Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksPhổ biến giáo dục pháp luật

 
Phổ biến giáo dục pháp luật - Đề cương PBGDPL
Đề cương phòng chống tội phạm công nghệ cao 
 
Sổ tay phòng chống tội phạm công nghệ cao 
 
Đề cương phòng chống tội phạm ma túy 
 
Sổ tay phòng chống tội phạm ma túy 
 
Tờ bướm hợp đồng lao động 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được các nước ASEAN và Trung Quốc ký ngày 04/11/2002 tại Campuchia nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8. Đây là văn kiện chính trị đầu tiên mà ASEAN và Trung Quốc đạt được có liên quan đến vấn đề Biển Đông và được coi là bước đột phá trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. DOC phản ánh nguyện vọng chung của các quốc gia t...

 

Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được các nước ASEAN và Trung Quốc ký ngày 04/11/2002 tại Campuchia nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8. Đây là văn kiện chính trị đầu tiên mà ASEAN và Trung Quốc đạt được có liên quan đến vấn đề Biển Đông và được coi là bước đột phá trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. DOC phản ánh nguyện vọng chung của các quốc gia trong khu vực về giữ gìn hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực Biển Đông, giúp thúc đẩy việc tăng cường hợp tác, xây dựng lòng tin và giảm căng thẳng, nguy cơ xung đột.

 

Mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của DOC được nêu ngay trong phần mở đầu của Tuyên bố. Đó là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình và lâu dài cho tranh chấp ở Biển Đông, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác hiện có giữa các bên ký kết. Ngoài ra, DOC còn tạo bước đệm cho việc tiếp tục xây dựng và tiến tới ký kết COC. Như vậy, có thể khẳng định rằng DOC không phải là một văn kiện để giải quyết tranh chấp, mà chỉ tạo điều kiện, cơ hội cho các bên tìm kiếm một giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu mà DOC đặt ra là phù hợp vì các bên đều hiểu rằng trước mắt chưa thể có một giải pháp nào giải quyết dứt điểm tranh chấp ở Biển Đông. Tranh chấp ở Biển Đông cần phải được giải quyết từng bước một, vì vậy trước mắt là phải tạo ra được một môi trường hợp tác, thân thiện thông qua các biện pháp xây dựng lòng tin và các hoạt động hợp tác, làm tiền đề cho một giải pháp lâu dài hơn.

 

Nội dung chính của DOC có thể được chia thành 3 nhóm chính:

 

Nhóm 1: Nhóm các vấn đề liên quan đến luật pháp quốc tế: trong đó các bên khẳng định tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước 1982, Hiệp ước thân thiện và hữu nghị (TAC), năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, coi đây là các nguyên tắc nền tảng điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia; giải quyết các tranh chấp liên quan đến Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực.

 

Nhóm 2: Nhóm các vấn đề liên quan đến hoạt động xây dựng lòng tin: Các bên khẳng định sẽ nỗ lực trên tinh thần hợp tác và hiểu biết lẫn nhau nhằm tìm ra các phương cách xây dựng lòng tin bao gồm các biện pháp như: tiến hành đối thoại quốc phòng, đối xử nhân đạo với người bị nạn, trao đổi thông tin trên cơ sở tự nguyện. Sẵn sàng trao đổi, tham khảo ý kiến kể cả trao đổi ý kiến thường niên về việc tuân thủ DOC.

 

Các biện pháp cụ thể để thúc đẩy và xây dựng lòng tin được cụ thể hóa tại điểm 5 trong DOC. Theo đó, nghĩa vụ chung của các quốc gia phải thực hiện là tự kiềm chế (self-restraint), không có các hành động gây phức tạp và gia tăng tranh chấp có thể ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Bốn biện pháp cụ thể xây dựng lòng tin giữa các bên, gồm: Tiến hành đối thoại và trao đổi quan điểm, khi thích hợp, giữa các quan chức quốc phòng và quân sự của các bên; Bảo đảm đối xử công bằng và nhân đạo đối với những người gặp nguy hiểm hoặc tai họa; Thông báo, trên cơ sở tự nguyện, cho các bên khác về các hoạt động tập trận chung hoặc phối hợp; Trao đổi các thông tin có liên quan trên cơ sở tự nguyện.

 

Nhóm 3: Nhóm các vấn đề liên quan đến hoạt động hợp tác: các bên cam kết trong khi chờ đợi một giải pháp lâu dài và toàn diện cho vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, các bên có thể thăm dò, hoặc tiến hành hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như: bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển, an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia. Tuy nhiên, để tránh việc các bên có thể lợi dụng các hoạt động hợp tác để gây phương hại đến quyền lợi của các bên khác, DOC quy định thể thức, phạm vi và địa điểm liên quan đến hợp tác song phương và đa phương phải được các bên liên quan nhất trí trước khi thực hiện.

 

DOC đã cụ thể hóa yêu cầu hợp tác trong 5 lĩnh vực: Bảo vệ môi trường biển; Nghiên cứu khoa học biển; An toàn và an ninh hàng hải; Tìm kiếm cứu nạn trên biển; Chống tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm và không giới hạn ở hoạt động buôn bán ma túy, cướp biển và cướp tàu có vũ trang và buôn lậu vũ khí.

 

Các lĩnh vực hợp tác này được coi là ít nhạy cảm và là các biện pháp hỗ trợ cho việc xây dựng lòng tin giữa các bên. Các lĩnh vực hợp tác này được quy định trong Công ước Luật biển 1982 và trên thực tế đã được triển khai song phương hoặc đa phương giữa các nước trong khu vực. Ban đầu các bên chỉ tập trung hợp tác trong các lĩnh vực này là hợp lý, vì phù hợp với khả năng của các bên và điều kiện, hoàn cảnh ở Biển Đông.

 

Trích từ trang thông tin PBGDPL thuộc Cổng TTĐT Bộ Tư pháp

14/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Cần có một tấm lòngTiểu phẩm: Cần có một tấm lòng
13/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Cái nhìn đáng ghétTiểu phẩm: Cái nhìn đáng ghét
13/12/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Chia thế nào?Tiểu phẩm: Chia thế nào?
13/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Chính sách hỗ trợ nhân đạo cho nạn nhân bị tai nạn do xe cơ giới gây raChính sách hỗ trợ nhân đạo cho nạn nhân bị tai nạn do xe cơ giới gây ra
Thế nào là xe cơ giới? Và nạn nhân của vụ tai nạn giao thông thuộc trường hợp nào mới được hưởng chính sách hỗ trợ nhân đạo?

Theo quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thì xe cơ giới gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.

Theo số liệu thống kê hàng năm có khoảng 12.000 người bị tử vong tại hiện trường vụ tai nạn giao thông, chưa kể đến số người bị tử vong sau thời gian cấp cứu điều trị tai nạn. Trong số này có không ít trường hợp người gây ra tai nạn bỏ chạy không chịu trách nhiệm về hành vi của mình, vì vậy gia đình nạn nhân của vụ tại nạn phải chịu sự mất mát không chỉ về tinh thần mà một sự bù đắp vật chất cũng không có. Những gia đình của nạn nhân có hoàn cảnh khó khăn thì khó khăn lại chồng chất khó khăn. Để phần nào giúp đỡ gia đình của nạn nhân trong trường hợp này, nhà nước ta đã có chính sách nhân đạo hỗ trợ cho nạn nhân bị tai nạn do xe cơ giới gây ra, theo Thông tư số 103/2009/TT-BTC ngày 25/5/2009 về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và Quyết định số 09/QXCG-09/HĐQL ngày 23/9/2009 của Hội đồng quản lý Quỹ bảo hiểm xe cơ giới về việc Ban hành Quy trình giải quyết hỗ trợ nhân đạo thì: nạn nhân bị tai nạn giao thông do xe cơ giới gây ra trong các trường hợp “Không xác định được xe gây tai nạn; không được doanh nghiệp bảo hiểm giải quyết bồi thường vì loại trừ bảo hiểm” với số tiền hỗ trợ là 5 triệu đồng/người. Tuy số tiền không nhiều nhưng cũng phần nào giúp đỡ được những gia đình có nạn nhân trong vụ tai nạn không có người chịu trách nhiệm này.

Gia đình, người thân của người là nạn nhân của vụ tai nạn giao thông thuộc trường hợp trên liên hệ với Văn phòng quỹ bảo hiểm xe cơ giới để nộp hồ sơ bồi thường nhân đạo. Hồ sơ như sau:

+ Đối với trường hợp không xác định được xe gây tai nạn, hồ sơ giải quyết bồi thường nhân đạo bao gồm: Giấy đề nghị hỗ trợ nhân đạo (Mẫu số 02/QXCG – 09/HTNĐ kèm theo tin này); giấy chứng tử của nạn nhân (bản sao có công chứng); kết luận của cơ quan công an giải quyết tai nạn (bản chính) trong đó ghi rõ không xác định được xe gây tai nạn.

+ Đối với trường hợp không được doanh nghiệp bảo hiểm giải quyết bồi thường vì loại trừ bảo hiểm thì hồ sơ giải quyết bồi thường nhân đạo bao gồm: Giấy đề nghị hỗ trợ nhân đạo; giấy chứng tử của nạn nhân (bản sao có công chứng);kết luận của cơ quan công an giải quyết tai nạn (bản chính) trong đó ghi rõ Biển kiểm soát xe, lái xe, chủ xe gây tai nạn và nguyên nhân gây tai nạn, những vi phạm của chủ xe và lái xe (nếu có); hồ sơ liên quan đến bảo hiểm như giấy chứng nhận bảo hiểm, phô tô có công chứng; công văn từ chối bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm (bản chính)

 

* Hồ sơ gửi về:

Địa chỉ: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Tầng 8, 141 đường Lê Duẩn, Hà Nội.

* Lưu ý:

Đối tượng được hỗ trợ nhân đạo trong trường hợp này là người thứ ba hoặc hành khách trên xe bị chết do xe cơ giới gây ra từ tháng 8 năm 2009.

* Mọi thắc mắc xin liên hệ số điện thoại: 04. 3942.8106

 

 

24/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Ăn tết thả gaTiểu phẩm: Ăn tết thả ga
13/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Phỏng vấn: Luật đất đai năm 2013Phỏng vấn: Luật đất đai năm 2013
13/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Rác tự phátTiểu phẩm: Rác tự phát
13/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
KHÔNG CHỈ LÀ NGHĨA VỤKHÔNG CHỈ LÀ NGHĨA VỤ
  Normal 0   false false false        MicrosoftInternetExplorer4       “Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ”
Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

“Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ”

Trên đây là nghĩa vụ và quyền của con được quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Không có sự quy định của luật thì là một người con chắc có lẽ ai cũng phải biết điều đó, bởi có câu “Người với người sống để yêu nhau”, nếu chỉ là người với người thôi thì cũng đã biết thương yêu nhau rồi thì lẽ tất nhiên nếu là giữa con cái và cha mẹ thì tình người ấy càng cao vì cha mẹ là người sinh ra ta và nuôi dưỡng ta nên người. Thế nhưng nếu ai cũng biết hiếu thảo với cha mẹ chắc cuộc sống này trở nên rất đẹp vì không phải chứng kiến những cảnh đau lòng khi có những người làm trái đi bổn phận của người con, thay vì hiếu thảo, chăm sóc cha mẹ khi họ về già, đằng này nó hoàn toàn ngược lại và khi này lại đúng với câu “Cha mẹ nuôi con biển hồ lay láng, con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày”, họ cho rằng cha mẹ là gánh nặng, là cục nợ mà kiếp trước họ đã mắc nợ và giờ này phải trả cho xong. Không ít cảnh những người cha, người mẹ nước mắt chan cơm trong những bữa ăn, họ khóc không vì trong bữa ăn chỉ toàn là rau, nước mắn vì bao nhiêu đó đã thấm thía gì đối với những ngày cực khổ nuôi con; mà họ khóc, đau khổ là vì thái độ của đứa con mà mình yêu thương nuôi nấng cho đến khi trưởng thành giờ này lại đối xử tệ bạc với họ, nuôi con không mong gì con nuôi lại, nhưng tuổi già, sức yếu biết nương tựa vào ai ngoài con.

Thực tế không chỉ có những người con bạc đãi cha mẹ trong những bữa ăn mà có rất nhiều trường hợp ngày nào cũng chì chiết, mắng chữi cha mẹ không thương tiết, câu nói đau lòng nhất là “già rồi sống làm chi khổ con khổ cháu”, không biết lúc họ thốt ra những điều ấy thì trong đầu họ đang nghĩ gì? Sao họ không nghĩ rằng lời mình chữi thật ra thì nó có hay như là những lời ru của cha mẹ khi họ còn tấm bé, có hay bằng những lời dạy dỗ ngọt ngào của mẹ, những dạy dỗ nghiêm khắc nhưng đầy sự yêu thương của cha, hay họ chữi chỉ để hả những sự bực dọc trong người do cuộc sống mang lại, do những men rượu mang lại. Những hành động đáng chê trách của con cái đối với cha mẹ không hề được xã hội công nhận mà chỉ nhận được những cái nhìn, những sự chỉ trích, sự xa lánh của mọi người và đáng lên án hơn khi có những người ra đường xem bạn bè thì quý mà về nhà không hề biết hiếu thảo với cha mẹ.

Những hành động ngược đãi của con cái đối với cha mẹ không chỉ là hành vi bạo lực gia đình được quy định trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, mà nó còn vi phạm đạo đức xã hội, đạo đức con người một cách nghiêm trọng.

Con cái có bổn phận quý trọng, hiếu thảo với cha mẹ việc làm này luôn được xã hội khuyến khích, hoan nghênh, đó không chỉ là nghĩa vụ mà còn là đạo đức của một con người.

03/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Con vẫn là conTiểu phẩm: Con vẫn là con
19/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Những quy định cấm hoạt động trong vùng biển Việt NamNhững quy định cấm hoạt động trong vùng biển Việt Nam
Luật Biển Việt Nam nêu rõ trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam phải tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia của Việt Nam, tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tàu thuyền, tổ chức, cá nhân hoạt động tr...

 

Luật Biển Việt Nam nêu rõ trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam phải tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia của Việt Nam, tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tàu thuyền, tổ chức, cá nhân hoạt động trong vùng biển Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế  mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, Luật Biển Việt Nam cũng có những quy định cấm hoạt động trong vùng biển Việt Nam.

 

Tại Điều 37 Luật Biển Việt Nam quy định cấm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Khi thực hiện quyền tự do hàng hải, tự do hàng không trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, tổ chức, cá nhân không được tiến hành các hoạt động sau đây: Đe dọa chủ quyền, quốc phòng, an ninh của Việt Nam; khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, đánh bắt hải sản trái phép; khai thác trái phép dòng chảy, năng lượng gió và tài nguyên phi sinh vật khác; xây dựng, lắp đặt, sử dụng trái phép các thiết bị, công trình nhân tạo; khoan, đào trái phép; tiến hành nghiên cứu khoa học trái phép; gây ô nhiễm môi trường biển; cướp biển, cướp có vũ trang; các hoạt động bất hợp pháp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.

 

Về việc cấm tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí, chất nổ, chất độc hại, Điều 38 Luật Biển Việt Nam quy định: Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí hoặc chất nổ, chất độc hại cũng như các loại phương tiện thiết bị khác có khả năng gây hại đối với người, tài nguyên và ô nhiễm môi trường biển.

 

Về việc cấm mua bán người, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy Điều 39 Luật Biển Việt Nam quy định: Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được mua bán người, vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy. Khi có căn cứ về việc tàu thuyền, tổ chức, cá nhân đang mua bán người hoặc vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy thì lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam có quyền tiến hành khám xét, kiểm tra, bắt giữ, dẫn giải về các cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam hoặc dẫn giải, chuyển giao đến các cảng, bến hay nơi trú đậu của nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để xử lý.

 

Về cấm phát sóng trái phép Điều 40 Luật Biển Việt Nam quy định: Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được phát sóng trái phép hoặc tuyên truyền, gây phương hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

12/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt NamĐi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam
Phù hợp với quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, Luật Biển Việt Nam năm 2012 quy định tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam và nghĩa vụ khi thực hiện quyền đi qua không gây hại tại Chương 3 về hoạt động trong vùng biển Việt Nam.

 

Phù hợp với quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, Luật Biển Việt Nam năm 2012 quy định tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam và nghĩa vụ khi thực hiện quyền đi qua không gây hại tại Chương 3 về hoạt động trong vùng biển Việt Nam.

 

Đi qua lãnh hải là việc tàu thuyền nước ngoài đi trong lãnh hải Việt Nam nhằm một trong các mục đích sau: Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thủy Việt Nam, không neo đậu lại trong một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam; đi vào hoặc rời khỏi nội thủy Việt Nam hay đậu lại hoặc rời khỏi một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam.

 

Việc đi qua lãnh hải phải liên tục và nhanh chóng, trừ trường hợp gặp sự cố hàng hải, sự cố bất khả kháng, gặp nạn hoặc vì mục đích phải cứu giúp người, tàu thuyền hay tàu bay đang gặp nạn.

 

Việc đi qua không gây hại trong lãnh hải không được làm phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn trên biển. Việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam bị coi là gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn xã hội nếu tàu thuyền đó tiến hành bất kỳ một hành vi nào sau đây: Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc; luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào; thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam; tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam; phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện bay lên tàu thuyền; phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền; bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế, y tế hoặc xuất nhập cảnh; cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển; đánh bắt hải sản trái phép; nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép; làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thông tin liên lạc hoặc của thiết bị hay công trình khác của Việt Nam; tiến hành hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

 

Về nghĩa vụ khi thực hiện quyền đi qua không gây hại, Điều 24 Luật Biển Việt Nam quy định khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có nghĩa vụ tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về nội dung sau đây: An toàn hàng hải và điều phối giao thông đường biển, tuyến hàng hải và phân luồng giao thông; bảo vệ thiết bị và hệ thống bảo đảm hàng hải, thiết bị hay công trình khác; bảo vệ đường dây cáp và ống dẫn; bảo tồn tài nguyên sinh vật biển; hoạt động đánh bắt, khai thác và nuôi trồng hải sản; gìn giữ môi trường biển, ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển và đo đạc thủy văn; hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh.

 

Do tính chất đặc biệt và độ nguy hiểm cao của tàu thuyền chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở các chất phóng xạ, chất độc hại, nguy hiểm nên luật pháp quốc tế đòi hỏi các tàu thuyền nước ngoài như trên cần phải tuân thủ một số yêu cầu nghiêm ngặt hơn so với các tàu khác. Do vậy, Luật Biển Việt Nam quy định nghĩa vụ của thuyền trưởng tàu thuyền nước ngoài chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở chất phóng xạ, chất độc hại hoặc nguy hiểm, khi đi trong lãnh hải Việt Nam có nghĩa vụ sau đây:

 

Mang đầy đủ tài liệu kỹ thuật liên quan tới tàu thuyền và hàng hóa trên tàu thuyền, tài liệu về bảo hiểm dân sự bắt buộc;

 

Sẵn sàng cung cấp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam mọi tài liệu liên quan đến thông số kỹ thuật của tàu thuyền cũng như của hàng hóa trên tàu thuyền;

 

Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa đặc biệt đúng theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên áp dụng đối với các loại tàu thuyền này;

 

Tuân thủ quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam về việc áp dụng biện pháp phòng ngừa đặc biệt, kể cả cấm không được đi qua lãnh hải Việt Nam hoặc buộc phải rời ngay khỏi lãnh hải Việt Nam trong trường hợp có dấu hiệu hoặc bằng chứng rõ ràng về khả năng gây rò rỉ hoặc làm ô nhiễm môi trường.

 

Ngoài ra, Luật Biển Việt Nam quy định về tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại. Theo đó  Chính phủ quy định về việc công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại nhằm bảo đảm an toàn hàng hải. Tàu thuyền nước ngoài chở dầu hoặc chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở chất phóng xạ, chất độc hại hay nguy hiểm khi đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam có thể bị buộc phải đi theo tuyến hàng hải quy định cụ thể cho từng trường hợp.

14/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Lập di chúc việc cần làmLập di chúc việc cần làm
Hiện nay tình hình tranh chấp đất đai trong nội tộc rất phổ biến, chủ yếu là anh em tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất với nhau. Nguyên nhân là khi còn sống cha mẹ không lập di chúc nói rõ ý nguyện phân chia tài sản cho con cái thế nào, hoặc có trường hợp có lập văn bản nhưng không thể hiện đó là di chúc như tờ tương phân hay tờ ủy quyền, dẫn đến việc khi cha mẹ mất anh em không tự thỏa thuận ph...
Hiện nay tình hình tranh chấp đất đai trong nội tộc rất phổ biến, chủ yếu là anh em tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất với nhau.

Nguyên nhân là khi còn sống cha mẹ không lập di chúc nói rõ ý nguyện phân chia tài sản cho con cái thế nào, hoặc có trường hợp có lập văn bản nhưng không thể hiện đó là di chúc như tờ tương phân hay tờ ủy quyền, dẫn đến việc khi cha mẹ mất anh em không tự thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mà tranh giành, mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp, thưa kiện rất phức tạp, mất hết tình nghĩa.

Thực tế theo tập quán địa phương, người dân thường xử sự theo cách: Nếu cha mẹ có đất đai, tài sản thì khi những người con lớn lập gia đình, ra ở riêng thường được cho một phần đất để cất nhà sinh sống hoặc được hỗ trợ một khoản tiền hay vàng làm vốn. Phần nhà đất còn lại ai sống cùng cha mẹ thì quản lý, sử dụng đồng thời có trách nhiệm thờ cúng. Phần tài sản này thường được nhìn nhận như phần di sản thờ cúng (hương hỏa) và trước đây thường người con út đảm trách nghĩa vụ thờ cúng nên trực tiếp quản lý phần tài sản cha mẹ để lại. Vì vậy mới có câu “Giàu út ăn nghèo út chịu” hay “Giàu con út, khó con út”. Hiện nay do điều kiện xã hội phát triển thì không nhất thiết phải là con út mà bất kỳ con nào sống cùng cha mẹ thì quản lý tài sản và thờ cúng theo thỏa thuận trong gia đình.  Nhưng theo pháp luật thì nếu không có di chúc thì phần tài sản của cha mẹ để lại là di sản, nếu trong gia đình thuận thảo, tự phân chia hay thống nhất giao cho ai thì tốt. Nếu không đồng thuận sẽ phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn dẫn đến kiện tụng rất phức tạp. Nếu đã yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật thì  phải chứng minh đầy đủ về quan hệ thừa kế của những người đồng thừa kế và phải có sự tham gia của tất cả các đồng thừa kế. Tài sản là di sản thừa kế nếu chia theo pháp luật thì ai cũng có quyền thừa hưởng như nhau không phân biệt con trai, con gái, con đẻ, con nuôi, con trong giá thú, con ngoài giá thú. Cũng không phân biệt người con nào trước đây đã được cha mẹ cho đất, cho tiền hay vàng rồi. Cũng không phân biệt giàu nghèo, công sức đóng góp phụng dưỡng cha, mẹ.

Việc giải quyết phân chia đi sản theo pháp luật còn phụ thuộc vào thời hiệu, vào kết quả thi hành án vốn không dễ dàng.

Nói chung nguy cơ khi đã được phân xử theo pháp luật thì cũng chưa hẳn đã đảm bảo đạo lý và sự công bằng. Còn về tình cảm thì khó tránh khỏi sứt mẻ.

Vì vậy để đảm bảo quyền định đoạt của người có tài sản, tránh những tranh chấp phát sinh, huynh đệ tương tàn thì việc chủ động lập di chúc khi còn minh mẩn là việc cần làm, nên làm càng chặt chẽ, đầy đủ càng tốt.

Pháp luật cho phép bất kỳ ai có tài sản hợp pháp đều có quyền lập di chúc. Ngay cả người từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi cũng có thể lập di chúc nếu được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế hoặc truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, phân định di sản cho từng người thừa kế; dành phần tài sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc; người quản lý di sản, người phân chia di sản. Những quyền này được thể hiện trong nội dung của di chúc.

Di chúc được lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực sẽ đảm bảo giá trị pháp lý.

Dù đã lập di chúc nhưng vẫn có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào khi người lập di chúc còn sống.

Người lập di chúc có thể gửi giữ di chúc tại cơ quan công chứng để công chứng viên công bố di chúc khi mở thừa kế hoặc gửi người khác giữ bản di chúc để công bố hoặc giao lại cho người thừa kế.

Làm ra tài sản đã khó, có tài sản để lại cho con cháu làm sao tránh được chuyện giành ăn, xào xáo cũng không phải chuyện dễ. Vì vậy việc định đoạt tài sản theo ý mình là việc cần làm.
16/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Vùng biển Việt Nam theo Luật Biển Việt Nam năm 2012Vùng biển Việt Nam theo Luật Biển Việt Nam năm 2012
Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển dài trên 3.200 km, kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước. Năm 1994, nước ta đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (Công ước 1982). Trong Nghị quyết của Quốc hội về việc phê chuẩn Công ước 1982, chúng ta đã khẳng định sẽ thực hiện đầy đủ các quy...

 

Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển dài trên 3.200 km, kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước. Năm 1994, nước ta đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (Công ước 1982). Trong Nghị quyết của Quốc hội về việc phê chuẩn Công ước 1982, chúng ta đã khẳng định sẽ thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước 1982 và từng bước hoàn thiện các quy định pháp luật của ta để phù hợp với các quy định của Công ước 1982. Luật biển Việt Nam được xây dựng và ban hành là để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nước ta, tạo cơ sở pháp lý để xác định các vùng biển Việt Nam và quy chế pháp lý của các vùng biển đó; góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích của Việt Nam.

 

Việc ban hành Luật Biển Việt Nam là nhu cầu tất yếu nhằm phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới. Lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản Luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng Công ước 1982. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo của Việt Nam.

 

Phạm vi điều chỉnh của Luật Biển Việt Nam bao gồm: đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.

 

Luật biển Việt Nam đưa hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào phạm vi điều chỉnh đã khẳng định lại lập trường nhất quán của Nhà nước ta về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Đây không phải là một quy định mới mà là sự tiếp nối của các quy định đã có trước đây. Nội dung liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được đề cập trong các văn bản pháp luật của Việt Nam trước đây như Tuyên bố của Chính phủ năm 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; Tuyên bố của Chính phủ năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam; Nghị quyết năm 1994 của Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Công ước 1982 và Luật Biên giới quốc gia năm 2003.

 

Vùng biển Việt Nam được quy định tại Chương 2 của Luật Biển Việt Nam năm 2012, bao gồm 14 Điều quy định về việc xác định đường cơ sở, chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam (nội thủy, lãnh hải) và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của ta (vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), đảo, quần đảo và chế độ pháp lý của đảo.

 

Về đường cơ sở (Điều 8): Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

 

Về phạm vi và chế độ pháp lý của nội thuỷ (Điều 9, Điều 10): Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam. Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền.

 

Về phạm vi và chế độ pháp lý của lãnh hải (Điều 11, Điều 12): Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.

 

Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam. Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam.

 

Về phạm vi và chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải (Điều 13, Điều 14): Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và các quyền khác quy định tại Điều 16 của Luật này đối với vùng tiếp giáp lãnh hải. Nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

 

Về phạm vi và chế độ pháp lý vùng đặc quyền kinh tế (Điều 15, Điều 16): Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

 

Trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thực hiện: Quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế. Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế.

 

Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.

 

Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam.

 

Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này.

 

Về phạm vi và chế độ pháp lý thềm lục địa (Điều 17, Điều 18): Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét (m).

 

Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò, khai thác tài nguyên. Quyền chủ quyền quy định tại khoản 1 Điều 18 có tính chất đặc quyền, không ai có quyền tiến hành hoạt động thăm dò thềm lục địa hoặc khai thác tài nguyên của thềm lục địa nếu không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam. Nhà nước có quyền khai thác lòng đất dưới đáy biển, cho phép và quy định việc khoan nhằm bất kỳ mục đích nào ở thềm lục địa.  Nhà nước tôn trọng quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác của các quốc gia khác ở thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Luật này và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt thiết bị và công trình ở thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam.

 

Quy định về đảo, quần đảo và chế độ pháp lý của đảo, quần đảo (Điều 19, Điều 20 và Điều 21)

 

Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước. Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau. Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

 

Nhà nước thực hiện chủ quyền trên đảo, quần đảo của Việt Nam.  Chế độ pháp lý đối với vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được thực hiện theo quy định tại các điều 10, 12, 14, 16 và 18 của Luật này.

14/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Tham thì thâmTiểu phẩm: Tham thì thâm
03/12/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Sao mà dài thếTiểu phẩm: Sao mà dài thế
03/12/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Cần quan tâmTiểu phẩm: Cần quan tâm
13/12/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Cùng nhau chung sứcTiểu phẩm: Cùng nhau chung sức
28/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Vậy cũng đượcTiểu phẩm: Vậy cũng được
28/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Tự làm tự chịuTiểu phẩm: Tự làm tự chịu
28/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Nợ cha con trảTiểu phẩm: Nợ cha con trả
28/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Đề cương phòng chống tội phạm công nghệ caoĐề cương phòng chống tội phạm công nghệ cao
04/05/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Hụi màTiểu phẩm: Hụi mà
04/12/2012 12:00 SAĐã ban hành
Sổ tay phòng chống tội phạm công nghệ caoSổ tay phòng chống tội phạm công nghệ cao
04/05/2012 12:00 SAĐã ban hành
Đề cương phòng chống tội phạm ma túyĐề cương phòng chống tội phạm ma túy
04/05/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tờ bướm hợp đồng lao độngTờ bướm hợp đồng lao động
04/05/2012 12:00 SAĐã ban hành
Hỏi/đáp về bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấpHỏi/đáp về bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày Chủ nhật, 22/5/2011 đã được công bố là ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.Ngày 05/01/2011, Bộ Chính trị khoá X đã ban hành Chỉ thị số 50-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 và Tỉnh uỷ Bến Tre cũng đã có Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 14/02/2011 về lãn...

 

Phần thứ nhất:

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CUỘC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP KỲ NÀY

 

Câu 1: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp lần này có ý nghĩa chính trị như thế nào?

Trả lời: Chỉ thị của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 đã nêu rõ:

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016 sẽ được tiến hành vào cùng một ngày trong năm 2011.

Cuộc bầu cử diễn ra trong thời điểm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng vừa kết thúc thắng lợi; toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức phấn đấu triển khai thực hiện các nhiệm vụ mà Cương lĩnh chính trị và Nghị quyết Đại hội XI đã đề ra.

Cuộc bầu cử lần này là dịp để tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là một nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong năm 2011.

 

Câu 2: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 được tiến hành vào thời gian nào?

Trả lời:

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 sẽ được tiến hành bắt đầu từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối ngày Chủ nhật, 22 tháng 5 năm 2011.

Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu sớm hơn nhưng không được trước năm gi sáng hoc kết thúc muộn hơn nng không được quá mưi giờ đêm. (Khoản 10 Điều 2 Luật Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân năm 2010)

Khi hết giờ bỏ phiếu, nếu còn cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu mà chưa kịp bỏ phiếu thì chỉ sau khi số cử tri này bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử mới được tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu.

 

Câu 3: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 kỳ này có gì mới so với những lần bầu cử trước đây?

Trả lời:

Trước đây, cử tri đi bầu cử Đại biểu Quốc hội và bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở hai kỳ bầu cử khác nhau. Theo Nghị quyết số 1018 NQ/UBTVQH12 ngày 21/01/2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc về việc công bố ngày bầu cử và thành lập Hội đồng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, quy định cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 lần này sẽ được tiến hành vào ngày chủ nhật (22/5/2011). Đây là lần đầu tiên tổ chức bầu cử được triển khai cùng một ngày để bầu ra các cơ quan dân cử từ TW đến cơ sở. Vì vậy cuộc bầu cử lần này có điểm  mới đó là cử tri sẽ cùng lúc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.

 

Câu 4: Tại sao nói bầu cử vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân?

Trả lời: Quyền bầu cử là một quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định, bảo đảm cho mọi công dân có đủ điều kiện thực hiện việc lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước.

Bầu cử là một thể chế dân chủ đã có từ lâu. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực của Nhà nước. Do đó bầu cử vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân. Vì, thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu tín nhiệm bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; thông qua bầu cử mà nhân dân góp phần tham gia việc thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội.

Phần thứ hai:

QUỐC HỘI VÀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

 

Câu 5: Vị trí, chức năng của Quốc hội được Hiến pháp nước ta quy định như thế nào?

Trả lời: Vị trí, chức năng của Quốc hội được Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội) quy định như sau:

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

Quốc hội có 3 chức năng quan trọng:

+ Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Mỗi năm Quốc hội bàn luận và thông qua nhiều đạo luật có tác động đến các nhóm dân cư và toàn thể xã hội, cũng như đến sự phát triển của quốc gia;

+ Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân;

+ Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

 

Câu 6: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 thì Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

3. Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

4. Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương;

7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

8. Quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;

9. Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;

10. Quyết định đại xá;

11. Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

12. Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

13. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;

14. Quyết định việc trưng cầu ý dân.

 

Câu 7: Pháp luật quy định như thế nào về đại biểu Quốc hội, nhiệm kỳ của đại biểu Quốc hội ?

Trả lời: Điều 43, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 quy định:

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội.

Điều 44 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 quy định:

- Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khóa Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau.

- Nhiệm kỳ của đại biểu Quốc hội được bầu bổ sung bắt đầu từ kỳ họp sau cuộc bầu cử bổ sung đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau.

 

 

04/04/2011 12:00 SAĐã ban hành
Những vùng biển được quy định trong Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốcNhững vùng biển được quy định trong Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc
Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc (Công ước 1982) được coi là “Hiến pháp về biển và đại dương”. Công ước 1982 quy định một cách toàn diện các quyền và nghĩa vụ của tất cả quốc gia (có biển, không có biển, bất lợi về mặt địa lý…) trong việc sử dụng biển và đại dương. Công ước 1982 chính thức có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Việt Nam phê chuẩn Công ước 1982 ngày 23/6/1994.
12/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tiểu phẩm: Từ những điều nhỏ nhấtTiểu phẩm: Từ những điều nhỏ nhất
28/06/2012 12:00 SAĐã ban hành
Những điều cần biết về hoạt động chơi hụiNhững điều cần biết về hoạt động chơi hụi
Trong thời buổi kinh tế thị trường, bên cạnh hệ thống tín dụng của Nhà nước, hình thức hụi (họ) trong đời sống bà con ta vẫn mặc nhiên tồn tại. Và hiện nay, hoạt động chơi hụi diễn ra khá phổ biến từ thành thị đến nông thôn. Trước kia, theo quy định của pháp luật thì hoạt động chơi hụi không được pháp luật thừa nhận nhưng kể từ ngày 01/01/2006 ngày Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực thi hành thì hoạt...
Trong thời buổi kinh tế thị trường, bên cạnh hệ thống tín dụng của Nhà nước, hình thức hụi (họ) trong đời sống bà con ta vẫn mặc nhiên tồn tại. Và hiện nay, hoạt động chơi hụi diễn ra khá phổ biến từ thành thị đến nông thôn. Trước kia, theo quy định của pháp luật thì hoạt động chơi hụi không được pháp luật thừa nhận nhưng kể từ ngày 01/01/2006 ngày Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực thi hành thì hoạt động chơi hụi được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, hoạt động chơi hụi cũng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật quy định chứ không được lợi dụng hình thức chơi hụi để che dấu hoạt động cho vay nặng lãi.
Điều 479 Bộ luật Dân sự 2005 liên quan đến hoạt động chơi hụi quy định như sau:
1. Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên.
2. Hình thức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi.
Ngày 17/11/2006, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về “họ, hụi, biêu, phường”. Nghị định quy định về hình thức họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ), quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia họ. Điều 2 của Nghị định này cũng quy định về chính sách nhà nước về họ đó là:
“1. Quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân theo quy định của Nghị định này và các văn bản pháp luật khác có liên quan được pháp luật bảo vệ.
2. Nghiêm cấm việc tổ chức họ để cho vay nặng lãi, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm hoặc các hành vi trái pháp luật khác để chiếm đoạt tài sản của người khác”.
Ai cũng biết mục đích chơi hụi chủ yếu là tiết kiệm, tương trợ nhau giữa những người tham gia chơi hụi. Hoạt động chơi hụi về bản chất thì rất hữu ích, có lợi cho cả chủ hụi lẫn hụi viên, nhưng một số người đã lợi dụng vào nó mà trục lợi.
Những năm gần đây, thường xuyên xảy ra các vụ giật hụi, bể hụi với số tiền lên đến hàng tỷ đồng, khiến nhiều gia đình lâm vào cảnh khốn đốn, chỉ vì lòng tin vào tình cảm anh em, bạn bè đồng nghiệp, bị hấp dẫn bởi số tiền “lời” thu được từ hụi quá lớn, mà có nhiều người trở thành tay trắng chỉ vì chơi hụi. Tuy nhiên đến nay, không ít người vẫn rủ nhau chơi hụi, khi trắng tay mới tìm đến chính quyền nhờ can thiệp.
Để hạn chế những nguy cơ, tránh những thiệt hại như giật hụi, bể hụi, lừa đảo..v.v.. đáng tiếc xảy ra từ hoạt động chơi hụi, để hoạt động về hụi đúng với bản chất tương trợ tốt đẹp của nó, người chơi hụi cần lưu ý:
- Thứ nhất: Cần phải chọn lựa những người chủ hụi có độ tin cậy cao. Ngoài ra cũng cần phải chọn lựa những người cùng tham gia chơi hụi với mình phải có khả năng tham gia lâu dài và đóng hụi đầy đủ. Tránh trường hợp vừa hốt hụi xong thì bỏ trốn không tiếp tục đóng hụi nữa gây thiệt hại và ảnh hưởng đến các thành viên chơi hụi khác.
- Thứ hai: Tất cả các lần góp hụi hoặc thông tin của những thành viên tham gia chơi hụi cũng như những thỏa thuận giữa các thành viên với chủ hụi và những thỏa thuận giữa các thành viên với nhau cũng cần phải được lưu giữ cẩn thận tốt nhất nên lập văn bản, để sử dụng khi có tranh chấp xảy ra, bởi vì những văn bản thỏa thuận này và các văn bản xác nhận số tiền góp hụi là những chứng cứ hết sức quan trọng khi giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án.
Thực tế, người dân vẫn thường trọng chữ “tín” và rất tin cậy nhau vì hầu như những người chơi hụi đều có sự quen biết, qua lại nên ít khi các chủ hụi lập sổ hụi. Bởi vậy, khi bể hụi hay vỡ hụi, họ thường xảy ra cãi lộn, thậm chí thưa kiện, cấn nợ qua lại nhau rất phức tạp nhưng đều không có gì làm bằng chứng và rất khó có thể đòi lại quyền lợi. Vì vậy, Nghị định 144 đã cho rằng chủ hụi phải lập sổ hụi là bước tiến rất quan trọng, khi tham gia chơi hụi thì chúng ta nên tuân thủ đúng những quy định của pháp luật. Sổ hụi có thể bao gồm các nội dung sau: Tên, địa chỉ của chủ hụi và các thành viên trong hụi; Phần hụi, kỳ mở, thể thức góp và lĩnh hụi; Số tiền, tài sản khác đã góp hoặc đã lĩnh hụi; Việc chuyển giao phần; Việc ra khỏi và chấm dứt hụi; Chữ ký hoặc điểm chỉ của các thành viên khi góp và lĩnh hụi; Các nội dung khác liên quan đến hoạt động của hụi. Sổ hụi sẽ là bằng chứng để tòa án có cơ sở pháp lý giải quyết khi có tranh chấp, hoặc vỡ hụi.
- Thứ ba: Khi xảy ra tranh chấp về hụi thì các bên có thể thương lượng, hòa giải với nhau. Nếu không hòa giải, thương lượng với nhau được thì có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để đòi lại quyền lợi của mình.
Tóm lại, hoạt động chơi hụi không hề vi phạm pháp luật trừ khi lợi dụng hình thức chơi hụi để cho vay nặng lãi.Và những người chơi hụi cần cân nhắc, cẩn thận và thực hiện tốt những khuyến cáo đã nêu trên để tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra./.




 

03/06/2011 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn