177/211 vụ, giảm 34 vụ). Tuy nhiên, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp t...

Tai nạn giao thông, đây là vấn đề mà các cấp chính quyền, các ngành chức năng đang tìm giải pháp để kéo giảm đến mức tối thiểu. Trong 6 tháng đầu năm 2014, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre so với cùng kỳ năm 2013, có chiều hướng giảm mạnh số vụ tai nạn giao thông (177/211 vụ, giảm 34 vụ). Tuy nhiên, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục diễn ra với nhiều diễn biến, biến đổi phức tạp. Số vụ tai nạn giao thông có phần giảm, trong khi đó số người bị chết do tai nạn giao thông xảy ra thì tăng lên (104/73 người chết, tăng 31 người chết). Trong 177 vụ tại nạn giao thông, thì có 127 vụ tai nạn do người điều khiển phương tiên giao thông thiếu chú ý quan sát, đi không đúng phần đường, làn đường, tránh vượt, chuyển hướng không đúng qui định; trong 97 vụ tai nạn giao thông làm rõ nguyên nhân, thì có 47 vụ có liên quan đến rượu, bia.

Trước tình hình trên cho thấy mức độ nguy hiểm và hậu quả nghiêm trọng của các vụ tai nạn giao thông khi xảy ra. Vấn đề này đã phần nào nói lên được sự hạn chế trong ý thức của người tham gia giao thông trong việc chấp hành các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông và văn hóa giao thông. Hậu quả của tai nạn giao thông để lại là hết sức to lớn và nặng nề không chỉ đối với bản thân người vi phạm, mà còn đối người bị gây tai nạn, người thân, gia đình và trở thành gánh nặng cho xã hội. Đối với người vi phạm, tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt tiền, bị buộc phải bồi thường thiệt hại cho người bị gây tai nạn. Khi tai nạn xảy ra, người vi phạm, người bị gây tai nạn không may bị chết, bị thương thì không chỉ bản thân họ và gia đình dễ lâm vào cuộc sống khó khăn, mà đây còn là một mất mát của bản thân, gia đình không thể nào bù đắp được. Còn đối với xã hội,  phải chi ra một khoảng ngân sách để khắc phục những hậu quả do tai nạn giao thông gây ra như: chính sách bảo hiểm cho người bị gây tai nạn, chính sách an sinh xã hội,…


Từ những hậu quả đáng tiết xảy ra do một phút bất cẩn, quá tự tin với tay lái của mình, hay một phút cao hứng nào đó trong việc uống rượu, bia rồi dẫn đến gây tai nạn giao thông, để lại hậu quả thật là nghiệm trọng đối với bản thân, gia đình và toàn xã hội. Để sự việc đáng tiết không xảy ra, để sự hối hận, sự hối lỗi không phải là muộn màng, vì vậy khi chúng ta tham gia giao thông phải thực hiện và chấp hành nghiêm chỉnh những quy định về an toàn giao thông, chúng ta phải thực hiện đúng với nguyên tắc “Bốn không, ba có” khi tham gia giao thông đó là:

“Bốn không”

1. Không điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi đã uống rượu, bia; không phóng nhanh, giành đường, vượt ẩu; không chở quá tải, quá khổ, quá số người cho phép; đi không đúng phần đường quy định, vượt đèn đỏ…

2. Không sử dụng phương tiện khi chưa đăng ký (đối với phương tiện buộc phải đăng ký) hoặc các phương tiện bị cấm lưu hành.

3. Không điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định.

4. Không lấn chiếm lòng, lề đường làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông.

“ Ba có”

1. Có đầy đủ các loại giấy tờ khi tham gia giao thông như: Giấy chứng nhận đăng ký xe, bảo hiểm, đăng kiểm, giấy phép lái xe theo qui định…

2. Có đủ mũ bảo hiểm đạt chất lượng cho người điều khiển phương tiện và người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe đạp điện, xe đạp máy; có đủ trang thiết bị cần thiết như: kèn, đèn, kính chiếu hậu, hệ thống thắng…còn sử dụng tốt khi phương tiện tham gia giao thông.

3. Có ý thức chấp hành tốt những qui định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

Để đảm bảo an toàn cho bản thân, cho người thân và cho những người cùng tham gia giao thông; để đảm bảo sự bình yên, sự hạnh phúc của gia đình và cho toàn xã hội, chúng ta phải xử sự có văn hóa khi tham gia giao thông và thực hiện đúng nguyên tắc “Bốn không, ba có” khi tham gia giao thông.

17/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Chuẩn bị sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015Chuẩn bị sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015
Thực hiện Kế hoạch số 1006/KH-ĐA ngày 08 tháng 4 năm 2014 của Ban chỉ đạo Đề án Trung ương về việc thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên năm 2014 và Công văn số 1007/BCĐ-ĐA ngày 08 tháng 4 năm 2014 của Ban chỉ đạo Đề án về việc hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án năm 2014, Uỷ ban nhân dân ti...

Thực hiện Kế hoạch số 1006/KH-ĐA ngày 08 tháng 4 năm 2014 của Ban chỉ đạo Đề án Trung ương về việc thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên năm 2014 và Công văn số 1007/BCĐ-ĐA ngày 08 tháng 4 năm 2014 của Ban chỉ đạo Đề án về việc hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3111/KH-UBND ngày 02 tháng 7 năm 2014 thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh năm 2014. Việc triển khai thực hiện Đề án trong năm 2014 tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật, cung cấp kiến thức pháp luật mới, tài liệu cần thiết cho đội ngũ thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên: Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật mới cho cán bộ quản lý trại giam, nhà tạm giữ, cán bộ Đoàn, công chức, viên chức là đoàn viên tại các sở, ban, ngành tỉnh, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; in ấn các tài liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên.

Tổ chức các phong trào, chương trình tuyên truyền đối với từng nhóm thanh thiếu niên: Xây dựng, thực hiện các chương trình truyền thông trên báo, đài, Trang thông tin điện tử (Website), bản tin chuyên ngành; tổ chức các cuộc thi có chủ đề pháp luật dành cho thanh thiếu niên và tổ chức phát động tham gia cuộc thi viết Gương sáng thanh niên, thiếu niên chấp hành pháp luật do Bộ Tư pháp tổ chức; tổ chức phổ biến, tư vấn, giải đáp pháp luật, trợ giúp pháp lý cho thanh thiếu niên trường học, thanh thiếu niên vi phạm pháp luật thuộc diện quản lý, giám sát tại cộng đồng, thanh niên nông thôn; tổ chức xét xử lưu động các vụ án có liên quan tới thanh thiếu niên; biên soạn, phát hành tờ gấp tuyên truyền pháp luật về lao động cho thanh thiếu niên tại các khu công nghiệp, Sổ tay sinh hoạt Câu lạc bộ Tuổi trẻ với pháp luật cho thanh thiếu niên; tổ chức Diễn đàn thanh niên với công tác phòng, chống mại dâm và xâm hại tình dục vị thành niên.

Triển khai thí điểm mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên tại một số địa phương: Các huyện, thành phố chọn 01 xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện, thành phố xây dựng mô hình điểm (gọi chung là xã điểm) tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho thanh thiếu niên. Về tiêu chí lựa chọn xã điểm: Xã đại diện, đặc thù theo từng địa phương; có tỷ lệ thanh thiếu niên thuộc diện quản lý, cư trú trên địa bàn cao; xã thực hiện tốt hoặc còn nhiều hạn chế về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên. Địa bàn triển khai các hoạt động điểm cần tập trung vào các khu dân cự, ấp, khu phố nơi có nhiều thanh thiếu niên.

Đánh giá kết quả thực hiện Đề án năm 2014 (kết hợp rà soát, đánh giá mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên để rút kinh nghiệm, đề xuất phương hướng tiếp tục triển khai). Các sở, ngành tỉnh; Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố gửi báo cáo năm về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Tư pháp) trước ngày 25/11/2014 (có thể lồng ghép trong báo cáo năm 2014 về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật). Sở Tư pháp tổng họp báo cáo năm gửi Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 31/12/2014.

Sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Đề án: Các sở, ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố báo cáo kết quả thực hiện, đánh giá toàn diện việc triển khai thực hiện Đề án từ ngày 24/01/2011 đến ngày 30/6/2014 để tổ chức sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Đề án trên địa bàn tỉnh. Nội dung đánh giá: Kết quả đạt được, tỷ lệ các chỉ tiêu đạt được, khó khăn, hạn chế, nguyên nhân, kiến nghị, đề xuất giải pháp, phương hướng. Thời hạn báo cáo: Các sở, ngành tỉnh; Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố gửi báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Tư pháp) trước ngày 15/7/2014. Sở Tư pháp tổng họp báo cáo gửi Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 25/7/2014.

16/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũngTrách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng
Luật Phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2006. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012.

Luật Phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2006. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012.

Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách được quy định tại Điều 54 Luật Phòng, chống tham nhũng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ. Cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình trực tiếp phụ trách. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách. Người đứng đầu đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý. Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu và cá nhân khác có trách nhiệm trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước về việc để xảy ra hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của Luật này và điều lệ, quy chế của tổ chức đó. Trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được loại trừ trong trường hợp họ không thể biết được hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng.

Ngày 22 tháng 9 năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 107/2006/NĐ-CP quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 211/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.

Việc xử lý kỷ luật người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý và người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân do mình quản lý có liên quan quy định tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định này, ngoài việc thực hiện theo các nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật hiện hành, còn thực hiện theo các nguyên tắc sau: Căn cứ vào sự phân công, phân cấp quản lý trong cơ quan, tổ chức, đơn vị để xác định mức độ chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc trách nhiệm liên đới; căn cứ vào mối quan hệ công tác giữa trách nhiệm quản lý của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu với hành vi tham nhũng của người được phân công phụ trách, quản lý.

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, nếu để xảy ra vụ, việc tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì tùy theo tính chất, mức độ của vụ, việc sẽ xử lý kỷ luật như sau:

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là cán bộ, công chức, viên chức và người quản lý doanh nghiệp nhà nước thì bị xử lý kỷ luật bằng một trong những hình thức: Khiển trách; cảnh cáo; cách chức.

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật hiện hành và điều lệ của tổ chức đó.

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong quân đội nhân dân và công an nhân dân thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật hiện hành đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong quân đội nhân dân và công an nhân dân.

Hình thức khiển trách được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Hình thức cảnh cáo được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Hình thức cách chức được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

Về trường hợp loại trừ trách nhiệm, miễn, giảm nhẹ hoặc tăng nặng hình thức kỷ luật được quy định tại Điều 11 của Nghị định số 107/2006/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 211/2013/NĐ-CP như sau:

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được loại trừ trách nhiệm trong trường hợp họ không thể biết hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng hoặc họ đã chủ động phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách và bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, nếu trước đó đã tự nguyện xin từ chức và đã được cấp có thẩm quyền chấp thuận thì được miễn xử lý kỷ luật.

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách được giảm nhẹ một mức kỷ luật nếu thuộc một trong các trường hợp sau:  Đã có đơn xin từ chức và đã được cấp có thẩm quyền chấp thuận;  đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng; đã xử lý nghiêm minh, báo cáo kịp thời với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi tham nhũng.

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách, nếu không thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng hoặc nếu phát hiện hành vi tham nhũng mà không xử lý nghiêm minh, không báo cáo kịp thời với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì phải tăng nặng một mức kỷ luật.

Nghị định số 211/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 2 năm 2014.

09/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định của pháp luật xử lý đối với hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hônQuy định của pháp luật xử lý đối với hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn
Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tổ chức tảo hôn là việc tổ chức cho những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lấy vợ, lấy chồng. Tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về tuổi kết hôn, nam nữ kết hôn với nhau khi nam từ hai mươi tuổi trở ...

 

Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tổ chức tảo hôn là việc tổ chức cho những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lấy vợ, lấy chồng. Tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về tuổi kết hôn, nam nữ kết hôn với nhau khi nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên. Theo quy định này thì không bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó, nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là đủ điều kiện về tuổi kết hôn.

Hành vi tảo hôn là hành vi bị cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Người nào có hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn, tùy theo mức độ vi phạm đối với từng trường hợp cụ thể có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

* Trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó; Tổ chức việc kết hôn cho người chưa đến tuổi kết hôn.

Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 87/2001/NĐ-CP là một năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện. Đối với người bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi của người đó có dấu hiệu vi phạm hành chính; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này là ba tháng kể từ ngày có quyết định đình chỉ. Trong thời hạn nêu trên, nếu người vi phạm thực hiện vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt không được áp dụng. Thời hiệu xử phạt được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm người vi phạm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

* Trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định Điều 148 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn thỡ “Người nào có một trong các hành vi sau đây, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm: Tổ chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết hôn; Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó.”

Như vậy, chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tảo hôn và tổ chức tảo hôn khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Về tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”   theo hướng dẫn tại khoản 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999 là nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được quy định tại Điều 148 Bộ luật Hình sự, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện chính hành vi đó hoặc thực hiện một trong những hành vi được liệt kê tại Điều 148 của Bộ luật Hình sự.

Về thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính là hết thời hạn do pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định là qua một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm, thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Ngoài ra, theo hướng dẫn tại khoản 4 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn thì người tổ chức tảo hôn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức tảo hôn trong trường hợp, người tổ chức tảo hôn thực sự  không biết việc đó hoặc bị nhầm lẫn về độ tuổi. Về chủ thể của tội tổ chức tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng thông thường là ông, bà, cha, mẹ, anh, chị hoặc người thân thích của bên nam, bên nữ; chủ thể của tội tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

16/05/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn nghiệp vụ tuần tra, kiểm soát và kỹ năng tuyên truyền pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến TreTập huấn nghiệp vụ tuần tra, kiểm soát và kỹ năng tuyên truyền pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng công an cấp xã trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy nội địa và kiến thức, kỹ năng tuyên truyền pháp luật cho cán bộ cấp xã tham gia công tác tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt giữ gìn, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông tại cơ sở, góp phần xây dựng nông thôn mới;...

Nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho lực lượng công an cấp xã trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy nội địa và kiến thức, kỹ năng tuyên truyền pháp luật cho cán bộ cấp xã tham gia công tác tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt giữ gìn, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông tại cơ sở, góp phần xây dựng nông thôn mới; thực hiện Kế hoạch số 2857/KH-UBND ngày 23/6/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh; ngày 15/8/2014, tại hội trường Thành uỷ thành phố Bến Tre, Ban An toàn giao thông tỉnh đã phối hợp cùng Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre tổ chức tập huấn cho trên 100 cán bộ, công an cấp xã trên địa bàn thành phố.


Tham dự lớp tập huấn các học viên đã được nghe báo cáo viên trình bày những nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt; Nghị định số 27/2010/NĐ-CP ngày 24/3/2010 của Chính phủ quy định về việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết và các văn bản có liên quan; Nghị định số 93/2013/NĐ-CP ngày 20/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông hàng hải, đường thủy nội địa; hướng dẫn kỹ năng tuyên tuyền pháp luật về an toàn giao thông…


Theo Kế hoạch, trong những ngày cuối tháng 8 và đầu tháng 9/2014, Ban An toàn giao thông tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các huyện tổ chức 09 lớp tập huấn cho lực lượng công an, cán bộ cấp xã tham gia công tác đảm bảo trật tự - an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh.

18/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí MinhHội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sáng ngày 20 tháng 8 năm 2014, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã đến dự và chủ trì Hội nghị. Tại đầu cầu Bến Tre, dự Hội nghị có lãnh đạo Ban Tuyên giáo ...

 

Sáng ngày 20 tháng 8 năm 2014, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã đến dự và chủ trì Hội nghị. Tại đầu cầu Bến Tre, dự Hội nghị có lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo các ban đảng tỉnh, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; lãnh đạo các sở, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể tỉnh; báo cáo viên cấp tỉnh; Trưởng các phòng của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Trưởng ban Tuyên giáo các huyện ủy, thành ủy. Ông Phan Văn Mãi, Phó Bí thư Tỉnh ủy đã đến dự.

 

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương nêu rõ mục đích của việc tổ chức kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhằm tiếp tục khẳng định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, Di chúc thiêng liêng và tấm gương đạo đức của Người; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực hiện thắng lợi Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Thông qua các hoạt động kỷ niệm, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.


 

 

Nội dung tuyên truyền cần tập trung ôn lại giá trị, tư tưởng, văn hóa trong Di chúc của Bác; về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tấm gương đạo đức của Người; về những thành tựu vẻ vang của cách mạng Việt Nam qua 45 năm thực hiện Di chúc của Bác; kết hợp việc học tập Di chúc và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; nêu gương tập thể và cá nhân điển hình; phổ biến kinh nghiệm và cách làm hay của đơn vị, địa phương trong thực hiện Di chúc và học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; chủ động đấu tranh, bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ lãnh tụ; phê phán những hành vi không đúng với lời dạy của Người.

 

Các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể tổ chức ôn lại nôi dung, giá trị, ý nghĩa của Di chúc; gắn việc kiểm điểm, đánh giá kết quả 45 năm thực hiện Di chúc với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức triển khai, lòng ghép vào sinh hoạt ở các cơ quan chính quyền, đoàn thể các cấp bằng các hình thức phù hợp; tổ chức các chương trình nghệ thuật đặc biệt ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới; tổ chức hội thảo khoa học, tọa đàm, giao lưu; xây dựng và chiếu phim tài liệu…

 

Ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phân tích khá sâu hoàn cảnh và quá trình viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; những nội dung cốt lõi của Di chúc, giá trị cơ bản của Di chúc, ý nghĩa của Di chúc và những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam qua 45 năm thực hiện Di chúc.

 

Kết luận Hội nghị, ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị các đảng ủy, các tổ chức chính trị -xã hội; các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; các cơ quan truyền thông, báo, đài Trung ương, địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể, chuẩn bị nội dung, tài liệu triển khai tại đơn vị, địa phương mình với nhiều hình thức phong phú, hấp dẫn, xúc động, có sức lan tỏa sâu rộng trong Đảng và trong xã hội về kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

21/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuậtChế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

Quyết định này quy định chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa- nghệ thuật công lập và ngoài công lập, gồm: Nhạc công kịch hát dân tộc, nhạc công truyền thống Huế, đờn ca tài tử Nam Bộ, diễn viên sân khấu kịch hát, nghệ thuật biểu diễn dân ca, nghệ thuật ca trù, nghệ thuật bài chòi, biểu diễn nhạc cụ truyền thống.

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được giảm 70% học phí. Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật ngoài công lập được giảm mức học phí không vượt quá mức quy định của các ngành đào tạo tương ứng trong các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập.

Ngoài ra, học sinh, sinh viên còn được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề với mức bằng 40% suất học bổng khuyến khích toàn phần/tháng;

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật ngoài công lập được hưởng chế độ bồi dưỡng nghề không vượt quá mức quy định của các ngành đào tạo tương ứng trong các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập. Chế độ bồi dưỡng nghề chỉ áp dụng đối với những tháng học sinh, sinh viên học tập và được trả vào đầu tháng.

Học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo văn hóa - nghệ thuật công lập được trang bị trang phục học tập và cấp một năm 1 lần: Hai (02) bộ quần áo tập; Bốn (04) đôi giày vải; Bảy (07) đôi tất.

Chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật áp dụng kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2014.

13/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thủ tục mua tài sản đấu giáThủ tục mua tài sản đấu giá
 Người tham gia đấu giá tài sản là cá nhân, đại diện tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để mua tài sản bán đấu giá theo qui định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Người tham gia đấu giá tài sản là cá nhân, đại diện tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để mua tài sản bán đấu giá theo qui định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều kiện của người tham gia đấu giá: Cá nhân phải có đủ năng lực hành vi dân sự (từ 18 tuổi trở lên) không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22, Điều 23 của Bộ luật Dân sự; Tổ chức đủ tư cách pháp nhân được quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự.

Những người sau đây không được tham gia đấu giá tài sản:

Người không có năng lực hành vi dân sự, người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người tại thời điểm đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

Người làm việc trong tổ chức bán đấu giá tài sản, nơi thực hiện việc bán đấu giá tài sản đó, cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người đó; người trực tiếp giám định, định giá tài sản, cha mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người đó.

Người được chủ sở hữu ủy quyền bán tài sản; người ra quyết định tịch thu tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; người có thẩm quyền quyết định bán tài sản nhà nước; người ký hợp đồng thuê tổ chức bán đấu giá tài sản để bán đấu giá tài sản nhà nước; cá nhân, tổ chức có quyền bán tài sản của người khác theo qui định của pháp luật.

Người không có quyền mua tài sản bán đấu giá theo qui định của pháp luật, bao gồm: Người không được tham gia mua tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; người không đủ điều kiện tham gia mua tài sản đối với một số loại tài sản theo quy định của pháp luật về loại tài sản đó.

Người không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; người không thuộc trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thời gian đăng ký tham gia đấu giá: Người muốn tham gia đấu giá tài sản phải đăng ký mua tài sản trong thời hạn Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đã thông báo và nộp đủ số tiền đặt trước, phí đăng ký tham gia đấu giá tài sản.

Tổ chức bán đấu giá: Sau khi hết hạn đăng ký mua tài sản bán đấu giá, nếu chỉ có 01 khách hàng đăng ký mua tài sản thì Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ thông báo bằng điện thoại cho khách hàng biết, sau đó Trung tâm sẽ thông báo bằng văn bản cho Bên có tài sản bán đấu giá để quyết định việc bán tài sản, thời gian 03 ngày làm việc bên có tài sản phải có ý kiến phản hồi cho Trung tâm biết chấp nhận bán hay không để Trung tâm thông báo cho khách hàng đã đăng ký đến tiến hành các thủ tục tiếp theo; trường hợp tài sản có hai khách hàng đăng ký mua thì Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ tổ chức bán đấu giá theo thời gian, địa điểm đã ghi trong thông báo bán đấu giá. Cuộc bán đấu giá được tổ chức công khai và khách hàng phải trả giá theo bước giá được quy định trong Nội quy từng cuộc bán đấu giá, người trúng đấu giá là người trả giá cao nhất.

Giao tài sản bán đấu giá cho người mua: Tài sản bán đấu giá sẽ được Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản phối hợp với bên có ký hợp đồng bán đấu giá tài sản giao cho người mua trong thời hạn 07 ngày làm việc sau khi người mua nộp đủ tiền đối với động sản và 30 ngày làm việc đối với bất động sản, trừ trường hợp phải cưỡng chế thi hành án thì thời gian kéo dài nhưng không quá 60 ngày làm việc.

Chuyển quyền sở hữu cho người mua: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ phối hợp bên ký hợp đồng bán đấu giá hỗ trợ các giấy tờ có liên quan để người mua trúng đấu giá làm thủ tục chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản theo đúng quy định pháp luật.

21/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014Kết quả đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý đợt I năm 2014
Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đ...

Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL (theo Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

Có 95 vụ việc được đánh giá, trong đó, 50 hồ sơ tư vấn pháp luật, 39 hồ sơ tham gia tố tụng, 06 hồ sơ hòa giải. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc theo các nội dung quy định tại Điều 21 Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL và các quy định có liên quan của Bộ Tiêu chuẩn, bằng phương pháp đánh giá trực tiếp kiểm tra, nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ việc TGPL.

Kết quả số vụ việc TGPL đạt chất lượng tốt là 93 vụ việc (chiếm tỷ lệ 97,9 %), số vụ việc TGPL đạt chất lượng là 02 vụ việc (chiếm tỷ lệ 2,1 %), không có  vụ việc TGPL không đạt chất lượng.

Tuy nhiên, chất lượng vụ việc TGPL cũng còn hạn chế, trong hồ sơ người thực hiện TGPL hướng dẫn đối tượng viết đơn yêu cầu TGPL còn nhiều trường hợp ghi thiếu thông tin (như chứng minh nhân dân, đối tượng….). Bên cạnh đó, còn một vài hồ sơ chưa lập phiếu phân công và sắp xếp hồ sơ theo đúng trình tự thời gian của vụ việc.

Qua đó, Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL yêu cầu người thực hiện TGPL rút kinh nghiệm, nghiêm túc khắc phục những sai sót trong quá trình thực hiện TGPL, nhất là ghi chép thông tin, lập phiếu, sắp xếp hồ sơ. Trung tâm TGPL tiếp tục tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, nhất là hướng dẫn các kỹ năng cho người thực hiện TGPL và tiếp tục phổ biến Thông tư 02/2013/TT-BTP về việc đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đến người thực hiện TGPL trong thời gian tới. Theo kế hoạch, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh sẽ tổ chức tập huấn cho Trợ giúp viên, Luật sư- cộng tác viên vào cuối tháng 8/2014.

12/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanhMột số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh
Ngày 06 tháng 6 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 43/NQ-CP về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh (gọi tắt là Nghị quyết số 43/NQ-CP).

Ngày 06 tháng 6 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 43/NQ-CP về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh (gọi tắt là Nghị quyết số 43/NQ-CP).

Về mục tiêu cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư và bảo đảm thi hành có hiệu quả Luật Đất đai; tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi; cắt giảm ít nhất 40% thời gian thực hiện gắn với tiết kiệm tối đa chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế; nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam về chỉ số thuận lợi kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia; thúc đẩy thu hút đầu tư, góp phần phòng chống tham nhũng và phát triển kinh tế - xã hội.

Một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh theo Nghị quyết 43/NQ-CP đề ra như sau:

Thực hiện đơn giản hoá các quy định về thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất theo hướng: Chuẩn hoá, quy định cụ thể, đơn giản, rõ ràng các bộ phận cấu thành của thủ tục lựa chọn nhà đầu tư có sử dụng đất theo 03 hình thức (đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất và giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư không thông qua đấu giá, đấu thầu); về thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư (bãi bỏ thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư có sử dụng đất không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện...); về các thủ tục liên quan đến quy hoạch xây dựng (không yêu cầu nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép quy hoạch, các nội dung của giấy phép quy hoạch phải được thể hiện ngay trong nội dung kết quả giải quyết thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư.

Căn cứ kết quả giải quyết thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, chủ đầu tư dự án tổ chức lập và phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết làm cơ sở để lập đồ án quy hoạch); không yêu cầu nhà đầu tư phải nộp trích lục bản đồ địa chính hoặc phải thực hiện trích đo địa chính khu đất trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư;...

Xây dựng, chuẩn hoá, ban hành quy trình và các nội dung quy định chi tiết về các thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để đảm bảo thống nhất trong cả nước.

Thực hiện công khai, minh bạch thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư: Nghiêm túc thực hiện công tác công bố, công khai thủ tục hành chính làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính và phòng ngừa, hạn chế tham nhũng, tiêu cực, trong đó tập trung tổ chức thực hiện tốt công bố, công khai các thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư tại các cấp chính quyền; xử lý nghiêm và kịp thời những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi nhũng nhiễu, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về thủ tục hành chính, các cơ quan, tổ chức không thực hiện nghiêm túc việc công khai, minh bạch thủ tục hành chính, cũng như chậm trễ trong việc sửa đổi các quy định về thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp và không hiệu quả theo chỉ đạo của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.

Để tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 43/NQ-CP, Chính phủ chỉ đạo: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi thẩm quyền có trách nhiệm xây dựng văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính theo các nhiệm vụ đã được phê duyệt tại Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trước ngày 15 tháng 10 năm 2014, trong đó ưu tiên áp dụng hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn;

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan xây dựng văn bản về quy trình liên thông giải quyết các thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trước ngày 15 tháng 10 năm 2014 theo các nhiệm vụ đã được phê duyệt tại Điểm a Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP. Đối với nhiệm vụ tại Điểm b Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP, việc sửa đổi, bổ sung quy trình liên thông sẽ được thực hiện sau khi luật, pháp lệnh được ban hành;...

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ nội dung văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan trung ương ban hành để thực thi các nhiệm vụ nêu tại Điều 2 Nghị quyết số 43/NQ-CP, thực hiện ngay việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ các quy định có liên quan tại các văn bản thuộc thẩm quyền, ban hành để bảo đảm thi hành khi các văn bản của Trung ương nói trên có hiệu lực; căn cứ phạm vi chức năng quản lý nhà nước tổ chức triển khai các nhiệm vụ liên quan đến công tác thực hiện thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 43/NQ-CP.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương kiểm tra, đôn đốc thực hiện và tổng hợp vướng mắc của các Bộ, ngành, địa phương có liên quan để kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ tháo gỡ trong quá trình thực thi các nhiệm vụ đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 43/NQ-CP; tổ chức sơ kết báo cáo Chính phủ vào cuối năm 2016 về tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 43/NQ-CP.

19/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết 01 năm thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014Sơ kết 01 năm thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014
Ngày 15 tháng 8 năm 2014, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến toàn quốc sơ kết 01 năm triển khai thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính và đánh giá tình hình, kết ...

Ngày 15 tháng 8 năm 2014, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến toàn quốc sơ kết 01 năm triển khai thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính và đánh giá tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014.

Tại điểm cầu Bến Tre (Phòng họp trực tuyến của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh); có 35 đại biểu là đại diện cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính của 19 sở, ban, ngành tỉnh và 9 huyện, thành phố tham dự hội nghị. Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự.

Các đại biểu được nghe Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Đinh Trung Tụng phát biểu khai mạc và chỉ đạo Hội nghị; đại diện lãnh đạo Cục Kiểm soát thủ thủ tục hành chính Báo cáo tóm tắt sơ kết 01 năm triển khai thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg và tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014; định hướng cải cách, nhiệm vụ cần tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 43/NQ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh và Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi (Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2014).

Tại Hội nghị, đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố cũng đã phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện Thông tư số 05/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính như: Bộ, ngành chậm ban hành quyết định công bố thủ tục hành chính nên ảnh hưởng việc công bố, công khai và triển khai thực hiện quy định thủ tục hành chính tại địa phương; quy định thời hạn cho ý kiến thủ tục hành chính (kiểm soát chất lượng thủ tục hành chính) là quá ngắn nên hầu hết các địa phương trong cả nước không đảm bảo thời gian quy định; biểu mẫu báo cáo thống kê liên quan đến hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính nhiều nhưng thực hiện bằng phương pháp thủ công nên mất rất nhiều thời gian cho nhiệm vụ này;...

Các địa phương đã kiến nghị Cục Kiểm soát thủ tục hành chính tham mưu, đề xuất Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung Thông tư số 05/2014/TT-BTP cho phù hợp thực tế và nghiên cứu xây dựng phần mềm hỗ trợ công tác báo cáo, thống kê hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính để áp dụng trong cả nước; cần định hướng về công tác truyền thông hỗ trợ hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính cho các địa phương;...

Đại điện lãnh đạo Cục kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp ghi nhận những ý kiến phản ánh, đề xuất, kiến nghị của địa phương, sẽ nghiên cứu giải pháp để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thời gian tới.

18/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả kiểm tra về tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng trên địa bàn tỉnh Bến TreKết quả kiểm tra về tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trên cơ sở Kế hoạch công tác Tư pháp năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-STP ngày 28/4/2014 về việc kiểm tra về tổ chức và hoạt động đối với 05 Văn phòng Công chứng trên địa bàn tỉnh (Kim Cương, Tín Hữu, Bình Đại, Chợ Lách, Đồng Khởi). Qua kiểm tra cho thấy các Văn phòng Công chứng chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành ng...

Trên cơ sở Kế hoạch công tác Tư pháp năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-STP ngày 28/4/2014 về việc kiểm tra về tổ chức và hoạt động đối với 05 Văn phòng Công chứng trên địa bàn tỉnh (Kim Cương, Tín Hữu, Bình Đại, Chợ Lách, Đồng Khởi). Qua kiểm tra cho thấy các Văn phòng Công chứng chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng như: có trụ sở hoạt động đúng với địa chỉ như đăng ký, biển hiệu của Văn phòng Công chứng đúng với quy định; thực hiện tốt việc niêm yết công khai quy định các giấy tờ cần có khi yêu cầu thực hiện việc công chứng (thủ tục công chứng), mức thu phí công chứng và thù lao công chứng theo quy định, thời gian làm việc, nội quy tiếp người yêu cầu công chứng tại trụ sở; các Văn phòng Công chứng mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của Công chứng viên và đăng ký thuế, thực hiện tốt nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật.

Các Văn phòng Công chứng có lập các loại sổ theo dõi đúng mẫu theo quy định và việc ghi chép vào sổ tương đối đầy đủ, rõ ràng; hồ sơ công chứng được lưu giữ theo thứ tự phù hợp với số thứ tự trong sổ theo dõi; trong hồ sơ công chứng đa số thể hiện đầy đủ các giấy tờ (ngoài bản chính hợp đồng/văn bản công chứng có kèm theo bản sao các giấy tờ có liên quan đến việc công chứng mà người yêu cầu công chứng đã nộp) phù hợp với quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, trong hoạt động của các Văn phòng Công chứng được kiểm tra vẫn còn một số hồ sơ có sai sót, chưa tuân thủ đúng quy định và trình tự thủ tục công chứng như: thiếu các giấy tờ có liên quan nên không có căn cứ xác định quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản riêng khi tham gia giao dịch; đất cấp cho hộ, nhưng khi chuyển nhượng thì chưa được các thành viên trong hộ từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý; chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa xóa thế chấp; nhiều hồ sơ không có phiếu yêu cầu công chứng; thiếu giấy tờ chứng minh người đại diện theo pháp luật; xác định đối tượng được hưởng thừa kế theo pháp luật chưa đúng; thiếu giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người để lại di sản thừa kế…

Đoàn kiểm tra đã yêu cầu các Văn phòng Công chứng khắc phục ngay những trường hợp sai sót về hoạt động công chứng nói trên. Đồng thời chấn chỉnh việc thực hiện công chứng đảm bảo đúng quy định của pháp luật, tránh trường hợp lập lại những sai sót tương tự.

12/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị giao ban sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014Hội nghị giao ban sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014
Sáng ngày 08 tháng 8 năm 2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị giao ban lần 02 sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh chủ trì Hội nghị.

Sáng ngày 08 tháng 8 năm 2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị giao ban lần 02 sơ kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh chủ trì Hội nghị.

Qua hơn 02 tháng triển khai thực hiện chiến dịch (từ 01/6/2014 -7/8/2014), đến nay đã đạt nhiều kết quả rất quan trọng; đã có 13 trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh (731 chiến sĩ) và 05 đội hình chuyên của tỉnh (778 chiến sĩ), với trên 3.000 lực lượng đối ứng tham gia; trong đó, có 10/13 đơn vị trường và 03 đội hình chuyên đã kết thúc hoạt động.

Tại lễ ra quân, Ban Chỉ đạo tỉnh đã trao 11.100 bao xi măng, kinh phí xây dựng 4 căn nhà tình nghĩa, 400 xuất khám chữa bệnh cho nhân dân trị giá 60 triệu đồng, 02 khu vui chơi thiếu nhi trị giá 60 triệu đồng; sau lễ ra quân, tại xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, có trên 1.000 lực lượng tham gia trồng 600 cây xanh trên tuyến đường dài 1km, đổ bê tông lộ giao thông nông thôn xã dài 300mx1m.


Trong quá trình thực hiện Chiến dịch, đã triển khai nhiều hoạt động, với nhiều việc làm thiết thực, như: tham gia xây dựng Nông thôn mới, xây dựng mới các tuyến lộ liên tổ, liên ấp dài 16,9 km; tu sửa dặm vá, phát hoang dài 68,4 km; xây dựng mới 03 cầu bê tông, trị giá 160 triệu đồng; xây dựng 14 căn nhà tình thương trị giá 317 triệu đồng, 05 căn nhà tình nghĩa trị giá 200 triệu đồng, 03 nhà tình bạn trị giá 60 triệu đồng, 03 nhà Khăn quàng đỏ trị giá 75 triệu đồng, 02 nhà Nhân ái trị giá 30 triệu đồng;

Tham gia trồng, chăm sóc hoa, cây xanh; thu gom rác thải, xây dựng vỉa hè, tuyến đường văn minh, khu chợ sạch đẹp, xóa các quảng cáo, rao vặt trái phép; thực hiện công trình thấp sáng dài 6 km, lắp đặt 22 trụ, gần 200 bóng đèn, kinh phí trên 150 triệu đồng;

Tham gia phổ biến pháp luật về an toàn giao thông có trên 51 nghìn lượt đoàn viên, thanh niên, học sinh tham dự; tham gia đội Thanh niên xung kích, giữ gìn trật tự an toàn giao thông, lấn chiếm lòng, lề đường, giúp cơ quan chức năng phát hiện trên 2.000 trường hợp vi phạm, xử lý trên 268 triệu đồng.

Hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hiến máu tình nguyện, đã vận động đoàn viên, thanh niên tham gia hiến 1.029 đơn vị máu. Phối hợp Bệnh viện Y học Cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tổ chức khám bệnh, tặng quà và cấp thuốc miễn phí cho 187 người nghèo, người khuyết tật, trị giá 20 triệu đồng và tặng 20 phần quà cho người khuyết tật trị giá mỗi phần 100 nghìn đồng.


Tham gia phối hợp củng cố, nâng chất hoạt động các Đội thanh niên xung kích an ninh, Câu lạc bộ Tuổi trẻ với pháp luật, tổ chức tuyên truyền trên 1.100 cuộc, có trên 45 nghìn đoàn viên, thanh niên tham gia; tổ chức tuyên truyền biển, đảo; phát động góp quỹ “Vì Trường Sa, Hoàng Sa thân yêu- vì tuyến đầu Tổ quốc”, “Chung sức bảo vệ chủ quyền biển Đông” gần 52 triệu đồng, hỗ trợ ngư dân và lực lượng làm nhiệm vụ gần 14 triệu đồng; tiếp nhận, cảm hóa, giáo dục 154 thanh niên chậm tiến, có dấu hiệu vi phạm pháp luật; các đội hình “ Hành quân xanh”, “Luật gia trẻ” tham gia hoạt động tích cực và đạt một số kết quả.

Tham gia hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa, “Uống nước nhớ nguồn”, đã tổ chức thăm và tặng quà cho 2.242 hộ gia đình chính sách, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, giá trị  2,26 tỷ đồng; tổ chức chăm sóc, chỉnh trang, trồng cây xanh các nghĩa trang, đền thờ liệt sĩ, khu di tích lịch sữ, “Thắp nến tri ân”, thả đèn hoa; tổ chức văn nghệ “Chủ đề Thanh niên tình nguyện”;

Ngoài ra, trong thời gian diễn ra Chiến dịch; đã tham gia các hoạt động hỗ trợ, tư vấn nghề nghiệp và việc làm cho thanh niên; bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tay, dịch bệnh; tham gia hoạt động củng cố tổ chức Đoàn, Hội, Đội.

Kết luận chỉ đạo Hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh Nguyễn Thị Hồng Nhung đánh giá cao kết quả phối hợp triển khai thực hiện Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 và các hoạt động kỷ niệm 15 năm phong trào Thanh niên tình nguyện tỉnh Bến Tre; bà Nguyễn Thị Hồng Nhung lưu ý thời gian còn lại của Chiến dịch cần tập trung tiếp tục thực hiện các công trình, phần việc còn lại, tham gia xây dựng Nông thôn mới và Văn minh đô thị; thực hiện tốt “Ngày thứ bảy tình nguyện” và “Ngày Chủ nhật xanh”, tiếp tục tổ chức các hoạt động hiến máu tình nguyện, khám chữa bệnh cho các gia đình chính sách, tư vấn, giới thiệu việc làm; đặc biệt là tổ chức các hoạt động kỷ niệm 15 năm phong trào Thanh niên tình nguyện tỉnh Bến Tre, tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014; các địa phương cần quan tâm, phối hợp, lãnh đạo, chỉ đạo, huy động các nguồn lực (con người, kinh phí, cơ sở, vật chất) để thực hiện có kết quả và hiệu quả Chiến dịch; đặc biệt phải chú ý đến sức khỏe, an toàn của các chiến sĩ tham gia Chiến dịch.

11/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả 15 năm thực hiện phong trào Thanh niên tình nguyện tỉnh Bến TreKết quả 15 năm thực hiện phong trào Thanh niên tình nguyện tỉnh Bến Tre
Sáng ngày 14/8/2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tổ chức Hội thảo “Mùa hè xanh Đồng Khởi 15 năm – Những con số biết nói” giai đoạn 2000 -2014. Dự Hội thảo có Thành đoàn, Hội sinh viên, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh; thành viên Ban Chỉ đạo Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre; các đồng chí nguyên là Bí thư Tỉnh đoàn qua...

Sáng ngày 14/8/2014, Ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tổ chức Hội thảo “Mùa hè xanh Đồng Khởi 15 năm – Những con số biết nói” giai đoạn 2000 -2014. Dự Hội thảo có Thành đoàn, Hội sinh viên, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh; thành viên Ban Chỉ đạo Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè năm 2014 tỉnh Bến Tre; các đồng chí nguyên là Bí thư Tỉnh đoàn qua các thời kỳ; Ban Chỉ huy Chiến dịch các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài tỉnh; Chỉ huy trưởng Chiến dịch tại các mặt trận; đại biểu các huyện, thành phố, Đoàn khối, Đoàn các trường học, các thành đoàn, huyện đoàn, đại diện hộ gia đình nuôi quân; các chiến sĩ tình nguyện tiêu biểu năm 2014, các đội hình chuyên. Ông Phan Văn Mãi, Phó Bí thư Tỉnh ủy đã đến dự; ông Trần Ngọc Tam, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 đến dự và chủ trì Hội thảo.


Tại Hội thảo, các đại biểu được nghe Báo cáo đề dẫn và nhiều tham luận đã phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng và kết quả qua 15 năm thực hiện phong trào Thanh niên tình nguyện tại tỉnh Bến Tre đạt nhiều kết quả rất đáng trân trọng, góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.

Hoạt động “Mùa hè xanh” trên quê hương Đồng Khởi được tổ chức khá sớm (2000-2014), trải qua 15 năm hoạt động, đã huy động một lượng lớn lực lượng đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên trong và ngoài tỉnh tình nguyện tham gia Chiến dịch (68.695 chiến sĩ); thực hiện rất nhiều hoạt động như: chăm sóc, giáo dục thanh thiếu niên nhi đồng; tuyên truyền về pháp luật, về xây dựng đời sống văn hóa, về bảo vệ sức khỏe và quyền trẻ em; các hoạt động bảo vệ môi trường, trồng cây xanh, xử lý rác thải, phòng ngừa dịch bệnh; sửa chữa, nâng cấp đường sá, nhà ở cho nhân dân, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa, nhân ái; định hướng nghề nghiệp cho thanh niên, chuyển giao kỹ thuật công nghệ.

Qua đó, đã để lại nhiều công trình, phần việc rất có giá trị và ý nghĩa, ghi đậm dấu ấn trong lòng người dân địa phương. Đây là hoạt động được đánh giá là tích cực, với những hành động đẹp, con người đẹp, câu chuyện đẹp, tình cảm đẹp cần được trận trọng, duy trì, nhân rộng và phát huy.


Kết luận buổi Hội thảo, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2014 Trần Ngọc Tam đánh giá cao kết quả việc chuẩn bị và tổ chức Hội thảo chu đáo, đạt yêu cầu; các báo cáo, tham luận và nhiều ý kiến phân tích, đánh giá có chiều sâu, có ý nghĩa và đạt chất lượng.

Để tiếp tục phát huy, nâng cao chất lượng, hiệu quả Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè trong thời gian tới, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trần Ngọc Tam đề nghị các ngành, địa phương cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện phong trào Thanh niên tình nguyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre; phải có cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, lực lượng vũ trang, các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; trong đó, vai trò thanh niên, học sinh, sinh viên, đoàn viên, hội viên tại chỗ làm nòng cốt. Tiếp tục là đầu mối, đổi mới phương pháp, cách thức tổ chức, phát huy mọi nguồn lực, điều kiện hiện có, duy trì các hình thức hoạt động của đội hình chuyên để hoạt động Thanh niên tình nguyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre thật sự có ý nghĩa, hiệu quả thiết thực.

19/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình kế toánQuy trình kế toán


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
QUY TRÌNH KẾ TOÁN

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Để thực hiện tốt việc thu chi, sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp đúng quy định của pháp luật.

2. Phạm vi áp dụng:

Tất cả các phòng thuộc Sở.

3. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

- Căn cứ vào biên chế được duyệt + định mức khoán/ đầu người.

- Lập dự toán theo từng nhóm mục, mục.

- Phân phối dự toán cho các đơn vị trực thuộc.

- Rút lương + tạm ứng chi hoạt động.

- Đối chiếu dự toán hàng tháng với kho bạc.

- Chuyển BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn.

- Đối chiếu BHXH hàng quý.

- Tập hợp chứng từ.

- Viết phiếu chi hàng ngày.

- Ghi chép vào sổ Nhật ký sổ cái, định khoản.

- Cuối tháng cộng tất cả các chứng từ phát sinh..

- Thanh toán tiền điện, nước, điện thoại bằng chuyển khoản.

- Cuối tháng lên bảng kê chứng từ, thanh toán tạm ứng với kho bạc.

- Quyết toán hàng quý với tài chính.

- Quyết toán với đơn vị trực thuộc, báo cáo tài chính hàng năm.

- Tổng hợp chứng từ ngoài khoán, theo dõi từng khoản chi.

- Lên bảng kê chứng từ, thanh toán tạm ứng với kho bạc.

- Mua biên lai thu phí và lệ phí.

- Ghi biên lai thu phí hộ tịch.

- Ghi vào sổ theo dõi thu phí hộ tịch.

- Hàng tuần cộng sổ phần trích, nộp cho kho bạc.

- Cuối tháng tổng hợp thanh toán với cục thuế.

- Nguồn thu lệ phí trích lại của đơn vị, chi và quyết toán theo mục lục ngân sách nhà nước.

- Lập danh sách cán bộ công chức đóng BHXH gửi BHXH tỉnh.

- Cuối năm lập danh sách CBCC có mặt đến 31/12 gửi Sở Nội vụ, sau khi thẩm tra xét duyệt, làm cơ sở rút lương với kho bạc.

- Thu chi kinh phí quản lý ngành, thi đua khen thưởng, cuối tháng tập hợp chứng từ theo mục lục ngân sách quyết toán với cơ quan Thi hành án tỉnh.

- Kiêm nhiệm kế toán xây dựng cơ bản, thanh toán với đơn vị thi công theo từng khối lượng hoàn thành.

- Theo dõi xuất, nhập kho sổ bộ hộ tịch cấp phát cho xã, phường.

- Phối hợp với công an tạm ứng kinh phí phòng chống tội phạm, ma tuý, theo dõi từng khoản chi và quyết toán với Hậu cần công an.

- Phối hợp với ban an toàn giao thông tạm ứng kinh phí sử dụng các cuộc thi về an toàn giao thông và quyết toán với Ban an toàn giao thông tỉnh.

- Phối hợp với Sở y tế nhận kinh phí tuyên truyền về HIV/AIDS và quyết toán chứng từ cho Sở y tế.

- Phối hợp với Uỷ ban dân số và gia đình nhận kinh phí tuyên truyền về dân số và quyết toán với Uỷ ban dân số và gia đình.

- Nhập kho tài sản cố định.

- Đến ngày 31/12 kiểm kê, đánh giá lại giá trị còn lại tài sản của cơ quan.

- Nhập kho văn phòng phẩm, theo dõi cấp phát.

Chuyên viên kế toán

Thời gian:

quý IV của năm


07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Báo cáo kết quả công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2014Báo cáo kết quả công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2014
Thực hiện Công văn số 1711/UBND-TH ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc báo cáo sơ kết công tác 06 tháng đầu năm, đồng thời để đánh giá những kết quả đạt được của ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện công việc sau:

Thực hiện Công văn số 1711/UBND-TH ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc báo cáo sơ kết công tác 06 tháng đầu năm, đồng thời để đánh giá những kết quả đạt được của ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện công việc sau:

1. Xây dựng Báo cáo sơ kết tình hình thực hiện nhiệm vụ tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong 06 tháng cuối năm 2014. Nội dung báo cáo cần đánh giá khái quát về đặc điểm tình hình chính trị, kinh tế - xã hội tác động đến việc thực hiện công tác tư pháp tại địa phương mình.

Đối với từng lĩnh vực công tác, cần đánh giá chung về những kết quả đạt được, đồng thời đánh giá sâu những kết quả nổi bật, mô hình hiệu quả, có tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; những mặt còn hạn chế, nguyên nhân và hướng khắc phục hạn chế, tồn tại đó trong thời gian tới, cụ thể:

- Đánh giá những kết quả công việc đã hoàn thành, có so sánh với 06 tháng đầu năm 2013 (kèm theo số liệu, dẫn chứng cụ thể).

- Những cách làm mới, hiệu quả.

- Những hạn chế, vướng mắc, những “điểm nghẽn” trong việc thực hiện nhiệm vụ; phân tích sâu nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó như: Do cơ chế, chính sách, công tác chỉ đạo, điều hành của địa phương mình, tổ chức bộ máy, con người, quan hệ phối hợp trong công tác, cơ sở vật chất... đồng thời nêu rõ giải pháp đã chủ động áp dụng nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc đó.

- Đề xuất nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá thực hiện công tác tư pháp trong 06 tháng cuối năm 2014 ở từng lĩnh vực công tác của địa phương mình; giải quyết những “điểm nghẽn” để thực hiện hoàn thành kế hoạch năm 2014.

2. Báo cáo sơ kết tình hình thực hiện công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2014 của đơn vị, yêu cầu gửi về Văn phòng Sở bằng văn bản giấy và file điện tử (theo địa chỉ: stpbentre@moj.gov.vn) trước 11 giờ ngày 26 tháng 4 năm 2014.

Công văn số 624/STP-VP v/v báo cáo công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2014


23/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014
Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công ...

Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật; công tác kiểm soát thủ tục hành chính; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; công tác trợ giúp pháp lý; công tác hành chính tư pháp; quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp; công tác thanh tra, kiểm tra và tổ chức xây dựng Ngành.


Qua phát động, Sở Tư pháp đã chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, chỉ tiêu đề ra trong Kế hoạch, Chương trình thi đua và một số công việc đột xuất theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhan dân tỉnh. Trên cơ sở đó, các phòng và trung tâm thuộc Sở đã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện phong trào thi đua tại đơn vị mình. Công tác thi đua đã có nhiều khởi sắc, đi vào thực chất, phát triển rộng khắp, thiết thực, hiệu quả; các hoạt động phong trào thi đua đều hướng đến thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao có trọng tâm, trọng điểm, góp phần thực hiện thành công các giải pháp chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua đợt 01/2014 đã phát huy tính thiết thực, giải quyết tốt khối lượng công việc tương đối lớn và những công việc trọng tâm, chương trình kế hoạch năm đã đề ra, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành; nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức về vị trí, vai trò, tác dụng của công tác thi đua, khen thưởng đã từng bước được nâng cao.

Kết thúc đợt thi đua, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành quyết định tặng Giấy khen và công nhận 06 tập thể và 20 cá nhân đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc trong quá trình thực hiện phong trào thi đua đợt 1/2014. Đồng thời, tổ chức phát động và thực hiện phong trào thi đua đợt 02/2014 theo Kế hoạch và Chương trình thi đua đề ra đầu năm, kết hợp với phát động phong trào thi đua hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước Ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 394/QĐ-BTP ngày 19 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp và Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Tuyên truyền pháp luật bằng tài liệuQuy trình Tuyên truyền pháp luật bằng tài liệu


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Tuyên truyền pháp luật bằng tài liệu

(Ban hành ngày 26/5/2008)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt:


Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong việc:
- Phát hành tài liệu tuyên truyền pháp luật cho nhân dân,
- Phát hành tài liệu làm cẩm nang tuyên truyền pháp luật, áp dụng pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức, Báo cáo viên, tuyên truyền viên, hòa giải viên.
II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.
III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp với các cơ quan, ban, ngành liên quan.
IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước Nội dung Trách nhiệm Thời gian Ghi chú
(1) (2) (3) (4) (5)
1 Nhận yêu cầu:

Trưởng phòng - Chỉ đạo của Lãnh đạo.
- Phân công chuyên viên thực hiện.
2 Chuẩn bị kinh phí.
Chuyên viên
Trưởng phòng
Lãnh đạo Sở
Thống nhất với các cơ quan, đơn vị liên quan về kinh phí phát hành tài liệu.
3 Chuẩn bị nội dung tài liệu
Chuyên viên
Trưởng phòng
Lãnh đạo Sở
- Biên soạn nội dung tài liệu.
- Thiết kế hình thức tài liệu.
4 Hợp đồng với nhà in; và theo dõi thực hiện hợp đồng
Chuyên viên Theo hợp đồng Trực tiếp liên hệ với nhà in để in tài liệu.
5 Phát hành tài liệu và lưu hồ sơ Chuyên viên 02 ngày làm việc Theo Kế hoạch phát hành.
Hồ sơ lưu gồm: bản thảo; thành phẩm; hợp đồng; tờ khai nộp lưu chiểu

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnhQuy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
Ngày 05/5/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thay thế Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và Nghị định số 12/2010/NĐ-CP ngày 26/02/201...

Ngày 05/5/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thay thế Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và Nghị định số 12/2010/NĐ-CP ngày 26/02/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 14/2008/NĐ-CP.

Theo đó, Nghị định này quy định 10 cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất ở tất cả các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm: Phòng Nội vụ; Phòng Tư pháp; Phòng Tài chính - Kế hoạch; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; Phòng Văn hoá và Thông tin; Phòng Giáo dục và Đào tạo; Phòng Y tế; Thanh tra huyện; Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (UBND) hoặc Văn phòng UBND nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân.

Ngoài 10 cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất ở tất cả các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã quy định trên, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP cũng quy định căn cứ vào từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện mà thành lập các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện cho phù hợp, cụ thể: ở các quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thành lập Phòng Kinh tế, Phòng Quản lý đô thị; ở các huyện thành lập Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế và Hạ tầng hoặc Phòng Dân tộc.

Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; nhằm góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương.

Nghị định số 37/2014/NĐ-CP cũng quy định người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện (Trưởng phòng) chịu trách nhiệm trước UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện và trước pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn do mình phụ trách.

Cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện (Phó Trưởng phòng) là người giúp Trưởng phòng chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về nhiệm vụ được phân công. Khi Trưởng phòng vắng mặt một Phó Trưởng phòng được Trưởng phòng ủy nhiệm điều hành các hoạt động của phòng; Số lượng Phó Trưởng phòng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện không quá 03 người.

Mặt khác, Việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, cho từ chức, thực hiện chế độ, chính sách đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20 tháng 6 năm 2014.

19/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nhìn lại một năm hoạt động Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lýNhìn lại một năm hoạt động Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý
  Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, được tổ chức lễ ra mắt vào ngày 10/8/2011. Đến nay vừa tròn một năm, với số lượng Ban Chủ nhiệm gồm có 06 thành viên được phối hợp tổ chức từ các ngành đoàn thể xã. Do ông Võ Văn Lâm công chức Tư pháp-Hộ tịch xã làm Chủ nhiệm, đã đi vào hoạt động ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao. 

 

Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, được tổ chức lễ ra mắt vào ngày 10/8/2011. Đến nay vừa tròn một năm, với số lượng Ban Chủ nhiệm gồm có 06 thành viên được phối hợp tổ chức từ các ngành đoàn thể xã. Do ông Võ Văn Lâm công chức Tư pháp-Hộ tịch xã làm Chủ nhiệm, đã đi vào hoạt động ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao. Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý là một hình thức hoạt động  trợ giúp pháp lý cộng đồng, tạo điều kiện cho người dân ở địa phương trực tiếp tham gia sinh hoạt, trao đổi những vướng mắc về pháp luật, đây là một sân chơi lành mạnh được các chi tổ, hội, đoàn thể hội viên và nhân dân trong toàn xã hưởng ứng. Từ khi thành lập đến nay Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý đã sinh hoạt khắp nhiều điểm trên toàn xã với số lượng 01 kỳ/tháng. Hình thức sinh hoạt khá phong phú, Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý sinh hoạt chuyên đề về pháp luật và đặt câu hỏi giao lưu, mổi câu trả lời đúng được Ban chủ nhiệm tặng một phần quà lưu niệm, đồng thời Ban chủ nhiệm lắng nghe ý kiến trao đổi của nhân dân.


Trong quí IV năm 2012, Câu lạc bộ sẽ phối hợp với ngành văn hóa thông tin xã lồng ghép những tiểu phẩm, kịch, nhằm để nâng chất lượng, sinh động trong các lần sinh hoạt, giúp cho người dân hiểu được thực tế hơn. Kế hoạch này sẽ được thực hiện đến khắp các cấp trường trong xã với chuyên đề “Tuổi trẻ trong học đường” đến giai đoạn 2013./.

 

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TƯ PHÁP VIỆT NAM - KHẮC GHI LỜI DẠY CỦA BÁC VỀ “CHÍ CÔNG VÔ TƯ” VỚI NGÀNH TƯ PHÁPKỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TƯ PHÁP VIỆT NAM - KHẮC GHI LỜI DẠY CỦA BÁC VỀ “CHÍ CÔNG VÔ TƯ” VỚI NGÀNH TƯ PHÁP
Từ khi Hồ Chủ tịch khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Người đã nêu đạo đức “chí công vô tư” cho cán bộ ngành Tư pháp. Sáu mươi lăm năm qua thấm nhuần đạo đức vô sản, thấm nhuần tư tưởng đạo đức đã dạy của Bác, người cán bộ Tư pháp đã làm tốt công tác xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật.

 

Theo Hồi ký của cụ Vũ Đình Hòe, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp giai đoạn 1946- 1960 có nói: Nội dung cụ thể của “chí công vô tư” thì Bác giải thích khác, đơn giản thôi, cho thích hợp với trình độ nhận thức của anh em mình (cán bộ ngành Tư pháp) hồi đó, vì nhiều người xuất thân từ chế độ cũ.

Dưới gốc độ nghiên cứu của người cán bộ ngành Tư pháp thâm niên, đi qua thực tiễn xây dựng con người pháp lý và công tác pháp lý ở nước ta, cụ Vũ Đình Hòe đã rút ra từ bài học chí công vô tư mà Bác đã dạy với ngành, như sau:

- Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta: đạo đức như là nguồn của sông, như là gốc của cây, đạo đức là gốc của con người cách mạng. Từ đó có thể hiểu thêm “đạo đức là gốc của pháp lý”. Cho nên muốn có pháp lý tốt thì phải có cán bộ tốt, cán bộ phải có lập trường vững vàng, tư tưởng thông suốt, phải “chí công vô tư”. Chúng ta đã thấy Bác quan tâm đến việc bồi dưỡng lập trường tư tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ tư pháp và pháp lý, ngược lại thì Tư pháp và pháp lý do Bác xây dựng, qua con người mà Bác bồi dưỡng, đào tạo, lại chính là để thực hiện đạo đức “chí công vô tư” của Bác. Đạo đức của Bác, pháp lý của Bác đều xuất phát từ gốc “chí công vô tư” và đều nhằm mục đích “chí công vô tư”.

- Đối với Bác, có đạo đức là để hành động. Hành động thì phải chuẩn đích rõ ràng, phải có kỷ luật thúc đẩy. Cho nên, nếu đạo đức là gốc của pháp lý, thì pháp lý là chuẩn mực của đạo đức, định ra, thích hợp với từng bước đi của cách mạng. Thực tiễn xây dựng ngành Tư pháp ở nước ta, gắn liền qua các chặng đường của cách mạng Việt Nam, nền công lý  và pháp lý luôn luôn thực hiện lý tưởng “chí công vô tư” của Bác, từ mức thấp đến mức cao.

- Để vận động thực hiện mọi chủ trương, đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước, Hồ Chủ tịch luôn luôn gắn đạo đức với pháp lý. Đạo đức là gốc của pháp lý nhưng không thể thay thế được pháp lý. Pháp lý mà tách rời đạo đức thì lung lay. Đạo đức và pháp lý là hai chân, thiếu một chân nào cũng không đi được.

- Bác thường căn dặn cán bộ khi thi hành pháp luật phải “có lý, có tình”. Bác phê phán nghiêm khắc thói quan liêu mệnh lệnh, chỉ biết đơn thuần lấy pháp luật, lấy mệnh lệnh hành chính mà đe dọa, mà ép buộc. Bác nói “Phải kiên nhẫn giáo dục quần chúng một cách có lý, có tình” (Hồ Chí Minh- “Tiến lên giành thắng lợi mới”, Học tập số 2 năm 1965). Nên chú ý Bác nói “có lý, có tình”, chứ không nói có tình, có lý như người ta thường nói, nghĩa là Bác đã ngụ ý: lý trước tình sau, tình trên cơ sở lý, lý là đạo lý, cũng là pháp lý.

Khi kết thúc phần này, cụ Vũ Đình Hòe đã tóm lại: lấy đạo đức làm gốc, pháp lý làm chuẩn, xây dựng pháp lý trên đức “chí công vô tư”, và để thực hiện lý tưởng “chí công vô tư” trong vận động cách mạng luôn luôn gắn đạo đức với pháp lý, thi hành pháp luật “có lý, có tình”: phải chăng đó là những nét độc đáo mà Hồ Chủ tịch đã góp vào lý luận Mác- Lênin về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam, thích hợp với nhận thức và tâm lý con người Việt Nam?

Từ Cách mạng Tháng tám, từ ngày thành lập ngành Tư pháp (28/8/1945), Nhà nước ta, ngành ta không ngừng kiện toàn, pháp luật được tăng cường, luôn luôn phục vụ tích cực nhiệm vụ chính trị, phục vụ nhân dân trong suốt chặng đường lịch sử. Sáu mươi lăm năm qua, các thế hệ cán bộ ngành Tư pháp luôn ghi nhớ lời căn dặn của Bác, nắm vững định hướng pháp luật, tư pháp của Đảng để đưa công tác Tư pháp phát triển không ngừng. Kỷ niệm ngày truyền thống của ngành, ôn lại tài liệu của lãnh đạo ngành thời kỳ đầu về một bài học cụ thể của Bác: “chí công vô tư” với giới pháp lý, để thấy đây là một bài học sâu sắc, có ý nghĩa vô cùng to lớn, trường tồn.

 

19/08/2010 12:00 SAĐã ban hành
Lễ trao quyết định tuyển dụng công chứcLễ trao quyết định tuyển dụng công chức
Sáng ngày 20/5/2014, Sở Nội vụ tổ chức Lễ trao quyết định tuyển dụng công chức cho các thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013. Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ; ông Huỳnh Thanh Phương, Phó Gián đốc Sở Nội vụ đến dự và trao quyết định tuyển dụng công chức. 

Sáng ngày 20/5/2014, Sở Nội vụ tổ chức Lễ trao quyết định tuyển dụng công chức cho các thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013. Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ; ông Huỳnh Thanh Phương, Phó Gián đốc Sở Nội vụ đến dự và trao quyết định tuyển dụng công chức.

Tham dự buổi Lễ có đại diện lãnh đạo và Trưởng phòng phụ trách công tác tổ chức – cán bộ: Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương, Sở Giao thông Vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Y tế, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân và Phòng Nội vụ các huyện, thành phố.


Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức kỳ thi tuyển dụng công chức năm 2013, gồm có 422 thí sinh tham dự kỳ thi. Kết quả có 124 thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức vào làm việc ở các cơ quan Đảng, đoàn thể; các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ( trong đó, có 41 thí sinh vào làm việc ở các cơ quan Đảng, đoàn thể). Các thí sinh sẽ trãi qua 5 phần thi viết và trắc nghiệm về kiến thức chung, nghiệp vụ chuyên ngành, văn phòng, tin học và ngoại ngữ.

Ngày 08/4/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 677/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả kỳ thi tuyển và công nhận danh sách thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013; đã có 83 thí sinh được Sở Nội vụ trao quyết định tuyển dụng vào làm việc ở các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Trong đó, Sở Tư pháp được tuyển dụng 04 công chức: Nguyễn Thị Chuyền, Lê Thị Phượng, Lê Thị Hồng Diễm, Nguyễn Thị Nhiên.

Đây là lần đầu tiên, tỉnh Bến Tre tổ chức thi tuyển công chức có quy mô lớn với hình thức thi công khai, minh bạch, đã siết chặt việc coi thi, ra đề, chấm thi, nhằm tuyển chọn những công chức có phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực, kịp thời bổ sung đội ngũ công chức cho các cơ quan, đơn vị đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tại buổi Lễ, ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ chúc mừng các thí sinh được trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2013, Giám đốc Sở Nội vụ Nguyễn Hữu Lập yêu cầu các công chức mới được tuyển dụng cần nhanh chóng thích nghi, hòa nhập; chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị nơi công tác; vận dụng các kiến thức đã học vào công việc có hiệu quả nhất; không ngừng phấn đấu, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tin học, ngoại ngữ; học hỏi đồng nghiệp, làm tốt công tác tham mưu để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào thực hiện thành công nhiệm vụ chung của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, Giám đốc Sở Nội vụ cũng đề nghị lãnh đạo các cơ quan, đơn vị tiếp nhận công chức mới phân công nhiệm vụ đúng theo vị trí việc làm, tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn công chức mới làm quen với công việc, để công chức mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

20/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Triển khai chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”Triển khai chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”
Những năm qua, công tác chăm sóc, bảo vệ, phòng ngừa, can thiệp, trợ giúp trẻ em bị xâm hại, bạo lực, và những trẻ em có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực ngày càng được chú trọng hơn. Tuy nhiên, tình trạng ngược đãi, xâm hại, bạo lực trẻ em diễn biến phức tạp, tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn.

Những năm qua, công tác chăm sóc, bảo vệ, phòng ngừa, can thiệp, trợ giúp trẻ em bị xâm hại, bạo lực, và những trẻ em có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực ngày càng được chú trọng hơn. Tuy nhiên, tình trạng ngược đãi, xâm hại, bạo lực trẻ em diễn biến phức tạp, tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn.

Từ năm 2008 đến 2010, cả nước có khoảng 3.000 - 4.000 vụ bạo lực trẻ em. Trẻ em bị chính cha mẹ, người thân, thầy cô giáo và những người có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc có hành vi xâm hại, bạo lực. Bạo lực học đường liên tiếp xảy ra khi thầy cô giáo sử dụng biện pháp giáo dục có tính chất bạo lực gây hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh; đồng thời cũng có hiện tượng học sinh hành hung thầy cô giáo, học sinh đánh học sinh gây thương tích, thậm chí dẫn đến tử vong.

Từ năm 2006 đến 2011, cả nước có khoảng 5.600 vụ lạm dụng tình dục trẻ em bị phát hiện. Trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 1.000 vụ, trong đó số vụ hiếp dâm trẻ em chiếm 65,9% số vụ xâm hại tình dục trẻ em. Tính chất của các vụ xâm hại tình dục trẻ em ngày càng nghiêm trọng, báo động về sự suy đồi đạo đức. Ngoài ra, còn xuất hiện nhiều hình thức mới, như: xâm hại tình dục trẻ em nam, đối tượng xâm hại không chỉ là người Việt Nam mà đã xuất hiện đối tượng phạm tội là người nước ngoài...

Tại Bến Tre, năm 2013, phát hiện xảy ra 465 vụ. Trong đó, bạo lực tinh thần 222 vụ, bạo lực thân thể 174 vụ, bạo lực kinh tế 58 vụ, bạo lực tình dục 11 vụ. Người gây bạo lực gia đình đa phần là nam giới và người bị bạo lực thường là những người yếu thế trong gia đình như phụ nữ, trẻ em, người già. Biện pháp xử lý người gây bạo lực gia đình cũng được chính quyền địa phương, các ngành chức năng và cộng đồng dân cư thực hiện qua các hình thức: góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư 290 vụ; áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc 03 vụ; áp dụng các biện pháp giáo dục 61 vụ; tạm giữ, xử phạt hành chính 27 vụ và xử lý hình sự 02 vụ.

Để thúc đẩy sự quan tâm của toàn xã hội đối với trẻ em, góp phần giảm thiểu trẻ em bị xâm hại, bạo lực về thể chất, tinh thần, đảm bảo cho mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh và phát triển toàn diện; nâng cao nhận thức của mọi người trong phòng, chống bạo lực gia đình, thực hiện bình đẳng giới trong gia đình. Tiếp nối Tháng hành động vì trẻ em "Hành động vì một xã hội không bạo lực, không xâm hại trẻ em" cũng là chủ đề của Tháng hành động vì trẻ em, phối hợp triển khai chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”; Ủy ban nhân dân tỉnh yêu các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tập trung thực hiện lồng ghép nội dung triển khai chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em” trong chương trình phát động Tháng hành động vì trẻ em năm 2014 từ tỉnh đến cơ sở;

Tổ chức các diễn đàn đối thoại, tọa đàm, các buổi truyền thông cộng đồng, truyền thông lưu động để đưa ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả; nhằm ngăn ngừa và hạn chế tối đa tình trạng trẻ em bị xâm hại, bạo lực;

Các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình tăng cường công tác tuyên truyền chiến dịch “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”; nhằm nâng cao nhận thức của mọi người dân về trách nhiệm phòng, chống xâm hại, bạo lực trẻ em; thông báo, tố cáo hành vi xâm hại, bạo lực trẻ em cho cơ quan chức năng;

Sở Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan tổ chức triển khai chiến dịch truyền thông“Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em”.

Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em. Phát triển các dịch vụ bảo vệ trẻ em để sẵn sàng tiếp nhận thông báo, tố cáo và hỗ trợ, can thiệp kịp thời các trường hợp trẻ em bị xâm hại, bạo lực. Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức và kỹ năng về phòng, chống bạo lực trẻ em cho trẻ em, cha mẹ và đội ngũ làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xây dựng chương trình, kế hoạch phối hợp tổ chức chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em” năm 2014.

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch tổ chức tốt chiến dịch truyền thông “Chấm dứt bạo lực gia đình đối với trẻ em” phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn