Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện
​Công văn số 788/CCTHADS ngày 29/11/2018 của Chi cục THADS huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre 
 
​ Để xây dựng cơ chế, chính sách tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong lĩnh vực nông nghiệp, nhằm khuyến khích, hỗ trợ, thu hút các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; nhất là khuyến khích đầu tư phát triển hợp tác xã, liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ... 
 
​ Ngày 16/02/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP). Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đổi mới công tác chứng thực như: quy định mở rộng thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký cho ... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 231 (Kèm QC)Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô chở tiền, nhãn hiệu: Mitsubishi, màu sơn: xanh, biển số: 71T-9769, số máy: 6G72TT4012; số khung: 93W9J000348; sản xuất năm 2008, tại Nhật Bản, số chỗ ngồi: 5, loại nhiên liệu: xăng. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
DANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TREDANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TRE
15/06/2018 5:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 216 thuộc tờ bản đồ số 1 tại ấp Phước Tân, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 216 thuộc tờ bản đồ số 1 tại ấp Phước Tân, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến Tre
15/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Lĩnh vực cấm đầu tư và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiệnLĩnh vực cấm đầu tư và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Luật Đầu tư năm 2014 được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26/11/2014, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2015, thay thế Luật Đầu tư năm 2005. Luật bao gồm 7 Chương, 76 Điều, quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài và Luật này áp dụng đối với nhà đầu tư và tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh. Ngày 22 tháng 11 năm 2016 tại  kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khoá XIV đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư năm 2014.

Theo đó, Luật Đầu tư năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung năm 2016) đã quy định về 7 ngành, nghề mà nhà đầu tư bị cấm thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh bao gồm: Kinh doanh các chất ma túy quy định tại Phụ lục 1 của Luật Đầu tư; Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục 2 của Luật Đầu tư; Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã theo quy định tại Phụ lục 1 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp, mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 của Luật Đầu tư; Kinh doanh mại dâm; Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người và Kinh doanh pháo nổ.

Như vậy, nhìn vào danh mục các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư năm 2014 có thể thấy rằng các yếu tố định hình, định lượng đã được cân nhắc khá kỹ, phạm vi điều luật đã không còn mơ hồ do đã dự liệu tất cả các danh mục hàng hóa hay chất bị cấm hoặc các loại động vật hoang dã không được phép kinh doanh, đưa hẳn vào phụ lục (gồm Phụ lục 1, 2 và 3) để nhà đầu tư tham khảo. Tạo ra một hành lang pháp lý khá minh bạch, dễ áp dụng và có tác dụng hỗ trợ các hoạt động đầu tư kinh doanh.

Về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định thống nhất ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Điều 7, trong đó xác định rõ ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là các ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Tại Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 còn quy định một Phụ lục 4 (được sửa đổi, bổ sung năm 2016) cụ thể hóa danh mục các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện bao gồm 243 ngành, nghề. Theo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư năm 2014 thì đối với quy định về các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện: Kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị; Sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe ô tô có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2017. Chính phủ quy định việc áp dụng chuyển tiếp đối với tổ chức, cá nhân đang đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề này.

Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật Đầu tư năm 2014 được áp dụng chung cho tất cả các nhà đầu tư. Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được xây dựng theo nguyên tắc chọn bỏ; theo đó, những ngành, nghề không quy định ở Luật là những ngành, nghề không có hạn chế về đầu tư kinh doanh đối với người dân, doanh nghiệp.

Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề quy định tại Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh. Luật Đầu tư năm 2014 đã hạn chế việc đưa ra các rào cản đầu tư kinh doanh có tính chất như các “giấy phép con”, hạn chế quyền tự do kinh doanh và gây trở ngại về thủ tục hành chính cho nhà đầu tư.

Điều kiện đầu tư kinh doanh phải được quy định phù hợp với mục tiêu quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật này và phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, tiết kiệm thời gian, chi phí tuân thủ của nhà đầu tư.

Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đó phải được đăng tải trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

Luật Đầu tư năm 2014 còn có quy định về chính sách về đầu tư kinh doanh: Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm. Nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; được tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài nguyên khác theo quy định của pháp luật. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư. Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế. Nhà nước tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư kinh doanh mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

17/05/2017 4:00 CHĐã ban hành
Quyền và bổn phận của trẻ emQuyền và bổn phận của trẻ em

Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017. Luật có 07 Chương, 106 Điều, có nhiều nội dung mới, trong đó có các quy định mới về quyền và bổn phận của trẻ em.

 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung và được thể hiện cụ thể hơn như:

Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển.

Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.

Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện.

Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

 Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.

Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.

Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.

 Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

 Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

 Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.

Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

 Quyền của trẻ em khuyết tật: Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.

Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Về bổn phận của trẻ em, kế thừa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em.

Bổn phận của trẻ em đối với gia đình: Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ. Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác: Tôn trọng giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác. Thương yêu, đoàn kết, chia sẻ khó khăn, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè. Rèn luyện đạo đức, ý thức tự học, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Giữ gìn, bảo vệ tài sản và chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác.

Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội: Tôn trọng, lễ phép với người lớn tuổi; quan tâm, giúp đỡ người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người gặp hoàn cảnh khó khăn phù hợp với khả năng, sức khỏe, độ tuổi của mình. Tôn trọng quyền, danh dự, nhân phẩm của người khác; chấp hành quy định về an toàn giao thông và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ, giữ gìn, sử dụng tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng và độ tuổi của trẻ em. Phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật.

 Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước: Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước. Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em với bản thân: Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân. Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể. Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang. Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác. Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân.

15/12/2016 4:00 CHĐã ban hành
Qua 03 năm triển khai thi hành Luật hộ tịch, công tác đăng ký hộ tịch trên địa bàn tỉnh cũng còn nhiều khó khănQua 03 năm triển khai thi hành Luật hộ tịch, công tác đăng ký hộ tịch trên địa bàn tỉnh cũng còn nhiều khó khăn

Qua 03 năm triển khai thi hành Luật hộ tịch và các văn bản quy định chí tiết thi hành, công tác đăng ký hộ tịch trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực; Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các Kế hoạch triển khai thi hành Luật hộ tịch trên địa bàn tỉnh; đồng thời phối hợp Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố triển khai thực hiện Luật hộ tịch đật nhiều kết quả. Luật hộ tịch và các văn bản quy định chí tiết thi hành có những quy định mới, cải cách mạnh mẽ về trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch, tạo nhiều thuận lợi cho người dân như: thủ tục đăng ký hộ tịch được đơn giản hóa, cắt giảm nhiều giấy tờ không cần thiết; đồng thời, Luật cũng quy định cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch mà không phụ thuộc vào nơi cư trú như trước đây, Luật cũng đã phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết tất cả các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch ở cấp huyện và cấp xã được cúng cố kiện toàn, bố trí đúng tiêu chuẩn về chuyên môn, được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch theo quy định.

Công tác đăng ký, quản lý, giải quyết các việc về hộ tịch trên địa bàn tỉnh được thực hiện ngày càng ổn định và đi vào nền nếp, các sự kiện hộ hộ tịch được đăng ký kịp thời, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định, thời hạn giải quyết hồ sơ bảo đảm đúng hẹn, tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng được yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân; kịp thời hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình đăng ký hộ tịch tại cơ sở; thủ tục hành chính được công bố và niêm yết công khai tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; việc sử dụng các loại biểu mẫu, sổ hộ tịch đúng theo quy định.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng được quan tâm thực hiện, thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư pháp về xây dựng Phần mềm đăng ký hộ tịch dùng chung, Sở Tư pháp đã chuẩn bị các điều kiện để triển khai thực hiện, đã cử công chức đi tập huấn Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch tại Cục Công nghệ thông tin-Bộ Tư pháp; Sở Tư pháp sẽ tổ chức tập huấn, hướng dẫn Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch cấp huyện, cấp xã (dự kiến vào tháng 10/2018); và sẽ triển khai Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch thống nhất trên địa bàn tỉnh (dự kiến vào tháng 11/2018).

Việc phối hợp liên ngành tư pháp, công an, y tế để thực hiện Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT ngày 15/5/2015 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; giữa Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Công an và Bảo hiểm xã hội cấp huyện được các cơ quan liên quan phối hợp triển khai thực hiện đồng bộ, chặt chẽ và có hiệu quả; tạo thuận lợi cho người dân khi có yêu cầu; giảm bớt chi phí, thời gian đi lại; thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính. Mặt khác, giúp cho cơ quan nhà nước quản lý tốt hơn thông tin về nhân thân và cư trú của người dân, khắc phục được tình trạng trẻ em đã đăng ký khai sinh nhưng chưa nhập hộ khẩu và cấp thẻ bảo hiểm y tế, góp phần đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, tạo sự hài lòng cho người dân trong việc giải quyết thủ tục hành chính.

Tuy nhiên, qua kiểm tra công tác đăng ký hộ tịch cũng đã phát hiện một số sai sót, nhất là công tác đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, Sở Tư pháp cũng đã kịp thời hướng dẫn, chấn chỉnh và chỉ đạo khắc phục những sai sót như: tổ chức tập huấn công tác đăng ký, quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài và trực tiếp hướng dẫn, xử lý, giải quyết từng vụ việc cụ thể.

Luật hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành cũng còn nhiều vướng mắc, chưa có quy định về thủ tục đăng ký việc giám sát giám hộ; việc hướng dẫn đăng ký nhận cha, mẹ, con, bổ sung hộ tịch trong một số trường hợp đặc biệt cũng gặp không ít khó khăn; nhất là quy định về chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con đối với trường hợp không có văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng; nếu không có cha và mẹ cam đoan thì phải có văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định, nên có trường hợp người cha không làm thủ tục nhận con được, do người mẹ đã bỏ đi không liên hệ được, điều kiện kinh tế khó khăn không thể đi xét huyết thống, nên người con không được đăng ký khai sinh. Trong khi đó, lại quy định cho phép người cha nhận con mà không cần có ý kiến của người mẹ. Quy định này khó áp dụng trong thực tiễn, gây khó khăn cho công chức làm công tác hộ tịch trong việc hướng dẫn, giải quyết hồ sơ nhận con, làm ảnh hưởng đến quyền được khai sinh của trẻ em. Đối với những trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà họ không còn chung sống với nhau, không đăng ký kết hôn cũng chưa được hướng dẫn.

Bộ Luật Dân sự quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó. Tuy nhiên, chưa quy định cụ thể về phạm vi quan hệ gia đình khi mà việc sử dụng tên được xem là ảnh hưởng đến tình cảm gia đình đủ điều kiện để thay đổi tên...nên khó áp dụng.

Trường hợp, công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, họ có hộ chiếu Việt Nam, hộ chiếu nước ngoài, hộ khẩu thường trú và Giấy chứng minh nhân dân cũng đang gặp khó khăn. Khi họ có yêu cầu đăng ký lại khai sinh thì khó xác định thẩm quyền đăng ký. Nếu căn cứ vào hộ khẩu thường trú, Giấy CMND, thì thẩm quyền đăng ký lại khai sinh là Ủy ban nhân dân cấp xã (theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP); nếu căn cứ vào hộ chiếu nước ngoài, thì thẩm quyền đăng ký lại khai sinh là Ủy ban nhân dân cấp huyện (theo quy định tại Điều 41 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP). Nên cấp huyện còn lúng túng trong việc xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch đối với trường hợp này.

Về quy định, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình bản chính giấy tờ tùy thân còn giá trị sử dụng để chứng minh về nhân thân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một số trường hợp người yêu cầu đăng ký hộ tịch xuất trình Giấy CMND đã quá hạn, ngoài ra không có giấy tờ nào khác có dán ảnh, cấp lại giấy CMND thì cơ quan công an yêu cầu cung cấp khai sinh, yêu cầu đăng ký lại khai sinh thì Giấy CMND đã quá hạn, nhiều trường hợp bị bệnh, già yếu không đi lại được, công chức làm công tác hộ tịch gặp khó khăn trong việc hướng dẫn, giải quyết hồ sơ.

Để tiếp tục triển khai thi hành Luật hộ tịch trong thời gian tới được tốt hơn, cần kiến nghị cơ quan có thẩn quyền bổ sung quy định về thủ tục đăng ký việc giám sát giám hộ. Kịp thời sữa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP: trường hợp người cha làm thủ tục nhận con mà không cần có ý kiến của người mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Thông tư số 15/2015/TT-BTP. Sớm bổ sung khoản 3 Điều 25 Thông tư số 15/2015/TT-BTP, hướng dẫn cách ghi “ Mục tình trạng hôn ” trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đối với những trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987. Cần có hướng dẫn cụ thể hơn các trường hợp được đổi tên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ Luật Dân sự, như phạm vi quan hệ gia đình đến đời thứ mấy, nếu không phải thành viên gia đình thì chữ đệm, tên như thế nào mới được đổi...; quy định thống nhất về thẩm quyền đăng ký lại khai sinh cho công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Cần có hướng dẫn riêng cho những trường hợp yêu cầu đăng ký hộ tịch mà xuất trình Giấy CMND đã quá hạn đối với trường hợp người bị bệnh, người già yếu không đi lại được. Cần hướng dẫn thống nhất việc xác định thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định cha, mẹ, con mà trong Giấy khai sinh đã có phần khai về cha, mẹ; trường hợp con trong thời kỳ hôn nhân nhưng là con của người mẹ và người thứ 03. cơ quan Tòa án cần gửi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đến Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân để ghi vào Sổ hộ tịch.

28/09/2018 4:00 CHĐã ban hành
XÓA ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG, THU HỒI THẺ CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI BẾN TREXÓA ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG, THU HỒI THẺ CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI BẾN TRE

XÓA ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG,

THU HỒI THẺ CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI BẾN TRE

(NĂM 2018)

 

STTHọ và tênNơi hành nghề trước khi xóa đăng kýQuyết định thu hồi ThẻGhi chú
01Lê Vĩnh KhaVăn phòng công chứng Hà Thị TiếnQuyết định thu hồi thẻ công chứng viên số 104/QĐ-STP ngày 05 tháng 10 năm 2018 
02/11/2018 9:00 SAĐã ban hành
Luật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đaiLuật Đất đai năm 2013, những điểm mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự công bằng trong xã hội; đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thắt chặt tình làng, nghĩa xóm trong nhân dân.

 

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự công bằng trong xã hội; đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thắt chặt tình làng, nghĩa xóm trong nhân dân.

 

Tuy nhiên, trên thực tế việc giải quyết tranh chấp đất đai diễn biến rất phức tạp. Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, khởi kiện tại Tòa án nhân dân các cấp liên quan đến lĩnh vực đất đai luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng ngày càng tăng. Bên cạnh đó, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai ở một số địa phương vẫn chưa thật sự nhận được sự đồng tình của người dân, dẫn đến nhiều vụ việc phải giải quyết kéo dài, qua nhiều cấp khác nhau; nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn chưa được thi hành.

 

Ngày 29 tháng 11 năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014, đã mở rộng hơn nữa quyền của công dân trong việc yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai, khi các bên sử dụng đất mâu thuẫn, không thống nhất với nhau trong quá trình sử dụng đất.

 

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”. Hòa giải trong trường hợp này là tự nguyện. Trong trường hợp “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải” (Khoản 2 Điều 202) và đây là thủ tục hòa giải bắt buộc. Theo đó, tại Khoản 3, 4, 5 Điều 202 thì hòa giải theo thủ tục này được quy định như sau: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai; việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp; đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác và Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

 

Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định đối với việc tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành, thì được giải quyết như sau:

 

Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.

 

Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đây là một quy định mới khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2014.

 

Tại Khoản 3 Điều 203 quy định trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Đây cũng là một quy định mới theo Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011, tại Điều 264.

 

Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều 203 phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 02/3/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 02/3/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 41 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 955,4 m2 (trong đó: 180,0 m2 đất ONT và 775,4 m2 đất trồng cây hàng năm khác);

- Thuộc thửa đất số 444, tờ bản đồ số 6.

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 439068 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00578 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 16/6/2011.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Hàng rào lưới B40. Diện tích 6.2md; trụ xi măng đúc sẳn: 41 trụ.

3. Cây trồng trên đất:

- Cây dừa loại 1: 07 cây, dừa loại 3: 23 cây;

- Cây gừa: 29 bụi

- Khế loại 2: 01 cây

- Tre loại 2: 02 bụi

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 801.810.291đ (Tám trăm lẻ một triệu, tám trăm mười ngàn, hai trăm chín mươi mốt đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 160.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ 30 phút ngày 10/4/2018  tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 42 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Phan Văn Nghĩa và bà Trần Thị Ngoan, hiện cư ngụ tại: 133G2, ấp An Thanh B, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 270 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc một phần thửa đất  số 311, tờ bản đồ số 5 (theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bến Tre thuộc thửa đất số 553, tờ bản đồ số 5).

 - Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 101032, vào sổ cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất số 01810QSDĐ/2206QĐ-UB do UBND thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 12/8/2002 cho hộ ông Phan Văn Nghĩa.

            2. Cây trồng trên đất:

- 01 cây nhãn trên 01 năm tuổi;

- 08 cây bưởi trên 2 năm tuổi;

- 02 cây dừa trên 4 năm tuổi.

- Tài sản toạ lạc tại: xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Phan Văn Nghĩa và bà Trần Thị Ngoan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 131.719.875đ (Một trăm ba mươi mốt triệu, bảy trăm mười chín ngàn, tám trăm bảy mươi lăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 26.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bđấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ 30 phút ngày 10/4/2018  (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 43 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có đặc điểm sau:

1. Quyền sử dụng đất:

a) Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 166, 167, tờ bản đồ số 6.

- Thửa đất số 166, diện tích: 740,4m2; loại đất trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số 167, diện tích: 1.345,5m2; loại đất trồng cây lâu năm;

b) Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 337, tờ bản đồ số 6.

- Diện tích: 181,7 m2; loại đất trồng cây lâu năm;

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01227 QSDĐ/2493 QĐ-UB do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 21/6/2004 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ PN/00242 QSDĐ/3891 QĐ-UB (TX) do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 24/3/2005.

- Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất thửa số 166, 167 ngày 27/4/2017 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bến Tre và phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 337 ngày 23/12/2015 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Bến Tre.

2. Công trình xây dựng gắn liền trên thửa đất số 166, 167

a) Nhà bán kiên cố: có diện tích 22,63m2. Kết cấu: Nền láng ximăng, khung, cột gỗ, kèo gỗ, vách gỗ, mái tole. Hiện trạng: nhà đã xuống cấp, cột gỗ, vách gỗ mối mọt đục khoét...

b) Hàng rào lưới B40. Kết cấu: cao khoảng 1,6m, dài 194,2md, trụ đỡ BTCT, kèo rào xung quanh các thửa đất. Hiện trạng: Lưới bị gỉ sét, hư hỏng.

3. Cây trồng trên đất:

- Dừa loại 1: 90 cây (trong đó có 03 cây trên thửa đất số 337);

- Dừa loại 3: 10 cây;

- Bưởi da xanh loại 2: 10 cây;

- Nhãn: 01 cây;

- Mận: 01 cây.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.283.019.650đ (Một tỷ, hai trăm tám mươi ba triệu, không trăm mười chín ngàn, sáu trăm năm mươi đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản).

* Khoản tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: 256.000.000đ/01 hồ sơ (nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi).

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/4/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 -0275.3512083 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

22/03/2018 11:00 SAĐã ban hành
Phát huy tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật  của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ Phát huy tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật  của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ

Để học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác về tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên viên ngành Tư pháp Bến Tre phải nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện tốt các yêu cầu như:

 Thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình với tinh thần thẳng thắn, trong sinh hoạt, học tập, công tác cũng như cuộc sống đời thường. Người phê bình phải có thái độ chân thành, người được phê bình phải thực sự cầu thị trong tiếp thu phê bình để sửa chữa, tiến bộ.  

Cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp nói phải đi đôi với làm, và làm gương trong chấp hành mọi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chế độ quy định của cơ quan; kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong sinh hoạt, học tập và công tác.

Không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nhân cách của người cán bộ, đảng viên; tích cực học tập nâng cao trình độ, góp phần thực hiện có hiệu quả mọi nhiệm vụ được giao, sống chan hoà, cởi mở và lành mạnh; thực hiện tốt việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.

 Tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp trong thực hiện nhiệm vụ, còn được thể hiện ở tinh thần và hành động như:

Tính tiền phong của người cán bộ, đảng viên: Trước hết là thể hiện về tư tưởng chính trị, ý chí, nghị lực vượt khó, thể hiện ở lập trường mục tiêu kiên định, lý tưởng cách mạng; không ngại khó khăn, tính tiền phong còn được thể hiện qua mỗi hành động của mọi người cán bộ, đảng viên phải là người đi trước dám làm, dám chịu trách nhiệm, khôn khéo xử lý có hiệu quả các tình huống nảy sinh; đồng thời, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống tiêu cực, bè phái.

Sự gương mẫu của người cán bộ, đảng viên: Là biểu hiện tập trung ở lòng trung thành với Đảng, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phải tiêu biểu về "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư".

Các biểu hiện cụ thể cho các đức tính đó là sự say mê, gắn bó hết mình với công việc, chức trách, nhiệm vụ được giao; có ý thức tiết kiệm của công, không tham nhũng, lãng phí; thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, phải là tấm gương về lòng nhân ái, có tinh thần đoàn kết, độ lượng, vị tha, không đố kỵ, ganh ghét. Trong công việc phải là người tiêu biểu về phong cách, nghiêm túc,  tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng gópphải gương mẫu trong cả lời nói và việc làm, v.v..

Ý thức tổ chức kỷ luật của người cán bộ, đảng viên: Phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, trong tổ chức và hoạt động của Đảng, luôn nêu cao tinh thần, ý thức tổ chức kỷ luật, tuyệt đối chấp hành sự phân công của tổ chức, cấp ủy Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của các cấp ủy Đảng, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước và các nội quy, quy chế của cơ quan, quy định của địa phương, phải tham gia đầy đủ các lớp học tập Nghị quyết của Đảng, gương mẫu thực hiện các chế độ, sinh hoạt Đảng, sinh hoạt chính quyền.

Để rèn luyện được tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần duy trì và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo đó, trong tổ chức thực hiện nghị quyết, phải giao nhiệm vụ cho cấp ủy viên, đảng viên một cách cụ thể, rõ ràng; nhiệm vụ nào cũng phải có người chịu trách nhiệm chính; công việc nào cũng phải có người đứng đầu. Trong thực hiện nhiệm vụ, việc đề cao tinh thần trách nhiệm, tính tự giác phải đi đôi với đôn đốc, nhắc nhở, uốn nắn sai sót, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, việc rút kinh nghiệm, sơ kết, tổng kết công tác, phong trào của tổ chức đảng, chính quyền, cần được thực hiện thành nền nếp, là điều kiện để người cán bộ, đảng viên thấy được mình đã là người tiền phong, gương mẫu đến đâu, còn những gì hạn chế, yếu kém để tiếp tục phấn đấu, rèn luyện.

 Công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cần được duy trì nghiêm túc, thực chất; qua đó, kịp thời phát hiện sai sót, khuyết điểm, ngăn ngừa những cán bộ, đảng viên thiếu tính tiền phong, gương mẫu, ý thức kỷ luật trong công việc, nhiệm vụ được phân công vi phạm tư cách đảng viên, kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. Khi cán bộ, đảng viên làm sai, gây hậu quả xấu, phải kiểm điểm, quy trách nhiệm rõ ràng và có hình thức kỷ luật thích đáng; nếu vi phạm pháp luật, phải kiên quyết đưa ra để xử lý bằng luật pháp, với tinh thần thượng tôn pháp luật "phụng công thủ pháp, chí công vô tư".

Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp nghiêm túc thực hiện theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp:

"Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp khắc sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người cán bộ tư pháp, quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, phấn đấu thực hiện các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sau đây:

1. Với Tổ quốc - Trung thành, phấn đấu vì "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

2. Với nhân dân - Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân; phục vụ nhân dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân.

3. Với công tác tư pháp - Trách nhiệm, tận tụy, sáng tạo, kỷ cương, phụng công, thủ pháp, chí công vô tư.

4. Với đồng nghiệp - Đoàn kết, thân ái, hợp tác, cùng tiến bộ.

5. Với bản thân - Nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, thượng tôn pháp luật."

17/05/2017 4:00 CHĐã ban hành
Đánh giá tác động chính sách – điểm mới trong  quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân cấp tỉnhĐánh giá tác động chính sách – điểm mới trong  quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân cấp tỉnh

          Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội thông qua ngày 22/6/2015 và được hướng dẫn thi hành tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ đã chuẩn hóa và đổi mới nhiều nội dung trong công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và địa phương. Một trong những điểm mới nổi bật của Luật là đổi mới quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương, đặc biệt là việc đánh giá tác động chính sách trong việc ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đây là một bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu chính sách, nhằm làm rõ ảnh hưởng của chính sách đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và đối với sự phát triển của xã hội nói chung, đảm bảo chất lượng văn bản, tiết kiệm nguồn ngân sách của Nhà nước từ đó góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

          Theo Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì đối với nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh có nội dung quy định về chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (Khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015) thì Ủy ban nhân dân tỉnh, các ban Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phải lập đề nghị xây dựng Nghị quyết gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định. Trong đề nghị xây dựng Nghị quyết, các cơ quan, tổ chức phải xây dựng các nội dung của chính sách và thực hiện việc đánh giá tác động của chính sách theo những phương pháp phù hợp.

Khi xây dựng nội dung chính sách, cơ quan, tổ chức cần phải xác định các vấn đề cần giải quyết, nguyên nhân của từng vấn đề; mục tiêu tổng thể, mục tiêu cụ thể cần đạt được khi giải quyết các vấn đề; định hướng, giải pháp để giải quyết từng vấn đềđối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, nhóm đối tượng chịu trách nhiệm thực hiện chính sách. Nội dung đánh giá tác động chính sách được thực hiện theo Điều 6 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP cụ thể như sau: Tác động về kinh tế được đánh giá trên cơ sở phân tích chi phí và lợi ích đi với một hoặc một số nội dung về sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, môi trường đầu tư và kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, cơ cấu phát triển kinh tế của quốc gia hoặc địa phương, chi tiêu công, đầu tư công và các vn đề khác có liên quan đến kinh tế; tác động về xã hội của chính sách được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo tác động đối với một hoặc một số nội dung về dân số, việc làm, tài sản, sức khỏe, môi trường, y tế, giáo dục, đi lại, giảm nghèo, giá trị văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng, xã hội và các vấn đề khác có liên quan đến xã hội; tác động về giới của chính sách (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo các tác động kinh tế, xã hội liên quan đến cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mi giới; tác động của thủ tục hành chính (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo về sự cần thiết, tính hợp pháp, tính hợp lý và chi phí tuân thủ của thủ tục hành chính để thực hiện chính sách; tác động đối với hệ thống pháp luật được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo khả năng về thi hành và tuân thủ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, tác động đối với tổ chức bộ máy nhà nước, khả năng thi hành và tuân thủ của Việt Nam đi với các điều ước quốc tế.

          Các cơ quan, tổ chức thực hiện đánh giá tác động của chính sách có trách nhiệm xây dựng báo cáo đánh giá tác động chính sách theo Mẫu số 01 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và lấy ý kiến góp ý, phản biện dự thảo báo cáo đánh giá tác động của chính sách, tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo báo cáo. Thông tin được sử dụng khi xây dựng báo cáo đánh giá tác động của chính sách phải chính xác, trung thực và ghi rõ nguồn.

Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp  tỉnh theo hướng tập trung xây dựng và đánh giá tác động của chính sách cũng như nội dung của văn bản trước khi bắt đầu soạn thảo thể hiện bước đổi mới quan trọng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của địa phương, góp phần nâng cao chất lượng ban hành văn bản trong thời gian tới.

V.Hạ

01/09/2016 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 21/6/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 21/6/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 183 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ các dãy phòng học, nhà vệ sinh, hồ nước của Trường Tiểu học Phú Thọ cũ; tài sản cụ thể như sau:

I. Các dãy lớp học 02 tầng:

1. Dãy phòng 1: Kết cấu: nền gạch bông, vách tường, khung cột pêtông cốt thép, mái tole thiếc, trần ván ép, diện tích 1.246,34 m2.

Gồm có các loại cửa như sau:

- Cửa đi loại 02 cánh bằng sắt khung kiếng: 07 bộ.

- Cửa đi loại 01 cánh bằng sắt khung kiếng: 07 cái.

- Cửa đi loại 02 cánh bằng cây: 07 bộ.

- Cửa sổ loại 04 cánh bằng sắt khung kiếng: 14 bộ.

- Cửa sổ loại 04 cánh bằng cây: 13 bộ.

2. Dãy phòng 2: Kết cấu: nền gạch bông, vách tường, khung cột pêtông cốt thép, mái tole thiếc, trần ván ép, diện tích 675,18 m2.

Gồm có các loại cửa như sau:

- Cửa đi loại 02 cánh bằng cây: 08 bộ.

- Cửa sổ loại 04 cánh bằng sắt khung kiếng: 24 bộ.

- Cửa sổ loại 02 cánh bằng sắt khung kiếng: 08 bộ.

3. Dãy phòng 3: Kết cấu: nền gạch bông, vách tường, khung cột pêtông cốt thép, mái tole thiếc, trần ván ép, diện tích 675,18 m2.

Gồm có các loại cửa như sau:

- Cửa đi loại 02 cánh bằng cây: 06 bộ.

- Cửa sổ loại 04 cánh bằng cây: 12 bộ.

II. Các nhà vệ sinh:

1. nhà vệ sinh 1: Kết cấu: nền gạch men, vách tường có ván gạch men, khung cột pêtông cốt thép, mái tole fibrô ximăng, diện tích 29 m2.

2. nhà vệ sinh 2: Kết cấu: nền gạch men, vách tường có ván gạch men, khung cột pêtông cốt thép, mái tole fibrô ximăng, diện tích 7,13 m2.

3. nhà vệ sinh 3: Kết cấu: nền gạch men, vách tường có ván gạch men, khung cột pêtông cốt thép, mái tole fibrô ximăng, diện tích 3 m2.

III. Hồ nước: Thể tích 19 m3.

- Tài sản tọa lạc: tại Trường Tiểu học Phú Thọ cũ (địa chỉ: phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý: Khi bán đấu giá thành

          - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo cho người dân qua lại và khu làm việc xung quanh; bắt buộc lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bến Tre.

                   - Khoản tiền đặt trước Trung tâm sẽ tạm giữ khi nào tháo dỡ xong trả lại mặt bằng sạch cho Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bến Tre và được sự chấp thuận của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bến Tre thì số tiền tạm giữ Trung tâm đấu giá sẽ hoàn lại cho khách hàng. 

          - Tổng giá khởi điểm làm tròn của tài sản bán đấu giá (I+II+III): 372.000.000đ (Ba trăm bảy mươi hai triệu đồng).

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

          * Khoản tiền đặt trước: 55.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 22/6/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 29/6/2017 (trong giờ làm việc).

          Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 05/7/2017 (Thứ tư) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.


Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô con 08 chỗ màu đen, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: INNOVA-G, biển số 52Z-2055, số máy: 6283363-1TR; số khung: RL4XW43G969203939; sản xuất năm 2006, tại Việt Nam. Xe bán dạng đăng ký lại.

 * Lưu ý:

- Khách hàng trúng đấu giá phải chịu thuế trước bạ và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.

- Trong 30 ngày tính từ ngày bàn giao tài sản, khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Công ty Lương thực Bến Tre để được xuất hóa đơn VAT theo quy định, nếu quá thời gian trên Trung tâm dịch vụ bán đấu giá Bến Tre và Công ty Lương thực Bến Tre không giải quyết cho khách hàng.           

- Tài sản tọa lạc tại: Công ty Lương thực Bến Tre; (địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, Bến Tre).

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Lương thực Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 298.890.000đ (Hai trăm chín mươi tám triệu, tám trăm chín mươi ngàn đồng).

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

          * Khoản tiền đặt trước: 40.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 22/6/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 29/6/2017 (trong giờ làm việc).

          Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 05/7/2017 (Thứ tư) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢPĐỒNG 184 (Kèm NQ)

  Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Hữu Hiếu và bà Nguyễn Thị Cúc, hiện cư ngụ tại: số 231B khu phố 2, phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

           - Diện tích: 98,2 m2;

           - Loại đất: ODT;

           - Thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 30;

- Theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số P568392, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000026QSDĐ/3157/1999/QĐUB (T) ngày 20/12/1999.

          2. Công trình xây dựng trên đất:

           - Chuồng trại:

+ Năm xây dựng: không rõ năm xây dựng;

+ Kích thước (DxR): (11,4x9,1) m;

* Kết cấu:

- Nền láng ximăng, cột, kèo bêtông cốt thép, đòn tay gỗ, tường xây gạch dày 10 cm, có 2mặt không vách, tường ngăn xây gạch dày 10 cm và 20 cm, xây lửng cao khoảng 1 m, không tô, mái tole firoximăng;

* Hiện trạng: Nhà tiền chế bị hư hỏng, vẫn đang sử dụng bình thường.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của hộ ông Nguyễn Hữu Hiếu và bà Nguyễn Thị Cúc, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 221.226.276đ (Hai trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi sáu ngàn, hai trăm bảy mươi sáu đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản 72110000200470 mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

  Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 22/6/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2017 (trong giờ làm việc).

  Tổ chức bán đấu giá vào lúc 8 giờ ngày 08/8/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢPĐỒNG 185 (Kèm NQ)

 

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa màu trên đất của hộ bà Lê Thị Xuân Mai, địa chỉ tại: 85A khu phố 2, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 482,3 m2; thửa đất số 23, tờ bản đồ số 22;

          - Loại đất: 100 m2 đất ở đô thị (ODT) và 382,3 m2 đất trồng cây lâu năm;

          - Theo Giấy Chứng nhận QSDĐ số 01412/QSDĐ/663/QĐUB(T) do UBND tỉnh Bến Tre cấp ngày 14/02/2001

           2. Công trình xây dựng (nhà ở):

          - Diện tích xây dựng: 100,0 m2; dạng nhà cấp IV. Cột gỗ và ximăng; vách tường xây gạch ống, quét vôi; nền gạch tàu; mái lợp ngói, cửa đi chính và cửa sổ bằng gỗ. Hệ thống điện kế, thủy kế riêng, đang sử dụng bình thường.

          3. Hoa lợi trên đất: Có 05 cây dừa lấy nước và 04 cây dừa lấy dầu trên 10 năm tuổi, đang cho trái.

- Tài sản toạ lạc tại: phườngPhú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (công trình xây dựng và hoa màu) của hộ bà Lê Thị Xuân Mai, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

         * Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 4.402.504.426đ (Bốn tỷ, bốn trăm lẻ hai triệu, năm trăm lẻ bốn ngàn, bốn trăm hai mươi sáu đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

 * Khoản tiền đặt trước: 500.000.000đ/01 hồ sơ. Nộp vào tài khoản số 72110000200470 tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

 - Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 22/6/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2017 (trong giờ làm việc).

 - Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 08/8/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢPĐỒNG 186 (Kèm NQ)

  Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của ông Nguyễn Văn Đẹt và bà Đỗ Thị Nguyên, hiện cư ngụ tại: 82/1D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 178,6 m2, loại đất: thổ cư;

- Thuộc tờ bản đồ số 3-1, thửa  147, 157, 157A, 157B;

2.Về nhà ( nhà nằm trên diện tích đất trên): nhà có hiện trạng như sau: chiều ngang 4,26 m, dài 32,55 m, nhà tường, nền lót gạch men, cửa sắt, vách tường được xây tô;

- Tài sản tọa lạc tại: xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của ông Nguyễn Văn Đẹt và bà Đỗ Thị Nguyên, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

          - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 180.853.636 đ (Một trăm tám mươi triệu, tám trăm năm mươi ba ngàn, sáu trăm ba mươi sáu đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ / 01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

  * Khoản tiền đặt trước: 15.000.000 đ/ 01 hồ sơ. Nộp vào tài khoản số 72910000091403 mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi.

  Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 22/6/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2017 (trong giờ làm việc).

  Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 08/8/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢPĐỒNG 187 (Kèm NQ)

 

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (trụ bê tông cốt thép) của ông Ngô Văn Tín, bà Phùng Thị Của, bà Ngô Thị Kim Chuyên, bà Ngô Thị Kim Xuyến và bà Ngô Thị Kim Nhạn, cùng cư ngụ tại: 17/1 ấp Thạnh Thới B, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

Quyền sử dụng đất:

Diện tích đất: 10.001,4m2;

Một phần thửa đất số 110, tờ bản đồ số 06 (theo đo đạc cũ thuộc một phần thửa 96, tờ bản đồ số 02);

- Mục đích sử dụng: đất TSL ;

2. Tài sản trên đất (trụ bê tông cốt thép):

- 04 trụ (0,15m x 0,15m x 3,5m) = 0,42m3;

- 08 trụ (0,15m x 0,15m x 0,15m) = 0,63m3.

- Tài sản (1) và (2) tọa lạc tại:  ấp Thạnh Thới B, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Ngô Văn Tín, bà Phùng Thị Của, bà Ngô Thị Kim Chuyên, bà Ngô Thị Kim Xuyến và bà Ngô Thị Kim Nhạn, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1) + (2): 394.822.400đ (Ba trăm chín mươi bốn triệu, tám trăm hai mươi hai ngàn, bốn trăm đồng).

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước: 40.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 22/6/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2017 (trong giờ làm việc)

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 08/8/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

          * Lưu ý: Thông báo này thay thư mời

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 để biết thêm chi tiết.

28/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 04/12/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 04/12/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 231 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô chở tiền, nhãn hiệu: Mitsubishi, màu sơn: xanh, biển số: 71T-9769, số máy: 6G72TT4012; số khung: 93W9J000348; sản xuất năm 2008, tại Nhật Bản, số chỗ ngồi: 5, loại nhiên liệu: xăng. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: đến hết ngày 04/9/2018. Xe bán dạng đăng ký lại.

* Lưu ý:

- Xe đã bao gồm thuế VAT, khách hàng trúng đấu giá phải chịu các loại thuế và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.

- Trong 30 ngày khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá 30 ngày Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre không chịu trách nhiệm giải quyết.           

 - Tài sản được quản lý tại: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre (địa chỉ: số 02 Đại lộ Đồng Khởi, phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

-  Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 346.000.000đ (Ba trăm bốn mươi sáu triệu đồng).

* Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc) tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre (địa chỉ: số 02 Đại lộ Đồng Khởi, phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre). (Liên hệ đ/c Hưng, SĐT: 0918557624 - 02753.824690).

* Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 69.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 18/12/2018 (Thứ ba) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 232 (Kèm QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là 02 (hai) tàu cá của ông Trần Chí Trung, hiện cư ngụ tại: ấp An Lợi, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Tàu cá biển số đăng ký BT-93739-TS:

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-93739-TS

- Tên tàu: CHÍ TRUNG 2

- Chủ tàu: Trần Chí Trung

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 1999, tại Trà Vinh

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 53,8tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Chiều dài thiết kế: 22,10m

- Chiều rộng thiết kế: 6,6m

- Chiều cao mạn: 2,90m

- Chiều chìm: 2,40m

- Mạn khô: 0,50m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu HINO 10V26C,

- Số máy A10713

- Tổng công suất động cơ: 450CV

- Nhiên liệu động cơ sử dụng: Diesel

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

* Về trang bị khai thác tàu:

- Trong hầm máy 12 (mười hai) bồn nhựa; sau lái tàu có 01 (một) bồn nhựa 1.000 lít.

- Có 06 (sáu) quạt mô tưa 1,5 Kw.

- Ngư cụ (dây, lưới…) đã hư hỏng.

- (01 (một) máy tơi ngang (kéo cáp, lưới).

- 01 (một) mỏ neo khoảng 150 kg.

- 01 (một) cẩu sắt ba chân.

Hiện trạng tàu ngưng hoạt động lâu.

- Giá khởi điểm tài sản (1): 2.388.528.000đ (Hai tỷ, ba trăm tám mươi tám triệu, năm trăm hai mươi tám ngàn đồng)

2. Tàu cá biển số đăng ký: BT-93639-TS

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-93639-TS

- Tên tàu: CHÍ TRUNG 1

- Chủ tàu: Trần Chí Trung

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 1999, tại Ba Tri

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 29,4tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Chiều dài thiết kế: 19m

- Chiều rộng thiết kế: 4,93m

- Chiều cao mạn: 2,47m

- Chiều chìm: 2,02m

- Mạn khô: 0,45m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu HINO V25C,

- Số máy B11138

- Tổng công suất động cơ: 450CV

- Nhiên liệu động cơ sử dụng: Diesel

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

* Về trang bị khai thác tàu:

- Trong hầm máy 12 (mười hai) bồn nhựa.

- 01 (một) mô tơ đáu với máy chính phát điện (khoảng 15Kw).

- Cáp và dây dẫn cào nằm trong cabin (không rõ số lượng).

Hiện trạng tàu ngưng hoạt động lâu.

- Giá khởi điểm: 410.310.000 (Bốn trăm mười triệu, ba trăm mười ngàn đồng).

* Tài sản (1+2) đang được ông Trần Minh Trí (cha ruột của ông Trần Chí Trung) quản lý tại: thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Trần Chí Trung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 2.798.838.000đ (Hai tỷ, bảy trăm chín mươi tám triệu, tám trăm ba mươi tám ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên được bán từng mục 1, 2 và chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ đối với tài sản 1 và 200.000đ/hồ sơ đối với tài sản 2, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 477.000.000đ/hồ sơ đối với tài sản 1 và 82.000.000đ/hồ sơ đối với tài sản 2, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 18/12/2018. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 233 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà Phạm Thị Lan, hiện cư ngụ tại: 289B, đại lộ Đồng Khởi, khu phố 5, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất 

- Diện tích: trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  số BA058783 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 08/7/2010 là 3.136,5m2; diện tích thực tế theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành ngày 10/7/2018: 3.124,2m2.

- Mục đích sử dụng: 1.000m2 đất cơ sở sản xuất kinh doanh, 1.954,1m2 đất trồng cây lâu năm và 170,1m2 đất cây lâu năm thuộc lộ giới.

- Thuộc thửa đất số 167, tờ bản đồ số 10.

2. Tài sản gắn liền với đất

2.1 Nhà xưởng 1:

- Hiện trạng: Móng bê tông cốt thép, khung thép hình, mái tole, vách tole, gác gỗ, nền tráng xi măng (diện tích gác gỗ: 312m2)

- Diện tích tính giá trị: 879,8m2.

- Chất lượng còn lại khoảng 55%.

2.2 Nhà xưởng 2:

- Hiện trạng: Móng cột bê tông cốt thép, vị kèo thép, mái tole, nền lát gạch cramic, tường gạch, sơn nước hoàn thiện

- Diện tích tính giá trị: 706,8m2.

- Chất lượng còn lại khoảng 55%.

2.3 Nhà làm việc:

- Hiện trạng: Móng đà cột bê tông cốt thép, nền gạch Cramic, am1i tole, trần thạch cao, tường gạch, cửa sắt kính.

- Diện tích tính giá trị: 105,6m2.

- Chất lượng còn lại khoảng 60%

2.4 Nhà ăn:

- Hiện trạng: Tận dụng vách tường rào và nhà xưởng, mái tole, nền tráng xi măng.

- Diện tích tính giá trị: 87,9m2

- Chất lượng còn lại: 55%

2.5 Nơi rửa tay + nhà vệ sinh:

- Hiện trạng: Tận dụng vách tường rào và nhà xưởng, mái tole, vị kèo thép, nền gạch Cramic.

- Diện tích tính giá trị: 94,4m2

- Chất lượng còn lại: 45%

2.6 Nhà xe hai bánh giáp hướng tây

- Hiện trạng: Nhà tiền chế, không vách, cột thép hình, mái tole, nền tráng xi măng

- Diện tích tính giá trị: 21,8m2

- Chất lượng còn lại: 55%

2.7. Nhà xe hai bánh giám hướng đông:

- Hiện trạng: Nhà tiền chế, không vách, cột thép hình, mái tole, nền tráng xi măng

- Diện tích tính giá trị: 67,1m2

- Chất lượng còn lại: 55%

2.8 Nhà xe bốn bánh

- Hiện trạng: Nhà tiền chế cột thép hình, mái tole, nền tráng xi măng, vách + cửa thép hình + lưới B40

- Diện tích tính giá trị: 164,1m2

- Chất lượng còn lại: 55%

2.9 Nhà bảo vệ

- Hiện trạng: Móng cột đà bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền lát gạch Cramic, mái lợp tole, trần thạch cao, cửa sắt kính, sơn nước hoàn thiện.

- Diện tích tính giá trị: 13,7m2

- Chất lượng còn lại: 60%

2.10. Cổng tường rào:

- Hiện trạng: Hàng rào xây gạch cao 02m, cổng rào song sắt (sắt hình) kích thước theo chu vi đất (3 phía)

- Diện tích tính giá trị: 174,09m2

- Chất lượng còn lại: 60%

* Tài sản (1 + 2) tọa lạc tại: Xã Quới Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà Phạm Thị Lan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. 

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2) là: 5.611.080.000đ (Năm tỷ, sáu trăm mười một triệu, không trăm ám mươi ngàn đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế. Các khoản này do người mua trúng đấu giá chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/01/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Quới Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/01/2019 (trong giờ làm việc). Lệ phí hồ sơ là 500.000đ, lệ phí này không được hoàn lại.

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 07/01/2019 (trong giờ làm việc). Tiền đặt trước là 1.100.000.000đ nộp vào tài khoản trung tâm dịch vụ đấu giá số 72110000200470 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhành Bến Tre.

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 9 giờ 30 phút ngày 10/01/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

. Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 , website: stp.bentre.gov.vn hoặc thads.moj.gov.vn/bentre để biết thêm chi tiết.

 

11/12/2018 9:00 SAĐã ban hành
Chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre Chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Ngày 15 tháng 5 năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 23/2018/QĐ-UBND; Quyết định này có hiệu lực từ ngày 25 tháng 5 năm 2018 và thay thế Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND ngày 29 tháng 9 năm 2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành chính sách ưu đãi đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre; bãi bỏ nội dung quy định về tỷ lệ phần trăm tính đơn giá thuê đất liên quan đến dự án đầu tư, xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp tại Điều 3 Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND ngày 29 tháng 01 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định tỉ lệ phần trăm tính đơn giá thuê đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

 Quyết định số 23/2018/QĐ-UBND quy định chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre đối với các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật các cụm công nghiệp theo quy hoạch đã được phê duyệt bao gồm các chính sách hỗ trợ sau đây:

Thứ nhất, ưu đãi về thuê đất:

Đối với hình thức nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm: các dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp được tính tỷ lệ tiền thuê đất bằng không phẩy năm phần trăm (0,5%) nhân với (x) giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định cho từng dự án cụ thể và được ổn định năm (05) năm.

Các chính sách ưu đãi về đơn giá cho thuê đất đối với hình thức nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê; miễn tiền thuê đất; thời hạn cho thuê đất được thực hiện theo quy định Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước và theo quy định tại Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.

Thứ hai, ưu đãi về thuế: Ưu đãi về chính sách thuế áp dụng theo quy định của các Luật thuế hiện hành.

Thứ ba, ưu đãi về đất xây dựng khu dân cư, tái định cư: Chủ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp được tỉnh chấp thuận giao thêm diện tích đất hợp lý để đầu tư xây dựng khu tái định cư, xây dựng nhà ở công nhân và khu chuyên gia phục vụ hậu cần cho cụm công nghiệp.

Thứ tư, ưu đãi về hỗ trợ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng:

Nhà đầu tư ứng trước chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng cho từng cụm công nghiệp, khu tái định cư và nhà ở công nhân theo dự án đầu tư. Tỉnh sẽ hỗ trợ cho nhà đầu tư trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng như sau:

Trường hợp nhà đầu tư được nhà nước cho thuê đất phải nộp tiền thuê đất vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật (kể cả miễn, giảm một phần), tỉnh sẽ hỗ trợ với mức tối đa bằng ba mươi phần trăm (30%) chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng cho từng cụm công nghiệp, khu tái định cư và nhà ở công nhân theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Phần hỗ trợ bồi thường, giải phóng mặt bằng sẽ được trừ vào số tiền thuê đất phải nộp. Trong trường hợp phần hỗ trợ vượt quá số tiền thuê đất phải nộp thì chỉ được trừ bằng tiền thuê đất phải nộp, số còn lại được tính vào vốn đầu tư của dự án.

Trường hợp nhà đầu tư được Nhà nước cho thuê đất thuộc đối tượng được miễn toàn bộ tiền thuê đất trong thời gian thuê đất, nhà đầu tư chịu toàn bộ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và khoản chi phí này được tính vào vốn đầu tư của dự án.

Thứ năm, ưu đãi về hạ tầng ngoài hàng rào cụm công nghiệp

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật: giao thông, điện, nước, viễn thông ngoài hàng rào cụm công nghiệp được tỉnh đáp ứng theo tiến độ xây dựng của nhà đầu tư.

Ngoài ra, các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật các cụm công nghiệp theo quy hoạch đã được phê duyệt còn được hưởng ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật và các ưu đãi khác như sau:

 Hỗ trợ sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tại các cụm công nghiệp; Hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp; Hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp bao gồm: San lấp mặt bằng, đường giao thông nội bộ, hệ thống cấp nước, thoát nước tại các cụm công nghiệp theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh về khuyến công;

Hỗ trợ công tác xúc tiến mời gọi các dự án đầu tư thứ cấp vào cụm công nghiệp. Việc mời gọi các dự án thứ cấp phải đảm bảo theo quy hoạch được duyệt và các điều kiện bảo vệ môi trường trong, ngoài cụm công nghiệp;

Hỗ trợ trong việc giới thiệu, tuyển dụng lao động cho các dự án thứ cấp trong cụm công nghiệp;

Được xem xét vay vốn tín dụng đầu tư của nhà nước với mức không quá 70% tổng mức đầu tư và xem xét đầu tư theo hình thức hợp tác công tư.

16/11/2018 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo kết quả giải quyết thi hành án của ông Lê Quốc Sự, ngụ tại ấp Tân Lộc, xã Tân Hội, MCN, Bến TreThông báo kết quả giải quyết thi hành án của ông Lê Quốc Sự, ngụ tại ấp Tân Lộc, xã Tân Hội, MCN, Bến Tre
30/05/2018 5:00 CHĐã ban hành
Phân biệt hòa giải ở cơ sở với các loại hình hòa giải khácPhân biệt hòa giải ở cơ sở với các loại hình hòa giải khác

Ở nước ta hiện nay có những hình thức hòa giải khác nhau như: Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án, hòa giải trong tố tụng trọng tài, hòa giải tranh chấp lao động, hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và hòa giải ở cơ sở.

Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án

Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động, trừ những trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Trường hợp các đương sự thống nhất thỏa thuận với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó, thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

 Hòa giải trong tố tụng trọng tài      

Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài, các bên tranh chấp có thể thương lượng, tự hòa giải hoặc đề nghị trọng tài giúp các bên hòa giải. Trọng tài cũng có thể chủ động tự mình tiến hành hòa giải các bên. Nếu các bên thông qua hòa giải giải quyết được tranh chấp thì có thể yêu cầu trọng tài viên xác nhận sự thỏa thuận đó bằng văn bản, lập biên bản hòa giải thành và công nhận sự thỏa thuận của các bên. Văn bản này có giá trị như quyết định trọng tài - có hiệu lực thi hành, không bị kháng cáo.

Hòa giải tranh chấp lao động

Hòa giải tranh chấp lao động được Hội đồng trọng tài lao động hoặc hòa giải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hòa giải viên lao động) tiến hành khi có tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề giữa người lao động với người sử dụng lao động. Thẩm quyền và trình tự hòa giải tranh chấp lao động được quy định tại Bộ luật Lao động.

 Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Đây là việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp đối với các tranh chấp về đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.

Tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định việc hòa giải tranh chấp đất đai như sau:

“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

Hòa giải ở cơ sở

Khác với các loại hình hòa giải nêu trên, hòa giải ở cơ sở trước hết xuất phát từ đặc điểm lịch sử, truyền thống, tâm lý dân tộc. Ở Việt Nam, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước với nhu cầu làm thủy lợi, đắp đê, chống lụt, thêm vào đó là nguy cơ giặc ngoại xâm luôn đe dọa đã khiến cho người Việt cổ sớm hình thành lối sống cộng đồng, truyền thống đoàn kết, tương thân, thương ái. Trong các làng xã cổ truyền, người nông dân quen sống với các mối quan hệ xóm làng, huyết thống ràng buộc nhau một cách chặt chẽ, do đó họ rất coi trọng tình làng, nghĩa xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau”. Nếu có xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, hàng xóm láng giềng thì họ chủ trương “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười”, xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn, xây dựng cộng đồng hòa thuận, yên vui, hạnh phúc. Vì vậy, hòa giải được xem là phương án tối ưu để giải quyết xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân…

Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định: “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này”.

Như vậy, hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những vi phạm pháp luật nhằm giữ gìn đoàn kết và tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân, củng cố phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư. Hoạt động hòa giải được thông qua các hòa giải viên ở các tổ hòa giải. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở để hoạt động hòa giải theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở. Cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác.

10/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREDANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

(Đến tháng 11 năm 2017)


STTTên Tổ chức hành nghề công chứngTrưởng Văn phòng/Phòng công chứngCông chứng viên hợp danh/làm việc theo hợp đồngĐịa điểm đặt trụ sởĐiện Thoại
01Phòng Công chứng số 1 - Sở Tư pháp Bến TreNguyễn Văn Tứ

- Lê Thị Thanh Trang

- Huỳnh Đoàn Ngọc Hân

17 Đường CMT8, phường 3, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre02753.810.618
02Văn phòng Công chứng Đồng KhởiVõ Văn ThanhLê Duy Phúc Hải (Công chứng viên hợp danh)Số 89A1, đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0918256585

 

03Văn Phòng Công chứng Tín HữuNguyễn Thị Kim Phượng

Ngô Xuân Hoàng

(Công chứng viên hợp danh)

số 46, đường số 3, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0983.626.700

0917.491.319

04Văn phòng Công chứng Kim CươngĐặng Thị Kim Cương

Nguyễn Thị Diễm Phương

(Công chứng viên hợp danh)

89A khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre0918.267.7570
02753.869.459
05Văn phòng Công chứng Bình ĐạiNgô Công Lợi

Nguyễn Văn Rậm

(Công chứng viên hợp danh)

08 đường Nguyễn Đình Chiểu, ấp Bình Thuận, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre0983.407.100
06Văn phòng Công chứng Ba TriPhan Văn Trung

Phạm Thị Minh Thủy

(Công chứng viên hợp danh)

27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

0918.813.969

02753.859.234

07Văn phòng Công chứng Hà Thị TiếnHà Thị Tiến 78A, quốc lộ 60, khu phố &, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

0978862448

02753.663.646

08Văn phòng Công chứng Thạnh PhúNguyễn Văn Mộng

Lê Văn Hòa

(Công chứng viên hợp danh)

ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre0753.870.771
09

Văn phòng Công chứng

Phan Đức Toàn

Phan Đức Toàn

Huỳnh Thị Kim Yến

(Công chứng viên hợp danh)

Số 50A, ấp Phước Hậu, xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre0912.223.045
10Văn phòng công chứng Nguyễn Văn MớiNguyễn Văn Mới

Nguyễn Minh Phương

(Công chứng viên hợp danh)

Số 1, ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre0918.262.633
11Văn phòng công chứng Lê Hùng DũngLê Hùng Dũng Số 59, ấp An Hòa, xã An Hiệp, Châu Thành, Bến Tre

0908.869.750

02753.626.626


09/11/2017 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 01/10/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 01/10/2015
 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 384/2015

Tài sản là một phần quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của ông Cao Văn Tài và bà Võ Thị Chung, địa chỉ tại: ấp Vinh Điền, xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

      - Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS499111, số vào sổ cấp GCN CH01323 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 07/4/2014 diện tích là 303,9m2 (trong đó: 70 m2 đất ONT và 233,9 m2 đất CLN); thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 02.

      - Theo trích lục bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất huyện Bình Đại trích lục ngày 07/7/2015, diện tích: 257,8 m2 (trong đó: 70 m2 đất ONT và 187,8 m2 đất CLN)

      - Thuộc một phần thửa số 141, tờ bản đồ số 02

      * Lưu ý: Tài sản bán theo diện tích trích lục họa đồ là 257,8 m2 (trong đó: 70 m2 đất ONT và 187,8 m2 đất CLN).

     2. Nhà ở trên đất:

            a) Nhà chính: chiều ngang 6,2m, chiều dài 15,5m, gồm 01 phòng thờ, 02 phòng ngủ, 01 phòng khách, 01 gian nhà sau, trong nhà sau có 01 phòng vệ sinh. Kết cấu: nền móng bê tông cốt thép, cột bê tông cốt thép, mái lợp tol firôximăng, không trần, nền lát gạch ceramic, tường sơn nước, xây gạch dày 10cm, cửa chính, cửa sổ bằng nhôm lắp kính, kèo bằng gỗ.

            b) Nhà phụ: Kết cấu: nền tráng xi măng, mái lợp tol firô xi măng, tường xây gạch chưa tô, cột xi măng.

            c) Hàng rào: bằng lưới B40, cao 1,8m, dài 15,2m.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở  trên đất của ông Cao Văn Tài và bà Võ Thị Chung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 430.020.000đ (Bốn trăm ba mươi triệu, không trăm hai mươi ngàn đồng).

         Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ

 * Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 396/2015

Tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước, gồm: 02 lô xe môtô 02 bánh các loại. Cụ thể như sau:

1. Lô số 01: gồm 219 chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng phế liệu, giá khởi điểm: 153.300.000đ (Một trăm năm mươi ba triệu, ba trăm ngàn đồng).

 2. Lô số 02: gồm 13 chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng được phép đăng ký lại, giá khởi điểm: 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán theo từng lô, có bảng kê chi tiết kèm theo. Đối với xe bán dạng phế liệu bán đấu giá thành, khi người trúng đấu giá nhận xe phải thực hiện việc cắt sườn, đục bỏ số máy, số khung.

- Tài sản tọa lạc tại: Phòng Cảnh sát Giao thông đường bộ Đường sắt – Công an tỉnh Bến Tre, địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát Giao thông Đường bộ - Đường sắt - Công an tỉnh Bến Tre bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 189.300.000 đ (Một trăm tám mươi chín triệu, ba trăm ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/10/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 13/10/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đồng/hồ sơ (lô số 01), 100.000 đ/hồ sơ (lô số 02).

* Tiền đặt trước: 22.000.000 đồng/hồ sơ (lô số 01), 5.000.000 đ/hồ sơ (lô dố 02)

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 386/2015

Tài sản là xe môtô hai bánh, ba bánh, xe lôi máy các loại tịch thu sung công quỹ nhà nước của Công an huyện Thạnh phú chuyển bán. Tài sản gồm có:

- Một trăm năm mươi một (151) chiếc xe môtô, gắn máy hai bánh các loại (trong đó: có 66 (sáu mươi sáu) chiếc xe được phép đăng ký lại; 85 (tám mươi lăm) xe bán dạng phế liệu); 05 (năm) chiếc xe môtô ba bánh và 02 (hai) chiếc xe lôi máy bán dạng phế liệu (có bảng kê chi tiết kèm theo).

* Lưu ý:

- Xe ba bánh bán dạng phế liệu, khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản phải tự trang bị các công cụ, thiết bị để thực hiện cắt đôi thùng xe và khung xe. Xe môtô, gắn máy hai bánh cắt đôi khung xe.

- Thời hạn 15 ngày, kể từ ngày trúng đấu giá người mua được tài sản phải di dời phương tiện ra khỏi trụ Sở Công an huyện Thạnh Phú, nếu chưa thực hiện xong việc di dời thì phải trả chi phí trông giữ, bảo quản theo mức phí tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tập trung vận chuyển xe vào ngày thứ bảy và chủ nhật.

- Tài sản tọa lạc tại: Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện Thạnh phú, tỉnh Bến Tre, địa chỉ: Thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh phú, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính không xác định được chủ sỡ hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp của Công an huyện Thạnh phú bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 223.300.000đ (Hai trăm hai mươi ba triệu, ba trăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 01/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/10/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 09/10/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ.

* Tiền đặt trước: 33.000.000 đ/hồ sơ.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 366/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất của hộ ông Võ Tấn Thành; hiện cư ngụ tại: ấp Phú Thành, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Thửa số 383, tờ bản đồ số 11;

- Diện tích: 1.811,9 m2; Loại đất: MNC;

2. Một phần thửa số 382 (theo hồ sơ đo đạc kê biên là thửa 382a), tờ bản đồ số 11;

- Diện tích:  694,2 m2; Loại đất: HNK;

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Võ Tấn Thành, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

 *Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 941.152.419đ (Chín trăm bốn mươi mốt triệu, một trăm năm mươi hai ngàn, bốn trăm mười chín đồng).

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ hồ sơ.

 * Khoản tiền đặt trước tài sản: 80.000.000 đ/hồ sơ.

 Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 10/11/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 383/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Hồ Văn Chân và bà Trần Thị Rĩ, địa chỉ tại: ấp Long Hòa 1, xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

      - Diện tích: 894,5 m2;

      - Loại đất: 70 m2 đất thổ cư và 824,5 m2 đất CLN;

      - Thuộc một phần thửa số 966, 967, tờ bản đồ số 01 (số liệu chính quy thuộc thửa 88, tờ bản đố 17);

      * Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C850945, số vào sổ 405QSDĐ/83/UB-QĐ, do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 26/8/1993.

       2. Cây trồng trên đất: 11 cây dừa loại 1 trên 06 năm tuổi đã cho trái ổn định và 11 cây dừa loại 3 04 năm tuổi, chưa cho trái.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Hồ Văn Chân và bà Trần Thị Rĩ, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 839.500.000 đ (Tám trăm ba mươi chín triệu, năm trăm ngàn đồng).

         Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ.

 * Khoản tiền đặt trước: 80.000.000đ/hồ sơ.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 375/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Bé Ngọc, địa chỉ: Số nhà 412C, Khu phố 3, Phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 118,2m2;

- Thuộc thửa đất số 94; tờ bản đồ số 09.

- Mục đích sử dụng: 80,7m2 đất ở đô thị và 37,5m2 đất trồng cây lâu năm;

- Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 403375, số vào sổ cấp GCN: CH01943 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 09/7/2015.

- Tài sản tọa lạc: phường 7, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Bé Ngọc do không có nhu cầu sử dụng cần bán.

* Lưu ý: Tài sản bán không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua trúng đấu giá khi nhận tài sản có yêu cầu đo đạc lại thì phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại có tăng hơn diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu diện tích đất giảm thì người mua phải chịu không khiếu nại.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 105.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/10/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 13/10/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre. Tỉnh Bến Tre).

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 395/2015

Tài sản là một phần quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (cây trồng) của bà Lê Thị Nhi, địa chỉ: ấp Kinh Gãy, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

- Diện tích: 1.941,5 m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 08 (mới), thửa đất số 02 (mới);

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 252897 do UBND huyện Mỏ Cày (nay là UBND huyện Mỏ Cày Bắc) cấp ngày 09/01/2004.

- Tài sản tọa lạc: ấp Phú Bình, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

* Lưu ý:  Tài sản bán theo diện tích đã đạc thực tế.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là một phần quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (cây trồng) của bà Lê Thị Nhi do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 174.735.000 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, bảy trăm ba mươi lăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/10/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 20/10/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 392/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của bà Phan Thị Thu Thủy; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 195,7m2;

- Thuộc thửa đất số 83; tờ bản đồ số 20.

- Mục đích sử dụng: 159, 0m2 đất ở đô thị và 37,6 m2 đất trồng cây lâu năm;

2. Về nhà:

- Loại nhà: Nhà ở riêng lẻ, cấp 4, có 08 căn nhà trọ được xây dựng kiên cố, với Diện tích xây dựng là 147,9m2, được cấp phép và chủ quyền nhà đầy đủ, nằm trong khu quy hoạch đất nhà ở kết hợp dịch vụ và đất thương mại dịch vụ, đất đẹp và nở hậu;

- Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 537557, số vào sổ cấp GCN: CH01691 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 27/10/2014.

- Tài sản tọa lạc: số 289, Khu phố 3, phường 7, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của bà Phan Thị Thu Thủy do không có nhu cầu sử dụng cần bán.

  * Lưu ý: Tài sản bán không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua trúng đấu giá khi nhận tài sản có yêu cầu đo đạc lại thì phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại có tăng hơn diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu diện tích đất giảm thì người mua phải chịu không khiếu nại.

  *Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 105.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/10/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 13/10/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 385/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Kế và bà Phạm Thị Hửng, địa chỉ: ấp Vĩnh Đức Trung, xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm sau:

- Diện tích đất: 374,5 m2; Loại đất: trồng cây hàng năm khác (HNK);

- Thuộc tờ bản đồ 02, thửa đất 530;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số  AH 546787 do UBND huyện Ba Tri cấp ngày 27/12/2006.

- Tài sản tọa lạc: xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Kế và bà Phạm Thị Hửng do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi – Phòng Giao dịch Ba Tri xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 300.000.000 đ (Ba trăm triệu  đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015 (trong giờ làm việc).

        Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 367/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út; hiện cư ngụ tại: ấp Bình Hòa, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

a) Thửa số 42, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  227,8 m2  (diện tích lộ giới 56,3m2); Loại đất: ODT;

b) Thửa số 44, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  202,2 m2; Loại đất: TSL (nuôi trồng thủy sản);

2. Công trình xây dựng trên đất (nhà ở diện tích 337,541 m2).

- Tầng trệt: phòng massage, khu phòng massage, phòng xông hơi 1, phòng xông hơi 2, hồ thủy lực, khu vệ sinh.

- Tầng lầu: phòng karaoke, khu vệ sinh.

- Phần tài sản phụ: cổng rào, hàng rào, mái che, gác gỗ.

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.372.457.253 đ (Một tỷ, ba trăm bảy mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi bảy ngàn, hai trăm năm mươi ba đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667; 075-3512081; 075-3512083.

01/10/2015 5:00 CHĐã ban hành
Đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyệnĐăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện

Ngày 20 tháng 11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Hộ tịch. Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Quán triệt quan điểm phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương, cho cơ sở, Luật Hộ tịch quy định thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo hướng phân cấp mạnh mẽ cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký các việc hộ tịch. Quy định này nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm của chính quyền địa phương; bảo đảm tăng cường vai trò quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tiến tới mục tiêu lâu dài là phân cấp triệt để thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho chính quyền cơ sở khi điều kiện cho phép.

Đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã 

Thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch trong nước của Ủy ban nhân dân cấp xã bao gồm: Đăng ký khai sinh; kết hôn; nhận cha, mẹ, con; giám hộ (bao gồm cả đăng ký chấm dứt, thay đổi giám hộ); đăng ký khai tử; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác) và Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam.

 Về thẩm quyền đăng ký hộ tịch:

Việc khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ.

Việc kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ.

Việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con.

Việc giám hộ được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người giám hộ hoặc người được giám hộ cư trú.

Việc chấm dứt giám hộ được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký việc giám hộ trước đây.

Việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi, bổ sung thông tin hộ tịch được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân thực hiện việc ghi vào sổ việc thay đổi hộ tịch khi nhận được thông báo của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử; trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.

Thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo nơi cư trú trong Luật Hộ tịch được xác định là nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi cá nhân đang sinh sống.

Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch: Thủ tục đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch với các thủ tục khá đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho người có yêu cầu. Cá nhân có yêu cầu đăng ký hộ tịch nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) cho cơ quan đăng ký hộ tịch kèm theo các giấy tờ chứng minh cho sự kiện hộ tịch cần đăng ký (Giấy chứng sinh hoặc văn bản thay thế, giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế giấy báo tử, giấy tờ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con, giấy tờ làm căn cứ chứng minh việc thay đổi, cải chính hộ tịch …)

Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân (một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp còn giá trị sử dụng). Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển tiếp, khi chưa có Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú.

Luật Hộ tịch cũng quy định cụ thể về nội dung đăng ký khai sinh, xác định nội dung đăng ký khai sinh là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được ghi vào Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên quan đến thông tin khai sinh phải phù hợp với nội dung đăng ký khai sinh của người đó (Điều 14). Luật Hộ tịch cũng quy định nguyên tắc cấp Số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh; cập nhật thông tin hộ tịch vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch; về thời hạn, trách nhiệm thực hiện việc đăng ký khai sinh, khai tử; thời gian và trình tự giải quyết các việc đăng ký hộ tịch, bảo đảm chặt chẽ nhưng rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục hành chính so với quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.

 Đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp huyện

Chương III của Luật Hộ tịch quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký các loại việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài và việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú trong nước từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc.

Phạm vi các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài được quy định cụ thể như sau:

- Việc khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch; có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; có cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch. Việc khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh về cư trú tại Việt Nam có cha và mẹ là công dân Việt Nam; có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam.

- Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài; giữa người nước ngoài cư trú tại Việt Nam với nhau.

- Việc giám hộ giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài cùng cư trú tại Việt Nam;

- Việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau mà một hoặc cả hai bên thường trú tại Việt Nam.

- Việc khai tử cho người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam.

Riêng ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được mở rộng hơn (pháp luật hiện hành mới chỉ quy định trình tự, thủ tục ghi vào sổ việc khai sinh, kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài). Để bảo đảm quyền lợi của công dân Việt Nam, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, Luật Hộ tịch quy định: Việc hủy kết hôn, giám hộ và thay đổi hộ tịch, khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cũng được ghi vào sổ hộ tịch theo trình tự, thủ tục quy định tại Chương này.

Thẩm quyền đăng ký: Để thực hiện định hướng lớn về cải cách hành chính, với quan điểm thực hiện phân cấp mạnh cho chính quyền cơ sở, nhằm phát huy năng lực, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, tăng cường vai trò quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện việc đăng ký hộ tịch, Luật Hộ tịch đã giao thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài cho Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên cư trú trong nước, xác định lại dân tộc, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các việc này.

Trình tự, thủ tục đăng ký: Cơ bản, trình tự, thủ tục đăng ký các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện được kế thừa các quy định hiện hành, có đơn giản, rút gọn hơn về quy trình và thời hạn giải quyết một số loại việc hộ tịch (như: việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con đều rút ngắn thời hạn giải quyết). Người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân, một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp còn giá trị sử dụng. Trường hợp người nước ngoài không có hộ chiếu để xuất trình theo quy định thì có thể xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển tiếp, khi chưa có Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì, trước mắt người dân vẫn phải xuất trình các giấy tờ cần thiết.

18/12/2015 9:00 SAĐã ban hành
Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Qua quá trình triển khai tổ chức thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, bên cạnh các kết quả đạt được, việc thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

a) Việc thực hiện quy định về lập đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì đối với Nghị quyết quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật cơ quan soạn thảo phải thực hiện quy trình chính sách: Thực hiện từ Điều 112 đến Điều 117 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trước khi thực thực hiện quy trình soạn thảo. Quy trình chính sách bao gồm các bước như sau:

- Xây dựng nội dung chính sách

          - Đánh giá tác động của chính sách

          - Xây dựng dự thảo Hồ sơ lập đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét thông qua đề nghị xây dựng Nghị quyết.

          - Trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét đề nghị xây dựng Nghị quyết, phân công soạn thảo và xác định thời hạn trình Hội đồng nhân dân.

Sau khi thực hiện xong các bước nêu trên, nếu đề nghị xây dựng Nghị quyết được Thường trực Hội đồng nhân dân chấp thuận thì thực hiện tiếp theo quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật từ Điều 118 đến Điều 126 của Luật.

Tuy nhiên, trên thực tế việc đánh giá tác động chính sách được các cơ quan soạn thảo thực hiện lồng ghép trong quá trình xây dựng văn bản nhưng chưa đúng quy trình, thủ tục vì những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành những chính sách đặc thù của tỉnh thường có nội dung ngắn và thực hiện theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nên việc lập đề nghị xây dựng Nghị quyết thực hiện theo ý kiến chỉ đạo và thường bỏ qua bước lập Đề nghị xây dựng Nghị quyết trong quy trình chính sách (gửi Sở Tư pháp thẩm định Đề nghị (thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định), thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh và trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét Đề nghị)

Thứ hai, theo quy định của Luật thì cần phải xây dựng nội dung chính sách sau đó đưa chính sách đó đánh giá tác động, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh rồi mới trình Thường trực HĐND chấp thuận. Nếu chính sách đó được chấp thuận thì cơ quan soạn thảo mới tiến hành xây dựng dự thảo Nghị quyết và thực hiện các quy trình tiếp theo. Tuy nhiên, trên thực tế do nội dung chính sách của địa phương thường ngắn gọn nên  cơ quan soạn thảo tiến hành xây dựng luôn dự thảo Nghị quyết, đánh giá tác động chính sách, tổ chức lấy ý kiến góp ý, thẩm định… và bỏ qua giai đoạn xây dựng chính sách như quy định của Luật.

Qua thực tế theo dõi việc ban hành và triển khai thực hiện các chính sách pháp luật tại địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất điều chỉnh quy định đánh giá tác động chính sách ở địa phương theo hướng lồng gép đánh tác động chính sách vào quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm đơn giản hóa thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tiết kiệm thời gian, công sức cho các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, không tách riêng thành 02 quy trình như quy định của Luật hiện hành.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 111 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì đối với những đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 1 Điều 27) thì không phải thực hiện quy trình chính sách theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 2 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy định về soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định "đánh giá tác động văn bản trong tất cả các trường hợp kể cả trường hợp dự thảo Quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên". Như vậy, quy trình đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và quy trình đánh giá tác động chính sách trong soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thống nhất với nhau.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị sửa đổi quy định tại điểm c khoản 3 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hướng dẫn cụ thể, làm cơ sở để địa phương áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

b) Về ban hành văn bản bãi bỏ

Theo khoản 1 Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Như vậy, theo quy định mới của Luật năm 2015 thì văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh) là văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn triển khai áp dụng quy định này gặp một số khó khăn như sau:

Một là, phần lớn văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để quy định chi tiết điều, khoản điểm được cơ quan Trung ương giao về cho địa phương ban hành, khi các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương làm căn cứ pháp lý ban hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã không còn phù hợp (bị sửa đổi, bổ sung, thay thế) thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cũng không còn phù hợp.

Trong trường hợp nếu văn bản không còn đối tượng điều chỉnh hoặc một phần đối tượng điều chỉnh không còn, hoặc một phần hoặc toàn bộ nội dung không còn phù hợp với căn cứ pháp lý hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội mà không cần thiết phải ban hành văn bản mới thay thế thì ban hành văn bản bãi bỏ (bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản). Như vậy, có thể thấy nội dung của văn bản bãi bỏ rất đơn giản, chỉ cần rà soát các quy định hiện hành của Trung ương thì có thể xác định văn bản đó có cần thiết bãi bỏ hay không bãi bỏ.

Hai là, nếu văn bản bãi bỏ là hình thức văn bản quy phạm pháp luật thì phải ban hành theo trình tự thủ tục của một văn bản quy phạm pháp luật như: Đề nghị xây dựng văn bản, soạn thảo, đăng tải, lấy ý kiến, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua. Trong khi nội dung văn bản bãi bỏ phần lớn chỉ có 2 điều: Một điều quy định về bãi bỏ văn bản nào đó, một điều quy định về tổ chức thực hiện. Đồng thời, kinh phí xây dựng cho một văn bản quy phạm pháp luật theo Thông tư liên tịch số 338/2016/TTLT-BTC-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2016 quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện VBQPPL thì mức chi cho một văn bản bãi bỏ là 10 triệu đồng gây tốn kém ngân sách nhà nước.

Từ những lý do trên, kiến nghị cơ quan Trung ương xem xét điều chỉnh lại nội dung này theo hướng văn bản chỉ có nội dung bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy trình rút gọn tại Điều 146 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đồng thời điều chỉnh lại mức chi kinh phí cho phù hợp với loại văn bản này).

c) Về thực hiện nội dung cấm quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (khoản 4 Điều 14 Luật)

Khoản 4 Điều 14 Luật quy định cấm quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật."

Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 14 thì nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân không được quy định thủ tục hành chính trừ trường hợp được giao trong luật.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật thì Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do đó, trong thực tiễn áp dụng quy định này có một số vướng mắc như sau:

Một số văn bản dưới luật giao hoặc qua thực tế tại địa phương phát sinh một số nội dung cần quy định thủ tục hành chính để triển khai thực hiện các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của địa phương (như ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, hỗ trợ xúc tiến thương mại, ban hành thủ tục xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC …). Trong trường hợp này nếu địa phương không quy định thủ tục để tổ chức, cá nhân nhận được mức hỗ trợ sẽ dẫn đến việc tùy tiện trong thực hiện, không đảm bảo tính công khai, minh bạch; đồng thời có một số cơ quan tự quy định về mẫu đơn, tờ khai và trình tự thủ tục để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân. Còn nếu quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh thì lại trái với khoản 4 Điều 14 Luật (chỉ cho phép quy định trong trường hợp được luật giao).

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị xem xét sửa đổi khoản 4 Điều 14 Luật theo hướng mở rộng thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

d) Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện và cấp xã.

Theo quy định tại Điều 30 của Luật thì Hội đồng cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp được luật giao.

Tuy nhiên, thực tiễn văn bản Luật hầu như không giao thẩm quyền một cách rõ ràng cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã. Mặt khác, trong một số trường hợp văn bản dưới Luật giao hoặc cấp huyện và cấp xã (nhất là cấp huyện) phát sinh vấn đề cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết các vấn đề phát sinh tại địa phương hoặc để thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương; trong trường hợp này nếu ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì lại trái với quy định tại Điều 30 Luật, không ban hành thì cấp huyện và cấp xã gặp khó khăn trong thực hiện chức năng quản lý của mình.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị sửa đổi Điều 30 Luật theo hướng cho phép Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã, ngoài trường hợp được Luật giao còn được phép ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một số trường hợp văn bản dưới luật giao. (Còn tiếp kỳ sau)

24/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

STT

Tên

văn

 bản

Số, ký hiệu

 văn bản

Ngày, tháng, năm ban hành văn bản Trích yếu/nội dung văn bản Hiệu lực văn bản Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01Pháp lệnh

09/2014/

UBTVQH13

20/1/2014Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dânCòn hiệu lực  ​
02Nghị định

111/2013/

NĐ-CP

30/9/2013Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
03Nghị định 221/2013/NĐ-CP30/12/2013Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộcCòn hiệu lực  
04Nghị định

02/2014

NĐ-CP

10/01/2014Quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực  
​05​Nghị định
26/2016/NĐ-CP​16/4/2016Quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập​Từ ngày 01/6/2016
06Thông tư 38/2014/TT-BCA12/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡngCòn hiệu lực  
07Thông tư 39/2014/TT-BCA12/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực  
08Thông tư 20/2014/TT-BTP25/9/2014Về việc ban hành các biểu mẫu để sử dụng trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp thay thế xử lý hành chính quản lý tại gia đình đối với người chưa thành niên theo quy định của Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/09/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
09Thông tư 42/2014/TT-BCA25/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
10
Thông tư 43/2014/TT-BCA08/10/2014Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử  lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực 
11Thông tư

48/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2013 quy định chế độ áp dụngbiện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực 
12Thông tư 193/2014/TT-BTC12/12/2014Về việc quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực 
13Thông tư liên tịch

17/2015/

TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA

09/7/2015Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túyCòn hiệu lực 
14Công văn

1503/

BTP-QLXLVPHC

&TDTHPL

08/5/2015Về việc sử dụng các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BTP và Thông tư số 42/2014/TT-BCACòn hiệu lực 
​15​Thông tư
​19/2015/TT-BTP​28/12/2015

Việc kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

​Còn hiệu lực


25/09/2015 2:00 CHĐã ban hành
Khai trương Văn phòng công chứng Thạnh phú Khai trương Văn phòng công chứng Thạnh phú
Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.


Văn phòng công chứng Thạnh Phú do Công chứng viên Nguyễn Văn Mộng làm Trưởng Văn phòng, được thành lập theo Quyết định 905/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động số 09/TP- ĐKHĐ ngày 23 tháng 5 năm 2014. Văn phòng công chứng Thạnh Phú có chức năng, thực hiện công chứng các loại hợp đồng dân sự, kinh tế, thương mại; công chứng di chúc, khai nhận di sản thừa kế… theo quy định của Luật Công chứng.

Đây là Văn phòng Công chứng thứ 08 được thành lập, đưa tổng số tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre lên 09 tổ chức; hoàn thành trên 90 %  lộ trình quy hoạch phát triển các văn phòng công chứng của tỉnh giai đoạn 2010-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.


Phát biểu tại buổi lễ khai trương, ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã khẳng định việc thành lập Văn phòng Công chứng trên địa bàn huyện Thạnh Phú là cần thiết, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự của cá nhân, tổ chức, hạn chế, phòng ngừa tranh chấp phát sinh. Đồng thời, yêu cầu Công chứng viên, nhân viên Văn phòng Công chứng Thạnh Phú tích cực nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; có tinh thần, thái độ cởi mở trong hoạt động, phục vụ tốt yêu cầu công chứng trên địa bàn huyện.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 08/7/2016Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 08/7/2016

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 209/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Bảy và bà Nguyễn Thị Thu, hiện cư ngụ tại: ấp Phước Tân, xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

* Quyền sử dụng đất:

- Thửa số 411, tờ bản đồ số 04, diện tích 395,2 m2 (trong đó diện tích đất nằm trong hành lang lộ giới là 94,3 m2).

- Loại đất: LUC

- Tài sản toạ lạc tại: xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Bảy và bà Nguyễn Thị Thu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 249.620.770đ (hai trăm bốn mươi chín triệu, sáu trăm hai mươi ngàn, bảy trăm bảy mươi đồng).

   Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/7/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/8/2016 (trong giờ làm việc).

   Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 18/8/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

   * Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ;

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 208/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Trần Long Tuyền và bà Trương Thị Út, hiện cư ngụ tại: Số 110C ấp Chánh, xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1. Thửa số 378, tờ bản đồ số 05:

           - Diện tích sử dụng: 593,9 m2, (trong đó diện tích lộ giới: 407,2 m2);

           - Loại đất: LUA;

2. Thửa số 376, tờ bản đồ số 05:

           - Diện tích sử dụng: 919,2 m2 , (trong đó diện tích lộ giới: 25,9 m2);

           - Loại đất: LUA;

           - Tài sản (1+2) toạ lạc tại: xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất của ông Trần Long Tuyền và bà Trương Thị Út, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.   

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 326.231.250 đ (Ba trăm hai mươi sáu triệu, hai trăm ba mươi mốt ngàn, hai trăm năm mươi đồng).

 Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/7/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/8/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 18/8/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/hồ sơ;

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 201/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và nhà ở của bà Phạm Kim Phượng, hiện cư ngụ tại: số 96B2, Khu phố 1, phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre 1. Về đất:

1. Về đất:

- Thửa đất số 164, 164a, thuộc tờ bản đồ số 21; Diện tích:  73,4 m2, loại đất: đất trồng cây lâu năm (CLN);

- Thửa 10a, tờ bản đồ số 21, diện tích 8,3 m2, bà Phạm Kim Phượng chưa đứng tên.

2. Công trình cây dựng

a) Về nhà (nhà nằm trên diện tích đất trên):

* Cấu trúc:

- Diện tích xây dựng: 56,06m2 (cất trên phần thửa đất 164, tờ bản đồ số 21 có cất qua phần đất thuộc thửa 10a, tờ bản đồ số 21 diện tích xây dựng là 8,3m2); dạng nhà cấp IV. Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao và tường ngăn xây gạch dày 10cm (có vách tường cung với ông Phan Văn Đồng, dài 12,15m), trần nhựa, máy lợp tole sóng vuông. Hệ thống điện đi ngoài, hệ thống nước âm tường.

* Kết cấu:

- Phòng khách: nền lát gạch ceramic (40 x 40)cm, tường bao và tường ngăn xây gạch dày 10cm, sơn nước; trần nhựa; đòn tay gỗ, mái tole sóng vuông. Cửa đi chính bằng sắt + kính loại 04 cánh; cửa sổ bằng gỗ +kính loại hai cánh (khung bảo vệ bằng sắt).

- Phòng ngủ: có kết cấu tương tự nư phòng khách, cửa phòng bằng khung nhôm+kính loại 01 cánh.

- Khu nhà bếp: có kết cấu tương tự nư phòng khách. Cửa phụ bằng sắt. Bếp bằng bêtông cốt thép, tường và bề mặt bếp ốp gạch men. Hộc tủ khung nhôm +kính.

- Phòng vệ sinh: nền lát gạch ceramic nhám (25x25)cm, tường ốp gạch men cao 1,8m. Cửa bằng gỗ loại 01 cánh. Trang thiết bị vệ sinh: bồn cầu, vòi nước, chậu rửa...

b) Mái che: Diện tích xây dựng 24,64m2. Kết cấu: nền lát gạch ceramic nhám (40x40)cm và láng xi măng, khung vách lửng trên tường rào. Một phần kèo, đòn tay thép và một phần kèo, đòn tay gỗ đước, máy tole sóng vuông.

c) Cổng + tường rào: Kích thước 10md.

- Cổng rào (01 cánh): khung bằng thép hình tổ hợp hàn lại với nhau.

- Tường rào: Kết cấu: móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,8m, tường xây gạch dày 10cm, cao 1,7m, quét vôi, trên lắp khung sắt bảo vệ.

- Tài sản tọa lạc tại: Khu phố 1, Phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của bà Phạm Kim Phượng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 301.058.046đ (Ba trăm lẻ một triệu, không trăm năm mươi tám ngàn, không trăm bốn mươi sáu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 07/7/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/8/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 16/8/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 210/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Văn Bé và bà Hồ Kim Hoàng, hiện cư ngụ tại: 101/3B ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh An, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Thửa số 980, tờ bản đồ số 2, diện tích 900 m2 (theo số liệu đo đạc chính quy là thửa 399, tờ bản đồ số 5, diện tích 959,5 m2), loại đất: trồng cây hàng năm;

- Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.843,6 m2, loại đất trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số 465, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.900,9 m2, loại đất trồng cây lâu năm;

2) Tài sản trên đất là cây trồng các loại bao gồm: 02 cây chôm chôm nhãn khoảng 6 năm tuổi, 30 cây chôm chôm thái khoảng 4 năm tuổi, 12 cây chôm chôm SaVa khoảng 10 năm tuổi, 30 cây bưởi da xanh khoảng 3 năm tuổi, 21 cây dừa khoảng 20 năm tuổi, 80 cây chuối, 01 cây măng cụt khoảng 3 năm tuổi, 02 cây mận An Phước khoảng 5 năm tuổi.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phú Hòa, xã Quới Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Văn Bé và bà Hồ Kim Hoàng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 454.127.217đ (bốn trăm năm mươi bốn triệu một trăm hai mươi bảy ngàn hai trăm mười bảy đồng).

   Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/7/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/8/2016 (trong giờ làm việc).

   Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 18/8/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

   * Khoản tiền đặt trước: 40.000.000đ/hồ sơ;

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 199/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản là quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Bích Trâm, địa chỉ thường trú: Ấp ông Rèn, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (tạm trú tại: Ấp Thới An, xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm cụ thể như sau:

          - Theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số BĐ870048, số vào sổ cấp giấy CH00081 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 14/3/2011 cho bà Nguyễn Thị Bích Trâm, diện tích 29.740,0m2;

          - Theo trích lục bản đồ địa chính, trích lục bản trích đo địa chính ngày 18/3/2016 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Bình Đại, diện tích: 29.740,1 m2.

          - Loại đất: Đất nuôi trồng thủy sản; Thuộc thửa đất số 425, tờ bản đồ số 6.

          * Lưu ý: Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số BĐ870048, số vào sổ cấp giấy CH00081 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 14/3/2011 với diện tích 29.740,0m2.

          - Tài sản tọa lạc tại: xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

          - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Bích Trâm do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Bình Đại Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

          - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 273.608.000đ (Hai trăm bảy mươi ba triệu, sáu trăm lẻ tám ngàn đồng).

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt cho Trung tâm.

          * Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 07/07/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/08/2016 (trong giờ làm việc).

          Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 16/08/2016 (Thứ ba); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 200/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng gắn liền trên đất của ông Nguyễn Thanh Kiếm và bà Nguyễn Hoàng Yến, cư ngụ tại: ấp Phụng Châu, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất thuộc một phần thửa số 80, tờ bản đồ số 22 

- Diện tích: 1.356,5 m2;

- Loại đất: CLN;

2. Cây trồng trên đất gồm: cây nhãn khoảng 03 năm tuổi 20 cây, bưởi 02 năm tuổi là 27 cây, sầu riêng khoảng 06 năm tuổi 03 cây, chanh khoảng 01 năm tuổi 700 cây, chanh mới trồng 100 cây

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phụng Châu, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng gắn liền trên đất của ông Nguyễn Thanh Kiếm và bà Nguyễn Hoàng Yến, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 242.321.250 đ (Hai trăm bốn mươi hai triệu, ba trăm hai mươi mốt ngàn, hai trăm năm mươi đồng).

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/7/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/8/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 18/8/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 202/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của ông Nguyễn Ngọc Thuận, hiện cư ngụ tại: 309A, đường Đoàn Hoàng Minh, khu phố 1, phường 5, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

    1. Về đất:

    - Diện tích 0,9 m2 thuộc thửa 18B + diện tích 111,6 m2 thuộc thửa 18A + diện tích 8,6 m2 thuộc thửa 131, cùng tờ bản đồ số 6, loại đất ODT.

    - Diện tích 7,5 m2 (đất công) thuộc thửa 192A + diện tích 11,1 m2 (đất lấn rạch) thuộc thửa DTL, cùng tờ bản đồ số 6; ông Thuận chưa đứng tên quyền sử dụng đất.

    2. Nhà trên đất:

    a) Cất trên phần đất do ông thuận đứng tên: Diện tích 0,9 m2 thuộc thửa 18B + diện tích 111,6 m2 thuộc thửa 18ª, cùng tờ bản đồ số 6;

    b) Cất trên phần đất vi phạm: Diện tích 7,5 m2 (đất công) thuộc thửa 192A + diện tích 11,1 m2 (đất lấn rạch), thuộc thửa DTL, cùng tờ bản đồ số 6;

    c) Đặc điểm:

    - Nhà chính: nền gạch men ceramic, tường xây gạch, cột bêtông, mái tole, trần nhựa 7,38 x 8,27 = 61,03 m2;

    - Nhà phụ: nền gạch men ceramic, tường xây gạch, cột bêtông, không trần 8 x 6,07 = 48,56 m2;

    - Hàng rào: dài 34 m, cao 2m, tường xây gạch cao 0,6 m, lưới B40, trụ bêtông cốt thép;

    - 01 đồng hồ điện + 01 đồng hồ nước;

    * Tài sản (1+2) tọa lạc tại: phường 5, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

    * Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà trên đất của ông Nguyễn Ngọc Thuận, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

    * Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 468.465.200đ (bốn trăm sáu mươi tám triệu, bốn trăm sáu mươi lăm ngàn, hai trăm đồng).

    Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 07/7/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/8/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 16/8/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ

 * Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/ 01 hồ sơ

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 203/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà ở) của ông Lê Văn Định và bà Nguyễn Thị Thùy Trang, địa chỉ tại: 34D đường Đoàn Hoàng Minh, khu phố Bình Lợi, phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

          - Thửa đất số 83, tờ bản đồ số 22; Diện tích: 193,1 m2; Loại đất: ODT;

          - Thửa 81a, diện tích 0,9m2, thửa 82a, diệntích 9,1 m2 và thửa 152a, diện tích 13,9m2, ông Lê Văn Định chưa đứng tên quyền sử dụng.

          2. Nhà ở trên đất:

          a. Nhà chính: diện tích 56,82 m2, nền lót gạch men, cột bêtông, vách tường, trần nhựa, mái tole xi măng, cửa đi 03 bộ bằng sắt có 08 cánh (06 cánh có kiếng, 02 cánh không kiếng).

          b. Nhà phụ (nhà sau): diện tích 30,28 m2, nền lót gạch men + xi măng, vách tường, cột sắt, mái tole xi măng. Có 03 phòng ngủ, 01 cánh của bằng cây ván ép, 01 cửa sổ khung sắt; Gác gỗ có diện tích 30,28 m2

          c. Nhà vệ sinh: diện tích 4,75 m2, nền lót gạch men, vách tường, mái tole xi măng, có 01 bồn cầu, 02 cánh cửa bằng nhựa.

          d. Khung tiền chế: diện tích 97,45 m2, nền láng xi măng, cột cây, không vách, mái tole thiết.

          e. Bụt: diện tích 2,3 m2, hai mạt lát gạch men.

          f. Hàng rào: diện tích 45,9 m2, hàng rào xây tường, khung sắt + lưới B40

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà ở) của ông Lê Văn Định và bà Nguyễn Thị Thùy Trang, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 662.901.590 đ (Sáu trăm sáu mươi hai triệu, chín trăm lẻ một ngàn, năm trăm chín mươi đồng).

    Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 07/7/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/8/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 16/8/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

 * Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 204/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Huỳnh Văn Triêm, hiện cư ngụ tại: khu phố 1, phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre và bà Trần Thị Thảo, hiện cư ngụ: ấp Tân Lễ 2, xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre;

I. Về đất và cây trồng trên đất của ông Huỳnh Văn Triêm:

1) Quyền sử dụng đất thửa số 46, tờ bản đồ số 15;

- Diện tích 906 m2 (trong đó 50 m2 đất ODT, đất đường đi diện tích 10,6 m2 CLN và 845,4 m2 đất CLN). Tọa lạc phường 8, thành phố Bến Tre

- Tài sản trên đất: Dừa loại 1 từ 6 năm tuổi trở lên cho trái ổn định có 07 cây; cây Bưởi loại 3 từ 2 năm tuổi đến dưới 4 năm tuổi có 03 cây; cây Mận loại 1 từ 3 năm tuổi trở lên cho trái ổn định có 02 cây.

2) Quyền sử dụng đất thửa số 574, tờ bản đồ số 13.

Diện tích 782,6 m2 (trong đó đất lộ giới – đất HNK là 352,4 m2 và 430,2 m2 đất HNK). Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

3) Quyền sử dụng đất thửa số 174, tờ bản đồ số 14.

Diện tích 217,4 m2 đất CLN. Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

4) Quyền sử dụng đất thửa số 577, tờ bản đồ số 13.

Diện tích 1.033,1 m2 đất CLN. Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

5) Quyền sử dụng đất thửa số 576, tờ bản đồ số 01.

Diện tích 156,4 m2 đất HNK. Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

6) Quyền sử dụng đất thửa số 172, tờ bản đồ số 01.

- Diện tích 7.386,6 m2 đất CLN. Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

- Tài sản trên đất: Dừa loại 1 từ 6 năm tuổi trở lên cho trái ổn định có 125 cây; cây Dừa loại 2 từ 4 năm tuổi đến dưới 6 năm tuổi đã cho trái có 44 cây; cây Dừa loại 3 từ 1 năm tuổi trở đến dưới 4 năm tuổi có 04 cây.

* Giá khởi điểm tài sản I: 2.074.873.800đ (hai tỷ, không trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm bảy mươi ba ngàn, tám trăm đồng).

II. Về đất và cây trồng trên đất của bà Trần Thị Thảo:

1) Quyền sử dụng đất thửa số 580, tờ bản đồ số 13.

Diện tích 18,8 m2 đất CLN. Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

2) Quyền sử dụng đất thửa số 584, tờ bản đồ số 13.

Diện tích 4.437 m2 (trong đó 300 m2 đất ONT và 4.137 m2 đất CLN). Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

3) Quyền sử dụng đất thửa số 583, tờ bản đồ số 13.

Diện tích 2.873,9 m2 đất CLN. Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

4) Quyền sử dụng đất thửa số 578, tờ bản đồ số 13.

- Diện tích 2.403,6 m2 đất CLN. Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

- Tài sản trên đất: Dừa loại 1 từ 6 năm tuổi trở lên cho trái ổn định có 170 cây; cây Dừa loại 3 từ 1 năm tuổi đến dưới 4 năm tuổi có 22 cây.

5) Quyền sử dụng đất thửa số 582, tờ bản đồ số 13.

Diện tích 2.108,6 m2 đất CLN. Tọa lạc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam

* Giá khởi điểm tài sản II: 1.298.971.000đ (một tỷ, hai trăm chín mươi tám triệu, chín trăm bảy mươi mốt ngàn đồng).

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Huỳnh Văn Triêm và bà Trần Thị Thảo, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Lưu ý: Tài sản trên bán theo từng mục I và II

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (I+II): 3.373.844.800đ (Ba tỷ, ba trăm bảy mươi ba triệu, tám trăm bốn mươi bốn ngàn, tám trăm đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ đối với từng tài sản I và II;

* Khoản tiền đặt trước: 200.000.000đ/ 01 hồ sơ đối với tài sản I và 100.000.000đ/ 01 hồ sơ đối với tài sản II.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 07/7/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/8/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 16/8/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 206/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (chi phí đào ao nuôi cá, công trình xây dựng đã qua sử dụng, cây trồng trên đất) của Công ty TNHH AAA (ông Nguyễn Quang Châu Lâm - Giám đốc), địa chỉ: khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 9.628,4 m2;

- Loại đất: 9.481,2 m2 đất cơ sở sản xuất phi nông ngiệp và 147,2 m2 đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 28, thửa đất số 82;

2. Tài sản trên đất

2.1. Chi phí đào ao nuôi cá:

Gồm có 02 ao với khối lượng là 7.263 m3.

2.2. Công trình xây dựng trên đất gồm: 06 Tum ăn uống, nhà bếp+ vệ sinh, 05 nền tum, 03 tum sinh hoạt, tum hát karaoke, hội trường, khu vệ sinh, 03 đường dal bêtông cốt thép, 02 bể chứa nước, 02 hòn non bộ, hệ thống xử lý nước, kè ao nuôi cá.

2.3 Cây trồng trên đất: 18 cây dừa xiêm xanh loại A, 46 cây dừa xiêm xanh loại B, 48 cây dừa xiêm xanh loại C, 34 cây dừa xiêm xanh loại D, 21 cau bụng loại A, 24 cau bụng loại B, 33 cau bụng loại C, 34 cao bụng loại D, 25 bụi tre mạnh tông, 02 bụi tre vàng1.500 m2 cỏ thảm.

- Tài sản tọa lạc: khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (chi phí đào ao nuôi cá, công trình xây dựng đã qua sử dụng, cây trồng trên đất) của Công ty TNHH AAA do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Châu Thành xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Theo giấy chứng nhận QSDĐ số AL 514148 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bến Tre cấp ngày 11/01/20008 cho Công ty TNHH AAA.

* Lưu ý: Tài sản bán theo diện tích do đạc thực tế

-  Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 9.888.890.000 đồng (Chín tỷ, tám trăm tám mươi tám triệu, tám trăm chín mươi ngàn đồng).

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 07/07/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/08/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 16/08/2016 (Thứ ba); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 500.000.000đ/hồ sơ

         

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 205/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm:

          1. 01 (Một) xe ô tô tải biển số 53U-1218 hiệu DAEWOO giấy đăng ký xe có giá trị đến ngày 31/12/2017. Giá khởi điểm: 12.000.000đ

          2. 01 (Một) ghe gỗ, gắn máy hiệu KIA, trọng tải 15 tấn (không biển kiểm soát). Giá khởi điểm: 24.000.000đ

          - Tài sản tọa lạc tại: Kho Chi Cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre (phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

          - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre bán nộp vào Ngân sách nhà nước.

          - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng)

          Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 07/07/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 14/07/2016.

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt cho Trung tâm.

          * Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 07/07/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 14/07/2016 (trong giờ làm việc).

          Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 19/07/2016 (Thứ ba); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre)..

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 212/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô khách 16 chỗ, nhãn hiệu: FORD, màu sơn: xanh - đen, biển số: 71M-000.77, số máy: NSKWS10027; số khung: WFOFXXHCVFWS10027; sản xuất năm 1997, tại Việt Nam. Năm hết niên hạn sử dụng: 2017. Xe bán dạng phế liệu.

* Lưu ý: Khách hàng trúng đấu giá khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định thì các loại thuế và phí liên quan thì người mua phải chịu.           

 - Tài sản tọa lạc tại: Hội bảo trợ Bệnh nhân nghèo, Người tàn tật và Trẻ mồ côi tỉnh Bến Tre; phường 5, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Hội bảo trợ Bệnh nhân nghèo, Người tàn tật và Trẻ mồ côi tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          - Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt cho Trung tâm.

          * Khoản tiền đặt trước: 1.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/07/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/07/2016 (trong giờ làm việc).

          Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 21/07/2016 (Thứ năm) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 211/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản thanh lý 02 (hai) chiếc phà  có đặc điểm như sau:

1. Phà - A16, số đăng ký: BTr-0115:

- Công dụng: chở xe, khách.

- Năm và nơi đóng: 1999 tại Công ty CK Hà Đức.

- Chiều dài thiết kế: 20,00m, Chiều rộng thiết kế: 5,91m, Chiều cao mạn: 1,90m, Chiều chìm: 1,20m, Mạn khô: 0,70m.

- Vật liệu vỏ: thép.

- Số lượng, kiểu và công suất máy chính: 01, GM8V-71, Mỹ, 239CV.     

- Trọng tải toàn phần, số lượng người được phép chở, sức kéo, đẩy: 12T, 50HK.

* Giá khởi điểm tài sản (1): 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng)

2. Phà - 30T, số đăng ký: BTr-0129:

- Công dụng: chở xe, khách.

- Năm và nơi đóng: 2002 tại XNLHĐT Quyết Thắng.

- Chiều dài thiết kế: 24,00m, Chiều dài lớn nhất: 34,20m, Chiều rộng thiết kế: 9,00m, Chiều rộng lớn nhất: 9,32m, Chiều cao mạn: 1,10m, Chiều chìm: 0,80m, Mạn khô: 0,30m.

- Vật liệu vỏ: thép.

- Trọng tải toàn phần, số lượng người được phép chở, sức kéo, đẩy: 20tấn, 100HK.

* Giá khởi điểm tài sản (2): 480.000.000đ (Bốn trăm tám mươi triệu đồng).

* Lưu ý: Khách hàng trúng đấu giá khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định phải chịu các loại thuế và phí liên quan.           

 - Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Bến phà Hưng Phong (địa chỉ: xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Quản lý phà và bến xe Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          - Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 780.000.000đ (Bày trăm tám mươi triệu đồng).

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt cho Trung tâm.

          * Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/07/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/07/2016 (trong giờ làm việc).

          Thời gian tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/07/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/07/2016 (trong giờ làm việc).

          Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 21/07/2016 (Thứ năm) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

          Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

08/07/2016 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 09/01/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 09/01/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 383 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Đằng và bà Nguyễn Thị Kim Thoa, địa chỉ tại: ấp Mỹ Sơn Đông, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 414,3 m2;

- Thuộc thửa đất số 237A, tờ bản đồ số 04;

- Loại đất: CLN.

2. Cây trồng trên đất 

- Măng cụt > 15 năm: 07 cây;

- Bòn bon > 10 năm: 12 cây;

- Dừa từ 3 đền 5 năm: 04 cây;

- Bưởi > 4 năm: 04 cây;

- Tắc > 3 năm: 08 cây.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: Ấp Mỹ Sơn Đông, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Đằng và bà Nguyễn Thị Kim Thoa, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 50.022.410đ (Năm mươi triệu, không trăm hai mươi hai ngàn, bốn trăm mười đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 150.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 10.000.000đ/hồ sơ, chuyển vào tài khoản Trung tâm Dịch vụ đấu giá số 72910000091403 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Mỳ Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 10 giờ 30 phút ngày 22/02/2018 (Trước khi mở cuộc ấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 388 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Trang Sĩ Tri và bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền, cư ngụ tại: ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 3.359,0 m2 (trong đó 197,5 m2 đất ONT và 3.161,5 m2 đất CLN, trong 3.161,5 m2 đất CLN có 525,5 m2 thuộc HLLG và chỉ giới xây dựng).

- Thuộc thửa đất số 157, tờ bản đồ số 12.     

2. Công trình xây dựng

* Khu nhà chính (khu A)

- Diện tích xây dựng: 70,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Móng, khung, cột là bêtông cốt thép; Nền gạch ceramic + gạch tàu; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm, sơn nước; Trần nhựa; Mái lợp tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch và mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Khu nhà chính (khu B)

- Diện tích xây dựng: 33,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Móng, khung, cột là bêtông cốt thép; Nền gạch tàu; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm + lưới B40; Mái lá.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu, mái lá bị rách nát nhiều chỗ.

* Khu nhà phụ

- Diện tích xây dựng: 48,32m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền gạch ceramic; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm, sơn nước; Trần nhựa.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà bao che khu nhà phụ 1

- Diện tích xây dựng: 48,32m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột thép; Nền láng ximăng; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà phụ 2 (khu A, B)

- Diện tích xây dựng: 16,36m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền láng ximăng;Tường xây gạch ống dày 100 cm; Trần nhựa; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng và tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà bao che khu nhà phụ 2

- Diện tích xây dựng: 42,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông đúc sẵn + cột gỗ; Nền láng ximăng; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà xấy nhãn (khu A)

- Diện tích xây dựng: 429,81m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông cốt thép; Nền đất; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà xấy nhãn (khu B)

- Diện tích xây dựng: 53,5m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông cốt thép; Nền gạch tàu; Mái lá.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu, mái lá có nhiều chỗ bị rách nát

* Lò xấy nhãn:

* Lò 1, 2

- Diện tích xây dựng: 82,88m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Thành lò xây gạch ống dày 100cm;

* Lò 3, 4:

- Diện tích xây dựng: 78,4m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Thành lò xây gạch ống dày 100cm;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, thành lò có nhiều chỗ bị rạn nứt

* Nhà vệ sinh

- Diện tích xây dựng: 3,96m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền gạch ceramic; Vách tường xây gạch 100 cm; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền gạch và mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Hồ nước

- Thể tích: 6,6 m3;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

- Kết cấu chính: Thành hồ xây gạch ống 100 cm;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, thành hồ có vài chỗ bị rạn nứt.

3. Cây trồng trên đất

- Cây Bòn bon loại 2: 06 cây, cây trồng từ 6 năm tuổi, chưa cho trái;

- Cây Nhãn loại 3: 31 cây, cây trồng 02 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Xoài loại 3: 02 cây, cây trồng 03 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Xoài loại 2: 01 cây, cây trồng 05 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dừa loại 1: 01 cây, cây trồng 10 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dừa loại 3: 03 cây, cây trồng 02 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Thanh long loại 2: 02 trụ, cây trồng 01 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Mận loại 1: 04 cây, cây trồng 05 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dâu loại 4: 01 cây, cây trồng 03 năm tuổi, đã cho trái;

* Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Trang Sĩ Tri và bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.343.117.169đ (Một tỷ, ba trăm bốn mươi ba triệu, một trăm nười bảy ngàn, một trăm sáu mươi chín đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 268.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

 - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 22/02/2018;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 390 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Trần Duy Khương (Doanh nghiệp tư nhân Duy Khương), địa chỉ tại: 354 ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 07, thửa số 689:

- Diện tích: 88,9 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AM 699416, số vào sổ cấp giấy chứng nhận HPN/01799 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 16/5/2008.

- Giá khởi điểm (1) là: 76.712.500 đ (Bảy mươi sáu triệu, bảy trăm mười  hai ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (1) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

2. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 07, thửa số 512:

- Diện tích: 3.219,0 m2;

- Mục đích sử dụng: 300,0 m2 đất ONT và 2.919,0 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 489205, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPN/01440 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 10/8/2007.

- Giá khởi điểm (2) là: 843.837.500 đ (Tám trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm ba mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (2) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

3. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 408 và thửa số 610:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 408

- Diện tích: 1.260,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 478003, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HNT/01835 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 16/7/2007.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 610:

- Diện tích: 1.068,0 m2

- Mục đích sử dụng: 300,0m2 đất ONT và 768,0m2 đất HNK;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 478446, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HNT/01865 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 06/8/2007.

- Giá khởi điểm (3): 609.187.500 đ (Sáu trăm lẻ chín triệu, một trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm đồng)

- Tài sản (3) tọa lạc tại: xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

4. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa số 37:

- Diện tích: 111,1 m2 ;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259775, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP7/02375 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 30/3/2009.

- Giá khởi điểm tài sản (4): 115.520.000đ (Một trăm mười lăm triệu, năm trăm hai mươi ngàn đồng).

- Tài sản (4) tọa lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

5. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 36 và thửa số 37:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 36

- Diện tích: 773,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất MNC;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 873795, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/04189 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 37

- Diện tích: 406,0 m2 đất ODT, HNK;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 873796, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/04190 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007

- Giá khởi điểm (5) là: 723.805.000 đ (Bảy trăm hai mươi ba triệu, tám trăm lẻ năm ngàn đồng).

- Tài sản (5) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

6. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 46, thửa số 133:

- Diện tích: 1.555,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AN 381153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/05967 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007.

- Giá khởi điểm (6): 370.927.500 đ (Ba trăm bảy mươi triệu, chín trăm hai mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (6) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

7. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 46, thửa số 157:

- Diện tích: 432,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AM 412903, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/05218 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 24/4/2008.

- Giá khởi điểm (7): 131.765.000 đ (Một trăm ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (7) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

8. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 47, thửa số 19:

- Diện tích: 1.009,3 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BA 170179, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00081 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre­ cấp ngày 25/01/2010.

- Giá khởi điểm (8): 297.825.000 đ (Hai trăm chín mươi bảy triệu, tám trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (8) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

9. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 47, thửa số 68:

- Diện tích:  641,7 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BA 170180, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00082 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre­ cấp ngày 25/01/2010.

- Giá khởi điểm (9): 197.647.500 đ (Một trăm chín mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (9) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

10. Quyền sử dụng đất thuộc 11 thửa trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

Số

TT

Giấy CN QSDĐ sốSố vào sổ cấp GCN QSDĐThửa đất số

Tờ

bản đồ

Mục đích sử dụngDiện tích (m2)
01AO259753HPH/0679113946HNK173,0
02AO259757HPH/0679414046HNK630,0
03AO259754HPH/0679214146HNK789,0
04AO259756HPH/0679314246HNK237,0
05AM729723HPH/0564214446LUA1.122,0
06AM729724HPH/0564314546LUA1.219,0
07AL953541HPH/0485115146CLN1.417,0
     08BA170308CH0008915246LUA873,3
09AM412904HPH/0521915346LUA1.691,0
10BA170310CH0009148646LUA1.785,5
11BA170307CH0008850746CLN740,7
TỔNG CỘNG10.677,5

- Giá khởi điểm tài sản (10) là: 2.687.645.000 đ (Hai tỷ, sáu trăm tám mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (10) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

11. Quyền sử dụng đất thuộc 13 thửa trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

 

Số

TT

Giấy CN QSDĐ sốSố vào sổ cấp GCN QSDĐThửa đất số

Tờ

bản đồ

Mục đích sử dụngDiện tích (m2)
01AK998336HPH/044225146LUA2.087,0
02AN385027HPH/060645246LUA2.039,0
03

AL878509

 

HPH/04576

 

53

 

46

 

ONT300,0
HNK1.902,0

04

 

AK410769

 

HPH/03958

 

54

 

46

 

ONT300,0
CLN5.627,0

05

 

AM729966

 

HPH/05730

 

55

 

46

 

ONT300,0
HNK1.422,0
06AL879257HPH/047106246CLN1.106,0
07AN409164HPH/063176446LUA864,0
08AN409163HPH/063166546LUA1.004,0
09AK410768HPH/0395949446CLN2.050,0

10

 

AO206200

 

HPH/07114

 

587

 

46

 

ONT100,0
CLN2.401,6
11BC 159081CH0073860446ONT100,0
CLN2.135,6
12AQ224626HPH/0720519527CLN1.005,1

13

 

AM729057

 

HPH/05487

 

253

 

27

 

ONT150,0
HNK2.321,5
TỔNG CỘNG27.214,8

- Giá khởi điểm tài sản (11) là: 6.077.435.000 đ (Sáu tỷ, không trăm bảy mươi bảy triệu, bốn trăm ba mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (11) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

12. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 05 và thửa số 65:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 05

- Diện tích: 268,1 m2;

- Mục đích sử dụng: 100,0 m2 đất ODT và 168,1 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259652, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP6/01402 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 17/3/2009.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 65

- Diện tích: 89,4 m2;

- Mục đích sử dụng: đất ODT;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259539, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP6/01397 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 19/3/2009.

- Giá khởi điểm (12) là: 364.610.000 đ (Ba trăm sáu mươi bốn triệu, sáu trăm mười ngàn đồng).

- Tài sản (12) tọa lạc tại: phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

13. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 75 và thửa số 751:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 75

- Diện tích: 709,0 m2;

- Mục đích sử dụng: 200,0 m2 đất ODT và 509,0 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 206606, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HBP/03641 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 19/6/2009.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 751

- Diện tích: 200,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AQ 181073, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HBP/03761 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 14/9/2009.

- Giá khởi điểm (13) là: 532.475.000 đ (Năm trăm ba mươi hai triệu, bốn trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (13) tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Duy Khương (DNTN Duy Khương) do Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

    - Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1 + 2+ 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10 + 11 + 12 + 13) là: 13.029.392.500 đ (Mười ba tỷ, không trăm hai mươi chín triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, năm trăm đồng).

   * Lưu ý: Tài sản trên bán từng mục (1 + 2+ 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10 + 11 + 12 + 13) theo nhu cầu người sử dụng.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là: 500.000đ/hồ sơ (tài sản 2), (tài sản 3), (tài sản 5), (tài sản 10), (tài sản 11) (tài sản 13); 150.000 đ/hồ sơ (tài sản 1) và 200.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), (tài sản 6), (tài sản 07), (tài sản 8), (tài sản 9), (tài sản 12), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là: 15.000.000đ/hồ sơ (tài sản 1), 168.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 121.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 3), 23.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), 164.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 5), 74.000.000 đ (tài sản 6), 26.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 7),  59.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 8) 39.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 9), 537.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 10), 1.215.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 11), 72.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 12), 106.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 13) nộp vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận,  xã Nhơn Thạnh, xã Phú Hưng, xã Bình Phú, phường 6, phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo tài sản, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá tài sản vào lúc: 09 giờ ngày 26/01/2018; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 01 (Kèm QC)

            Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất trên đất của ông Đinh Hồng Em và bà Võ Thị Kim Chi, địa chỉ tại: ấp 2, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 684,7m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 45;

       2. Công trình xây dựng đã qua sử dụng trên đất:

* Nhà chính:

- Diện tích xây dựng 4,7m x 3m = 14,1m2.

- Kết cấu: Nhà ở bán kiên cố, độc lập cấp 4 (01 trệt); móng, khung, cột bê tông cốt thép; nền lót gạch ceramic, tường xây gạch D100 + quét vôi, tường ốp gạch men cao 1,2m; cửa đi chính và cửa sổ sắt kính, trần nhựa, xà gồ gỗ; hệ thống điện nước đã hoàn chỉnh.

- Hiện trạng: đang sử dụng bình thường.

* Mái che:

- Diện tích 4,7m x 40,2m = 188,94m2.

- Kết cấu: cột bê tông cốt thép, nền láng xi măng, xà gồ gỗ, mái lợp tol.

- Hiện trạng: đang sử dụng bình thường.

* Nhà phụ (nhà sàn):

- Diện tích xây dựng: (2,4m x 4,7m) + (10,4m x 4,5m) = 58,08m2.

- Kết cấu: cột bê tông cốt thép, sàn lót gỗ tạp, tường xây gạch D100 + quét vôi, trần nhựa, xà gồ gỗ, mái lợp tole.

Hiện trạng: Đang sử dụng bình thường.

* Nhà kho:

- Diện tích xây dựng: (2,9m x 6,8m) = 19,72m2.

- Kết cấu: móng, khung cột bê tông cốt thép, vách tole, sàn lót gỗ tạp, xà gồ gỗ, mái lợp tole, không trần.

- Hiện trạng: Đã cũ, vẫn sử dụng bình thường.

* Tường rào:

- Diện tích xây dựng 26,38m x 2,9m = 76,5m2.

- Kết cấu: móng, khung, cột bê tông cốt thép, tường xây gạch cao 0,8m, phía trên lưới B40 cao 2,1m.

- Hiện trạng: Lưới B40 có dấu hiệu gỉ sét, đang sử dụng bình thường.

* Hàng rào lưới B40:

- diện tích 37,5m x 1,7m = 63,75m2

- Hiện trạng: Lưới B40 có dấu hiệu gỉ sét, đang sử dụng bình thường.

* Hồ chứa nước:

- Diện tích xây dựng: (2,6m x 10,4m x 1,6m) = 43,26) m3

- Kết cấu: Móng, khung, cột gạch, tường xây gạch + tô tường D200, nền láng xi măng.

- Hiện trạng: hồ đã cũ, đang sử dụng bình thường.

3. Cây trồng trên đất:

- Xoài loại 1 (từ 4 đến dưới 6 năm tuổi): 05 cây

- Xoài loại 2 (từ 2 đến 4 năm tuổi): 02 cây

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc: ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Đinh Hồng Em và bà Võ Thị Kim Chi, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.430.063.282đ (Một tỷ, bốn trăm ba mươi triệu, không trăm sáu mươi ba ngàn, hai trăm tám mươi hai đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 286.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 22/02/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá). 


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 02 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất của ông Trương Sơn Bồi và bà Nguyễn Thị Kim Hoa, hiện cư ngụ tại: xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất và cây trồng rên đất thửa 735, tờ bản đồ số 11:

a) Quyền sử dụng đất

- Diện tích: 902,7m2 (gồm 100m2 đất ở va 802,7m2 đất trồng cây lâu năm);

b) cây trồng trên đất: gồm 03 cây dừa lớn, 01 cây sa kê đã cho trái, 07 cây xoài và 03 cây cóc khoảng 4 năm tuổi.

* Giá khởi điểm: 711.890.000đ (Bảy trăm mười một triệu, tám trăm chín mươi ngàn đồng).

2. Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thửa 736, tờ bản đồ số 11:

a) Quyền sử dụng đất:

- Diện tích 895,8m2 (gồm 200m2 đất ở và 695,8m2 đất trồng cây lâu năm).

b) Vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất:

- Nhà chính: Diện tích 151,4m2 (15,14m x 10m). Kết cấu: Nền gạch ceramic, vách tường, khung cột bê tông, trần thạch cao, mái tole.

- Nhà phụ: Diện tích: 72,06m2 (15,14m x 4,76m ). Kết cấu: nền gạch ceramic, vách thạch cao, tường, khung cột thép, trần thạch cao, mái tole.

- Nhà tiền chế, nhà vệ sinh và hồ nước.

c) Cây trồng trên đất:

- Dừa cho trái ổn định: 12 cây;

- Xoài khoản bốn năm tuổi: 02 cây;

- Cóc khoản bốn năm tuổi: 04 cây.

* Giá khởi điểm (a+b+c): 1.087.060.000đ (Nột tỷ, không trăm tám mươi bảy ngàn, không trăm sáu mươi ngàn đồng)

* Tài sản (1 + 2) tọa lạc tại: Xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu ông Trương Sơn Bồi và bà Nguyễn Thị Kim Hoa, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. 

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2) là: 1.798.950.000đ (Một tỷ, bảy trăm chín mươi tám triệu, chín trăm năm mươi ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên được bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng và đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 10 giờ ngày 22/02/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 05 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm 02 lô xe (có Danh sách kèm theo), cụ thể như sau:

1. Lô số 01: gồm 266 (hai trăm sáu mươi sáu) chiếc xe bán dạng phế liệu (265 xe mô tô 02 bánh, trong đó có 22 xe bị tháo bỏ đầu máy, bình xăng con, pô; 01 xe đầu kéo). Giá khởi điểm: 298.000.000 đ (Hai trăm chín mươi tám triệu đồng).

2. Lô số 02: gồm 27 (hai mươi bảy chiếc) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng cho đăng ký lại. Giá khởi điểm: 49.000.000 đ (Bốn mươi chín triệu đồng).

- Tài sản đang quản lý tại: kho Công an huyện Ba Tri (địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

     * Lưu ý: Tài sản bán từng lô theo nhu cầu người sử dụng và đối với xe bán dạng phế liệu, người mua trúng đấu giá khi nhận bàn giao xe phải thực hiện cà số khung, đục số máy, các khoản chi phí liên quan người mua chịu.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính từ số 01 đến số 10/QĐ-TTTVPT ngày 03/12/2017 của Công an huyện Ba Tri bán nộp vào ngân sách nhà nước.

    - Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 347.000.000 đ (Ba trăm bốn mươi bảy triệu đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ (lô số 01) và 100.000đ/hồ sơ (lô số 02), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

  * Khoản tiền đặt trước: 59.600.000 đ/hồ sơ (lô số 01) và 9.800.000 đ/hồ sơ (lô số 02) nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Công an huyện Ba Tri (địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 22/01/2018.

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký  và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

23/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
Bến Tre: Tai nạn giao thông năm 2015 được kéo giảm cả 3 mặtBến Tre: Tai nạn giao thông năm 2015 được kéo giảm cả 3 mặt

Năm 2015, với sự tập trung chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh; sự phối hợp tích cực của Ban An toàn giao thông tỉnh, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh; Ủy ban nhân dân, Ban an toàn giao thông các huyện, thành phố; vai trò nòng cốt và nỗ lực của lực lượng Công an nhân dân các cấp, nên tình hình tai nạn giao thông đường thủy, đường bộ (cả tai nạn và va chạm) trên địa bàn tỉnh Bến Tre được kéo giảm cả 3 mặt: Xảy ra 312/437 vụ (giảm 124 vụ=28,64%), chết 197/207 người (giảm 10 người chết=4,84%), bị thương 220/402 người (giảm 185 người bị thương=45,68%). Trong đó, tai nạn giao thông đường bộ: xảy ra 187/191 vụ (giảm 04 vụ=2,09%), chết 192/204 người (giảm 12 người chết=5,88%), bị thương 69/52 người (tăng 17 người bị thương=32,69%).

Tuy nhiên, tình hình an toàn giao thông vẫn còn diễn biến phức tạp; số vụ, số người chết, người bị thương vẫn còn cao; trong đó, người ngoài tỉnh gây tai nạn giao thông còn nhiều (xảy ra 51 vụ, chết 32 người, bị thương 34 người). Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông có mặt còn hạn chế, nhất là hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông chưa cao, chưa tác động đến ý thức tự giác tôn trọng và chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông, nhất là đối tượng thanh, thiếu niên có nguy cơ cao vi phạm cao nhưng ít hoặc không tham gia sinh hoạt Tổ nhân dân tự quản, Tổ dân phố; một số người tham gia giao thông biết luật nhưng vẫn vi phạm như: Vượt đèn đỏ, uống rượu, bia vượt quá nồng độ cồn quy định, chạy quá tốc độ, không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, đua xe trái phép, không giấy phép lái xe….Công tác phối hợp tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm an toàn giao thông ở một số nơi, địa bàn, tuyến đường chưa thường xuyên, liên tục, nhất là các tuyến đường nông thôn, liên xã, ấp. Kinh phí, phương tiện không đảm bảo thực hiện công tác tuần tra, kiểm soát, nhất là hỗ trợ cho lực lượng cấp xã.

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác đảm bảo an toàn giao thông trong năm 2016, với chủ đề: "Xây dựng văn hóa giao thông gắn với nâng cao trách nhiệm, siết chặt kỷ cương của người thực thi công vụ" với mục tiêu "Tính mạng con người là trên hết"; Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành tỉnh, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp; Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phối hợp thường xuyên, thực hiện đồng bộ các giải pháp đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh; trong đó, tập trung các giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông từ 5%-10% số vụ, số người chết, số người bị thương so với năm 2015; giảm tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng; không để xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông ở các địa bàn trọng điểm, nhất là trong dịp lễ, tết.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phố biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông cho tất cả mọi người khi tham gia giao thông; trong đó, đặc biệt chú ý: các phương tiện tham gia giao thông bằng xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện; tập trung tuyên truyền các đối tượng có nguy cơ vi phạm trật tự an toàn giao thông; thông qua các hình thức, mô hình, loại hình; đưa tin cảnh báo tình hình tai nạn giao thông hàng tháng trên Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh-Truyền hình, Đài Truyền thanh huyện, xã; tổ chức "Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông", triển khai Chương trình  hoạt động "chia sẻ nỗi đau" cho các gia đình có người thân bị tai nạn giao thông do người do người khác gây ra, nhằm tuyên truyền giáo dục người tham gia giao thông nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về an toàn giao thông; nâng cao trách nhiệm, đạo đức, lương tâm và nghề nghiệp của người lái xe.

Công an tỉnh, Sở Giao thông-Vận tải; Ban an toàn giao thông tỉnh, Ủy ban nhân dân, Ban an toàn giao thông các huyện, thành phố phối hợp chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, sử dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật, nghiệp vụ, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông, nhất là hành vi đua xe trái phép, vi phạm về tốc độ, nồng độ cồn, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe, xe quá khổ, qua tải; kiên quyết xử lý việc tái lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường thủy, lấn chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè gây ảnh hưởng an toàn giao thông trên các tuyến QL 57, QL 60, đường Cảng Giao Long-Nguyễn Thị Định; Ngã tư An Thiện, thuộc các địa bàn Châu Thành, thành phố Bến Tre, huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam.

Tiếp tục nghiên cứu, xử lý các điểm có nguy cơ tìm ẩn gây tai nạn giao thông như: Hệ thống chiếu sáng, các điểm giao nhau giữa đường nông thôn, đường hẻm với quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện; các đường cong nguy hiểm.

Các ngành liên quan và các địa phương phối hợp Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh chỉ đạo chọn án điểm để đưa ra xét xử lưu động nhằm giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Các cơ quan chức năng phối hợp với Sở Y tế tổ chức thông tin kịp thời đường dây nóng cấp cứu tai nạn giao thông kịp thời góp phần hạn chế tử vong trong tai nạn giao thông; phối hợp với Sở Y tế, Hội Chữ thập đỏ, Công an tỉnh, Ban An toàn giao thông các huyện, thành phố tổ chức tập huấn sơ cấp cứu tai nạn giao thông.

05/01/2016 10:00 SAĐã ban hành
Các Luật có hiệu lực ngày 01/01/2016 và các Luật mới được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9 khóa 13Các Luật có hiệu lực ngày 01/01/2016 và các Luật mới được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9 khóa 13

Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Căn cước công dân, Luật Hộ tịch, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt. Các Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016.

* Luật Căn cước công dân có 6 chương, 39 điều quy định về căn cước công dân, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; quản lý, sử dụng thẻ Căn cước công dân; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

  * Luật Hộ tịch gồm có 7 chương và 77 điều, quy định về hộ tịch; quyền, nghĩa vụ, nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch; Cơ sở dữ liệu hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch.

*Luật Bảo hiểm xã hội gồm có 9 chương, 125 điều, quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH); quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHXH, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan BHXH; quỹ BHXH; thủ tục thực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH.

* Luật Tổ chức Quốc hội gồm có 7 chương, 102 điều, theo đó vị trí, chức năng của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

* Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt đã sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 1 Điều 2; Khoản 3 Điều 3; Đoạn đầu Điều 6 và Điều 7 của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008.

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua các Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Ngân sách nhà nước, Luật An toàn, vệ sinh lao động, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Thú y.

* Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 gồm 9 chương, 62 điều, quy định về nghĩa vụ quân sự; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân và chế độ, chính sách trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật nghĩa vụ quân sự ngày 30 tháng 12 năm 1981; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự ngày 21 tháng 12 năm 1990; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự ngày 22 tháng 6 năm 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự số 43/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

*Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 gồm 8 chương, 41 điều, quy định về quyền, trách nhiệm, tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước, Nhân dân và các tổ chức; điều kiện bảo đảm hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 thay thế Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999.

*Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 gồm 10 chương, 81 điều, quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo Việt Nam; Hoạt động bảo vệ môi trường, quản lý, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên biển và hải đảo thực hiện theo quy định của các luật có liên quan và bảo đảm phù hợp với các quy định tại Luật này. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Riêng quy định tại khoản 1 Điều 79 (điều khoản chuyển tiếp) được áp dụng từ thời điểm Luật được công bố.

*Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 với 8 chương, 143 Điều, quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 142 của Luật này. Và tại quy định về điều khoản chuyển tiếp (Điều 142): Từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành cho đến khi bầu ra Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016 - 2021, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11. Chấm dứt việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11, Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cho đến khi bầu ra chính quyền địa phương ở huyện, quận, phường theo quy định của Luật này.

*Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 gồm 7 chương, 50 điều, theo đó quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016, thay thế Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001.

*Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 gồm có 10 chương, 98 điều. Theo đó tại Điều 96 của Luật về quy định chuyển tiếp: Trong việc tổ chức bầu cử tại các huyện, quận, phường thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường quy định tại các điều 4, 9 và 51 của Luật này trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường có liên quan. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 có hiệu lực thi hành ngay từ ngày 01/9/2015. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10 và Luật số 63/2010/QH12, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 63/2010/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

*Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gồm 17 chương, 173 điều, quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; Luật này không quy định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Những quy định về thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật này được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới.

*Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 gồm 7 chương, 77 Điều  quy định về lập, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, giám sát ngân sách nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong lĩnh vực ngân sách nhà nước. Luật này có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, thay thế Luật Ngân sách nhà nước năm 2012. Tại Điều 75 về điều khoản chuyển tiếp quy định: Đối với quyết toán ngân sách các năm 2015, 2016, áp dụng theo các quy định của Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11. Thời kỳ ổn định ngân sách 2011 - 2015 được kéo dài đến hết năm 2016. Thời kỳ ổn định ngân sách tiếp theo được tính từ năm 2017 đến năm 2020. Đối với dự toán ngân sách năm 2016 của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương thực hiện như sau:

Đối với dự toán ngân sách chi thường xuyên, áp dụng định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước theo Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ;

Đối với dự toán ngân sách chi đầu tư phát triển, áp dụng các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 theo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Dự toán ngân sách chi đầu tư phát triển năm 2016 phải nằm trong khung kế hoạch đầu tư trung hạn 2016 - 2020 và được bố trí cân đối phù hợp với tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước năm 2016 so với năm 2015.

*Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 gồm 7 chương, 93 điều, quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Các quy định về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại Mục 3 Chương III, khoản 4 Điều 84, điểm b khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 86, các điều 104, 105, 106, 107, 116 và 117 của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành tiếp tục hoạt động cho đến hết thời hạn của giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động đã được cấp.

*Luật Kiểm toán năm 2015 gồm có 9 chương, 73 điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng Kiểm toán nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán viên nhà nước; quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đối với hoạt động kiểm toán nhà nước. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 thay thế Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005. Việc kiểm toán đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đã có trong kế hoạch kiểm toán năm 2015 được tiếp tục thực hiện cho đến khi hoàn thành kế hoạch kiểm toán.

*Luật Thú y năm 2015 gồm 7 chương, 116 điều, quy định về phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật; kiểm tra vệ sinh thú y; quản lý thuốc thú y; hành nghề thú y. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, Pháp lệnh Thú y số 18/2004/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ trong lĩnh vực thú y đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa hết thời hạn thì vẫn có giá trị sử dụng cho đến khi hết thời hạn.

22/09/2015 5:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn  bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01

Luật

 

 15/2012/

QH13

20/6/2012Xử lý vi phạm hành chính
Hết hiệu lực một phần: Khoản 1 Điều 122; Đoạn đầu Khoản 1 Điều 123

Đã được sửa đổi

 bởi Luật Hải quan 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014

02Nghị định

81/2013/

NĐ-CP

19/7/2013Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Còn hiệu lực

Đính chính Khoản 2 Điều 10

Đã được đính chính  bởi Công văn 1500/TTg-PL của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/9/2013
03Nghị định

112/2013/

NĐ-CP

02/10/2013Quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuấtHết hiệu lựcĐã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016
04Nghị định

115/2013/

NĐ-CP

03/10/2013Quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
05Nghị định

165/2013/

NĐ-CP

12/11/2013Quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương  tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự , an toàn giao thông và bảo vệ môi trườngCòn hiệu lực 
​Nghị định
17/2016/NĐ-CP
17/3/2016​

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Còn hiệu lực
06Thông tư

26/2013/

TT-BCT

30/10/2013Quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi mục Đ Điều 3; bổ sung Điểm c Khoản 6 Điều 5; ban hành 07 mẫu ấn thay thế các mẫu ấn quy định tại các khoản 9, 11, 13, 15, 16 và 17 mục B và khoản 2 mục C Điều 3

Đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 13/2015/TT-BCT ngày 16/6/2015
07Thông tư

153/2013/

TT-BTC

31/10/2013Về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử  phạt vi phạm hành chính

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6  Điều 4; Sửa đổi Khoản 2 Điều 5; bổ sung Khoản 2a sau Khoản 2 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Điểm a Khoản 2 Điều 11

Được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư  105/2104/TT-BTC ngày 07/8/2014
08Thông tư

173/2013/

TT-BTC

20/11/2013Về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
09Thông tư

105/2014/

TT-BTC

07/8/2014Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chínhCòn hiệu lực  
10Thông tư

34/2014/

TT-BCA

15/8/2014Quy định về các biểu mẫu đê sử  dụng khi xử  phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Công an nhân dânCòn hiệu lực 
11Thông tư

149/2014/

TT-BTC

10/10/2014Quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để bổ sung vào ngân sách Nhà nướcCòn hiệu lực 
12Thông tư

47/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
13Thông tư

13/2015/

TT-BCT

16/6/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 26/2013/TT-BCT ngày 30/10/2013 của Bộ Công Thương quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trườngCòn hiệu lực  
14Thông tư liên tịch

27/2015/TTLT-BCT-BCA-VKSNDTC-TANDTC

17/8/2015Hướng dẫn chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện để truy cứu trách nhiệm hình sựChưa có hiệu lực 

 

 

08/06/2016 3:00 CHĐã ban hành
Phổ biến pháp luật rộng khắp, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dânPhổ biến pháp luật rộng khắp, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân

Đây là nội dung chỉ đạo của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh tại Hội nghị triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2018.

Ngày 16/3/2018, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh (Hội đồng) tổ chức Hội nghị triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) năm 2018. Ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng đã đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có thành viên Hội đồng tỉnh; Ban Thư ký; Chủ tịch Hội đồng các huyện, thành phố; đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

hdpb1.gif

Trong năm 2018, công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều kết quả tốt, đặc biệt, công tác PBGDPL đã góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội, tác động tích cực đến việc xây dựng ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật trong nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, cũng còn những hạn chế, khó khăn, đặc biệt ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế, công tác phối hợp PBGDPL ở một số ngành, địa phương chưa đồng bộ, chưa thường xuyên, chưa có chiều sâu.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước trong thời gian tới, ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo:

Tiếp tục củng cố, kiện toàn Hội đồng tỉnh, cấp huyện; thành viên Hội đồng triển khai đầy đủ các nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch công tác năm 2018; Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, từng thành viên Hội đồng làm tốt vai trò tư vấn, tham mưu cho Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trong công tác PBGDPL; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong thực hiện trách nhiệm của Hội đồng; gắn kết triển khai nhiệm vụ của thành viên Hội đồng với triển khai nhiệm vụ PBGDPL của Thủ trưởng cơ quan, đoàn thể; quan tâm chỉ đạo hệ thống cơ quan trực thuộc và theo Ngành dọc.

hdpb2.gif

Tiếp tục quán triệt đầy đủ, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Luật PBGDPL; Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021 và các Đề án, Kế hoạch về PBGDPL. Tiếp tục đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức PBGDPL sát với từng nhóm đối tượng, chú trọng các đối tượng có nguy cơ vi phạm pháp luật, phù hợp địa bàn, lĩnh vực gắn với tăng cường đầu tư các điều kiện về hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực, cập nhật công nghệ mới, chia sẻ tư liệu PBGDPL, đa dạng hóa các hình thức PBGDPL trên các phương tiện thông tin, truyền thông đại chúng.

Tập trung phổ biến, quán triệt các luật, pháp lệnh, văn bản pháp luật mới ban hành năm 2017-2018, chú trọng nội dung chính sách luật mới, những quy định được sửa đổi, bổ sung có tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất, kinh doanh; các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý đối với những hành vi vi phạm; quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; chú trọng PBGDPL cho đối tượng đặc thù, nhất là tại địa bàn vùng sâu, vùng xa.

Tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2018, Ngày pháp luật định kỳ bảo đảm thường xuyên, liên tục, thiết thực, sinh động, hiệu quả, tổ chức các cuộc thi, huy động, thu hút sự tham gia của người dân, xã hội vào công tác PBGDPL. Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác PBGDPL trong nhà trường. Củng cố, kiện toàn, khai thác sử dụng và phát huy đầy đủ vai trò của đội ngũ Báo cáo viên, Tuyên truyền viên pháp luật trong công tác PBGDPL.

Đẩy mạnh xã hội hóa trong công tác PBGDPL, huy động nhiều hơn nữa nguồn lực xã hội tham gia công tác này. Khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện PBGDPL. Huy động các luật sư, luật gia và những người làm công tác pháp luật khác tham gia thực hiện trách nhiệm xã hội của mình đối với công tác PBGDPL; khuyến khích đội ngũ này thực hiện PBGDPL miễn phí cho các đối tượng đặc thù, yếu thế trong xã hội.

Tiếp tục nâng cao chất lượng của công tác hòa giải; triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành; củng cố, kiện toàn Tổ hòa giải và Hòa giải viên, xây dựng đội ngũ Hòa giải viên có kỹ năng, nghiệp vụ, uy tín, am hiểu pháp luật, phong tục tập quán để thuyết phục, hòa giải có chất lượng; phát huy vai trò của người có uy tín, lớn tuổi trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho Hòa giải viên theo Chương trình khung và Bộ tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho Hòa giải viên do Bộ Tư pháp ban hành; đảm bảo hỗ trợ đầy đủ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở theo Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh.

Tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật gắn với triển khai thực hiện nhiệm vụ đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Nghiên cứu, đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân gắn với thực hiện hiệu quả tiêu chí “xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và các nhiệm vụ của địa phương, nhất cấp xã trong các tiêu chí tiếp cận pháp luật.

Tiếp tục tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc xây dựng, thực hiện quy ước; quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các ngành, địa phương, cơ sở về việc xây dựng và thực hiện có hiệu quả quy ước; rà soát, kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế những quy ước vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, truyền thống, thuần phong mỹ tục, bảo đảm nội dung quy ước phù hợp quy định pháp luật, tình hình địa phương và thống nhất, phát huy vai trò của quy ước trong quản lý xã hội tại cộng đồng dân cư, hướng tới xây dựng đời sống văn hóa thật sự.

26/03/2018 9:00 SAĐã ban hành
Thực hiện Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019Thực hiện Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

Thực hiện Quyết định số 772/QĐ-TTg ngày 26/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, được thực hiện vào thời điểm 0 giờ, ngày 01/4/2019; nhằm thu thập các thông tin cơ bản về dân số và nhà ở, với mục đích tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu trong Hệ thống các chỉ tiêu thống kê quốc gia quy định trong Luật Thống kê, phân tích và dự báo tình hình phát triển dân số và nhà ở trên phạm vi cả nước và từng địa phương;

Đáp ứng nhu cầu thông tin dân số và nhà ở, phục vụ đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020; xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030;

Cung cấp thông tin phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân số, xây dựng dàn mẫu chủ phục vụ các cuộc điều tra hộ dân cư. Đây là cuộc Tổng điều tra toàn bộ, quy mô lớn, phạm vi rộng, có nhiều nội dung quan trong, tính chất phức tạp, liên quan đến các cấp, các ngành và người dân trên địa bàn tỉnh.

Để cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 trên địa bàn tỉnh đạt kết quả tốt; Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phối hợp thực hiện tổ chức quán triệt thông suốt, tuyên truyền sâu, rộng trong nội bộ cơ quan, đơn vị và nhân dân về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019; chịu trách nhiệm về việc thực hiện tổ chức điều tra; xem đây là công việc quan trọng, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, đồng bộ, đạt chất lượng và đúng thời hạn theo quy định.

09/11/2018 10:00 SAĐã ban hành
Chi đoàn Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức thành công cuộc thi “Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính” năm 2015Chi đoàn Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức thành công cuộc thi “Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính” năm 2015

Được sự cho phép của Đảng ủy Sở Tư pháp, ngày 11 tháng 9 năm 2015 tại Hội trường Sở Tư pháp, Chi đoàn Sở Tư pháp đã tổ chức cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015. Tham dự Cuộc thi có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Thị Yến, Phó Bí thư Đoàn Khối Các cơ quan tỉnh; đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, Chi hội Luật gia, Thủ trưởng các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp và 22 thí sinh là đoàn viên Chi đoàn Sở Tư pháp.

CCHC4.gif 

Thông qua cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015, giúp cho đoàn viên nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính; phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đoàn viên, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Chi đoàn và đoàn viên; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để đoàn viên phấn đấu, học tập, trao dồi kiến thức, rèn luyện, trưởng thành hơn trong công tác cũng như trong cuộc sống.

CCHC2.gif 

CCHC3.gif 

Các thí sinh tham dự cuộc thi đã trãi qua 02 vòng thi do Ban tổ chức đặt ra. Vòng 01, mỗi thí sinh cùng tham gia trả lời 20 câu hỏi trắc nghiệm trong thời gian 15 phút với nội dung liên quan đến công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính. Kết thúc vòng 01, chọn ra 10 thí sinh có số điểm cao nhất để tham gia trả lời câu hỏi tự luận theo hình thức bốc thăm với nội dung liên quan đến xử lý tình huống, kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử, kiến thức liên quan đến cải cách hành chính, thủ tục hành chính.

CCHC1.gif 

Kết quả cuộc thi, Ban tổ chức đã tặng Giấy chứng nhận và tiền thưởng cho 01 thí sinh đạt giải nhất, 01 thí sinh đạt giải nhì, 03 thí sinh đạt giải ba và 05 giải khuyến khích.

22/09/2015 5:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn