Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ
Người tham gia đấu giá tài sản là cá nhân, đại diện tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để mua tài sản bán đấu giá theo qui định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.  
 
Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, ngày 01 tháng 7 năm 2013, Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre gặp không ít khó khăn trong hoạt động bán đấu giá tài sản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tịch thu sung công. Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm ... 
 
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Tổ kiểm tra về tổ chức và hoạt động bán đấu giá tài sản cấp huyện và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Theo Kế hoạch, Tổ kiểm tra đã tiến hành kiểm tra tại 07 huyện và 01 Doanh nghiệp. 
 
Bán đấu giá tài sản là một dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội; là một trong những cách thức linh hoạt để chuyển quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác; góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa nói riêng phát triển một cách đa dạng.  
 
Qua hơn một năm thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, hoạt động bán đấu giá tài sản ở địa bàn tỉnh Bến Tre ngày càng phổ biến, hoàn thiện và đi vào nề nếp hơn so với trước đây. Nghị định số 17/2010/NĐ-CP đã quy định rõ hơn về đối tượng tài sản phải áp dụng trình tự, thủ tục bán đấu giá bao gồm:  
 
Ngày 06/7/2011 UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị 02/2011/CT-UBND về việc triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản trên địa tỉnh Bến Tre. Chỉ thị nêu rõ, kể từ ngày chỉ thị có hiệu lực thi hành, việc bán các loại tài sản quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 17/2010/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh phải do tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (Trung tâm Dị... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bình Đại: Tổ chức hội nghị tuyên truyền về tình hình Biển Đông cho ngư dânBình Đại: Tổ chức hội nghị tuyên truyền về tình hình Biển Đông cho ngư dân
Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại, sự hướng dẫn của Ban Tuyên giáo huyện về việc phổ biến tài liệu tuyên truyền về tình hình Biển Đông, chiều ngày 03 tháng 6 năm 2014, Ủy ban nhân dân xã Bình Thắng phối hợp với Phòng Tư pháp, Liên đoàn lao động, Đồn Biên phòng Cửa Đại tổ chức Hội nghị quán triệt, tuyên truyền về tình hình biển Đông cho ngư dân xã Bình Thắng.

Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại, sự hướng dẫn của Ban Tuyên giáo huyện về việc phổ biến tài liệu tuyên truyền về tình hình Biển Đông, chiều ngày 03 tháng 6 năm 2014, Ủy ban nhân dân xã Bình Thắng phối hợp với Phòng Tư pháp, Liên đoàn lao động, Đồn Biên phòng Cửa Đại tổ chức Hội nghị quán triệt, tuyên truyền về tình hình biển Đông cho ngư dân xã Bình Thắng.

Tại Hội nghị, bà con ngư dân của xã đã được nghe ông Nguyễn Hồng Quân Trưởng phòng Tư pháp báo cáo về một số nội dung của Luật Biên giới quốc gia, Luật biển năm 2013; ông Hồ Văn Cân, Chính trị viên Đồn biên phòng Cửa Đại quán triệt vị trí, vai trò, tầm quan trọng của biển và đảo Việt Nam; những cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền biển, đảo của nước ta, đặc biệt là chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; một số nét chính về diễn biến tình hình biển Đông trong thời gian qua; nội dung cơ bản của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết các bất đồng, tranh chấp về chủ quyền biển, đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Đây là xã thứ ba được tuyên tuyền về tình hình Biển Đông cho ngư dân (trước đó là xã Thừa Đức và Thới Thuận). Mục đích của đợt tuyên tuyền nhằm nâng cao nhận thức cho các ngư dân tham gia đánh bắt trên biển ý thức và hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trước tình hình Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn HD-981 và nhiều tàu Trung Quốc hoạt động trái phép tại khu vực thuộc thềm lục địa Việt Nam.

Ông Hồ Văn Cân nhấn mạnh ngư dân phải giữ thái độ hết sức bình tĩnh, kiềm chế, hết sức cảnh giác tránh mắc mưu các thế lực thù địch nhằm lợi dụng kích động gây rối an ninh trật tự; vững tin vào chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xử lý vấn đề biển Đông.

12/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về giao dịch bảo đảmTăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về giao dịch bảo đảm
Trong những năm qua, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm của hầu hết các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đáp ứng yêu cầu hiện nay; việc giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng ...

Trong những năm qua, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm của hầu hết các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đáp ứng yêu cầu hiện nay; việc giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo thời gian theo quy định của Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT/BTNMT-BTP ngày 18 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm và phí cung cấp thông tin giao dịch bảo đảm được thực hiện đúng quy định.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng còn một số hạn chế như: Việc cập nhật thông tin vào sổ địa chính, sổ theo dõi biến động đất đai chưa kịp thời; thông tin cung cấp trên đơn yêu cầu đăng ký chưa đầy đủ; phí dịch vụ chưa có sự thống nhất giữa các Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất; việc xóa thế chấp sau khi đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ chưa được thực hiện tốt, cơ sở vật chất một vài đơn vị chưa đảm bảo.

Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm và Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 13 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính Phủ về việc tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thực hiện một số nội dung sau đây:

Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước

Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Quy chế Phối hợp trong quản lý nhà nước về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 11 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Trong đó tăng cường công tác kiểm tra nhằm phát hiện những hạn chế, thiếu sót để hướng dẫn khắc phục kịp thời.

Rà soát tất cả các văn bản pháp luật về giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm; về phí dịch vụ liên quan đến hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo đúng quy định.

Xây dựng quy chế cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với các tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan thi hành án dân sự.

Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh, huyện đảm bảo trình tự thủ tục đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên Môi trường.

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bến Tre chỉ đạo các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện xóa đăng ký giao dịch bảo đảm khi đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP.

Ủy ban nhân dân huyện, thành phố quan tâm tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và hỗ trợ bên nhận bảo đảm thực hiện việc thu hồi, xử lý tài sản đảm bảo đúng quy định.

Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì phối hợp Sở Tài nguyên Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bến Tre và các sở, ngành liên quan tổ chức thực hiện chỉ đạo này và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi

06/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán ngườiNghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người
Ngày 11 tháng 01 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người (Nghị định).

Ngày 11 tháng 01 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người (Nghị định).

Nghị định này quy định chi tiết về việc cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn Giấy phép thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân; tổ chức, hoạt động của cơ sở hỗ trợ nạn nhân và chế độ hỗ trợ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ hỗ trợ đối với nạn nhân. Theo đó, các tổ chức, cá nhân muốn thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân phải thõa những điều kiện sau: Có trụ sở làm việc ổn định, thuận tiện giao thông; diện tích đất tự nhiên tối thiểu 15 m2/nạn nhân; diện tích phòng ở bình quân 05 m2/nạn nhân; có trang thiết bị, phương tiện phù hợp với nhiệm vụ hỗ trợ nạn nhân; có ít nhất 05 (năm) nhân viên, trong đó 02 (hai) nhân viên có trình độ từ cao đẳng trở lên thuộc chuyên ngành công tác xã hội.

Bên cạnh đó Nghị định còn quy định các trường hợp không cấp Giấy phép thành lập như sau: Tổ chức, cá nhân nước ngoài; tổ chức cá nhân Việt Nam thuộc một trong các trường hợp sau: Không đáp ứng đủ các điều kiện thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của Nghị định; việc thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc lợi dụng việc thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; hồ sơ không hợp lệ.

Nghị định cũng đã quy định cụ thể chế độ hỗ trợ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ hỗ trợ nạn nhân về hỗ trợ nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại; hỗ trợ y tế; hỗ trợ tâm lý; trợ giúp pháp lý; hỗ trợ học văn hóa, học nghề, trợ cấp khó khăn ban đầu; hỗ trợ vay vốn.

Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2013.

06/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Một số tội phạm thường xảy ra khi xuân vềMột số tội phạm thường xảy ra khi xuân về
Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, Tết đến, trong không khí nhộn nhịp, náo nức đón chào năm mới thì tình hình tội phạm lại gia tăng. Đặc biệt, có những tội phạm chỉ xảy ra nhiều vào dịp Tết như đánh bạc, tổ chức đánh bạc (đá gà, đánh bài, lắc bầu cua...) và một hệ lụy kèm theo, nếu như thua thì nảy sinh mâu thuẫn với người thắng, xảy ra cải vã, sâu xát hoặc cố ý gây thương tích, số khác nghĩ đến việc ...

Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, Tết đến, trong không khí nhộn nhịp, náo nức đón chào năm mới thì tình hình tội phạm lại gia tăng. Đặc biệt, có những tội phạm chỉ xảy ra nhiều vào dịp Tết như đánh bạc, tổ chức đánh bạc (đá gà, đánh bài, lắc bầu cua...) và một hệ lụy kèm theo, nếu như thua thì nảy sinh mâu thuẫn với người thắng, xảy ra cải vã, sâu xát hoặc cố ý gây thương tích, số khác nghĩ đến việc đi trộm cắp, cướp giật, cướp tài sản người khác để có tiền tiếp tục cuộc đỏ đen. Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ thanh thiếu niên vui chơi quá đà, nhậu say càn quấy, gây rối trật tự công cộng hay các bạn nhậu bất đồng quan điểm, quá khích, đánh nhau gây thương tích. Có những cái chết thương tâm đã xảy ra mà trước đó vài phút thôi, kẻ sát nhân và người bị hại còn kề vai nhau tâm tình thân thiết, cùng nhau chén tạc chén thù.

Những hành vi vi phạm này, nếu nhẹ thì bị xử lý vi phạm hành chính, nặng hơn là truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc của Nhà nước tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của bản thân. Tuy nhiên, hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định Tội đánh bạc tại Điều 248: Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 (Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc) của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Căn cứ vào tính chất và mức độ vi phạm người phạm tội bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 249: Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: Có tính chất chuyên nghiệp; Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn; Tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Người đánh bạc, người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 20.000.000 đồng tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm. (Điều 23 Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội).

Cùng mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng với tính chất, hình thức, mức độ vi phạm khác nhau sẽ có các hình phạt tương xứng: Điều 138: Tội trộm cắp tài sản (có giá trị từ hai triệu đồng trở lên), Điều 136: Tội cướp giật tài sản (Không quy định giá trị tài sản cướp được) bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến hai mươi năm, tù chung thân, có thể bị phạt tiền đến năm mươi triệu đồng. Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo Nghị định 73/2010/NĐ-CP.

Điều 133: Tội cướp tài sản quy định: Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, tuỳ vào tính chất, mức độ vi phạm bị phạt tù cao nhất đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình, có thể bị phạt tiền đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 245: Tội gây rối trật tự công cộng: Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách; Có tổ chức; Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng; Xúi giục người khác gây rối;Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng; Tái phạm nguy hiểm.

Điều 104: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm: Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; Có tổ chức; Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Để ngày xuân được vui tươi, hạnh phúc, mỗi chúng ta ngoài việc vui chơi lành mạnh, còn phải tự giác chấp hành pháp luật, vận động gia đình, bạn bè, người thân chấp hành pháp luật, nâng cao ý thức đấu tranh phòng, chống mọi hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi gia đình hạnh phúc, bình yên - xóm ấp bình yên, tràn ngập niềm vui đón chào năm mới.

06/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về giao dịch bảo đảmTăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về giao dịch bảo đảm
Trong những năm qua, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm của hầu hết các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đáp ứng yêu cầu hiện nay; việc giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng ...

Trong những năm qua, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và cán bộ làm công tác đăng ký giao dịch bảo đảm của hầu hết các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đáp ứng yêu cầu hiện nay; việc giải quyết hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo thời gian theo quy định của Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT/BTNMT-BTP ngày 18 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm và phí cung cấp thông tin giao dịch bảo đảm được thực hiện đúng quy định.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng còn một số hạn chế như: Việc cập nhật thông tin vào sổ địa chính, sổ theo dõi biến động đất đai chưa kịp thời; thông tin cung cấp trên đơn yêu cầu đăng ký chưa đầy đủ; phí dịch vụ chưa có sự thống nhất giữa các Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất; việc xóa thế chấp sau khi đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ chưa được thực hiện tốt, cơ sở vật chất một vài đơn vị chưa đảm bảo.

Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm và Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 13 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính Phủ về việc tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thực hiện một số nội dung sau đây:

Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước

Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Quy chế Phối hợp trong quản lý nhà nước về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 11 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Trong đó tăng cường công tác kiểm tra nhằm phát hiện những hạn chế, thiếu sót để hướng dẫn khắc phục kịp thời.

Rà soát tất cả các văn bản pháp luật về giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm; về phí dịch vụ liên quan đến hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo đúng quy định.

Xây dựng quy chế cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với các tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan thi hành án dân sự.

Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh, huyện đảm bảo trình tự thủ tục đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên Môi trường.

Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bến Tre chỉ đạo các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện xóa đăng ký giao dịch bảo đảm khi đã hoàn tất nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP.

Ủy ban nhân dân huyện, thành phố quan tâm tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và hỗ trợ bên nhận bảo đảm thực hiện việc thu hồi, xử lý tài sản đảm bảo đúng quy định.

Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì phối hợp Sở Tài nguyên Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bến Tre và các sở, ngành liên quan tổ chức thực hiện chỉ đạo này và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi

05/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sốngQuy trình Sản xuất các chương trình Phát thanh Pháp luật và Đời sống


PHÒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT

QUI TRÌNH
Sản xuất các chương trình Truyền hình
Pháp luật và Đời sống
(Ban hành ngày 10/12/2007)

Người soạn:


Nguyễn Thị Yến Nhi

Người kiểm tra:


Trịnh Thị Thanh Bình
Trần Lương Phổ

I. Mục đích:
Thống nhất các bước đi thích hợp trong thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua kênh truyền hình tỉnh,  từng bước nâng cao chất lượng phục vụ của Chương trình này.

II. Phạm vi áp dụng:
- Lãnh đạo Sở Tư pháp;
- Phòng Phổ biến giáo dục pháp luật.

III. Tài liệu áp dụng:
- Chỉ đạo của UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp thực hiện công tác Phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, Ban Lãnh đạo Sở;
- Các kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp và Đài Phát thanh, truyền hình tỉnh Bến Tre.

IV. Nội dung chính của thủ tục:

Các bước
Nội dung
Trách nhiệm
Thời gian
Ghi chú
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
1
Lập kế hoạch thực hiện trong tháng. - Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.

Đầu mỗi tháng.

Nội dung sẽ phát trong tháng; Phân công chuyên viên tham gia thực hiện.
2
Chuẩn bị kịch bản - Chuyên viên;
- Trưởng phòng;
- Lãnh đạo.
Trước ngày phát sóng: 6 ngày Chuẩn bị kịch bản theo nội dung đã dự kiến trong Kế hoạch.
3
Lãnh đạo phê duyệt kịch bản
Lãnh đạo 1 ngày
4
Quay và dàn dựng chương trình Chuyên viên 2 ngày
5
Lãnh đạo duyệt chương trình Lãnh đạo Trước khi phát sóng
6
Theo dõi phát Chương trình - Trưởng phòng,
- Chuyên viên,
- Lãnh đạo.viên.
Thường xuyên - Nhận xét, đánh giá (nếu có).
- Trả lời bạn xem đài (nếu có).
7
Lưu hồ sơ Chuyên viên Sở,
Trưởng phòng,
Chuyên viên.
Ngay sau phát sóng Hồ sơ lưu: kế hoạch, kịch bản.
Băng phát lưu tại Đài PT-TH

08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Cho thuê lại lao động, một quy định mới trong Bộ luật Lao động năm 2012Cho thuê lại lao động, một quy định mới trong Bộ luật Lao động năm 2012
Hiện nay, do nhu cầu của thị trường mà hoạt động cho thuê lại lao động ngày càng diễn ra phổ biến và sôi nổi, nhiều doanh nghiệp trong nước đã áp dụng hình thức này để đáp ứng cho quá trình kinh doanh của mình. Trước khi Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành thì hoạt động cho thuê lại lao động đã được diễn ra một cách tự phát mà vẫn chưa được quy định pháp luật điều chỉnh, Bộ luật Lao động n...

Hiện nay, do nhu cầu của thị trường mà hoạt động cho thuê lại lao động ngày càng diễn ra phổ biến và sôi nổi, nhiều doanh nghiệp trong nước đã áp dụng hình thức này để đáp ứng cho quá trình kinh doanh của mình. Trước khi Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành thì hoạt động cho thuê lại lao động đã được diễn ra một cách tự phát mà vẫn chưa được quy định pháp luật điều chỉnh, Bộ luật Lao động năm 2012 đã điều chỉnh hoạt động này (Mục 5) và Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 55/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 05 năm 2013 quy định chi tiết thi hành khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động.

Theo đó, cho thuê lại lao động là việc người lao động đã được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động khác, chịu sự điều hành của người sử dụng lao động sau và vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động.

Hoạt động cho thuê lại lao động là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chỉ được thực hiện đối với một số công việc nhất định. Doanh nghiệp chỉ được cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động khi có đủ các điều kiện sau: Đã thực hiện ký quỹ 2.000.000.000 đồng; Bảo đảm mức vốn pháp định là 2.000.000.000  đồng; Địa điểm đặt trụ sở phải ổn định và có thời hạn ít nhất 02 năm trở lên; nếu là nhà thuộc sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh thì trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động phải có giấy tờ hợp lệ, nếu là nhà thuê thì phải có hợp đồng thuê nhà có thời hạn thuê từ 02 năm trở lên; Người đứng đầu doanh nghiệp phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, lý lịch rõ ràng, có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực cho thuê lại lao động từ 03 năm trở lên, trong 03 năm liền kề trước khi đề nghị cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, không đứng đầu doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc không tái phạm hành vi giả mạo hồ sơ xin cấp, cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh ghiệp, hồ sơ xin cấp, cấp lại hoặc gia hạn Giấy phép hoạt động cho thuê lao động.

Doanh nghiệp chỉ được thực hiện cho thuê lại lao động đối với một số công việc sau: Phiên dịch/Biên dịch/Tốc ký; Thư ký/Trợ lý hành chính; Lễ tân; Hướng dẫn du lịch; Hỗ trợ bán hàng; Hỗ trợ dự án; Lập trình hệ thống sản xuất; Sản xuất, lắp đặt thiết bị truyền hình, viễn thông; Vận hành/kiểm tra/sữa chửa máy móc xây dựng, hệ thống sản xuất; Dọn dẹp vệ sinh tòa nhà, nhà máy; Biên tập tài liệu; Vệ sĩ/Bảo vệ; Tiếp thị/Chăm sóc khách hàng qua điện thoại; Xử lý các vấn đề tài chính, thuế; Sửa chửa/ kiểm tra vận hành ô tô; Scan, vẽ kỹ thuật công nghiệp/Trang trí nội thất; Lái xe.

Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động còn quy định cụ thể về việc ký kết hợp đồng cho thuê lại lao động cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ cho thuê lại lao động.

Bộ luật Lao động năm 2012 điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các bên trong quan hệ cho thuê lại lao động, tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động cũng như góp phần vào sự phát triển ổn định của thị trường lao động.

16/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
HỘI ĐỒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH BẾN TRE HỌP KỲ GIỮA NĂM 2010 – BÀN PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG  SÁU THÁNG CUỐI NĂM.HỘI ĐỒNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH BẾN TRE HỌP KỲ GIỮA NĂM 2010 – BÀN PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG  SÁU THÁNG CUỐI NĂM.
Ngày 14/7/2010, Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre họp kỳ giữa năm 2010, bàn phương hướng hoạt động của sáu tháng cuối năm. Ông Nguyễn Quốc Bảo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh-Chủ tịch Hội đồng PBGDPL tỉnh đến dự và chủ trì hội nghị.

Tính đến giữa năm 2010, Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật cả ba cấp tỉnh - huyện - xã đã hình thành cơ bản về mặt tổ chức. Đội ngũ báo cáo viên pháp luật tỉnh - huyện gồm 186 đồng chí, được duy trì và tập huấn nghiệp vụ thường xuyên. Toàn tỉnh hiện có 220 câu lạc bộ pháp luật, phần lớn được duy trì và sinh hoạt ổn định 3 kỳ/năm. Một số mô hình sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật hoạt động có hiệu quả và đang được nhân rộng. Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh đã tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động, mang pháp luật đến bà con vùng sâu ở 34 xã.

Bên cạnh chương trình “Pháp luật đời sống” trên sóng phát thanh - truyền hình tỉnh được duy trì phát hàng tuần trên sóng Đài phát thanh và truyền hình tỉnh, Sở Tư pháp và Đài phát thanh-Truyền hình ngay từ đầu năm nay đã quyết định nâng chất lượng và cải tiến chương trình “Tư vấn pháp luật” trên sóng phát thanh bằng hình thức trao đổi trực tiếp giữa diễn giả với bạn nghe đài, góp phần mang pháp luật nhanh chóng, thiết yếu đến người dân.

Ngoài các mặt đạt được, Hội đồng đã nghiêm túc nhìn nhận và tìm giải pháp khắc phục những thiếu sót trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thời gian qua, như: công tác này ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức; việc củng cố, kiện toàn Hội đồng, Ban chỉ đạo các Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật chưa kịp thời; sự phối hợp giữa một số ngành còn thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ.

Ông Nguyễn Quốc Bảo, chủ tịch Hội đồng PBGDPL tỉnh phát biểu chỉ đạo đã nhấn mạnh: UBND tỉnh đã ban hành 4 kế hoạch thực hiện 4 đề án của Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2008-2012, đề nghị các ngành có liên quan phải triển khai rộng khắp đến cơ sở các đề án này; các ngành chủ trì phải tích cực chủ động với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc phối hợp, thực hiện nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất; Hội đồng PBGDPL các huyện- thành phố phải xấy dựng các kế hoạch thực hiện Đề án tuyên truyền pháp luật cho nông dân với nội dung phù hợp với dân cư ở từng vùng, ví dụ: các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú phải nói về luật Biên giới, pháp luật về Thủy sản, về bảo đảm môi trường…, cuối năm phải tổng kết, đánh gái hiệu quả. Ngành giáo dục phải chú ý đến độ vênh giữa sách giáo khoa với các văn bản luật mới ban hành. Tìm những nội dung, hình thức mới tuyên truyền pháp luật cho học sinh. Cần có hình thức khuyến khích giáo viên, học sinh dạy tốt, học tốt môn pháp luật trong trường học.

Cuộc họp cũng đã nhận định, các Đề án thuộc Chương trình 212 năm nay sẽ tiến hành tổng kết, vì vậy các ngành liên quan cần bảo đảm tổng kết đúng thời gian quy định, đánh giá đúng thực chất những việc làm được, những việc chưa làm được để rút ra bài học kinh nghiệm trong thực hiện công tác PBGDPL trong thời gian tới.

19/08/2010 12:00 SAĐã ban hành
Thành phố Bến Tre tổ chức tập huấn cho hòa giải viên cơ sởThành phố Bến Tre tổ chức tập huấn cho hòa giải viên cơ sở
Ngày 21/10/2010, UBND thành phố Bến Tre phối hợp cùng Sở tư pháp tổ chức lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ công tác hòa giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hơn 200 hòa giải viên cơ sở trên địa bàn thành phố Bến Tre. Ông Trần Khánh Dư phó chủ tịch UBND thành phố đã đến dự.

Ngày 21/10/2010, UBND thành phố Bến Tre phối hợp cùng Sở tư pháp tổ chức lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ công tác hòa giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hơn 200 hòa giải viên cơ sở trên địa bàn thành phố Bến Tre. Ông Trần Khánh Dư phó chủ tịch UBND thành phố đã đến dự.

Bà Nguyễn Thị Yến Nhi chánh văn phòng Sở tư pháp đã triển khai cho các hòa giải viên một số quy định của pháp luật liên quan thiết thực đến công tác hòa giải như: luật bình đẳng giới; luật phòng chống bạo lực gia đình; luật thi hành án dân sự và một số vấn đề chung trong quản lý nhà nước về công tác hòa giải cơ sở, hướng dẫn cho các hòa giải viên những kỹ năng, nghiệp vụ và những kinh nghiệm trong công tác hòa giải.

Lớp tập huấn nhằm giúp lực lượng hòa giải viên cơ sở nắm vững một số nội dung cơ bản của pháp luật và những kỹ năng hòa giải từ đó nâng cao chất lượng và tỉ lệ hòa giải thành các vụ việc tranh chấp tại địa phương, góp phần củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, hạn chế đơn thư khiếu kiện, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm ngay từ cơ sở.

QUANG KHỞI

26/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ.Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
 Ngày 29/10/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

Ngày 29/10/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

Các điều kiện khác vẫn được giữ nguyên theo quy định của Quyết định 167 là: hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ – TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010) đang cư trú tại địa phương, do UBND cấp xã quản lý; Hộ chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện nhà ở; Hộ không thuộc diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn và theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác.

Nay theo Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg các đối tượng hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở sẽ được mở rộng đến cả các hộ đang cư trú tại các khu vực không phải đô thị trên phạm vi cả nước hoặc tại các thôn, làng, buôn, bản, ấp, phum, sóc (gọi chung là thôn, bản) trực thuộc phường, thị trấn, hoặc xã trực thuộc xã, thành phố thuộc tỉnh nhưng sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm, ngư nghiệp (Quyết định 167 chỉ qui định một trong các điều kiện được hỗ trợ là: phải đang cư trú tại khu vực không phải là đô thị trên phạm vi cả nước).

Cũng theo Quyết định mới thì chi phí quản lý được quy định như sau: các địa phương sử dụng ngân sách địa phương để bố trí kinh phí quản lý triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở với mức tối đa không quá 0,5% tổng số chi ngân sách nhà nước hỗ trợ và vay vốn Ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện chính sách theo quy định.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/10/2010.

26/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Bình Đại tổ chức Hội thảo để điều chỉnh, bổ sung và thực hiện Qui ước ở cơ sởBình Đại tổ chức Hội thảo để điều chỉnh, bổ sung và thực hiện Qui ước ở cơ sở
Thực hiện Kế hoạch liên tịch giữa Sở Tư pháp và Sở Y tế (Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình) về việc tổ chức Hội thảo để điều chỉnh, bổ sung và thực hiện Qui ước ở cơ sở, trong tháng 10 năm 2008, 6 xã thuộc huyện Bình Đại gồm Long Định, Bình Thắng, Bình Thới, Châu Hưng, Lộc Thuận, và Phú Vang đã tổ chức các cuộc Hội thảo.

Mục đích của Hội thảo là kiểm điểm lại những mặt tích cực và hạn chế tồn tại trong thực tiễn xây dựng và thực hiện qui ước; đánh giá về hiệu quả và vai trò của qui ước đối với đời sống nhân dân trong đó có việc thực hiện chính sách dân số; trên cơ sở đó có biện pháp để tiếp tục phát huy và nâng cao tác dụng của qui ước trong đời sống cộng đồng; đồng thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung trong qui ước đã được thay đổi hoặc ban hành mới như bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình.

Tại Hội thảo các đại biểu đã thảo luận và đi đến thống nhất về nội dung cần điều chỉnh, bổ sung trong qui ước và giải pháp tổ chức thực hiện qui ước có hiệu quả trong thời gian tới.

GV

23/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Tình người ở đâu?Tình người ở đâu?
Đã sắp hết giờ làm việc, khi mọi người chuẩn bị ra về thì một người phụ nữ khoảng trên 20 tuổi bước vào. Sau cái gật đầu chào hỏi, chị liền cầm lấy tay tôi nhờ tôi tư vấn, giúp đỡ mà nước mất chị rưng rưng, lời nghẹn lời. Nghe xong câu chuyện của chị mà tôi cảm thấy vừa xót thương cho hoàn cảnh gia đình của chị vừa buồn cho cách cư xử vô trách nhiệm của những cá nhân vì tiền mà xem nhẹ tình cảm, t...


Mẹ mất sớm, cha chị phải sống cảnh gà trống nuôi con. Vì là thương binh nay ốm mai đau nên cha chị không thể lao động thường xuyên được, với số tiền mà cha chị lãnh trợ cấp hàng tháng chỉ đủ mua gạo ăn qua ngày nên nghèo lại càng nghèo hơn. Thương cha, chị và em trai sau khi học hết cấp hai đã nghỉ học đi làm thuê phụ giúp gia đình. Nghe lời giới thiệu của người hàng xóm, em trai chị là N.V.P liền xin phép gia đình lên thành phố BT để làm lơ xe cho một doanh nghiệp vận tải do bà M làm chủ, trong khi mới 16 tuổi đời, cái tuổi  mà đáng lẽ ra giờ này đang cùng bạn bè vui chơi, học hành bên mái trường. Tuy rất thương con nhưng ông Th không còn cách nào khác đành chấp nhận cho con đi làm xa. Vì tuổi đời còn nhỏ, sức yếu chưa quen với công việc lao động nặng nhọc nên trong một lần vận chuyển hàng hoá lên xe, không may em bị té ngã dẫn đến trầy trụa khắp người phải đưa đi bệnh viện. Người tài xế thương tình đã đưa cho gia đình em 500.000 đồng để phụ tiền thuốc men. Trong thời gian điều trị gia đình chị phải vay muợn hàng xóm thậm chí cầm cố 1.000 m2 đất để có tiền lo cho P. Được một tháng thì không còn khả năng lo nữa, trong khi vết thương ở chân em chị ngày càng xưng to, đau nhức không thể đi lại được. Không còn cách nào khác, cha chị và chị đành đến nhà bà M nhờ bà hỗ trợ một khoản tiền để gia đình có điều kiện tiếp tục chữa trị cho P. Không những không thăm hỏi, giúp đỡ mà trái lại bà M còn chửi rủa ồn ào và cho rằng hai cha con chị cố tình làm tiền, bị tai nạn lao động là do em trai chị bất cẩn, lỗi hoàn toàn do P tự gây ra nên bà không có trách nhiệm phải bồi thường.
Theo quy định tại khoản 2 điều 107 Bộ luật lao động thì: Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nếu doanh nghiệp chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một khoản tiền ngang với mức quy định trong Điều lệ bảo hiểm xã hội. Vì vậy, căn cứ vào quy định trên thì yêu cầu của hai cha con chị là chính đáng và thái độ cư xử của bà M là hoàn toàn sai. Ngoài ra, theo quy định tại điều 143 Bộ luật lao động thì trong thời gian người lao động nghỉ việc để chữa trị vì tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp thì người sử dụng lao động phải trả đủ lương và chi phí cho người lao động... Như vậy, bà M là chủ sử dụng lao động thì bà phải có trách nhiệm chịu mọi chi phí điều trị, và phải trả lương đầy đủ cho người lao động là P trong khoản thời gian P nghỉ việc để chữa trị vì tai nạn lao động. Gia đình chị có thể thương lượng với bà M giải quyết vụ việc một cách êm đẹp. Nếu bà M vẫn cố chấp không thực hiện nghĩa vụ của mình thì gia đình chị có thể làm đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bà M cư trú để đòi quyền lợi cho P.
Sau khi nghe tôi tư vấn, thì chị đã hiểu và từ giã tôi ra về. Nhìn dáng chị bước ra cửa mà lòng tôi cảm thấy xót xa, vì hành trình của hai cha con chị vẫn còn rất ở xa, trong khi hiện tại em chị phải chịu đựng cơn đau dày vò thể xác từng ngày mà gia đình chị thì không có tiền để chữa trị./.




 

09/05/2011 12:00 SAĐã ban hành
Quy định chi tiết về chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệpQuy định chi tiết về chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
Ngày 23 tháng 3 năm 2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội về việc miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2011. Theo đó, thì các đối tượng được miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định trong Nghị quyết số ...

Ngày 23 tháng 3 năm 2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội về việc miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2011. Theo đó, thì các đối tượng được miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định trong Nghị quyết số 55/2010/QH12 đã được Nghị định hướng dẫn cụ thể, chi tiết như sau:
Đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp
Thứ nhất: Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm; diện tích đất làm muối.
Trong đó, diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm bao gồm diện tích đất có quy hoạch, kế hoạch trồng ít nhất một vụ lúa trong năm hoặc diện tích đất có quy hoạch, kế hoạch trồng cây hàng năm nhưng thực tế có trồng ít nhất một vụ lúa trong năm.
Thứ hai:  Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận cho hộ nghèo.
Việc xác định hộ nghèo được căn cứ vào chuẩn nghèo ban hành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Trường hợp Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy định cụ thể chuẩn hộ nghèo theo quy định của pháp luật áp dụng tại địa phương thì căn cứ chuẩn hộ nghèo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định để xác định hộ nghèo.
Thứ ba:  Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất nông nghiệp cho 4 đối tượng sau:
+  Hộ gia đình, cá nhân nông dân được Nhà nước giao hoặc công nhận đất để sản xuất nông nghiệp, bao gồm cả đất được thừa kế, cho tặng, nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Trong đó, hộ gia đình, cá nhân nông dân là những người có hộ khẩu thường trú tại địa phương; những người có nguồn sống chính bằng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là cư trú lâu dài tại địa phương nhưng chưa có hộ khẩu thường trú; những hộ gia đình, cá nhân trước đây hoạt động trong các ngành nghề phi nông nghiệp và có hộ khẩu thường trú tại địa phương nay không có việc làm; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, công nhân và bộ đội nghỉ mất sức hoặc nghỉ việc do sắp xếp lại sản xuất, tinh giảm biên chế hưởng trợ cấp một lần hoặc hưởng trợ cấp một số năm về sống thường trú tại địa phương đến tuổi lao động nhưng chưa có việc làm.
+  Hộ gia đình, cá nhân là xã viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, nông, lâm trường quốc doanh để sản xuất nông nghiệp.
Việc giao khoán đất của hợp tác xã và nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh để sản xuất nông nghiệp thực hiện theo quy định của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ.
+ Hộ gia đình, cá nhân là nông trường viên, lâm trường viên đã nhận đất giao khoán ổn định của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh để sản xuất nông nghiệp;
Nông trường viên, lâm trường viên là những cán bộ, công nhân, viên chức đang làm việc cho nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh; hộ gia đình có người làm việc cho nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động được hưởng chế độ đang cư trú trên địa bàn; hộ gia đình có nhu cầu trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đang cư trú trên địa bàn.
+ Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp có quyền sử dụng đất nông nghiệp góp đất của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã.
Đối tượng được giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
Giảm 50% số thuế sử dụng đất nông nghiệp ghi thu hàng năm cho 03 đối tượng:
Thứ nhất: Diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất nông nghiệp nhưng không quá hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 3 Điều 1 của Nghị định.
Hạn mức giao đất nông nghiệp được thực hiện theo quy định tại Điều 70 Luật Đất đai, Điều 69 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai và các mức cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định áp dụng tại địa phương. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa ban hành các mức cụ thể về hạn mức giao đất nông nghiệp thì áp dụng mức tối đa theo quy định trên.
Hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 71 Luật Đất đai, Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 21 tháng 6 năm 2007 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các mức cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định áp dụng tại địa phương. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa quy định cụ thể về hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì áp dụng mức tối đa theo quy định trên.
Thứ hai: diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp.
Thứ ba: diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho đơn vị vũ trang nhân dân quản lý sử dụng
Thời hạn miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020.

 

06/06/2011 12:00 SAĐã ban hành
Hưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” (Từ ngày 19/10/2012-19/11/2012) - NỖI ĐAU KÉO DÀIHưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” (Từ ngày 19/10/2012-19/11/2012) - NỖI ĐAU KÉO DÀI
NỖI ĐAU KÉO DÀICô Năm đặt bàn tay vuốt mái tóc xanh đen của đứa con trai út. Nhưng không phải mái tóc xanh đen của một con người hiện hữu mà chỉ là vuốt và cảm nhận nỗi đau qua tấm di ảnh đặt trên bàn thờ. Cách đây một năm, cô Năm đã trãi qua cảnh “Kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh ”.Tin tức từ người quen báo đến làm gia đình cô Năm không khỏi bàng hoàng. Người con trai út của Cô đã mãi mãi ra vì...

 

 

NỖI ĐAU KÉO DÀI

Cô Năm đặt bàn tay vuốt mái tóc xanh đen của đứa con trai út. Nhưng không phải mái tóc xanh đen của một con người hiện hữu mà chỉ là vuốt và cảm nhận nỗi đau qua tấm di ảnh đặt trên bàn thờ. Cách đây một năm, cô Năm đã trãi qua cảnh “Kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh ”.

Tin tức từ người quen báo đến làm gia đình cô Năm không khỏi bàng hoàng. Người con trai út của Cô đã mãi mãi ra vì tai nạn giao thông. Lòng người mẹ như chết lặng. Có ai đó như đang bóp nát trái tim Cô. Sự việc quá bất ngờ khiến Cô không thể chấp nhận. Đau lòng hơn, khi tai nạn xảy ra không do ai khác mà chính bản thân của con Cô gây ra.

Ngày hôm ấy, con Cô đi dự tiệc cưới của người bạn. Linh tính của người mẹ mách bảo, cô Năm thấy không yên lòng nên đã dặn dò con rất nhiều điều. Nào là không được uống rượu khi lái xe. Nếu có uống rượu, thấy khả năng không thể lái xe an toàn thì kêu người nhà đến đón. Nào là không được la cà quán sá. Nhưng con cô thì không nghe lời mẹ. Khi dự xong tiệc cưới, lâu ngày gặp lại bạn cũ, mọi người rủ nhau chén chú chén anh. Đến khi tàn tiệc cũng là lúc lượng men trong người đã quá cao. Trên đường về con Cô đã không làm chủ được tốc độ nên gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả không chỉ chính bản thân con Cô thiệt mạng mà còn làm cho hai người nữa cùng chung số phận.

Nói đến hoàn cảnh của hai người mà con Cô đã gây tai nạn thì ai cũng phải bùi ngùi. Họ là vợ chồng. Cuộc sống đôi vợ chồng trẻ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn khi họ sinh đứa con đầu lòng. Mặc dù khó khăn là thế nhưng họ không hề nản lòng mà luôn tìm kế mưu sinh để chăm lo cho gia đình nhỏ. Vậy mà trên đường đi làm về họ lại bất hạnh gặp tai nạn. Họ vĩnh viễn ra đi, để lại đứa con nhỏ vừa tròn hai tuổi cho ông bà nội tuổi đã cao sức đã yếu.

Gia đình cô Năm mặc dù cũng gặp nỗi đau nhưng cũng nén đau thương để bù đắp mất mát cho gia đình nạn nhân. Biết trách ai đây khi người gây tai nạn và nạn nhân đã không còn. Đau xót nhất vẫn là đứa bé. Người lớn nhìn nhau, rồi nhìn đứa nhỏ ngây thơ. Đầu quấn khăn tan nhưng chưa hiểu chuyện gì đã, đang và sẽ xảy ra đối với mình khi không còn cha mẹ. Trong đám tang không ai cầm được nước mắt với tiếng gọi bi bô “mẹ, mẹ”.

Người ra đi đã mồ yên, mã đẹp. Chỉ có người ở lại mới nhận lấy những nỗi đau vô bờ bến. Cha mẹ già phải khóc tiễn con. Con trẻ chịu cảnh mồ coi, mất đi tình cảm, sự chăm sóc của cha mẹ khi tuổi còn quá nhỏ. Rồi tương lai của em sẽ như thế nào khi sống với ông bà đã tuổi cao sức yếu. Mặc dù gia đình cô Năm đã bồi thường thiệt hại về tính mạng, nhưng nỗi đau và hậu quả của vụ tai nạn này vẫn còn mãi. Cả hạnh phúc và một tương lai của đứa trẻ đã mất đi trong phút chốc do hậu quả của tai nạn giao thông.

Câu chuyện trên chỉ là một dẫn chứng nhỏ trong tình hình tai nạn giao thông hiện nay. Trên thực tế có biết bao gia đình phải chịu cảnh đau thương khi có người thân tử vong vì tai nạn giao thông. Tai nạn giao thông không phải là thảm họa của thiên nhiên mà do chính con người gây ra. Vì vậy, con người hoàn toàn có thể hạn chế và ngăn ngừa không cho nó xảy ra. Tất cả chúng ta “Hãy lái xe bằng cả trái tim”. Dùng tình cảm của mình để cảm nhận và phân tích những hậu quả của tai nạn giao thông. Tính mạng của mỗi người là do cha mẹ sinh ra, cực khổ nuôi lớn. Vì vậy hãy biết quý giá và bảo vệ. Phải luôn mách bảo bản thân không để tình trạng này xảy ra. Hãy luôn chấp hành tốt nguyên tắc an toàn khi tham gia giao thông. Vì tai nạn giao thông không chỉ là niềm đau hiện tại mà sẽ kéo dài, âm ỉ cho đến sau này. Mỗi người hãy bảo vệ tính mạng của người xung quanh như chính tính mạng của mình.

 

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống bạo lực gia đìnhTăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống bạo lực gia đình
Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống bạo lực gia đình đạt nhiều kết quả khá tốt; góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; nhận thức về công tác phòng, chống bạo lực gia đình có nhiều chuyển biến tích cực; tỷ lệ đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” ngày càng tăng; nhiều ...

Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống bạo lực gia đình đạt nhiều kết quả khá tốt; góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; nhận thức về công tác phòng, chống bạo lực gia đình có nhiều chuyển biến tích cực; tỷ lệ đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” ngày càng tăng; nhiều mô hình phòng, chống bạo lực gia đình được nhân rộng.

Tuy nhiên, công tác phòng, chống bạo lực gia đình vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; quá trình hội nhập kinh tế đã và đang tác động mạnh, làm xói mòn những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; gây ra nhiều hậu quả khó lường về xã hội, đạo đức, lối sống; nhận thức về phòng, chống bạo lực gia đình cũng còn hạn chế; công tác chỉ đạo, điều hành các hoạt động về phòng, chống bạo lực gia đình chưa thường xuyên, quyết liệt.

Để công tác phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian tới đạt hiệu quả cao; Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm:

Tiếp tục tuyền truyền, phổ biến, quán triệt sâu rộng Chỉ thị 49-CT/TW, ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư khóa IX; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật Hôn nhân và gia đình và các chương trình, dự án, đề án về công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân;

Nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhóm lồng ghép; các Câu lạc bộ Nông dân phòng, chống bạo lực gia đình. Kết hợp chặt chẽ công tác gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nông thôn mới; đưa nội dung phòng, chống bạo lực gia đình vào tiêu chí bình xét, công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Khu dân cư văn hóa”; phát huy, nhân rộng các mô hình, gương điển hình tiên tiến trong công tác gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình;

Kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo Phòng, chống bạo lực gia đình các cấp; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương về phòng, chống bạo lực gia đình; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm;

Đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề, tư vấn việc làm cho nạn nhân bạo lực gia đình và người có nguy cơ cao bị bạo lực gia đình nhưng chưa có việc làm;

Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền; trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương; tham gia phối hợp thực hiện và giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể;

Tổ chức sơ kết, tổng kết, nhân rộng kịp thời; có chính sách khuyến khích các tập thể, cá nhân tham gia xây dựng gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình đạt nhiều kết quả tốt.

11/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre tổ chức thành công Hội thi tìm hiểu luật bình đẳng giới năm 2012Bến Tre tổ chức thành công Hội thi tìm hiểu luật bình đẳng giới năm 2012
 Trong những năm qua công tác bình đẳng giới tại tỉnh Bến Tre được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Chương trình hành động số 601/CTr-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2011 về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015. Trên cơ sở đó, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đã chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, S...

Trong những năm qua công tác bình đẳng giới tại tỉnh Bến Tre được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Chương trình hành động số 601/CTr-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2011 về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015. Trên cơ sở đó, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đã chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu Luật Bình đẳng giới năm 2012” vào ngày 11 tháng 10 năm 2012.


Với 3 phần thi sôi nổi, thi trắc nghiệm, hái hoa dân chủ và biểu diễn tiểu phẩm đặc sắc, cuộc thi đã huy động được hơn 60 thí sinh thuộc 8 đội dự thi của các huyện, thành phố trong tỉnh về tham gia dự thi và gần 100 lực lượng công chức, viên chức và người lao động trong tỉnh đã xem, động viên, khích lệ cho các đội dự thi, hoàn thành các nội dung thi một cách tốt nhất.


Đây là dịp để các cán bộ công chức, viên chức giao lưu, giao lưu, trao dồi kiến thức về bình đẳng giới và cũng là nơi để các đội thể hiện năng khiếu vốn có của mình. Bên cạnh đó, nhằm tuyên truyền sâu rộng cho công chức, viên chức, người lao động trong tỉnh về những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về binh đẳng giới. Kết quả, Ban Tổ chức đã trao một giải nhất cho đội Thành phố Bến Tre, giải nhì thuộc về đội dự thi của huyện Giồng Trôm, giải ba thuộc về huyện Bình Đại; 02 giải khuyến khích trao cho huyện Châu Thành và huyện Mỏ Cày Bắc./.

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IVSở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV
Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phá...

Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV.

Theo đó, việc thực hiện phong trào thi đua sẽ gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao và có sự phối kết hợp chặt chẽ với thực hiện phong trào thi đua thường xuyên hàng năm với công tác khen thưởng và phong trào thi đua theo chuyên đề: “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”; phong trào thi đua “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và những phong trào thi đua khác do Bộ Tư pháp phát động.

Đối tượng phát động và thực hiện phong trào thi đua bao gồm tất cả những tập thể và cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Nội dung thực hiện phong trào thi đua tập trung vào nhóm các lĩnh vực về: công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở; công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, gắn với công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; tăng cường công tác kiểm soát thủ tục hành chính, hoạt động truyền thông, kiểm tra kiểm soát thủ tục hành chính; hoàn thiện và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ; kiện toàn tổ chức bộ máy của Ngành; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực thi chế độ công vụ, công chức, viên chức...

Theo kế hoạch, phong trào thi đua được triển khai thực hiện đến trước ngày 31 tháng 8 năm 2015. Đồng thời, giao cho Văn phòng Sở tham mưu Giám đốc Sở tổ chức triển khai, phổ biến, theo dõi và đôn đốc tiến độ thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch; tổng hợp, báo cáo kết quả về Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tư pháp theo dõi, chỉ đạo.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Biến tướng của bảo lãnh và những hậu họaBiến tướng của bảo lãnh và những hậu họa
Trong  hợp đồng vay tài sản, để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, người ta thường dùng những biện pháp đảm bảo như: Cầm cố, thế  chấp, bảo lãnh. Trong các biện pháp bảo đảm này thì biện pháp bảo lãnh là phức tạp  nhất vì nó liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ của người thứ ba.
Trong hợp đồng vay tài sản, để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, người ta thường dùng những biện pháp đảm bảo như: Cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Trong các biện pháp bảo đảm này thì biện pháp bảo lãnh là phức tạp nhất vì nó liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ của người thứ ba.

Bảo lãnh nợ vay hay trong dân gian thường gọi là lãnh nợ là việc người thứ ba cam kết với bên cho vay sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay nếu khi đến thời hạn mà bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đủ.

Hiện nay việc bảo lãnh nợ vay tín dụng ngân hàng bằng cách người bảo lãnh phải dùng tài sản của mình thế chấp cho Ngân hàng thì Ngân hàng mới cho người được bảo lãnh vay. Nếu bên vay không trả nợ hay trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng sẽ phát mãi tài sản để thu hồi nợ.

Người đứng ra bảo lãnh cho người khác được vay vốn thường là người tốt, với mục đích là giúp đỡ. Nhưng việc bảo lãnh cũng chứa đựng rất nhiều nguy cơ rủi ro, như người vay bội tín hoặc không có khả năng trả nợ, bỏ trốn hay bị chết... thì người bảo lãnh sẽ... lãnh đủ. Chính vì vậy mà người xưa đã đúc kết trong bốn cái ngu trên đời thì việc lãnh nợ được xếp là cái ngu thứ hai.

Không phải vì việc bảo lãnh cho người khác vay vốn có nhiều rủi ro và dễ nhận phần thiệt hại, phiền toái về mình mà chúng tôi khuyên mọi người không nên bảo lãnh cho ai. Ở đây chúng tôi muốn nói đến có một thực tế hiện nay việc bảo lãnh trong một số trường hợp đã bị biến tướng. Người bảo lãnh không phải chỉ giúp đỡ vô tư, mà vì ham lợi đã trở thành người cho vay tín dụng đen trong khi không có vốn. Còn bên vay lợi dụng lòng tin lẫn lòng tham của người bảo lãnh để chiếm đoạt tài sản.

Ảnh minh họa

Vừa qua tại xã Thanh Tân-huyện Mỏ Cày Bắc đã xảy ra vụ vỡ nợ tín dụng có bảo lãnh, trong đó hàng chục người đã đem quyền sử dụng đất thế chấp cho ngân hàng để bảo lãnh cho một người vay vốn, sau đó người này không trả nợ nên ngân hàng đã chuyển hồ sơ ủy quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đấu giá toàn bộ quyền sử dụng đất mà những người bảo lãnh đã đem thế chấp. Không biết người trong cuộc trong tình cảnh mất hết đất đai, gia sản vì tin người họ nghĩ sao, chứ chỉ đọc những hồ sơ đấu giá quyền sử dụng đất của họ, chúng tôi đã rất đau lòng, vì những người nông dân này bỗng dưng trở thành con nợ, với những khoản tiền phải trả nhiều trăm triệu đồng, khi mất đất, trắng tay cuộc sống của gia đình họ rồi đây sẽ ra sao?

Với chiêu thức là người vay dụ dỗ người có nhà, đất, đưa nhà đất thế chấp để bảo lãnh cho họ vay vốn tín dụng, ngân hàng. Sau đó hàng tháng họ sẽ trả lãi cao cho người bảo lãnh trên số vốn họ vay được. Việc trả tiền cho người bảo lãnh thường được thực hiện một thời gian ngắn để tạo lòng tin, sau đó bên vay chiếm đoạt khoản tiền vay được của ngân hàng, không chịu trả nợ, lúc đó ngân hàng sẽ đòi nợ người bảo lãnh, dĩ nhiên người bảo lãnh không thể có tiền trả nợ nên tài sản đã thế chấp bảo lãnh cho người khác vay phải bị phát mãi. Nên thực tế họ nhận được khoản tiền của bên vay rất ít ỏi so với giá trị nhà, đất họ bị mất do bị phát mãi để trả nợ thay. Dù sau đó họ vẫn có quyền kiện đòi lại khoản tiền này nhưng không phải dễ dàng khi mà họ đã mắc mưu và giúp sức cho kẻ lừa đảo.

Qua thực tế đã xảy ra, chúng tôi muốn cảnh báo đến người dân, hiện nay những kẻ lừa đảo, tham lam có rất nhiều mưu ma, chước quỉ, lợi dụng cả pháp luật để chiếm đoạt tài sản của người khác, trong đó có việc thu gom giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với chiêu bài bảo lãnh vay vốn hay góp vốn. Vì vậy mọi người phải cảnh giác, không để chúng dùng miếng mồi vật chất để nhử cho ta sập bẫy. Những cái bẫy hợp đồng vay vốn hay góp vốn là những cái bẫy rất khó gỡ vì đây là quan hệ dân sự, có sự thỏa thuận của đôi bên nên khi thiệt hại xảy ra thì mình phải lãnh đủ.

Chúng tôi cũng xin nói thêm, dù là quan hệ dân sự, khi hai bên tự do, tự nguyện thỏa thuận thì chính quyền, người có thẩm quyền xác nhận, công chứng, hay chứng thực hợp đồng. Nhưng nếu thấy có hiện tượng thu gom sổ đỏ tràn lan, không bình thường, giao dịch có nhiều rủi ro hay có dấu hiệu lừa đảo thì cơ quan và người có thẩm quyền cũng phải xác minh làm rõ để cảnh báo, ngăn chặn. Chứ không thể máy móc thuần túy là việc giao kết hợp đồng không trái luật là xác nhận, công chứng, chứng thực, còn sống chết mặc bay, thì nhiều khi chính quyền, cán bộ lại vô tình tiếp tay cho bọn lừa đảo.

21/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sởVai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở
 Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các ...

Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.

Luật Hoà giải ở cơ sở đã khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc giới thiệu danh sách bầu làm hoà giải viên ở cơ sở; chủ trì tổ chức bầu hoà giải viên; đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận hoà giải viên sau khi bầu. Cụ thể tại Điều 8 của Luật Hoà giải ở cơ sở về bầu, công nhận hòa giải viên quy định người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật Hoà giải ở cơ sở có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức: Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình. Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý; trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp; trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng; Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

 

Đối với việc thôi làm hòa giải viên được quy định tại Điều 11 của Luật Hoà giải ở cơ sở: Trường hợp thôi làm hòa giải viên quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Trường hợp thôi làm hòa giải viên đối với tổ trưởng tổ hòa giải thì Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Quyết định thôi làm hòa giải viên được gửi Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

Bên cạnh đó vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở, còn thể hiện ở quy định tại Điều 12 của Luật Hoà giải ở cơ sở như đề nghị số lượng tổ hoà giải, số hòa giải viên trong một tổ hòa giải ở địa phương để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định; rà soát, kiến nghị kiện toàn tổ hoà giải.  Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì phối hợp với tổ trưởng tổ hòa giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải và kiến nghị Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã để đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã kiện toàn tổ hòa giải.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở còn thể hiện ở vai trò chủ trì bầu tổ trưởng tổ hoà giải theo quy định tại Điều 14 của Luật Hoà giải ở cơ sở. Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn bản và gửi chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định công nhận.

Ngoài ra, Điều 22 và Điều 26 của Luật Hoà giải ở cơ sở quy định: Trường hợp các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau thì tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố đó phối hợp thực hiện việc hòa giải và thông báo với Trưởng ban công tác Mặt trận tại nơi đó cùng phối hợp thực hiện. Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời thông báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.

Bên cạnh việc quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận nêu trên, Điều 30 của Luật Hoà giải ở cở sở còn quy định Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về “giải trình” theo luật xử lý vi phạm hành chínhQuy định về “giải trình” theo luật xử lý vi phạm hành chính
Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013. Với mục đích, để tránh tình trạng quan liêu, áp đặt của cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt khi tiến hành xử phạt, bảo đảm việc xử phạt được thực hiện một cách khách quan, minh bạch, dân chủ, Điều 61 của Luật XLVPHC bổ sung quy định mới về quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm và trách nhiệm của cơ quan ti...

Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013. Với mục đích, để tránh tình trạng quan liêu, áp đặt của cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt khi tiến hành xử phạt, bảo đảm việc xử phạt được thực hiện một cách khách quan, minh bạch, dân chủ, Điều 61 của Luật XLVPHC bổ sung quy định mới về quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm và trách nhiệm của cơ quan tiến hành xử phạt phải xem xét ý kiến giải trình của người vi phạm, phải tiến hành xác minh hành vi vi phạm trước khi ra quyết định xử phạt.

Luật XLVPHC quy định áp dụng thủ tục giải trình đối với trường hợp bị áp dụng đối với những vi phạm có tính chất nghiêm trọng theo quy định bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vi phạm hành chính quy định áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung phạt tiền đối với hành vi vi phạm lớn, từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức.

Về các hình thức thực hiện quyền giải trình, Khoản 1 Điều 61 Luật XLVPHC quy định việc giải trình được thực hiện theo 02 hình thức, giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản. Giải trình bằng văn bản là việc cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Giải trình trực tiếp là việc cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và trực tiếp tham gia phiên giải trình do người có thẩm quyền xử phạt tổ chức để đưa ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Giải trình là quyền của cá nhân, tổ chức vi phạm, vì vậy chỉ khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu thì người có thẩm quyền xử phạt mới có trách nhiệm giải quyết. Do đó, tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 61 Luật XLVPHC quy định cá nhân, tổ chức vi phạm phải có trách nhiệm gửi văn bản giải trình hoặc yêu cầu giải trình trực tiếp cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, trong thời hạn như sau: Không quá 05 ngày đối với trường hợp giải trình bằng văn bản (Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền có thể gia hạn thêm không quá 05 ngày theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính tự mình hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản); không quá 02 ngày làm việc đối với trường hợp giải trình trực tiếp.

Để bảo đảm quyền giải trình của người vi phạm, Luật quy định cụ thể trách nhiệm, trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu giải trình trực tiếp. Theo đó, trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu giải trình trực tiếp, người có thẩm quyền xử phạt phải có trách nhiệm tổ chức phiên giải trình, thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình để họ trực tiếp tham gia. Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý và tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm. Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan và là một trong những căn cứ quan trọng để người có thẩm quyền xử phạt xem xét, ra quyết định xử phạt.

28/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên
Sáng ngày 05 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hà Nội và 62 điểm cầu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tham dự Hội nghị ...

Sáng ngày 05 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hà Nội và 62 điểm cầu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Hà Nội có đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị; các đồng chí lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương; Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam; Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Về phía Bộ Tư pháp có đồng chí Hà Hùng Cường, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và các đồng chí Thứ trưởng Bộ Tư pháp.


Tại điểm cầu tỉnh Bến Tre, đồng chí Trần Ngọc Tam, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh dự và chủ trì Hội nghị, tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông, các Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, Báo Đồng Khởi và Đài Phát Thanh – Truyền hình tỉnh dự và đưa tin.

Hội nghị đã nghe Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Phó Giáo sư tiến sĩ Hoàng Thế Liên, Thứ trưởng Bộ Tư pháp giới thiệu về ý nghĩa, nội dung của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013.


Hội nghị này đã cung cấp cho các Báo cáo viên phát luật và Báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng về ý nghĩa, nội dung, đặc biệt là những điểm mới của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các Báo cáo viên pháp luật sau Hội nghị này sẽ phát huy vai trò của mình trong công tác tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp đến các tầng lớp nhân dân; cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn tỉnh.

07/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tìm hiểu về Luật An toàn thực phẩmTìm hiểu về Luật An toàn thực phẩm
An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta từ lâu đặc biệt quan tâm và coi đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội, sức khỏe cộng đồng và về bảo vệ môi trường và đây cũng là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến tiến trình hội nhập của Việt Nam. Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rõ sự cần thiết phải tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ, có hiệu quả hơn về an toàn v...

Luật ATTP gồm 11 chương, 72 điều, quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm ban hành năm 2003 sẽ hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo Điều 5 Luật ATTP thì những hành vi sau đây bị cấm:
- Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm.
- Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho phép; sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, hóa chất bị cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sản xuất, kinh doanh bị nghiêm cấm đối với: Thực phẩm vi phạm quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa; Thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; Thực phẩm bị biến chất; Thực phẩm có chứa chất độc hại hoặc nhiễm chất độc, tác nhân gây ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép; Thực phẩm có bao gói, đồ chứa đựng không bảo đảm an toàn hoặc bị vỡ, rách, biến dạng trong quá trình vận chuyển gây ô nhiễm thực phẩm; Thịt hoặc sản phẩm được chế biến từ thịt chưa qua kiểm tra thú y hoặc đã qua kiểm tra nhưng không đạt yêu cầu; Thực phẩm không được phép sản xuất, kinh doanh để phòng, chống dịch bệnh; Thực phẩm chưa được đăng ký bản công bố hợp quy tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp thực phẩm đó thuộc diện phải được đăng ký bản công bố hợp quy;Thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc quá thời hạn sử dụng.
- Sử dụng phương tiện gây ô nhiễm thực phẩm, phương tiện đã vận chuyển chất độc hại chưa được tẩy rửa sạch để vận chuyển nguyên liệu thực phẩm, thực phẩm.
- Cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả kiểm nghiệm thực phẩm.
- Che dấu, làm sai lệch, xóa bỏ hiện trường, bằng chứng về sự cố an toàn thực phẩm hoặc các hành vi cố ý khác cản trở việc phát hiện, khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm.
- Người mắc bệnh truyền nhiễm tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại cơ sở không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.
- Quảng cáo thực phẩm sai sự thật, gây nhầm lẫn đối với người tiêu dùng.
- Đăng tải, công bố thông tin sai lệch về an toàn thực phẩm gây bức xúc cho xã hội hoặc thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh.
- Sử dụng trái phép lòng đường, vỉa hè, hành lang, sân chung, lối đi chung, diện tích phụ chung để chế biến, sản xuất, kinh doanh thức ăn đường phố.
Luật An toàn thực phẩm ra đời có những qui định nào mới trong việc phòng ngừa, ngăn chặn sự cố về an toàn thực phẩm?
Điều 49. Đối tượng phải được phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm như sau: Thực phẩm có tỷ lệ gây ngộ độc cao; Thực phẩm có kết quả lấy mẫu để giám sát cho thấy tỷ lệ vi phạm các quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm ở mức cao; Môi trường, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm bị nghi ngờ gây ô nhiễm; Thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm được phân tích nguy cơ theo yêu cầu quản lý.
Để đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm thì các cơ sở sản xuất, kinh doanh cần đảm bảo những điều theo Điều 19. Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm như sau:
1. Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Có địa điểm, diện tích thích hợp, có khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm và các yếu tố gây hại khác;
b) Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
c) Có đủ trang thiết bị phù hợp để xử lý nguyên liệu, chế biến, đóng gói, bảo quản và vận chuyển các loại thực phẩm khác nhau; có đủ trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện rửa và khử trùng, nước sát trùng, thiết bị phòng, chống côn trùng và động vật gây hại;
d) Có hệ thống xử lý chất thải và được vận hành thường xuyên theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;
đ) Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm và các tài liệu khác về toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
e) Tuân thủ quy định về sức khoẻ, kiến thức và thực hành của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
2. Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định cụ thể về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.
Đối tượng, điều kiện cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Đồng thời, thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm được qui định trong Luật này như thế nào?
Cơ sở được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Có đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm phù hợp với từng loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo quy định;
- Có đăng ký ngành, nghề kinh doanh thực phẩm trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Tổ chức, cá nhân bị thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm khi không đủ điều kiện quy định như vừa nêu.
Khi xảy ra sự cố về an toàn thực phẩm thì cần khắc phục như thế nào?
Sự cố về an toàn thực phẩm là tình huống xảy ra do ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm gây hại trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người.
Điều 53 quy định khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm là
Tổ chức, cá nhân phát hiện sự cố về an toàn thực phẩm xảy ra trong nước hoặc nước ngoài nhưng có ảnh hưởng tới Việt Nam phải khai báo với cơ sở y tế, Ủy ban nhân dân địa phương nơi gần nhất hoặc Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương để có biện pháp khắc phục kịp thời.
Các biện pháp khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm bao gồm:
- Phát hiện, cấp cứu, điều trị kịp thời cho người bị ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người;
- Điều tra vụ ngộ độc thực phẩm, xác định nguyên nhân gây ngộ độc, bệnh truyền qua thực phẩm và truy xuất nguồn gốc thực phẩm gây ngộ độc, truyền bệnh;
- Đình chỉ sản xuất, kinh doanh; thu hồi và xử lý thực phẩm gây ngộ độc, truyền bệnh đang lưu thông trên thị trường;
- Thông báo ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm cho các tổ chức, cá nhân có liên quan;
- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm.
Tổ chức, cá nhân cung cấp thực phẩm mà gây ngộ độc phải chịu toàn bộ chi phí điều trị cho người bị ngộ độc và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự.
Từ thực trạng về vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong thực tế hiện nay, thì việc ban hành Luật An toàn thực phẩm là hết sức cần thiết, góp phần bảo vệ tốt hơn sức khỏe, tính mạng của nhân dân, thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân.

 

09/05/2011 12:00 SAĐã ban hành
Từ ngày 01 tháng 7 năm 2014, sẽ xử lý hành vi đội mũ không phải mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy Từ ngày 01 tháng 7 năm 2014, sẽ xử lý hành vi đội mũ không phải mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy
Thực hiện Kế hoạch số 69/KH-UBATGTQG ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia về tổ chức chiến dịch tuyên truyền và triển khai đợt cao điểm kiểm tra, xử lý vi phạm về sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ không phải mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy; Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 1808/KH- UBND ngày 24 tháng 4 năm 20...

Thực hiện Kế hoạch số 69/KH-UBATGTQG ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia về tổ chức chiến dịch tuyên truyền và triển khai đợt cao điểm kiểm tra, xử lý vi phạm về sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ không phải mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy; Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 1808/KH- UBND ngày 24 tháng 4 năm 2014 tổ chức chiến dịch tuyên truyền và triển khai đợt cao điểm kiểm tra, xử lý vi phạm về sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ không phải mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy.

Theo đó, kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2014 sẽ xử lý hành vi đội mũ không phải mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy khi tham gia giao thông. Người tham gia giao thông bằng mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy (người điều khiển và người đi cùng) đội mũ không phải mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy sẽ bị xử phạt như hành vi không đội mũ bảo hiểm. Mức phạt cho hành vi này từ 100.000 đến 200.000 đồng (theo quy định tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt).

Mũ bảo hiểm cho người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe đạp máy đội khi tham gia giao thông là mũ có đủ các tính năng sau: Có cấu tạo đủ 3 bộ phận: vỏ mũ, đệm hấp thụ xung động bên trong vỏ mũ (đệm bảo vệ) và quai đeo; có kiểu dáng đáp ứng yêu cầu quy định. Đã được chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 2 : 2008/BKHCN ban hành kèm theo Quyết định số 04/2008/QĐ-BKHCN ngày 28 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; được gắn dấu hợp quy CR, ghi nhãn hàng hoá theo quy định của pháp luật.

Cánh nhận biết và phân biệt mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy, mũ không phải mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe gắn máy: Mũ không có đủ 3 lớp (vỏ mũ - đệm hấp thụ xung động bên trong – quai mũ), không ghi nhãn “MBH cho người đi mô tô, xe máy” và không có dấu hiệu hợp quy CR.

21/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Phỏng vấn đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.Phỏng vấn đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.
Ngày 28 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, Nghị định này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ qu...

Ngày 28 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, Nghị định này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó để làm thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài. Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký tạm trú của người đó, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Về thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, tại Điều 15 của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định:

Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do người yêu cầu nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này.

Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau: Tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định); bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế; Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người yêu cầu.

Trường hợp công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Ủy ban nhân dân cấp xã gửi văn bản xin ý kiến Sở Tư pháp kèm theo 01 bộ hồ sơ. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp thực hiện thẩm tra, xác minh và có văn bản trả lời Ủy ban nhân dân cấp xã kèm trả hồ sơ; nếu từ chối giải quyết, Sở Tư pháp giải thích rõ lý do bằng văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho người yêu cầu. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và cấp cho người yêu cầu.

Căn cứ tình hình cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định bổ sung thủ tục phỏng vấn để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Ngày 31 tháng 12 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 22/2013/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP. Tại Điều 10 của Thông tư này hướng dẫn trình tự phỏng vấn đối với người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài như sau:

Sở Tư pháp cử cán bộ tiến hành phỏng vấn đối với người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Khi phỏng vấn cán bộ Sở Tư pháp cần làm rõ sự tự nguyện, mục đích kết hôn của công dân Việt Nam; sự hiểu biết của công dân Việt Nam về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài, về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú.

Kết quả thẩm tra, xác minh, phỏng vấn bên công dân Việt Nam cho thấy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Sở Tư pháp yêu cầu bên người nước ngoài về Việt Nam để phỏng vấn làm rõ: Hai bên chênh lệch nhau từ 20 tuổi trở lên; người nước ngoài kết hôn lần thứ ba hoặc đã kết hôn và ly hôn với vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam; công dân Việt Nam không hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài; không hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú; người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho biết sẽ không có mặt để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài. Kết quả phỏng vấn phải ghi thành văn bản, có chữ ký của người phỏng vấn, người được phỏng vấn.

Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Công dân Việt Nam đề nghị cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước ngoài tại Việt Nam. Kết quả kiểm tra, xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân của đương sự trên thực tế không đúng với Tờ khai trong hồ sơ; đương sự không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Kết quả phỏng vấn cho thấy hai bên chưa có sự hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của nhau; không có sự hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của mỗi nước. Việc kết hôn của đương sự không tự nguyện, không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Việc kết hôn thông qua môi giới trái pháp luật. Lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh, kiếm lời hoặc vì mục đích trục lợi khác.

07/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Người tham gia giao thông không được thực hiện một số hành vi pháp luật  nghiêm cấmNgười tham gia giao thông không được thực hiện một số hành vi pháp luật  nghiêm cấm
Trong thời gian qua, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre diễn biến rất phức tạp, số người chết do tai nạn giao thông tăng cao, tính riêng 4 tháng đầu năm 2014, đã xảy ra 118 vụ, làm chết 75 người, bị thương 78 người (so với cùng kỳ năm 2013, tăng 36 người chết). Để hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông, người tham gia giao thông không được thực hiện một số hành...

 

 

Trong thời gian qua, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre diễn biến rất phức tạp, số người chết do tai nạn giao thông tăng cao, tính riêng 4 tháng đầu năm 2014, đã xảy ra 118 vụ, làm chết 75 người, bị thương 78 người (so với cùng kỳ năm 2013, tăng 36 người chết). Để hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông, người tham gia giao thông không được thực hiện một số hành vi pháp luật nghiêm cấm sau đây:

Khi điều khiển phương tiện giao thông không được thực hiện hành vi đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng trên đường. Vì đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tìm ẩn nguy cơ gây ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.

Hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy cũng là một trong những hành vi bị nghiêm cấm. Ma túy là một trong những chất gây nghiện, Nhà nước nghiêm cấm sử dụng trái phép, vì nếu sử dụng thì người điều khiển phương tiện tham gia giao thông không thể làm chủ được hành vi của mình, từ đó không thể điều khiển được phương tiện tham gia giao thông, nên rất dễ gây ra tai nạn giao thông cho mình và cho người khác.

Hành vi điều khiển ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn cũng là hành vi bị cấm và xử lý rất nghiêm khắc. Theo quy định, chỉ cần trong máu hoặc trong hơi thở có nồng độ cồn là bị xử phạt, bất kể nồng độ cồn là bao nhiêu. Bởi vì, rượu, bia cũng là chất gây nghiện; hơn nữa các loại xe trên là những phương tiện có nguồn nguy hiểm cao độ, nên khi gây ra tai nạn giao thông thì hậu quả rất nặng nề cho gia đình và xã hội.


Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông cũng là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi này đã gián tiếp góp phần làm cho tai nạn giao thông xảy ra. Bởi vì, mặc dù biết người thân, bạn bè của mình…không đủ điều kiện tham gia giao thông, như: không có giấy phép lái xe, không đủ tuổi điều khiển xe, không đủ sức khỏe…nhưng vẫn giao xe hoặc để cho người đó điều khiển xe, do đó tai nạn giao thông là không tránh khỏi.

Khi tham gia giao thông, người điều khiển xe cơ giới không được điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, giành đường, vượt ẩu; phải tuân thủ tốc độ tối đa cho phép ghi trên biển báo hiệu đường bộ ở tuyến đường đang lưu thông và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình để phòng ngừa tai nạn giao thông xảy ra. Bởi vì, nếu chúng ta điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định thì không thể xử lý được những tình huống đột xuất xảy ra trên đường, do đó rất dễ gây ra tai nạn giao thông. Hiệu lực của biển “Tốc độ tối đa cho phép”  bắt đầu từ vị trí đặt biển “Tốc độ tối đa cho phép” đến vị trí đặt biển “Hết hạn chế tốc độ tối đa”. Do đó, người điều khiển phương tiện giao thông trên đường phải hết sức chú ý biển báo “Tốc độ tối đa cho phép”  để chấp hành nghiêm chỉnh về tốc độ.

 

07/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tăng cường phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũngTăng cường phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng
Năm 2013, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc phối hợp với các ngành trong khối nội chính xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể tiếp tục thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Năm 2013, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc phối hợp với các ngành trong khối nội chính xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể tiếp tục thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Các cơ quan chức năng đã quan tâm phối hợp công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng bằng nhiều hình thức; triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng; thường xuyên kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện xử lý các vụ việc vi phạm, góp phần ngăn chặn hành vi tham nhũng, lãng phí.

Tuy nhiên, việc tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân hiện nay hiệu quả còn thấp. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại một số ban, ngành tỉnh và  địa phương còn hạn chế, nhất là việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao.

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ; Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân  từ năm 2012 đến năm 2016” của Bộ Tư pháp; Sở Tư pháp cần chủ động phối hợp các ngành có liên quan, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch và tập trung triển khai nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến các quy định của Hiến pháp năm 2013 có liên quan đến phòng, chống tham nhũng; Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng; Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Khiếu nại, Luật tố cáo; Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

Thông qua các hoạt động tổ chức tập huấn, nói chuyện, sinh hoạt chuyên đề pháp luật về phòng, chống tham nhũng (có thể lòng ghép sinh hoạt với đảng bộ, chi bộ, cơ quan, đoàn thể; sinh hoạt ngày pháp luật tại cơ quan, đơn,vị); trên các phương tiện thông tin đại chúng: Báo Đồng Khởi; Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh; Đài truyền thanh các huyện, thành phố; Trang thông tin điện tử (Wesite), Bản tin các sở, ngành; xây dựng chuyên trang, chuyên mục; biên soạn, nhân bản, phát hành tài liệu có liên quan đến phòng, chống tham nhũng.

Xây dựng mô hình điểm về tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng theo hướng: Thí điểm xây dựng 01 mô hình tại cơ quan, đơn vị; trực tiếp giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp với các hoạt động nói chuyện chuyên đề, niêm yết công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí; bảng nội quy, quy chế….Thí điểm xây dựng 01 mô hình tại các xã, phường, thị trấn; tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho “Nhóm nòng cốt” để tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành pháp luật tại cộng đồng; tổ chức nói chuyện chuyên đề, đối thoại về thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng; khiếu nại, tố cáo tại địa bàn dân cư; tổ chức các buổi thông tin lưu động, chiếu tiểu phẩm, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ; tổ chức các cuộc thi dưới hình thức sân khấu hóa tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật hàng năm (có thể lồng ghép với việc thực hiện các đề án khác); bảo đảm 70% báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật được bồi dưỡng, tập huấn. Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo chủ chốt, công chức làm công tác pháp chế, thanh tra sở, ban, ngành tỉnh; cán bộ, công chức cấp huyện, xã; nhất là cán bộ, công chức ở vị trí dễ xảy ra tiêu cực, tham nhũng.

16/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thực hiện có hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2014Thực hiện có hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2014
Năm 2013, Bến Tre đã triển khai thực hiện chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) đạt nhiều kết quả khá tốt. Có 625 đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; trong đó, có 38 đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động; 64 đơn vị đảm bảo một phần kinh phí hoạt động. Có 920/1.035 đơn vị đã thực hiện thanh toán lương qua tài khoản.

Năm 2013, Bến Tre đã triển khai thực hiện chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) đạt nhiều kết quả khá tốt. Có 625 đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; trong đó, có 38 đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động; 64 đơn vị đảm bảo một phần kinh phí hoạt động. Có 920/1.035 đơn vị đã thực hiện thanh toán lương qua tài khoản.

Cơ quan tài chính thực hiện thẩm định 1.179 nội dung mua sắm, sửa chữa tài sản của các cơ quan, đơn vị với giá trị đề nghị là 55.253 triệu đồng, giá trị thẩm định là 54.656 triệu đồng, tiết kiệm cho ngân sách 597 triệu đồng. Đã trang bị 23 xe ô tô  theo dự toán được giao với kinh phí thực hiện là 18.034 triệu đồng, giảm so với dự toán là 480 triệu đồng.

Qua kiểm tra phát hiện có 16/46 đơn vị vi phạm về nguyên tắc tài chính, kế toán; hồ sơ thiết kế trong xây dựng; kê khai và nộp thuế chưa đúng, đủ theo quy định; đơn vị tư vấn, giám sát chưa thực hiện hết trách nhiệm, nên không phát hiện sai sót trong thiết kế, nghiệm thu các công trình. Tổng số tiền phát hiện sai phạm trên 1.900 triệu đồng, trong đó thu hồi trong quá trình thanh tra trên 150 triệu đồng; kiến nghị thu hồi 660 triệu đồng và kiến nghị khác  trên 1.200 triệu đồng.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả THTK, CLP năm 2014; khắc phục và đẩy lùi tình trạng lãng phí đang diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế -xã hội hiện nay; nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực để đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội. Các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và công dân cần thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt các văn bản có liên quan đến THTK, CLP nâng cao nhận thức hiểu biết pháp luật để có những hành động, việc làm cụ thể trong THTK, CLP.

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, tiêu chuẩn, định mức; cần rà soát hệ thống các chế độ, định mức đã ban hành không còn phù hợp để đề xuất, tham mưu cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp.

Phải thực hiện nghiêm Luật Ngân sách nhà nước ở tất cả các khâu lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ dự toán, quản lý, sử dụng, kiểm soát chi và quyết toán kinh phí Ngân sách nhà nước.

Kiểm soát chặt chẽ việc chi: tổ chức hội nghị, hội thảo, đi công tác nước ngoài, lễ hội, lễ kỷ niệm, khởi công, khánh thành, tổng kết, mua sắm tài sản và các khoản chi chưa cần thiết khác. Việc mua sắm, sử dụng phương tiện đi lại, phương tiện, thiết bị làm việc phải đúng mục đích, đối tượng. Có trách nhiệm bố trí, phân công người quản lý, sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng, mở sổ theo dõi; ban hành quy chế về chi tiêu nội bộ, quản lý, sử dụng tài sản. Đảm bảo thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên để tạo nguồn thực hiện tiền lương mới.

Thực hiện đúng quy trình, quy chế quản lý đầu tư; đầu tư có tập trung, không dàn trải. Nâng cao chất lượng khảo sát, lập dự toán; thực hiện nghiêm quy trình tổ chức đấu thầu. Tăng cường quản lý tiến độ, chất lượng công trình xây dựng; kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công.

Việc quản lý, sử dụng đất phải đảm bảo đúng quy hoạch, kế hoạch, mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường. Việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch khai thác và bảo vệ tài nguyên đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định.

Rà soát các quy định về đào tạo, quản lý, sử dụng lao động, thời gian lao động; không để mất cân đối giữa đào tạo với sử dụng lao động; tuyển dụng không phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động; sử dụng lao động không đúng với chuyên môn, ngành nghề, năng lực, sở trường. Việc tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, lễ kỷ niệm phải bảo đảm đúng mục đích, thành phần, đối tượng và tiết kiệm.

16/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Những hành vi tham nhũng bị xử lý theo quy định của Bộ Luật hình sựNhững hành vi tham nhũng bị xử lý theo quy định của Bộ Luật hình sự
Tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, người có hành vi tham nhũng tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tại Điều 4 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định nguyên tắc xử lý tham nhũng như sau: Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử l...

Tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, người có hành vi tham nhũng tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tại Điều 4 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định nguyên tắc xử lý tham nhũng như sau: Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh. Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật. Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát hiện, tích cực hạn chế thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng thì có thể được xem xét giảm nhẹ hình thức kỷ luật, giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc xử lý tham nhũng phải được thực hiện công khai theo quy định của pháp luật. Người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác vẫn phải bị xử lý về hành vi tham nhũng do mình đã thực hiện.

Các hành vi tham nhũng được quy định cụ thể tại Điều 3 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 gồm các hành vi: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013  của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng thì các hành vi tham nhũng được quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng được xác định theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999.

Cụ thể, Bộ Luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định các hành vi tham nhũng ở phần các tội phạm về tham nhũng như sau:

Tội tham ô tài sản (Điều 278): Hành vi tham nhũng thuộc tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp: gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Tội nhận hối lộ (Điều 279): Hành vi tham nhũng thuộc tội nhận hối lộ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280): Hành vi tham nhũng thuộc tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281): Hành vi tham nhũng thuộc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282): Hành vi tham nhũng thuộc tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi (Điều 283): Hành vi tham nhũng thuộc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm.

Tội giả mạo trong công tác (Điều 284): Hành vi tham nhũng thuộc tội giả mạo trong công tác là hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi: sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

21/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013
Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổ...

Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống kinh - xã hội.


Tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước được phát động của ngành Tư pháp, của tỉnh và của cụm thi đua Khối Nội chính. Năm 2013, Sở Tư pháp đã phấn đấu, nỗ lực cụ thể hóa nội dung, tiêu chí thi đua vào từng lĩnh vực chuyên môn, gắn liền với từng giai đoạn cụ thể (thi đua ngắn hạn, dài hạn và đột xuất) với một số kết quả đáng ghi nhận. Cụ thể:

Tổ chức góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 - một sự kiện chính trị, pháp lý quan trọng của đất nước. Sở Tư pháp đã tích cực tham mưu Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và báo cáo kết quả về Ủy ban dự thảo, Bộ Tư pháp theo đúng thời gian quy định. Tổ chức in ấn và phát hành 820 quyển, 360.600 phiếu lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với khoảng 43.000.000 lượt ý kiến.

Đã thẩm định, góp ý văn bản kịp thời, đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo chất lượng, tính khả thi, hợp lý của dự thảo văn bản cụ thể gồm: thẩm định 133 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, gồm 37 dự thảo nghị quyết, 85 dự thảo quyết định và 11 dự thảo chỉ thị (tăng 35 văn bản so với năm 2012), tham gia góp ý 160 dự thảo văn bản (trong đó có 60 cuộc họp góp ý và góp ý 18 văn bản của trung ương).

Thực hiện việc tự kiểm tra 1.803 văn bản, trong đó: cấp tỉnh 35 văn bản, cấp huyện 1.768 văn bản theo đúng quy trình, thời gian quy định, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý các văn bản có nội dung và hình thức không phù hợp với quy định. Bên cạnh đó, đã tiếp nhận, kiểm tra theo đúng thẩm quyền 766 văn bản (cấp tỉnh kiểm tra 117 văn bản, cấp huyện kiểm tra 649 văn bản). Đặc biệt trong năm 2013, đã chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch và tổ chức triển khai, báo cáo kết quả tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành từ năm 1976 đến ngày 31/12/2012. Kết quả: đã kiến nghị công bố 260 văn bản hết hiệu lực thi hành; kiến nghị bãi bỏ 192 văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành có nội dung không còn phù hợp; kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần 15 nghị quyết có nội dung không còn phù hợp.


Thời gian qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã mang lại hiệu quả thiết thực; nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Đội ngũ làm công tác PBGDPL cấp tỉnh, cấp huyện thường xuyên được củng cố, kiện toàn, tăng về số lượng, chất lượng; được tập huấn, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo phục vụ ngày càng tốt hơn công tác PBGDPL. Toàn tỉnh hiện có 222 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện; 2.473 tuyên truyền viên pháp luật cấp xã. Hoạt động hòa giải ở cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả. Hiện nay, toàn tỉnh có 983 Tổ hòa giải/983 ấp, khu phố (đạt 100%) với hơn 7.400 hòa giải viên; đã tổ chức 05 lớp tập huấn và cấp phát trên 600 tài liệu cho các Tổ hòa giải. Kết quả hòa giải thành trên địa bàn tỉnh đạt trên 82,5% (tăng 2,16% so với năm 2012).

Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) ở địa phương từng bước củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy và đội ngũ thực hiện công tác TGPL, qua đó nâng cao chất lượng vụ việc TGPL và ngày càng đi vào chiều sâu, tăng cường đưa hoạt động TGPL về cơ sở, gắn chặt với công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chú trọng tại các địa bàn khó khăn, ven biển. Năm 2013, đã thực hiện TGPL cho người thuộc đối tượng là 828 vụ việc. Ngoài ra, còn tư vấn trực tiếp cho một số người không thuộc đối tượng được TGPL thông qua hình thức tư vấn tại trụ sở, TGPL lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ; thực hiện 63 đợt TGPL lưu động với 3.478 người dân tham gia, cấp phát 17.130 tờ gấp pháp luật cho người dân.

Lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch, chứng thực đã đi vào nền nếp, các sự kiện hộ tịch được đăng ký đúng quy định, đặc biệt là người dân đi đăng ký khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn quy định ngày càng tăng, đã kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của người dân. Trong năm, đã giải quyết 211 trường hợp đăng ký kết hôn; đăng ký khai sinh 134 (đăng ký lại 62, trẻ em 72); khai tử 08; nhận cha, mẹ, con 33; ghi chú 103 (kết hôn 27, ly hôn 76); quốc tịch 03; các trường hợp khác 504. Công tác lý lịch tư pháp, được triển khai khá đồng bộ, tiếp tục xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho người dân ngày càng tốt hơn; phối hợp chặt chẽ trong việc đối chiếu thông tin lý lịch tư pháp, đã cấp 3.178 phiếu lý lịch tư pháp trong năm.

Chú trọng xã hội hóa hoạt động công chứng: Năm 2013, toàn tỉnh có 05 tổ chức hành nghề công chứng với 08 công chứng viên; cơ sở vật chất của các tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu theo quy định. Đã giải quyết 21.703 hợp đồng, giao dịch của khách hàng theo đúng quy định của pháp luật (tăng 6.884 hợp đồng, giao dịch so với năm trước), tổng số phí thu được là 4.211.974.000 đồng (tăng 494.989.000 đồng so với năm trước).

Hoạt động bán đấu giá tài sản: đã xây dựng và áp dụng quy trình phần mềm bán đấu giá và chính thức đưa vào hoạt động kể từ tháng 01/2013, trong năm đã thực hiện 588 hợp đồng bán đấu giá tài sản của các cơ quan, đơn vị gửi bán, đã bán được 114 hợp đồng với số phí thu được là 6.164.980.000 đồng.

Về công tác quản lý luật sư: Toàn tỉnh có 35 luật sư với 24 tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động. Thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch, phối hợp đào tạo nghiệp vụ luật sư tại tỉnh Bến Tre với 66 học viên. Tiếp nhận và giải quyết cấp giấy đăng ký hoạt động cho 02 Văn phòng luật sư và quyết định thu hồi 01 giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng và 03 Chi nhánh. Phối hợp kiểm tra về tổ chức và hoạt động của 06 tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.

Với những kết quả đạt được như trên, tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua yêu nước năm 2013 và phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2014, Sở Tư pháp đã vinh dự được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước tỉnh Bến Tre năm 2013.

19/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn