Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ - Trung tâm Trợ giúp pháp lý
Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đ... 
 
Ngày 07 tháng 8 năm 2014, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý tỉnh Bến Tre (Hội đồng) đã tổ chức hội nghị sơ kết sáu tháng đầu năm 2014 về hoạt động phối hợp trợ giúp pháp lý (TGPL) trong lĩnh vực tố tụng. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, kiêm Chủ tịch Hội đồng chủ trì Hội nghị.  
 
Làng quê vốn gắn liền với những gì đơn sơ, mộc mạc và người dân nơi đây cũng quen với nếp sống bình dị, chân chất, bà con lối xóm sống chan hòa, gắn bó với nhau. Chính vì thế, sự cảnh giác của người dân ở các vùng quê cũng có phần hạn chế. Họ luôn cho rằng ở quê không có hoặc ít có các trường hợp trộm, cướp và càng không cảnh giác đối với những người trong cùng xóm, ấp với nhau. Nếu ở thành thị, ... 
 
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự c... 
 
Ngày đám cưới vốn dĩ là ngày hạnh phúc với tất cả những người yêu nhau, là kết tinh tình yêu của đôi trai gái, là ngày hai con người được gắn kết bởi một sợi dây mang tên “gia đình”. Hạnh phúc đó phải trải qua bao khó khăn mới đạt được, thế nhưng gìn giữ hạnh phúc ấy trọn quãng đời còn lại càng khó khăn biết bao. 
 
Với việc quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Để thực hiện đúng quyền khởi kiện và tham gia tố tụng trong vụ án hành chính của mình tại Tòa án, thì việc xác định người bị kiện trong vụ... 
 
Tất cả trẻ em vốn dĩ đều nên có một tuổi thơ trong sáng vui vẻ, được chăm sóc giáo dục với tình yêu thương của cha mẹ và gia đình. Thế nhưng cuộc đời ngoài kia nào chỉ có hoa thơm và trái ngọt, nào đâu phải đứa trẻ nào cũng được chăm sóc và yêu thương; ngoài kia còn rất nhiều những đứa trẻ không cha, không mẹ, không nơi nương tựa, không được sống trong tình thương gia đình, các em phải trải qua... 
 
“Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe” hay “Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi” những khẩu hiệu tuyên truyền về tác hại của thuốc lá có ở khắp mọi nơi, ngay cả trên bao bì của các loại thuốc lá. Điều đó cho thấy rằng thuốc lá là một sản phẩm độc hại, gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của con người. Chính vì lý do đó việc kinh doanh thuốc lá cũng có phần hạn chế hơn so với các mặt hàng thông ... 
 
Ngày 29/5/2014, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý (TGPL) tỉnh kiểm tra hoạt động phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tại Mỏ Cày Nam; do ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch Hội đồng làm trưởng đoàn. Ông Nguyễn Hiệp Quốc, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Mỏ Cày Nam đến dự.  
 
Ngày 22 tháng 5 năm 2014, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Bình Đại và Ủy ban nhân dân xã Châu Hưng tổ chức ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Châu Hưng. Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Châu Hưng gồm có 11 thành viên, do ông Bùi Minh Quang, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An QuyThành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy
Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.

Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.Theo Quyết định số 118/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã An quy, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ gồm có 16 thành viên, Ông Lê Phúc Vinh, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm; các thành viên khác là cán bộ các ban ngành, Đoàn thể xã; cùng Trưởng ấp của 6 ấp.

Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy được thành lập sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân địa phương giao lưu, trao đổi những khó khăn, vướng mắc pháp luật trong cuộc sống. Câu lạc bộ sinh hoạt theo định kỳ hai tháng một lần với nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách của xã. Tính đến nay, huyện Thạnh Phú có 18/18 xã thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý.

26/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Triển khai thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ emTriển khai thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Thực hiện quyết định số 418/QĐ-BTP ngày 18/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp  Ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 01/9/2009 của Thủ tướng  Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Kế hoạch số  286/KH-UBND ngày 27/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre thực hiện công tác bảo  vệ, chăm sóc trẻ em

 

Thực hiện quyết định số 418/QĐ-BTP ngày 18/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 01/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Kế hoạch số 286/KH-UBND ngày 27/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em theo Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010. Ngành Tư pháp Bến Tre đã triển khai các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý đăng ký hộ tịch, quốc tịch; trợ giúp pháp lý trong đó chú trọng bảo đảm quyền được khai sinh và có quốc tịch của trẻ em, bảo đảm tính nhân đạo của hoạt động nuôi con nuôi, tránh lợi dụng để mua bán trẻ em; phòng ngừa tệ nạn tảo hôn. Tăng cường trợ giúp pháp lý cho trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em bị xâm hại tình dục. Đẩy mạnh tuyên truyền góp phần ngăn ngừa tội phạm xâm hại trẻ em, tăng cường hiệu quả giáo dục phục hồi đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Ảnh minh họa

Những nội dung thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói trên thuộc trách nhiệm của toàn ngành Tư pháp từ tỉnh đến cơ sở và phải gắn với hoạt động thường xuyên./.

19/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Tìm hiểu về “cai nghiện ma tuý”Tìm hiểu về “cai nghiện ma tuý”
Cai nghiện ma tuý là một biện pháp tổng hợp gồm các tác động về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức, v.v... nhằm điều trị, giúp người nghiện ma tuý cắt các hội chứng nghiện, phục hồi sức khoẻ và tái hoà nhập cộng đồng.

Cai nghiện ma tuý là một biện pháp tổng hợp gồm các tác động về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức, v.v... nhằm điều trị, giúp người nghiện ma tuý cắt các hội chứng nghiện, phục hồi sức khoẻ và tái hoà nhập cộng đồng.
Cai nghiện ma tuý là một quá trình gồm nhiều giai đoạn: giai đoạn cắt cơn nghiện; giai đoạn hồi phục sức khoẻ, tâm; sinh lý và giáo dục lối sống; giai đoạn dạy nghề và tạo việc làm; giai đoạn giám sát, tư vấn, quản lý tại cộng đồng . Các giai đoạn này phải liên tục, kế tiếp nhau trong thời gian từ 2 - 3 năm. Để cai nghiện được thành công hoàn toàn cần phải có sự kết hợp của ý chí người nghiện với sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng xã hội. Một người chỉ được coi là đã cai nghiện được hoàn toàn nếu sau 6 năm không dùng ma tuý trở lại. Nhưng để thật sự đạt được kết quả như mong đợi thì không phải ai cũng làm được.
Hiện nay, Cai nghiện ma túy là vấn đề được xã hội rất quan tâm và không ngừng tìm các giải pháp tối ưu để tăng mức tỷ lệ cai nghiện thành công, giúp người nghiện thật sự thoát ly khỏi ma tuý. Tuy nhiên, hiện không ít gia đình và người nghiện thiếu kinh nghiệm và hiểu biết dẫn đến kết quả cai nghiện không thành công, thậm chí còn gây ra những hậu quả khó lường..
Theo Khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng chống ma tuý năm 2008 quy định những biện pháp, hình thức cai nghiện như sau:
1. Các biện pháp cai nghiện ma tuý bao gồm:
a) Cai nghiện ma túy tự nguyện;
b) Cai nghiện ma túy bắt buộc.
2. Các hình thức cai nghiện ma tuý bao gồm:
a) Cai nghiện ma túy tại gia đình;
b) Cai nghiện ma túy tại cộng đồng;
c) Cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện.
Trong các hình thức cai nghiện nêu trên thì: Hình thức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng được áp dụng đối với người tự nguyện cai nghiện, trừ trường hợp người nghiện ma túy tự nguyện cai nghiện tại cơ sở cai nghiện.
Trường hợp người nghiện ma túy không tự nguyện cai nghiện thì áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng đồng theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
Thời hạn cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng từ sáu tháng đến mười hai tháng.
Ngoài ra, theo Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy năm 2008 quy định người nghiện ma tuý và gia đình có người nghiện ma tuý có trách nhiệm như sau:
1. Người nghiện ma túy có trách nhiệm:
a) Tự khai báo về tình trạng nghiện ma túy của mình với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) nơi cư trú và tự đăng ký hình thức cai nghiện ma túy;
b) Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về cai nghiện ma túy.
2. Gia đình người nghiện ma túy có trách nhiệm:
a) Khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã về người nghiện ma tuý trong gia đình mình và đăng ký hình thức cai nghiện cho người đó;
b) Động viên, giúp đỡ và quản lý người nghiện ma túy cai nghiện tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng theo sự hướng dẫn, giám sát của cán bộ y tế và Ủy ban nhân dân cấp xã;
c) Theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn người nghiện sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội;
d) Hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện và đóng góp kinh phí cai nghiện theo quy định của pháp luật.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức cho người nghiện ma túy, gia đình người nghiện ma túy khai báo về tình trạng nghiện ma tuý và đăng ký hình thức cai nghiện./.

 

27/10/2011 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sốngQuy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sống


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Sản xuất các chương trình Truyền hình
Pháp luật và Đời sống
(Ban hành ngày 10/12/2007)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Trịnh Thị Thanh Bình
Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua kênh truyền hình tỉnh,  từng bước nâng cao chất lượng phục vụ của Chương trình này.

II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.

III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, Ban Lãnh đạo Sở;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp và Đài Phát thanh, truyền hình tỉnh Bến Tre.

IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước
Nội dung
Trách nhiệm
Thời gian
Ghi chú
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
1
Lập kế hoạch thực hiện trong tháng. - Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.

Đầu mỗi tháng.

Nội dung sẽ phát trong tháng; Phân công chuyên viên tham gia thực hiện.
2
Chuẩn bị kịch bản - Chuyên viên;
- Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.
Trước ngày phát sóng: 6 ngày Chuẩn bị kịch bản theo nội dung đã dự kiến trong Kế hoạch.
3
Lãnh đạo phê duyệt kịch bản
Lãnh đạo 1 ngày
4
Quay và dàn dựng chương trình Chuyên viên 2 ngày
5
Lãnh đạo duyệt chương trình Lãnh đạo Trước khi phát sóng
6
Theo dõi phát Chương trình - Trưởng phòng,
- Chuyên viên,
- Lãnh đạo.viên.
Thường xuyên - Nhận xét, đánh giá (nếu có).
- Trả lời bạn xem đài (nếu có).
7
Lưu hồ sơ Chuyên viên Sở,
Trưởng phòng,
Chuyên viên.
Ngay sau phát sóng Hồ sơ lưu: kế hoạch, kịch bản.
Băng phát lưu tại Đài PT-TH

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúngCông tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúng
 Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh ...

Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh và địa phương đã làm tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, tái định cư đảm bảo tiến độ dự án, đảm bảo chính sách và quyền lợi chính đáng, cuộc sống, việc làm cho người dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, điển hình như công trình cầu Cổ Chiên, 10 cầu trên địa bàn huyện Bình Đại, Khu Công Nghiệp Giao Long, Đường từ Cảng Giao Long đến đường Nguyễn Thị Định, các cầu trên địa bàn huyện Chợ Lách, Thạnh Phú…Tuy nhiên, vẫn còn một vài công trình dự án trong quá trình thực hiện còn để xảy ra sơ sót, công tác phối hợp vận động quần chúng thiếu chặc chẽ dẫn đến người dân chưa đồng tình, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Thiết nghĩ, trong thời gian tới nhằm mở rộng dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác quy hoạch, xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, công tác đền bù giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư; tăng cường hơn nữa vai trò phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đề ra những giải pháp phù hợp nhằm tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện các dự án, nắm bắt, phản ánh và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc, khiếu nại chính đáng của người dân góp phần xây dựng xã hội đồng thuận, tự quản, các cấp chính quyền và hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thề chính trị xã hội trong tỉnh cần thực hiện các bước giải pháp đồng bộ sau :

Bước 1, Đối với công tác dân vận trong giai đoạn chuẩn bị quy hoạch, xây dựng dự án, triển khai đầu tư phát triển kinh tế xã hội: Ngay từ khi dự thảo quy hoạch, dự án, phương án thu hồi đất, giá cả đền bù và phương án tổ chức thực hiện dự án, các cấp chính quyền phải tổ chức họp dân, toạ đàm, lắng nghe, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến tham gia của nhân dân, của MTTQ và các đoàn thể liên quan đến dự án để bổ sung, hoàn thiện dự án; khi được phế duyệt chính thức và trước khi tổ chức thực hiện dự án chính quyền các cấp phải công khai với người dân về nội dung liên quan của dự án bắng nhiều hình thức linh hoạt như mời họp dân, trực tiếp phổ biến, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết văn bản...; tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương về thu hồi đất khi thực hiện dự án, để người dân hiểu đúng, đủ về mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng, quyền lợi của mình khi dự án được thực hiện.

Bước 2, Công tác dân vận trong giai đoạn thực hiện: Chính quyền thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án đảm bảo có thành phần các tổ chức trong hệ thống chính trị như: Dân vận, MTTQ và các đoàn thể; khảo sát, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư , tổ chức lấy ý kiến của người bị thu hồi đất nhằm xây dựng phương án rõ ràng, minh bạch, chính sát, chi tiết từng phương án bao gồm cả phương án kiểm đếm, thanh toán và phương án tuyên truyền vận động đến từng hộ dân có liên quan.

Xây dựng phương án đến bù cụ thể cho từng hộ, chuẩn bị các điều kiện kinh phí, tài chỉnh để thực hiện, phân công rõ từng trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuyên truyền vận động, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng, nghiên cứu tiếp thu, giải quyết ý kiến thắc mắc kiến nghị đến từng hộ dân có liên quan; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền vận động quần chúng, nêu cao quan điểm quần chúng, tôn trọng dân cho cán bộ công chức ( những người được phân công trực tiếp kiểm đếm, chi trả đền bù) và cán bộ trong hệ thống chính trị được phân công tham gia thực hiện dự án, chống hiện tượng lợi dụng bớt xén, quan liêu, hách dịch cửa quyền, mất dân chủ với nhân dân; đồng thời tuyên truyền chống biểu hiện thiếu trung thực về kê khai nhà cửa, tài sản, đất đai, lợi dụng chính sách đền bù giải toả của Nhà nước.

Phải công bố rõ chủ trương thu hồi đất cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; công khai phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, thời gian bàn giao đất, phương án, phương pháp thực hiện chi trả tiền bồi thường và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư kịp thời cho người dân.

Bước 3, Tổ chức lắng nghe tiếp thu ý kiến, đối thoại, giải quyết khiếu tố của nhân dân trong quá trình thực hiện dự án: Trong quá trình thực hiện dự án, các cơ quan chức năng phải thường xuyên theo dõi, lắng nghe tâm tư nguyện vọng chính đáng và ý kiến tham gia góp ý, thắc mắc, khiếu tố của nhân dân để kịp thời tiếp thu những ý kiến đúng đắn, tiếp tục chỉnh sửa bổ sung về cơ chế, chính sách, giá cả đền bù, hỗ trợ, phương pháp tổ chức thực hiện; giải thích rõ những ý kiến kiến nghị của nhân dân; khi có khiếu kiện đông người, phức tạp cấp uỷ, chính quyền có trách nhiệm nghe, đối thoại trực tiếp với nhân dân, nắm tình hình, bàn giải pháp và lập tổ công tác, phân công nhiệm vụ cho các tổ chức cá nhân cụ thể tuyên truyền vận động, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của người dân; công tác giải quyết khiếu nại gay gắt của người dân phải lấy tuyên truyền vận động, thuyết phục là chính, hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp cưỡng chế, bắt người; phát huy tốt vay trò của cả hệ thống chính trị, những người tích cực, có uy tín trong nhân dân; phải tổ chức lực lượng kiên trì vận động đến từng người dân và thực sự cầu thị, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân; nghiêm túc kiểm diểm rút kinh nghiệm nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục sửa chửa và xin lỗi người dân về những khuyết điểm, hạn chế của mình; tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác và cương quyết khôn khéo phát động nhân dân đấu tranh với những người cực đoan lợi dụng dân chủ để tập hợp quần chúng khiếu nại gây mất ổn định về ANCT; công tác cưỡng chế khi thật cần thiết, song phải cân nhắc kỹ, phải được đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ, không để tình hình phức tạp thêm.

Và cuối cùng sau khi dự án đã thực hiện xong, Ban Dân vận, MTTQ và các đoàn thể phải tiếp tục nắm tâm tư nguyện vọng, đời sống ăn ở, sinh hoạt, việc làm thu nhập của nhân dân, nhất là những dự án tái định cư để tiếp tục tuyên truyền, vận động tham mưu giải quyết, hỗ trợ kịp thới những khó khăn, bức xúc, sớm ổn định cuộc sống của nhân dân. Thực hiện đồng bộ các bước giải pháp trể sẽ góp phần rất quan trọng giúp các công trình dự án trọng điểm của tỉnh ta thực hiện một cách thành công, hiệu quả, nhanh chóng, tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở từng địa phương.

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công tác lý lịch tư pháp -Những kết quả bước đầuCông tác lý lịch tư pháp -Những kết quả bước đầu
Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. Đây là một đạo luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền của công dân và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp và khó khăn trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, cụ thể như xây dựng cơ sở d...

Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. Đây là một đạo luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền của công dân và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp và khó khăn trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, cụ thể như xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; hình thành cơ chế cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp; chủ động thực hiện cập nhật thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích…. Xác định rõ tầm quan trọng của công tác này, thời gian qua, Sở Tư pháp đã chủ động khắc phục những khó khăn bước đầu, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp cho công dân ngày càng tăng.

Từ khi Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Luật trên địa bàn tỉnh, cụ thể là tổ chức triển khai nội dung Luật cho đại diện các sở, ngành, đoàn thể tỉnh, thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; cán bộ pháp chế của các sở, ban, ngành tỉnh; lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố. Đồng thời, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì tổ chức hội nghị phối hợp thực hiện Luật Lý lịch tư pháp giữa các cơ quan Công an tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự, Sở Nội vụ, Sở Tài chính để chuẩn bị các điều kiện cần thiết thực hiện nhiệm vụ trong khi chờ văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Đối với các cơ quan cung cấp thông tin, Sở Tư pháp định kỳ thực hiện việc đối chiếu thông tin để đảm bảo thông tin không bị bỏ sót hoặc chậm trễ. Năm 2011, Sở Tư pháp đã được phê duyệt kinh phí để trang bị cơ sở vật chất phục vụ công tác Lý lịch tư pháp. Từ nguồn kinh phí được phê duyệt, Sở Tư pháp đã trang bị tủ hồ sơ chuyên dụng, in ấn sổ và bìa hồ sơ để phục vụ lưu trữ hồ sơ giấy.

Sau khi Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2010 được ban hành, Sở Tư pháp đã có Công văn gửi Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin cải chính, chứng tử để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Tính đến tháng 12 năm 2012, Sở Tư pháp đã tiếp nhận 8021 thông thông tin lý lịch tư pháp do Cơ quan Thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố và Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cung cấp; 3556 thông tin chứng tử; 2106 thông tin thay đổi, cải chính hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp. Lượng thông tin tiếp nhận được cập nhật đầy đủ, kịp thời trên cơ sở dữ liệu do việc chủ động ứng dụng công nghệ thông tin, giải quyết những khó khăn bước đầu khi chưa có biên chế phục vụ công tác, chưa có phần mềm quản lý dùng chung. Song song với dữ liệu điện tử, các hồ sơ Lý lịch tư pháp đã lập được lưu trữ trên các bìa giấy, mỗi hồ sơ có mã số riêng, tương ứng với dữ liệu điện tử.

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đang từng bước đi vào hoạt động. Bên cạnh kết quả tra cứu của Công an tỉnh, đầu năm 2012, Sở Tư pháp đã thực hiện tra cứu thông tin từ hệ thống cơ sở dữ liệu đang xây dựng để cấp Phiếu Lý lịch tư pháp. Trong năm 2012, Sở Tư pháp đã tiếp nhận và cấp 1672 Phiếu Lý lịch tư pháp. Sở Tư pháp và Công an tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự đã ký Quy chế phối hợp liên ngành trong việc cung cấp, rà soát, xác minh thông tin lý lịch tư pháp trên địa bàn tỉnh. Đến nay, công tác lý lịch tư pháp tại địa phương đã cơ bản đi vào ổn định; quan hệ phối hợp ngày càng được tăng cường. Dữ liệu lý lịch tư pháp lưu trữ trên phần mềm ứng dụng của Sở đã được chuyển đổi tương ứng và tương đối phù hợp với phần mềm quản lý lý lich tư pháp dùng chung của Bộ Tư pháp.

 

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác lý lich tư pháp cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề biên chế. Theo Quyết định số 2369/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Xây dựng Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chức thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp” thì biên chế tối thiểu làm công tác lý lịch tư pháp tại các Sở Tư pháp tỉnh là 03 biên chế. Thực hiện Quyết định trên, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 967/KH-UBND ngày 16 tháng 3 năm 2011 thực hiện Đề án “Xây dựng Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chức thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp” trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Sở Tư pháp ban hành Kế hoạch kiện toàn Phòng hành chính tư pháp. Theo đó, Sở Tư pháp được bổ sung thêm 4 biên chế làm công tác lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, đến nay số biên chế này vẫn chưa được phân bổ. Mặc dù vậy, để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phương, Sở Tư pháp đã chủ động bố trí cán bộ đang làm công tác hành chính tư pháp kiêm nhiệm công tác này, đồng thời bố trí cán bộ làm việc ngoài giờ hành chính và ký thêm hợp đồng lao động để xử lý thông tin.

Đến nay, lượng thông tin tiếp nhận đã được cập nhật vào cơ sở dữ liệu, lập Lý lịch tư pháp để tra cứu tại Sở, cung cấp cho các Sở Tư pháp khác để xử lý theo thẩm quyền. Tuy nhiên, việc xử lý thông tin lý lịch tư pháp, thông tin cải chính, chứng tử, cung cấp bản lý lịch tư pháp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp vẫn chưa kịp tiến độ do nhiều nguyên nhân, trong đó bên cạnh yếu tố nhân sự còn do chưa có hướng dẫn thống nhất cách xử lý đối với các trường hợp phát sinh trên thực tế. Một trong những vấn đề phát sinh là việc xử lý đối với các thông tin lý lich tư pháp bổ sung như các Quyết định, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận đặc xá…Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp thì cơ sở để lập Lý lich tư pháp là bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc bản án hình sự phúc thẩm. Tuy nhiên, việc đề nghị các Tòa án cung cấp bản án, đặc biệt là các bản án trước ngày 01/7/2010 cần phải có thời gian để Tòa án thực hiện tra cứu. Trong khi đó, nếu chờ có bản án rồi mới thực hiện lập Lý lịch tư pháp thì sẽ dẫn đến việc bỏ sót thông tin khi tra cứu để cấp Phiếu. Trước tình hình này, để đảm bảo không bị bỏ sót thông tin, phục vụ tra cứu, Sở Tư pháp đã chủ động lập Lý lịch tư pháp ngay khi nhận được các quyết định, giấy chứng nhận, sau đó mới thống kê và có công văn gửi các Tòa án để xin bản án, bổ sung thông tin và cung cấp về Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia.

Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu lý lich tư pháp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tư pháp. Qua 2 năm thi hành Luật, cùng với các địa phương khác, Sở Tư pháp Bến Tre đã có nhiều nỗ lực góp phần vào nhiệm vụ chung. Tuy nhiên, để đảm bảo cho công tác lý lich tư pháp tại địa phương đạt hiệu quả cao trong thời gian tới, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, vấn đề cấp thiết là phải quan tâm, củng cố, sớm bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp chuyên trách theo quy định.

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đoàn Luật sư Bến Tre tổ chức Đại hội bất thường bầu thay thế nhân sựĐoàn Luật sư Bến Tre tổ chức Đại hội bất thường bầu thay thế nhân sự
Được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 27 tháng 10 năm 2012 tại Hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư Bến Tre đã tổ chức “Đại hội bất thường bầu thay thế nhân sự” cho Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư do Chủ nhiệm Đoàn luật sư nhiệm kỳ VII (2008 – 2013) xin miễn nhiệm vì lý do sức khỏe và một Ủy viên Hội đồng khen thưởng kỷ luật xin miễn nhiệm do chuyển công tác.

Được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 27 tháng 10 năm 2012 tại Hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư Bến Tre đã tổ chức “Đại hội bất thường bầu thay thế nhân sự” cho Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư do Chủ nhiệm Đoàn luật sư nhiệm kỳ VII (2008 – 2013) xin miễn nhiệm vì lý do sức khỏe và một Ủy viên Hội đồng khen thưởng kỷ luật xin miễn nhiệm do chuyển công tác.


Tham dự Đại hội có Ông Phan Thông Anh - Trưởng cơ quan đại diện Liên đoàn Luât sư Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Huỳnh Quang Triệu – Giám Đốc Sở Tư pháp, Đại diện lãnh đạo Phòng Thanh tra, Phòng Bổ Trợ Tư pháp, Trung tâm trợ giúp pháp lý Sở Tư pháp cùng 37 thành viên Đoàn luật sư tỉnh.

Đại hội đã thông qua báo cáo kết quả hoạt động của Đoàn Luật sư từ 31/12/2008 đến 27/10/2012, triển khai thực hiện kết luận của Thủ thướng chính phủ đối với Liên đoàn luật sư Việt Nam, công tác khen thưởng xét tặng kỷ niệm chương của Liên đoàn luật sư Việt Nam. Đại hội đã nhất trí miễn nhiệm chức danh Chủ nhiệm Đoàn Luật sư đối với Ông Lê Văn Thanh, chức danh Ủy viên Hội đồng khen thưởng kỷ luật đối với Ông Nguyễn Hoàng Việt, thống nhất bầu Ông Võ Tấn Thành vào Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư và giữ chức danh Chủ nhiệm, Ông Lê Văn Ly giữ chức danh Ủy viên Hội đồng khen thưởng kỷ luật.

Như vậy, Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư hiện nay gồm các thành viên: Ông Võ Tấn Thành – Chủ nhiệm, Ông Nguyễn Thanh Lương – Phó Chủ nhiệm, Bà Trương Thị Xem – Phó Chủ nhiệm. Việc củng cố nhân sự của Đoàn Luật sư sẽ tạo tiền đề, đánh dấu những chuyển biến mới, góp phần nâng cao hơn nữa vị trí, vai trò của Đoàn Luật sư trong việc quản lý, bảo vệ quyền lợi của các luật sư thành viên cũng như nâng cao vai trò tự quản của tổ chức Luật sư ./.

 

05/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Cha, mẹ cản trở con kết hôn là vi phạm pháp luậtCha, mẹ cản trở con kết hôn là vi phạm pháp luật
Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều kiện kết hôn thì nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện như: Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên; việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộ...

 

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều kiện kết hôn thì nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện như: Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên; việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở; việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Nếu việc kết hôn của hai bên nam nữ không vi phạm điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Như vậy, căn cứ điều kiện kết hôn nêu trên thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không có quy định điều kiện kết hôn của hai bên nam nữ phải có ý kiến đồng ý của cha, mẹ, hay cha, mẹ không đồng ý thì hai bên nam nữ không được kết hôn. Thực tế, nhiều trường hợp cha, mẹ do nhiều lý do khác nhau mà không đồng ý con mình kết hôn với người mà con thương, nên có hành vi cản trở con kết hôn, vô hình trung là vi phạm pháp luật, vì hành vi cản trở người khác kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là hành vi bị cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 15 của Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình:

“Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.

2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.”

Trong thực tế, cũng có không ít trường hợp nam nữ kết hôn gặp trở ngại từ phía gia đình hai bên vì nhiều lý do khác nhau, nhưng hai bên nam nữ đã kiên trì thuyết phục cha, mẹ; nhờ người thân trong gia đình như ông bà, cô cậu, chú bác…; bạn thân của cha mẹ mình hay tìm đến chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể ở địa phương như Hội phụ nữ để được tư vấn, can thiệp, giúp đỡ và cuối cùng cha mẹ hai bên cũng hiểu ra, đồng ý việc kết hôn của con. Việc kết hôn hai bên nam nữ được gia đình hai bên ủng hộ và chúc phúc thì hôn nhân thêm ý nghĩa và hạnh phúc trọn vẹn./.

09/04/2012 12:00 SAĐã ban hành
Công tác văn thư lưu trữCông tác văn thư lưu trữ


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
CÔNG TÁC VĂN THƯ LƯU TRỮ

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Tiếp nhận và quản lý công văn đi, đến; lưu trữ hồ sơ nhằm phục vụ cho công tác của ngành.

2. Phạm vi áp dụng:

Tất cả các đơn vị thuộc Sở.

3. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

1. Công tác văn thư:

Nhân viên văn thư



Thời gian:

16h cùng ngày đi công văn bình thường; công văn mang tính chất khẩn đi ngay;

trong nội ô thị xã đi trực tiếp



* Công văn đi:

- Các phòng soạn thảo văn bản theo ý kiến của Ban Giám đốc, trình Ban Giám đốc ký duyệt.

- Chuyển đến bộ phận Văn phòng đóng dấu và lấy số công văn đi.

- Đóng dấu, cho số công văn đi và ghi vào sổ theo dõi.

- Chuyển số công văn đã được đóng dấu và lấy số đến bộ phận phát hành công văn.

- Phát hành công văn đến địa chỉ theo đúng yêu cầu của các phòng nghiệp vụ (chuyển đến Bưu điện hoặc đi trực tiếp) và ghi vào sổ theo dõi.

- Trường hợp những công văn đi có tính cấp bách phải gửi đi khẩn cấp thì phải xin ý kiến chỉ đạo của Ban Giám đốc.

* Công văn đến:

- Nhận công văn từ bên ngoài gởi đến.

- Đóng dấu “ Công văn đến”, ghi số công văn đến, ngày nhận công văn. (số công văn được ghi theo thứ tự từ đầu năm, bắt đầu là số 01 cho đến cuối năm).

- Trình Ban Giám đốc xem xét và có ý kiến xử lý.

- Nhận lại số công văn đã có ý kiến của Ban Giám đốc.

- Giao công văn đến các phòng nghiệp vụ theo ý kiến của Ban Giám đốc (có ký nhận).

2. Lưu trữ:

- Soạn thảo “ Thông báo thu gom tài liệu” trình Ban Giám đốc duyệt gửi các phòng nghiệp vụ vào đầu tháng 11 hàng năm.

- Lập và trình duyệt Bảng dự trù văn phòng phẩm, vật dụng cần thiết cho việc chỉnh lý các tài liệu vừa thu gom.

- Soạn thảo các thủ tục giấy tờ cần thiết để tiến hành ký hợp đồng với Trung tâm Lưu trữ tỉnh về việc thuê chỉnh lý và phân loại tài liệu.

- Lập “Danh mục hồ sơ” và sắp xếp hồ sơ vào kho lưu trữ.

- Lập “Danh mục hồ sơ” những tài liệu hết giá trị sử dụng và thành lập Hội đồng tiêu huỷ hồ sơ.

- Khi có nhu cầu tìm hồ sơ tài liệu từ kho lưu trữ thì dò tìm từ bảng “ Danh mục hồ sơ”.

- Thực hiện tốt công tác bảo quản hồ sơ lưu trữ.

4. Phụ lục:

  • Sổ đăng ký công văn đi.
  • Sổ đăng ký công văn đến.

VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP

ĐĂNG KÝ CÔNG VĂN ĐẾN

Người soạn thảo:

Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:

Trần Lương Phổ


...........................................

...........................................



SỔ ĐĂNG KÝ

CÔNG VĂN ĐẾN


..............................................................................



Năm:............



Sổ này gồm:.............trang, đánh số từ............đến.........

Bắt đầu sử dụng ngày……..tháng…….năm……..

CHÁNH VĂN PHÒNG

Số đến

Ngày tháng

vào sổ

ĐƠN VỊ GỬI CÔNG VĂN

Số và ký hiệu công văn

Ngày tháng công văn

TRÍCH YẾU NỘI DUNG

Theo dõi giải quyết công văn

Lưu hồ sơ số

 

N PHÒNG S TƯ PHÁP

ĐĂNG KÝ CÔNG VĂN ĐI

Người soạn thảo:

Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:

 

 

Người duyệt:

Trần Lương Phổ

...........................................

...........................................



SỔ ĐĂNG KÝ

CÔNG VĂN ĐI


..............................................................................



Năm:............




Sổ này gồm:.............trang, đánh số từ............đến.........

Bắt đầu sử dụng ngày……..tháng…….năm……..

CHÁNH VĂN PHÒNG

Số và ký

hiệu CV

Ngày tháng

công văn

Trích yếu nội dung

Người ký công văn

Điơn vị nhận bản lưu và gửi đi

Địa chỉ phát hành (nơi nhận cv)

Lưu

hồ sơ số

Số lượng bản

Số lượng trang

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Mục tiêu chất lượng năm 2008Mục tiêu chất lượng năm 2008

 

PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

MỤC TIÊU CHẤT LƯỢNG NĂM 2008

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Trịnh Thị Thanh Bình

Người duyệt:


Trần Lương Phổ

 

Thực hiện tốt 3 nhiệm vụ trọng tâm do Tỉnh uỷ đề ra: an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và giảm nghèo.

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Ông, bà không được nhận cháu làm con nuôi và anh, chị, em không được nhận nhau làm con nuôi. Ông, bà không được nhận cháu làm con nuôi và anh, chị, em không được nhận nhau làm con nuôi.
Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là một trong các hành vi bị cấm trong lĩnh vực nuôi con nuôi được quy định tại Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Mục đích Luật Nuôi con nuôi đưa ra những quy định cấm nhằm để bảo đảm việc nuôi con nuôi được thực hiện đúng mục đích, trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi.

Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là một trong các hành vi bị cấm trong lĩnh vực nuôi con nuôi được quy định tại Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Mục đích Luật Nuôi con nuôi đưa ra những quy định cấm nhằm để bảo đảm việc nuôi con nuôi được thực hiện đúng mục đích, trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi. Việc cấm ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi, là một trong những quy định mới được đưa vào luật, song hành vi bị cấm này không phải là những hành vi mới. Hành vi này đã được quy định tại Thông tư 01/2008/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.

 

Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là việc nuôi con nuôi giữa những người có quan hệ huyết thống, nhưng nếu pháp luật thừa nhận thì vô hình chung sẽ dẫn đến làm đảo lộn trật tự ngôi thứ trong quan hệ gia đình, không phù hợp với truyền thống văn hóa, đạo lý của người Việt Nam. Chẳng hạn như, nếu pháp luật cho phép một người cháu được làm con nuôi của ông, bà nội hay ông, bà ngoại thì pháp luật sẽ phải công nhận người cháu lại trở thành “con”, ông bà trở thành “bố mẹ” và như vậy người cháu sẽ ngang hàng với các con đẻ của ông bà, tức là “con bằng vai bố mẹ”, “ cháu bằng vai của cô, cậu, chú , bác, dì” hoặc nếu pháp luật cho phép anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi thì anh, chị, em lại trở thành “cha mẹ và con”. Rõ ràng là, việc làm đảo lộn ngôi thứ, thứ bậc như vậy trong quan hệ gia đình và việc gây xáo trộn về quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau trong quan hệ gia đình sẽ không được chấp nhận trong xã hội Việt Nam. Do đó, pháp luật không công nhận quan hệ nuôi con nuôi giữa ông, bà và cháu; anh, chị, em với nhau.

Ở đây có sự khác biệt giữa việc nuôi con nuôi với việc nuôi dưỡng. Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con, còn việc nuôi dưỡng chỉ là nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình. Trường hợp cha mẹ bị chết, thì ông bà nội hay ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh, chị có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc em đây chỉ là quan hệ nuôi dưỡng hay nghĩa dưỡng mà không phải quan hệ nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Việc ông bà nội, ông bà ngoại nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh, chị nuôi dưỡng em đó là trách nhiệm nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, không cần phải xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì mới ràng buộc được trách nhiệm của các bên.

Nếu việc nuôi con nuôi vi phạm một trong những điều cấm được quy định tại Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì việc nuôi con nuôi sẽ  bị chấm dứt. Đồng thời, tùy theo mức độ vi phạm mà người có hành vi vi phạm sẽ còn bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc pháp luật về  xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp.

 

09/02/2012 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre: Ban hành kế hoạch tổng kết 5 năm thi hành Luật Công chứng.Bến Tre: Ban hành kế hoạch tổng kết 5 năm thi hành Luật Công chứng.
Thực hiện Quyết định số 2215/QĐ-BTP ngày 30/7/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc phê duyệt Kế hoạch tổng kết 05 năm thi hành Luật Công chứng, ngày 31/8/2012 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3993/KH-UBND nhằm tổng kết 5 năm thi hành Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện Quyết định số 2215/QĐ-BTP ngày 30/7/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc phê duyệt Kế hoạch tổng kết 05 năm thi hành Luật Công chứng, ngày 31/8/2012 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3993/KH-UBND nhằm tổng kết 5 năm thi hành Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh.

Việc tổng kết, đánh giá tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: tình hình triển khai thi hành Luật Công chứng và Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh; thực trạng và tổ chức hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh, về đội ngũ công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, kết quả công chứng hợp đồng, giao dịch, công tác quản lý nhà nước về công chứng.

Bên cạnh đó, tổng kết, đánh giá những khó khăn vướng mắc, kiến nghị, đề xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động trong quá trình thực hiện Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn liên quan. Đồng thời, xem xét, đề nghị khen thưởng cho các cá nhân, tập thể trong hoạt động công chứng.

Sở Tư pháp được giao chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thành phố tiến hành tổng hợp, đánh giá, tham mưu UBND tỉnh xây dựng Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh để báo cáo Bộ Tư pháp trước ngày 15/9/2012./.

 

23/10/2012 12:00 SAĐã ban hành
Luật Nuôi con nuôi cho phép đăng ký nuôi con nuôi thực tếLuật Nuôi con nuôi cho phép đăng ký nuôi con nuôi thực tế
Ngày 17 tháng 6 năm 2010. Quốc hội khoá XII tại kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Nuôi con nuôi, luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Theo quy định tại Điều 50 Luật Nuôi con nuôi (điều khoản chuyển tiếp) cho phép các trường hợp nuôi con nuôi chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 01 năm 2011 (trước ngày Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực) thì được đăng ...

Ngày 17 tháng 6 năm 2010. Quốc hội khoá XII tại kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Nuôi con nuôi, luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Theo quy định tại Điều 50 Luật Nuôi con nuôi (điều khoản chuyển tiếp) cho phép các trường hợp nuôi con nuôi chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 01 năm 2011 (trước ngày Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực) thì được đăng ký trong thời hạn 5 năm kể từ ngày luật có hiệu lực. Tạm gọi đó là trường hợp nuôi con nuôi thực tế, nghĩa là việc nuôi con nuôi có phát sinh trên thực tế, giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi có quan hệ cha mẹ và con có sự chăm sóc, nuôi dưỡng nhau nhưng việc nuôi con nuôi chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Để được đăng ký thì việc nuôi con nuôi trên thực tế phải thỏa mãn một số điều kiện như: các bên phải có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi; quan hệ cha mẹ và con giữa các bên vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con. Như vậy, việc nuôi con nuôi phải thỏa mãn các điều kiện này, nếu thiếu một trong các điều kiện thì cũng không thể đăng ký hoặc một trong hai bên đã chết thì cũng không đăng ký được.
Nghị định số 19 năm 2011 ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Điều 24 và điều 25) cũng đã quy định một số thủ tục pháp lý đơn giản, thuận lợi để người dân có yêu cầu đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế thì liên hệ tại Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền để tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định.

 

13/07/2011 12:00 SAĐã ban hành
Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động Trợ giúp pháp lýBảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động Trợ giúp pháp lý
Ngày 31/3/2011 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông Tư số 07/2011/TT-BTP hướng dẫn bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động trợ giúp pháp lý, Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2011. Thông tư ban hành với nội dung chính là bảo đảm bình đẳng trong tổ chức và cán bộ thực hiện trợ giúp pháp lý và bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý.  

Ngày 31/3/2011 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông Tư số 07/2011/TT-BTP hướng dẫn bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động trợ giúp pháp lý, Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2011. Thông tư ban hành với nội dung chính là bảo đảm bình đẳng trong tổ chức và cán bộ thực hiện trợ giúp pháp lý và bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Thông tư được áp dụng đối với các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, bao gồm: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (Trung tâm), Chi nhánh của Trung tâm; tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý là công ty luật, văn phòng luật sư, các trung tâm tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp đã đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm: Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý; luật sư, tư vấn viên pháp luật thuộc tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý và những người có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý; các cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước. Đối với bình đẳng giới trong tổ chức và cán bộ thực hiện trợ giúp pháp lý, cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý có trách nhiệm tuyển chọn, thu hút để bảo đảm có đầy đủ hai giới trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, Trợ giúp viên pháp lý và viên chức pháp lý của Trung tâm và Chi nhánh, bảo đảm đội ngũ cán bộ về trợ giúp pháp lý được đào tạo, có kiến thức về giới và ổn định để tích lũy kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Vì thế, các cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm xây dựng các giải pháp để bảo đảm cân bằng tỉ lệ giới trong đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Đối với bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý, Thông tư cũng quy định tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý có kiến thức pháp luật về bình đẳng giới, có kinh nghiệm về giới thực hiện trợ giúp pháp lý trong các lĩnh vực pháp luật (trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại) để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho phụ nữ nghèo, phụ nữ thuộc đối tượng chính sách theo quy định Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý; Điều 2 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý là nữ giới trong các trường hợp: là nạn nhân của bạo lực gia đình; người đang trong quá trình chuẩn bị thủ tục kết hôn và ly hôn; là nạn nhân bị mua bán; nạn nhân bị bóc lột sức lao động hoặc bị xâm hại tình dục; người có tranh chấp, vướng mắc pháp luật, người bị hại, bị can, bị cáo trong thời gian mang thai, đang nuôi con dưới 36 tháng; người dân tộc thiểu số ở các vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn hoặc người di cư; người bị nhiễm HIV, người khuyết tật hoặc đang bị các bệnh hiểm nghèo. Người lao động bị sa thải trái pháp luật hoặc nạn nhân bị lừa đảo trong quan hệ lao động, trong quan hệ hôn nhân gia đình hoặc bị tước đoạt tài sản trái pháp luật. Khi tiếp nhận người thực hiện trợ giúp pháp lý phải thông báo cho họ về quyền được pháp luật bảo vệ, được sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí, không được có hành vi phán xét, đổ lỗi, gây áp lực, gây sợ hãi hoặc làm tổn thương về mặt tâm lý cho người được trợ giúp pháp lý.
Thông tư số 07 năm 2011 của Bộ Tư pháp được ban hành là sự chú trọng tới các biện pháp khắc phục nguyên nhân sâu xa của sự bất bình đẳng giữa nữ giới và nam giới, tìm cách đáp ứng tối đa những nhu cầu, nguyện vọng khác nhau của họ thông qua các hình thức trợ giúp pháp lý để bảo đảm cả nam giới và nữ giới được tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí, nhằm góp phần xóa bỏ bất bất bình đẳng về giới trong xã hội.

 

03/06/2011 12:00 SAĐã ban hành
Khi con trẻ yêu sớmKhi con trẻ yêu sớm
Nhiều bậc cha mẹ thổ lộ rằng so với thời gian trước đây, thì bây giờ con trẻ đã có sự dậy thì rất sớm. Sự tiến bộ trong công nghệ thực phẩm dinh dưỡng; sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các yếu tố xã hội tác động, nên trẻ em ngày nay có sự phát triển trước tuổi về thể chất lẫn cách suy nghĩ; dẫn đến hiện tượng trẻ yêu sớm và có những hành vi cha mẹ khó kiểm soát được.

Nhiều bậc cha mẹ thổ lộ rằng so với thời gian trước đây, thì bây giờ con trẻ đã có sự dậy thì rất sớm. Sự tiến bộ trong công nghệ thực phẩm dinh dưỡng; sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các yếu tố xã hội tác động, nên trẻ em ngày nay có sự phát triển trước tuổi về thể chất lẫn cách suy nghĩ; dẫn đến hiện tượng trẻ yêu sớm và có những hành vi cha mẹ khó kiểm soát được.
Trường hợp của chị T chạy đến công an báo về việc cô con gái 14 tuổi của chị đã bỏ nhà đi mấy ngày nay theo tiếng gọi của tình yêu với cậu con trai cùng xóm, là một trong nhiều trường hợp mà nhiều gia đình thời hiện đại đã gặp phải. Chị cũng đã hết lòng phân tích giải thích cho con gái của mình rằng tuổi của  con chị còn rất nhỏ, con hãy tập trung học hành. Trái với sự mong đợi của chị là thái độ im lặng khó hiểu của con và cuối cùng là hành động âm thầm gói gém quần áo và bỏ nhà ra đi cùng người yêu của con gái chị .
Gia đình bên cậu con trai khi biết tin cũng hết sức bàng hoàng. 18 tuổi cậu con trai này xưa nay rất ngoan nhưng không hiểu sao lại dám làm chuyện “động trời” như vậy. Hai gia đình gặp nhau thay vì cùng ngồi lại bàn bạc làm sao để tìm con về và giải quyết thì lại đổ thừa lẫn nhau về cách dạy con. Đến khi cơ quan công an yêu cầu hai gia đình cố gắng tìm con của mình về nhà và giải thích cho gia đình cậu con trai, nếu có hành vi giao cấu với con của chị T sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em theo Điều 115 Bộ luật hình sự 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009). Quy định theo điều này là:
1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ mười ba tuổi đến dưới mười sáu tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Phạm tội nhiều lần;
b) Đối với nhiều người;
c) Có tính chất loạn luân;
d) Làm nạn nhân có thai;
đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.
3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
Phạm tội giao cấu với trẻ em được thể hiên qua dấu hiệu khi có hành vi giao cấu theo sự thỏa thuận đồng tình ‎giữa người đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) với trẻ em từ 13 tuổi đến 16 tuổi. Sự thỏa thuận đó được hiểu là cả hai bên điều có ‎ý chí muốn giao cấu với nhau, và không vì bất kỳ mục đích có tính vật chất nào khác (nghĩa là cho giao cấu nhưng không thỏa thuận điều kiện  như cho giao cấu rồi nhận tiền bạc …).
Như vậy đây là mối lo lớn của các bậc cha mẹ, vì lứa tuổi vị thành niên là lứa tuổi mà ông bà ta thường nói lớn chưa phải là đã lớn, mà nhỏ cũng không còn là nhỏ. Tâm lý của lứa tuổi này thường rất dễ dao động, suy nghĩ rất bất đồng. Như trường hợp trên, con chị T đã bỏ học, bỏ nhà nên dễ bị kẻ xấu lợi dụng, ảnh hưởng tới tương lai. Còn cậu con trai đi cùng cũng có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phạm tội và vướng vào vòng lao lý. Chính vì thế khi các em còn quá trẻ, chưa đủ bản lĩnh để hiểu được mình, các bậc cha mẹ và nhà trường hãy giúp con cái hiểu được thế nào là tình yêu lứa tuổi mới lớn, hãy luôn quan tâm để kịp thời giải thích và chia sẻ với con mình. Kiến thức về giới tính, về sinh sản, kỹ năng sống của trẻ rất cần được quý phụ huynh lưu tâm và giáo dục con mình. Đó chính là hành trang lớn mà cha mẹ dành cho con không có nguồn vật chất nào có thể bù đắp được./.

11/07/2011 12:00 SAĐã ban hành
Thủ tục mua tài sản đấu giáThủ tục mua tài sản đấu giá
 Người tham gia đấu giá tài sản là cá nhân, đại diện tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để mua tài sản bán đấu giá theo qui định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Người tham gia đấu giá tài sản là cá nhân, đại diện tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để mua tài sản bán đấu giá theo qui định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều kiện của người tham gia đấu giá: Cá nhân phải có đủ năng lực hành vi dân sự (từ 18 tuổi trở lên) không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22, Điều 23 của Bộ luật Dân sự; Tổ chức đủ tư cách pháp nhân được quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự.

Những người sau đây không được tham gia đấu giá tài sản:

Người không có năng lực hành vi dân sự, người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người tại thời điểm đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

Người làm việc trong tổ chức bán đấu giá tài sản, nơi thực hiện việc bán đấu giá tài sản đó, cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người đó; người trực tiếp giám định, định giá tài sản, cha mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của người đó.

Người được chủ sở hữu ủy quyền bán tài sản; người ra quyết định tịch thu tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; người có thẩm quyền quyết định bán tài sản nhà nước; người ký hợp đồng thuê tổ chức bán đấu giá tài sản để bán đấu giá tài sản nhà nước; cá nhân, tổ chức có quyền bán tài sản của người khác theo qui định của pháp luật.

Người không có quyền mua tài sản bán đấu giá theo qui định của pháp luật, bao gồm: Người không được tham gia mua tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; người không đủ điều kiện tham gia mua tài sản đối với một số loại tài sản theo quy định của pháp luật về loại tài sản đó.

Người không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; người không thuộc trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thời gian đăng ký tham gia đấu giá: Người muốn tham gia đấu giá tài sản phải đăng ký mua tài sản trong thời hạn Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đã thông báo và nộp đủ số tiền đặt trước, phí đăng ký tham gia đấu giá tài sản.

Tổ chức bán đấu giá: Sau khi hết hạn đăng ký mua tài sản bán đấu giá, nếu chỉ có 01 khách hàng đăng ký mua tài sản thì Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ thông báo bằng điện thoại cho khách hàng biết, sau đó Trung tâm sẽ thông báo bằng văn bản cho Bên có tài sản bán đấu giá để quyết định việc bán tài sản, thời gian 03 ngày làm việc bên có tài sản phải có ý kiến phản hồi cho Trung tâm biết chấp nhận bán hay không để Trung tâm thông báo cho khách hàng đã đăng ký đến tiến hành các thủ tục tiếp theo; trường hợp tài sản có hai khách hàng đăng ký mua thì Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ tổ chức bán đấu giá theo thời gian, địa điểm đã ghi trong thông báo bán đấu giá. Cuộc bán đấu giá được tổ chức công khai và khách hàng phải trả giá theo bước giá được quy định trong Nội quy từng cuộc bán đấu giá, người trúng đấu giá là người trả giá cao nhất.

Giao tài sản bán đấu giá cho người mua: Tài sản bán đấu giá sẽ được Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản phối hợp với bên có ký hợp đồng bán đấu giá tài sản giao cho người mua trong thời hạn 07 ngày làm việc sau khi người mua nộp đủ tiền đối với động sản và 30 ngày làm việc đối với bất động sản, trừ trường hợp phải cưỡng chế thi hành án thì thời gian kéo dài nhưng không quá 60 ngày làm việc.

Chuyển quyền sở hữu cho người mua: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ phối hợp bên ký hợp đồng bán đấu giá hỗ trợ các giấy tờ có liên quan để người mua trúng đấu giá làm thủ tục chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản theo đúng quy định pháp luật.

21/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre kiểm tra Đảng ủy Sở Tư Pháp về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI)
Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre  đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng ch...

Sáng ngày 20 tháng 9 năm 2013, Đoàn kiểm tra Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre đến kiểm tra Đảng ủy Sở Tư phápvề việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc làm Trưởng đoàn, và các đồng chí thành viên của Đoàn kiểm tra, cùng tham dự có đồng chí Lê Ngọc Duệ, Phó Bí thư Đảng uỷ Khối các Cơ quan tỉnh. Về phía Đảng ủy Sở Tư pháp có đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy; các đồng chí Đảng ủy viên; lãnh đạo Sở Tư pháp và Tổ giúp việc.

Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Đảng ủy viên phụ trách công tác Tuyên giáo của Đảng ủy thay mặt Đảng uỷ Sở Tư Pháp báo cáo tình hình và kết quả lãnh, chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nghe ý kiến góp ý của các đồng chí trong Đoàn kiểm tra, của đại biểu Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó trưởng Bộ phận giúp việc kết luận: Đảng uỷ Sở Tư Pháp có cụ thể hoá Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và các hướng dẫn, kế hoạch của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thành lập Tổ giúp việc; xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ của ngành; có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện ở các chi bộ trực thuộc. Tổ chức triển khai, quán triệt tốt các chuyên đề tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong cơ quan; đồng thời hàng tuần tổ chức kể các mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Đảng uỷ Sở Tư Pháp thực hiện khá tốt việc đưa nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của chi bộ theo Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Đặc biệt, đã thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo; chú trọng phát hiện, biểu dương những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách của Bác; kịp thời nhắc nhỡ, uốn nắn những trường hợp còn hạn chế, thiếu sót. Đảng ủy lãnh đạo thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau đợt kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI); hầu hết cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW vẫn còn một số hạn chế như: Đảng ủy chưa lãnh đạo chính quyền (cơ quan) có văn bản cụ thể hoá việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg, ngày 7/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 5570/UBND-VHXH, ngày 02/12/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ‘‘về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong đơn vị. Tổ giúp việc chưa thực hiện tốt vai trò tham mưu cấp uỷ trong việc cụ thể hoá thực hiện các văn bản chỉ đạo của cấp trên và việc triển khai thực hiện trong Đảng bộ. Nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013 ở một số cán bộ, đảng viên chưa thật cụ thể, chưa đạt yêu cầu. Chưa có giải pháp nhân rộng gương điển hình qua các năm. Báo cáo chưa nêu rõ kết quả khắc phục những hạn chế, yếu kém của các cá nhân trong Đảng uỷ qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI).

Đoàn kiểm tra cũng lưu ý Đảng ủy Sở Tư pháp cần thực hiện một số nội dung trong thời gian tới như sau:

Đảng uỷ cần tiếp tục quán triệt sâu ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XI) và Kế hoạch số 18-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; có giải pháp cụ thể hơn nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc hàng ngày ở các chi bộ, gắn với thực hiện tốt kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của tập thể và cá nhân sau kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) ; đồng thời lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa, triển khai thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống của Ngành.

Nâng cao vai trò tham mưu của Tổ giúp việc, chỉ đạo các chi bộ hướng dẫn một số đảng viên viết lại nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề năm 2013 về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương sát chức năng, nhiệm vụ.

Lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ trực thuộc tiếp tục tuyên truyền một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sinh hoạt chi bộ, chi uỷ phân công đảng viên chuẩn bị nội dung, dành thời gian thích hợp tổ chức sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.

Tập trung lãnh, chỉ đạo cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò nêu gương theo Quy định 06-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, kịp thời nhắc nhỡ, phê bình những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu trong việc học tập và làm theo Bác.

Quan tâm lãnh đạo, thực hiện tốt Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên trong thực hiện việc đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo chủ đề hàng năm.

Cuối năm, tổ chức tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, kịp thời phát hiện tập thể, cá nhân điển hình để biểu dương, khen thưởng; quan tâm bồi dưỡng, nhân rộng, qua đó bình chọn gương điển hình tiêu biểu, làm cơ sở chuẩn bị tổ chức hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến cuối nhiệm kỳ.

27/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoàiQuy trình đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài


SỞ TƯ PHÁP

PHÒNG HỘ TỊCH

QUY TRÌNH

ĐĂNG KÝ NUÔI CON NUÔI

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Người soạn:



Nguyễn Thị Ngọc Huệ

Người kiểm tra:



Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt:



Trần Lương Phổ


1. Mục đích

Công khai việc giải quyết hồ sơ về đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, giúp người dân biết một cách rõ ràng, cụ thể về quá trình giải quyết hồ sơ.

2. Phạm vi áp dụng

Quy trình này áp dụng cho việc đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

3. Tài liệu áp dụng

  • Luật hôn nhân gia đình năm 2000;
  • Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;
  • Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;
  • Quy chế tổ chức và hoạt động của Sở Tư pháp ngày 03/10/2005;
  • Bảng hướng dẫn về thủ tục đăng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.


4. Nội dung chính

Trình tự

Nội dung công việc

Trách nhiệm

Thời gian

 

 


- Nhận Công văn của Bộ Tư pháp hướng dẫn lập hồ sơ trẻ em

- Lãnh đạo Phòng

- Phó giám đốc 2

Thời hạn giải quyết hồ sơ là 120 ngày đối với trường hợp bình thường, 150 ngày đối với trường hợp cần xác minh thêm, nếu cha, mẹ nuôi không có đơn gia hạn thời gian hoàn tất thủ tục (tính từ ngày thụ lý hồ sơ đến ngày UBND Tỉnh ký Quyết định).

- Hướng dẫn hồ sơ trẻ em được cho làm con nuôi

- Thụ lý hồ sơ trẻ em

- Chuyên viên tiếp nhận

- Thẩm tra hồ sơ trẻ em

- Chuyển Công an xác minh ( Khi cần thiết)

- Lãnh đạo phòng

- Chuyên viên thẩm tra

- Chuyển hồ sơ trẻ em về Cơ quan con nuôi quốc tế

- Phó Giám Đốc 2


- Nhận hồ sơ của người xin nhận con nuôi từ Cục con nuôi quốc tế

- Cha mẹ nuôi hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi (ký bản cam kết, nộp lệ phí)

- Chuyên viên thẩm tra


- Lãnh đạo Phòng


- Xét duyệt hồ sơ trình UBND Tỉnh

- Soạn tờ trình, Quyết định cho trẻ em làm con nuôi

- Kiểm tra hồ sơ, Tờ trình, Quyết định

- Lãnh đạo ký tờ trình

- Chuyển VP đóng dấu

- Phó Giám Đốc 2


- Chuyên viên đánh máy


- Chuyên viên thẩm tra


- Phó Giám đốc 2

- Chuyên viên thẩm tra

- Trình Ủy ban nhân dân Tỉnh ký Quyết định cho nhận trẻ làm con nuôi

- Chuyên viên thẩm tra

- Làm thủ tục và Lễ trao Quyết định cho trẻ em làm con nuôi

- Lãnh đạo phòng

- Phó Giám Đốc 2


- Lưu hồ sơ

- Chuyên viên thẩm tra

5. Biểu mẫu:

  • Đơn xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi;
  • Giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi;
  • Bản cam kết thông báo định kỳ tình hình phát triển của con nuôi;
  • Quyết định cho nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi;
  • Sổ đăng ký nuôi con nuôi.
08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến TreChính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 11 tháng 12 năm 2012, Bộ Tài chính  ban hành Công văn số 17217/BTC-NSNN về việc bổ sung kinh phí cho các địa phương thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết về phân bổ kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Ngày 11 tháng 12 năm 2012, Bộ Tài chính  ban hành Công văn số 17217/BTC-NSNN về việc bổ sung kinh phí cho các địa phương thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết về phân bổ kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Theo Công văn này, Bến Tre được hỗ trợ 14.551 triệu đồng, trong đó, kinh phí hỗ trợ địa phương sản xuất trồng lúa là 7.275,5 triệu đồng, kinh phí hỗ trợ cho người sản xuất lúa là 7.275,5 triệu đồng.


Chính sách hỗ trợ địa phương sản xuất lúa, căn cứ vào diện tích đất trồng lúa, Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho địa phương sản xuất trồng lúa (gồm chi đầu tư và chi thường xuyên) như sau: 500.000 đồng/ha/năm đối với đất chuyên trồng lua nước; 100.000 đồng/ha/năm đối với đất lúa khác (trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa); kinh phí hỗ trợ sản xuất lúa, tập trung cho đầu tư và duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, trong đó ưu tiên đầu tư thủy lợi, giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, hạ tầng làng nghề ở nông thôn, hạ tầng nuôi thủy sản và các nội dung đầu tư khác liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; hỗ trợ các hoạt động khuyến nông giúp các hộ và tổ chức tiếp cận dịch vụ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; hỗ trợ xây dựng và phổ biến nhân rộng mô hình sản xuất mới có hiệu quả và ngành nghề nông thôn, như: Hỗ trợ giống lúa, phân bón, thuốc phòng trị sâu bệnh, máy móc thiết bị, công cụ sản xuất, vật tư khác.

Đối với chính sách hỗ trợ người trồng lúa, được hỗ trợ 500.000 đồng/na/năm cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa trên đất chuyên trồng lúa nước; 100.000 đồng/ha/năm đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa trên đất chuyên trồng lúa khác (trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa); người sản xuất sử dung kinh phí được hỗ trợ để phát triển sản xuất lúa có hiệu quả (ứng dụng khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất mới, đầu tư giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…) nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng lúa, góp phần xây dựng nông thôn mới.

27/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Tuyên truyền pháp luật bằng tài liệuQuy trình Tuyên truyền pháp luật bằng tài liệu


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Tuyên truyền pháp luật bằng tài liệu

(Ban hành ngày 26/5/2008)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt:


Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong việc:
- Phát hành tài liệu tuyên truyền pháp luật cho nhân dân,
- Phát hành tài liệu làm cẩm nang tuyên truyền pháp luật, áp dụng pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức, Báo cáo viên, tuyên truyền viên, hòa giải viên.
II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.
III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp với các cơ quan, ban, ngành liên quan.
IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước Nội dung Trách nhiệm Thời gian Ghi chú
(1) (2) (3) (4) (5)
1 Nhận yêu cầu:

Trưởng phòng - Chỉ đạo của Lãnh đạo.
- Phân công chuyên viên thực hiện.
2 Chuẩn bị kinh phí.
Chuyên viên
Trưởng phòng
Lãnh đạo Sở
Thống nhất với các cơ quan, đơn vị liên quan về kinh phí phát hành tài liệu.
3 Chuẩn bị nội dung tài liệu
Chuyên viên
Trưởng phòng
Lãnh đạo Sở
- Biên soạn nội dung tài liệu.
- Thiết kế hình thức tài liệu.
4 Hợp đồng với nhà in; và theo dõi thực hiện hợp đồng
Chuyên viên Theo hợp đồng Trực tiếp liên hệ với nhà in để in tài liệu.
5 Phát hành tài liệu và lưu hồ sơ Chuyên viên 02 ngày làm việc Theo Kế hoạch phát hành.
Hồ sơ lưu gồm: bản thảo; thành phẩm; hợp đồng; tờ khai nộp lưu chiểu

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Đừng để mỡ treo miệng mèoĐừng để mỡ treo miệng mèo
Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát. Người thực hiện hành vi có hành động rất nhanh, nhanh chống giật lấy tài sản của người khác rồi cũng nhanh chống tẩu thoát. Sau đó là để lại cho người bị cướp giật sự bất ngờ và đôi khi còn để lại hậu quả nghiêm trọng.
Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát. Người thực hiện hành vi có hành động rất nhanh, nhanh chống giật lấy tài sản của người khác rồi cũng nhanh chống tẩu thoát. Sau đó là để lại cho người bị cướp giật sự bất ngờ và đôi khi còn để lại hậu quả nghiêm trọng.

Hiện nay tình trạng cướp giật diễn biến rất phức tạp, có nhiều vụ cướp giật rất táo tợn, cướp giật ngay cả ban ngày, ngay cả những chỗ đông người, hễ thấy có cơ hội, có “con mồi” là thực hiện ngay hành vi bất chấp hậu quả sau đó là như thế nào, miễn là có tiền để tiêu xài. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng cướp giật ngày càng gia tăng.

Thứ nhất là do từ phía người thực hiện hành vi cướp giật tài sản, đa số người này ở lứa tuổi thanh thiếu niên, do không được sự chăm sóc, dạy dỗ, quan tâm của gia đình và do nhu cầu tiêu xài của đối tượng này đôi khi lại rất cao vì phải chi cho nhiều hoạt động ăn chơi như: sử dụng ma túy, tiêu xài cá nhân, ăn chơi nhậu nhẹt, chơi game online, …đôi lúc còn muốn kiếm tiền để “chơi cho oai” để không thua bạn bè.

Ảnh minh họa

Một nguyên nhân khác cũng rất quan trọng đó là xuất phát từ chính người bị cướp giật. Đã gọi là cướp giật tài sản thì người nào có tài sản mới là đối tượng nằm trong tầm nhắm của người phạm tội, mà đối tượng thường xuyên bị cướp giật đó là chị em phụ nữ, họ thường xuyên đeo trang sức đắt tiền khi ra đường, mất cảnh giác khi mang túi xách và nói chuyện điện thoại trên đường (không riêng phụ nữ mà cả nam giới). Đúng là “người đẹp vì lụa”, khi chị em sính lên người những bộ trang sức thì trông thật rạng rỡ, kiêu sa. Nhất là khi có đám tiệc chị em thường đeo trang sức vào để tô thêm vẽ đẹp của mình, nhưng nếu như tài sản bị cướp giật là tài sản của chính người bị giật thì cũng xót nhưng mất rồi thì khi nào có tiền sẽ mua lại, nhưng ngặt một nỗi có người lại muốn đeo trang sức cho có chị có em, mình cũng đẹp như bao người khác nên đã “mượn vàng” để đeo vào những dịp đám tiệc … kết quả là mất hết mà lại phải “còng lưng kiếm tiền” mà mua lại để trả cho người ta. Éo le nhất vẫn là những em nhỏ, mặc dù nhà trường đã ra sức cấm, cảnh báo không cho các em đeo trang sức khi đến trường vì các em thường xuyên là đối tượng “bị để mắt” của bọn tội phạm, các em không thể tự vệ nên rất dễ bị cướp giật, vậy mà vẫn có những bậc phụ huynh vẫn cứ nhất nhất cho đeo vì cho rằng “có mà không cho nó đeo tội nghiệp”, chính vì vậy mà họ đã vô tình làm tăng sự nguy hiểm đến với các em. Khi em thì “giữ của” kẻ thì muốn giật, từ hành vi cướp giật tài sản đối tượng có thể chuyển sang hành động hung bạo hơn để cướp cho bằng được tài sản vì vậy mà hậu quả thật khôn lường. Đã có một số vụ từ cướp giật tài sản chuyển sang giết người vì kẻ phạm tội muốn giật bằng được tài sản, còn người bị cướp giật thì cố giữ tài sản của mình.

Tài sản ví như một miếng mỡ, kẻ phạm tội ví như một con mèo, mà mèo nào thấy mỡ mà chẳng mê, vì vậy mà người có tài sản “đừng để mỡ treo miệng mèo” đến khi sự việc xãy ra thì đã không còn kịp lúc.

21/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
 Văn bản hoà giải và hiệu lực pháp lý của thoả thuận hoà giải thành Văn bản hoà giải và hiệu lực pháp lý của thoả thuận hoà giải thành
Hoà giải ở cơ sở là hoạt động tự nguyện của các bên, tự nguyện tham gia hoà giải, tự nguyện thoả thuận và tự nguyện thi hành các thoả thuận đó. Do vậy, văn bản hòa giải ở cơ sở chỉ là sự ghi nhận thỏa thuận của các bên, mang ý nghĩa đạo lý, danh dự và tạo nên sự ràng buộc về mặt đạo đức, tâm lý giữa các bên, không phải là quyết định công nhận sự thỏa thuận...

Hoà giải ở cơ sở là hoạt động tự nguyện của các bên, tự nguyện tham gia hoà giải, tự nguyện thoả thuận và tự nguyện thi hành các thoả thuận đó. Do vậy, văn bản hòa giải ở cơ sở chỉ là sự ghi nhận thỏa thuận của các bên, mang ý nghĩa đạo lý, danh dự và tạo nên sự ràng buộc về mặt đạo đức, tâm lý giữa các bên, không phải là quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cũng như bảo đảm thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu bên không đồng ý thì có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật. Vì vậy Luật Hoà giải ở cơ sở không bắt buộc các bên khi tiến hành hoà giải phải lập biên bản mà do các bên tự quyết định và cũng không quy định về hiệu lực pháp lý của thoả thuận hoà giải thành.

Theo quy định Điều 24 của Luật Hoà giải ở cơ sở, Hòa giải thành là trường hợp các bên đạt được thỏa thuận. Trường hợp các bên đồng ý thì lập văn bản hòa giải thành, văn bản hòa giải thành gồm các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 24, gồm các nội dung chính sau đây: Căn cứ tiến hành hòa giải; thông tin cơ bản về các bên; nội dung chủ yếu của vụ, việc; diễn biến của quá trình hòa giải; thỏa thuận đạt được và giải pháp thực hiện; quyền và nghĩa vụ của các bên; phương thức, thời hạn thực hiện thỏa thuận; chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và của hòa giải viên.

Tại Khoản 3 Điều 10 của Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2014, thay thế Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở) quy định trường hợp các bên yêu cầu lập văn bản hòa giải không thành, thì hòa giải viên lập văn bản, ghi rõ thông tin cơ bản về các bên; nội dung chủ yếu của vụ, việc; yêu cầu của các bên; lý do hòa giải không thành; chữ ký của hòa giải viên.

Luật Hoà giải ở cơ sở cũng quy định là khi tiến hành hoà giải Hoà giải viên có trách nhiệm ghi nội dung vụ, việc hoà giải vào “Sổ theo dõi hoạt động hoà giải ở cơ sở”, Sổ này do Bộ Tư pháp quy định. Ngoài ra nhằm bảo đảm cho việc thực hiện kết quả hòa giải được hiệu quả, thiết thực Luật Hoà giải ở cơ sở quy định Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời thông báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.

31/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình ghi vào sổ các việc hộ tịch của công dân Việt NamQuy trình ghi vào sổ các việc hộ tịch của công dân Việt Nam


SỞ TƯ PHÁP

PHÒNG HỘ TỊCH

QUY TRÌNH GHI VÀO SỔ CÁC VIỆC HỘ TỊCH CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐÃ ĐĂNG KÝ TRƯỚC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN CỦA NƯỚC NGOÀI

1. Mục đích

Công khai việc giải quyết hồ sơ về yêu cầu ghi vào sổ các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, giúp người dân biết một cách rõ ràng, cụ thể về quá trình giải quyết hồ sơ.

2. Phạm vi áp dụng

Quy trình này áp dụng cho việc ghi vào sổ các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Bao gồm những trường hợp sau:

  • Công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài các việc: khai sinh; kết hôn; nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi mà về nước thường trú.
  • Công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài các việc: khai sinh; kết hôn; nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi mà yêu cầu công nhận tại Việt Nam theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.


3. Tài liệu áp dụng

  • Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch;
  • Quy chế tổ chức và hoạt động của Sở Tư pháp ngày 03/10/2005;
  • Bảng hướng dẫn về quy trình giải quyết hồ sơ yêu cầu ghi vào sổ các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nuớc ngoài.


4. Nội dung chính

Trình tự

Nội dung công việc

Trách nhiệm

Thời gian


- Hướng dẫn và thụ lý hồ sơ, đề xuất ý kiến trình lãnh đạo phòng

- Chuyên viên tiếp nhận

Thời hạn giải quyết hồ sơ là sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ.

- Xét duyệt hồ sơ trình Lãnh đạo Sở

-Nhập dữ liệu vào máy, soạn tờ trình, Giấy xác nhận ghi chú hoặc bản chính Giấy tờ hộ tịch

- Kiểm tra hồ sơ, Giấy chứng nhận

- Lãnh đạo Phòng


- Chuyên viên đánh máy


- Chuyên viên thẩm tra

- Ký Giấy xác nhận ghi chú hoặc Giấy tờ hộ tịch mới

- Chuyển VP đóng dấu


- Phó Giám Đốc 2

- Chuyên viên thẩm tra


- Ghi chú sự kiện hộ tịch vào sổ hộ tịch

- Cấp cấp giấy xác nhận về việc đã ghi chú cho đương sự (hoặc bản chính giấy tờ hộ tịch mới trong trường hợp hồi hương).

- Chuyên viên tiếp nhận

- Lưu hồ sơ

- Chuyên viên thẩm tra

5. Biểu mẫu:

  • Đơn yêu cầu ghi chú các thay đổi về hộ tịch đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;
  • Giấy xác nhận ghi chú hoặc Giấy tờ hộ tịch mới;
  • Sổ ghi chú.
08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Ban hành Kế hoạch Tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn tỉnhBan hành Kế hoạch Tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn tỉnh
Ngày 02/8/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 3243/KH-UBND về tổng kết năm năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn tỉnh Bến Tre.Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp sẽ phối hợp với Đoàn Luật sư để triển khai các nội dung công việc như:

Ngày 02/8/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 3243/KH-UBND về tổng kết năm năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp sẽ phối hợp với Đoàn Luật sư để triển khai các nội dung công việc như:
Đánh giá tình hình triển khai thi hành Luật Luật sư
- Tình hình triển khai Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành; Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành Luật Luật sư.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Việc thi hành Luật Luật sư của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tỉnh.
Đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của Luật sư
- Nhận thức của các cấp, ngành về vị trí vai trò của Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư.
- Sự quan tâm của các Cấp ủy đảng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của luật sư.
- Sự đóng góp của luật sư đối với sự phát triển kinh tế xã hội, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức; đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm; tham gia trợ giúp pháp lý.
- Sự phát triển số lượng luật sư, chất lượng đội ngũ luật sư, luật sư tập sự.
- Việc củng cố, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo Đoàn Luật sư (kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân).
- Về tổ chức Đảng trong Đoàn Luật sư và sinh hoạt của các luật sư là đảng viên.
- Về trụ sở, cơ sở vật chất của Đoàn Luật sư, sự quan tâm hỗ trợ tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho Đoàn Luật sư.
- Việc phát triển các tổ chức hành nghề luật sư.
- Thực trạng về hành nghề luật sư, đánh giá sự đóng góp của luật sư trong tỉnh, những tồn tại, khó khăn và vướng mắc.
- Về tổ chức, điều hành, ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức hành nghề luật sư.
- Những việc làm được, chưa được trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Đoàn Luật sư, vai trò của Đoàn trong việc tập hợp đội ngũ Luật sư thành viên.
- Quan hệ của Đoàn luật sư đối với các cơ quan quản lý nhà nước.
Đánh giá công tác quản lý nhà nước về Luật sư
- Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, kết quả thực hiện quản lý nhà nước, những khó khăn, vướng mắc.
- Sự phối kết hợp giữa Sở Tư pháp và Đoàn luật sư trong quản lý luật sư, tổ chức hành nghề luật sư.
- Việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước theo quy định của Luật Luật sư; chế độ thông tin báo cáo; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình thi hành Luật Luật sư.
Đánh giá về sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Luật sư
- Việc triển khai Chỉ thị 33/CT-TW ngày 30/3/2009 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư.
- Việc củng cố, kiện toàn Đoàn Luật sư theo định hướng của Chỉ thị 33/CT-TW.
- Đánh giá về nhận thức của luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư, cơ quan, tổ chức trên địa bàn về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với luật sư.
- Những hạn chế, bất cập trong việc phát triển đảng viên là luật sư.
Đề xuất, kiến nghị
- Kiến nghị những nội dung cụ thể cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư.
- Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, số lượng luật sư trong thời gian tới.
- Giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.
- Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư.
Sở Tư pháp có trách nhiệm chủ trì phối hợp Đoàn Luật sư theo dõi, đôn đốc và tổng hợp báo cáo trình Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 30 tháng 8 năm 2011 để báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định./.

 

31/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dânSơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dân
Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Văn Tuân, Tỉnh ủy viên, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh trình bày báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân (03/3/2009 – 03/3/2013) của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Hội nghị đã nghe nhiều ý kiến tham luận về công tác phối hợp thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân, đã thông nhất cơ bản nội dung báo cáo; các ngành, địa phương đã phối hợp phố biến về mục đích, ý nghĩa Ngày Biên phòng toàn dân, gắn với việc triển khai Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Biên phòng, Nghị định 161/2003 về Quy chế khu vực biên giới biển… với nhiều hình thức sinh động, phối hợp thực hiện Chuyên mục “Vì chủ quyền an ninh biên giới”, Chuyên trang “Quốc phòng toàn dân”, tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về biên giới quốc gia”.


Phối hợp với ngành công an điều tra, xác minh làm rõ 96/111 vụ án hình sự, đưa ra xử lý hành chính 149 đối tượng. Phối hợp thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; tổ chức nhiều cuộc diễn tập, ứng phó tình huống có thể xảy ra; kịp thời kêu gọi, thông báo tình hình bão, áp thấp nhiệt đới; tổ chức giúp dân khắc phục hậu quả lốc xoáy, lụt bão…

Quan tâm xây dựng, củng cố các công trình phòng thủ bảo vệ biên giới sát hợp với yêu cầu, sẵn sàng chiến đấu; chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng biên phòng vững mạnh toàn diện. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân được vững chắc.

Vận động xây dựng  368 căn nhà “Đại đoàn kết”, 270 căn nhà “Tình thương”, 36 căn nhà “Tình nghĩa”, 07 căn nhà “Nhân ái”, 08 căn nhà “Đồng đội” trị giá 17 tỷ đồng; tặng hơn 2.000 phần quà cho học sinh nghèo hiếu học trị giá trên 500 triệu đồng.

Phối hợp các ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức họp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng gắn với Ngày Biên phòng toàn dân. Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao bước đầu tạo được sinh khí Ngày Biên phòng toàn dân, có ý nghĩa giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ biên giới biển.


Kết luận Hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Võ Thành Hạo đánh giá cao kết quả tổ chức thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân; đồng thời lưu ý trong thời gian tới Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể liên quan tiếp tục phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Ngày Biên phòng toàn dân, thực sự trở thành ngày hội toàn dân; phát động phòng trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc; đề cao cảnh giác, phòng, chống có hiệu quả âm mưu, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các loại đối tượng ở khu vực biên giới biển; tiếp tục triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế biển, xây dựng nông thôn mới, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh; chăm lo gia đình chính sách, thực hiện công tác giảm nghèo; phối hợp các ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến sâu rộng Ngày Biên phòng toàn dân; xây dựng lực lượng biên phòng vững mạnh về tư tưởng, tổ chức; không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

19/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công khai địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chínhCông khai địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính
Thực hiện Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 785/STP-KSTT, đề nghị các cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành c...

 

 

Thực hiện Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 785/STP-KSTT, đề nghị các cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức công khai nội dung hướng dẫn, địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị về quy định hành chính tại nơi tiếp nhận và trả kết quả, để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền phản ánh, kiến nghị liên quan đến quy định hành chính.

Sở Tư pháp đã công khai nội dung, địa chỉ tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị trên website của Sở, tại địa chỉ http://www.sotuphap.bentre.gov.vn. Rất mong nhận được phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.

Phản ánh, kiến nghị được gửi hoặc liên hệ theo địa chỉ sau:

- Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;

- Địa chỉ: Số 17, đường Cách mạng tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Số điện thoại: 0753.822303;

- Địa chỉ thư điện tử: phongkstthc@bentre.gov.vn

 

30/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công tác bồi thường Nhà nước trong 06 tháng đầu năm 2012Công tác bồi thường Nhà nước trong 06 tháng đầu năm 2012
Thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009; Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; trong 06 tháng đầu năm 2012, công tác bồi thường Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre bước đầu đã đạt nhiều kết quả nhất định.

Thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009; Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; trong 06 tháng đầu năm 2012, công tác bồi thường Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre bước đầu đã đạt nhiều kết quả nhất định.

Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản có liên quan đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được các cơ quan, đơn vị tổ chức tốt thông qua nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau như: qua hệ thống M-Office; các cuộc họp cơ quan hoặc sinh hoạt báo vào sáng thứ hai, thứ năm hàng tuần; xây dựng câu chuyện truyền thanh, biên soạn tài liệu đăng trên Bản tin sinh hoạt cơ quan, thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý, phát hành sổ tay tìm hiểu Luật đến tận Tổ nhân dân tự quản. Qua đó đã tổ chức in và phát hành 130 tài liệu và sách pháp luật về công tác bồi thường của Nhà nước cho các cơ quan, ban, ngành huyện; tổ chức được 26 cuộc tuyên truyền có 1.326 người tham dự…

Công tác theo dõi, kiểm tra giải quyết bồi thường đã được Sở Tư pháp chú trọng. Thông qua việc ban hành Quyết định số 41/QĐ-STP về kiểm tra thực hiện công tác tư pháp - hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre, qua đó tiến hành kiểm tra các nội dung về công tác bồi thường của Nhà nước. Việc phân công cán bộ theo dõi và thực hiện giải quyết yêu cầu bồi thường đã được hầu hết các cơ quan, đơn vị thực hiện tốt điển hình như: Sở Giao thông vận tải, Sở Khoa học và Công nghệ giao cán bộ pháp chế thuộc Sở; Sở Công Thương, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao cho cán bộ Thanh tra Sở; Ủy ban nhân dân cấp huyện giao cho Phòng Tư pháp, thực hiện bố trí đầy đủ kinh phí phục vụ cho công tác bồi thường Nhà nước.

Nhìn chung, các cơ quan, đơn vị ở địa phương đã tích cực, chủ động tổ chức triển khai, phổ biến các nội dung của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; đã có sự phân công, bố trí cán bộ, công chức thực hiện việc tiếp nhận, thụ lý hồ sơ và tham mưu giải quyết yêu cầu bồi thường. Qua đó, cho thấy đông đảo cán bộ, công chức đã có nhận thức tốt về những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong 06 tháng đầu năm 2012, tỉnh Bến Tre chưa có phát sinh vụ việc yêu cầu giải quyết bồi thường.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai pháp luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước của các cơ quan, đơn vị cũng còn một số hạn chế nhất định. Do đây là công tác mới, chưa có thực tiễn nên việc triển khai đôi khi còn lúng túng; nội dung triển khai chưa đi vào chiều sâu, chủ yếu còn lồng ghép việc triển khai với những nội dung khác. Do thiếu người nên một số cơ quan, đơn vị chưa thực hiện đúng quy định phân công cán bộ pháp chế làm đầu mối quản lý và theo dõi công tác bồi thường trong cơ quan, đơn vị mình; cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường chưa có kinh nghiệm, chuyên môn trong giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm về bồi thường của Nhà nước.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác giải quyết bồi thường trên địa bàn tỉnh, trong thời gian tới cần mở các lớp tập huấn nghiệp vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường và thực hiện giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm về bồi thường của Nhà nước. Đồng thời, cần có văn bản hướng dẫn việc xử lý trách nhiệm đối với cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ.

29/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn