Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Phòng Xây dựng Văn bản QPPL
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. /span/span/p  
 
Thực hiện Kế hoạch kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú, Tổ kiểm tra theo dõi thi hành pháp luật huyện đã tổ chức kiểm tra việc thi hành pháp luật thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với 5 đơn vị gồm: Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện, xã Phú khánh, xã An Nhơn, xã Thạnh Phong và xã Thạnh Hải. 
 
Ngày 06 tháng 02 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Đồng thời, ngày 15 tháng 6 năm 2013 Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng ban hành Thông tư số 09/2013/TT-BTP quy định chi tiết thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2013. Để triển khai kịp th... 
 
Thực hiện Quyết định số 1934/QĐ-BTP ngày 25 tháng 7 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời đánh toàn diện kết quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2003-2013 trên địa bàn tỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến công ... 
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"Nhằm thực hiện tốt Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính trong đó có Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; đồng thời đảm bảo việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh được thực hiện thống nhất và đúng trình tự, thủ tục theo quy định mới, góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh; ngày 1 tháng 8 năm 2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 20/2013/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 24 tháng 4 năm 2007 về trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Bến Tre. /span/span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Thực hiện Kế hoạch số 744/KH-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành từ năm 1976 đến ngày 31 tháng 12 năm 2012, Sở Tư pháp đã phối hợp với các sở, ngành tỉnh tiến hành rà soát đạt yêu cầu kế hoạch đề ra./span/p  
 
Xuất phát từ tình trạng dạy học trước chương trình lớp 1 xảy ra ở một số địa phương đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội. Đồng thời, trên cơ sở dạy học trước chương trình lớp 1 là phản khoa học, gây khó khăn trong việc tổ chức dạy học lớp 1, vì sẽ làm trẻ chủ quan, giảm hứng thú học tập khi vào học lớp 1, ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ, nhất là khi ngư... 
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực trạng trên một phần là do sự thiếu thông tin của doanh nghiệp về những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này./span/span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal"span style="font-size: small;"Đó là một trong những nội dung được quy định trong Thông tư số 11/2013/TT-BCA của Bộ Công an vừa mới ban hành ngày 01 tháng 3 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP và Nghị định số 71/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ./span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w:LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngày 04/3/2013, UBND tỉnh Bến Tre đã ký ban hành Kế hoạch số 881/KH-UBND về theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2013. /span/p  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 369 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình gắn liền trên đất (không thể di dời được) của và bà Nguyễn Thị Sáng, cư ngụ tại: ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thửa 1257, tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 667 m2;

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665096 do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam cấp ngày 20/02/2013, số vào sổ cấp GCN: CH00648.

2. Quyền sử dụng đất thửa 860 tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 300m2;

- Loại đất: Đất ở tại nông thôn;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665095 cấp ngày 20/02/2013 tại Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, số vào sổ CH00647.

3. Tài sản, công trình (không thể di dời được) gắn liền trên đất: nhà ở, nhà trọ cho thuê.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: Ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, nhà ở, nhà trọ cho thuê; tài sản, công trình gắn liền trên đất của và bà Nguyễn Thị Sáng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 803.700.000đ (Tám trăm lẻ ba triệu, bảy trăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 160.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 18/01/2018, tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre), (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 375 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ 04 hạng mục (nhà điều hành, hồ nước, nhà vệ sinh, hàng rào) thuộc Trạm cấp nước Tân Thạch, huyện Châu Thành, cụ thể như sau:

1. Nhà điều hành Trạm Tân Thạch: Kết cấu: móng cột pêtông cốt thép, tường gạch, nền lát gạch bông, mái tole tráng kẽm, diện tích 77,28 m2. Tỷ lệ còn lại 20 %.

2. Hồ nước: Kết cấu: thành, nắp pêtông cốt thép, thể tích 68,88 m3. Tỷ lệ còn lại 10 %.

3. Nhà vệ sinh: Kết cấu: nền láng xi măng, tường gạch, mái fbro xi măng, không có cửa ra vào, diện tích 1,8 m2. Tỷ lệ còn lại 10 %.

4. Hàng rào:

a) Cổng chính: Kết cấu: trụ sơn nước cửa cổng bằng song sắt, diện tích 5m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

b) Hàng rào chính: Kết cấu: trụ đà pêtông cốt thép, tường xây gạch, phía trên tường lắp khung thép hình, diện tích 26 m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

c) Hàng rào phụ 1: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo lưới B40, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 10%.

d) Hàng rào phụ 2: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo dây chì gai, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 0%.

- Tài sản tại: Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ cho lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre.

            - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo cho Trạm cấp nước Tân Thạch, người dân qua lại và khu làm việc xung quanh.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3+4): 49.785.000đ (Bốn mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi lăm ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 9.900.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc) Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre..

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 27/12/2017 (Thứ tư). 


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 379 (Kèm QC)

  Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp), địa chỉ tại: 393C, khu phố 6, phường  Khú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 360,0 m2, đất ở tại đô thị;

- Thuộc thửa đất số 71; tờ bản đồ số 47.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

2. Tài sản trên đất (nhà ở):

- Loại nhà: Nhà ở riêng lẻ, nhà ở cấp 3, diện tích xây dựng 91,3 m2, diện tích sàn 299,3 m2.

- Tài sản tọa lạc: Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

* Lưu ý: Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên và  Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền hoặc người mua có yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạt, trường hợp diện tích đất thực tế tăng thì người mua được hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp) do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre – Phòng Giao dịch Mỏ Cày Nam xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

            - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 4.000.000.000 đ (Bốn tỷ đồng).

   - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

- Khoản tiền đặt trước là 800.000.000đ/hồ sơ,  nộp chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

      - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc: xã Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ ngày 29/12/2017.

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 - 0275.3512081 – 0275.3512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

15/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 22/9/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 22/9/2017
02/10/2017 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 07/12/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 07/12/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 363 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô tải thùng kín, nhãn hiệu: SUZUKI, màu sơn: trắng, số máy: F10A-1074929; số khung: DA21V-VN102828; sản xuất năm 2004, tại Việt Nam; biển số: 71T-7663. Xe bán dạng phế liệu.

* Lưu ý: Bưu điện tỉnh Bến Tre sẽ thực hiện xóa logo thương hiệu trước khi bàn giao xe cho khách hàng trúng đấu giá.

- Tài sản được quản lý tại: Trung tâm khai thác vận chuyển (địa chỉ: đường Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre).

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Bưu điện tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

          * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 1.600.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc), tại Trung tâm khai thác vận chuyển (địa chỉ: đường Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 21/12/2017.

 

          THÔNGBÁO HỢP ĐỒNG 370 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 02 (hai) chiếc xe ôtô tải thùng kín, cụ thể như sau:

1. Một chiếc xe ô tô tải thùng kín, nhãn hiệu Vinaxuki, số loại: 990T-TBU2/HĐ, số khung: RRXCA11QC8V061445, số máy: QC480ZLQ Q080305233D, sản xuất năm 2008, tại Việt Nam, năm hết niên hạn sử dụng: 2033, biển số 71N-0314. Hiện trạng: xe bị rỉ sét nhiều chỗ, gầm và một số bộ phận có dấu hiệu mục, hư hỏng nặng. Giá khởi điểm: 14.091.000đ (Mười bốn triệu, không trăm chín mươi một ngàn đồng).

- Tài sản được quản lý tại: Trung tâm kinh doanh – Phòng bán hàng huyện Ba Tri, địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

2. Một chiếc xe ô tô tải thùng kín, nhãn hiệu Vinaxuki, số loại: 990T-TBU2/HĐ, số khung: C8V61427, số máy: Q080305135D, sản xuất năm 2008, tại Việt Nam, năm hết niên hạn sử dụng: 2033, biển số 71N-0285. Hiện trạng: xe bị rỉ sét nhiều chỗ, gầm và một số bộ phận có dấu hiệu mục, hư hỏng nặng. Giá khởi điểm: 14.091.000đ (Mười bốn triệu, không trăm chín mươi một ngàn đồng).

- Tài sản được quản lý tại: Trung tâm kinh doanh – Phòng bán hàng huyện Bình Đại, địa chỉ: thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Lưu ý: Tài sản (1+2) bán từng chiếc theo nhu cầu người sử dụng và bán dạng phế liệu.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm kinh doanh VNPT- Bến Tre - Chi nhánh Tổng công ty dịch vụ Viễn thông Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 28.182.000đ (Hai mươi tám triệu, một trăm tám mươi hai ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ (tài sản 01) và 50.000đ/01 hồ sơ (tài sản 02), nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

          * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 2.800.000đ/01 hồ sơ (Tài sản 01) và 2.800.000đ/01 hồ sơ (Tài sản 02) , chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc), tại Trung tâm kinh doanh – Phòng bán hàng huyện Ba Tri, địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và tại Trung tâm kinh doanh – Phòng bán hàng huyện Bình Đại, địa chỉ: thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 21/12/2017.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 366 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm: 12 chiếc xe mô tô 02 bánh, 11 xe mô tô 03 bánh các loại, 08 điện thoại di động và các tài sản khác (khung thép mạ kẽm, trụ bằng thép, trụ nhựa đầu dãy phân cách) (có bảng kê chi tiết kèm theo).

- Tài sản được quản lý tại: kho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lưu ý: Tài sản bán chung và bán dạng phế liệu; đối với xe môtô 02 bánh, 03 bánh các loại, khi nhận tài sản người mua trúng đấu giá sẽ thực hiện cắt bỏ số khung, số máy và chịu toàn bộ chi phí cho việc cắt bỏ số khung, số máy.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản tịch thu theo Quyết định số 2485/QĐ-UBND ngày 20/10/2017 và Quyết định số 2629/QĐ-UBND ngày 01/11/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc bán tài sản  được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do Sở Tài chính Bến Tre chuyển giao, bán sung công quỹ nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 325.760.000 đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

     * Khoản tiền đặt trước: 65.000.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc), tại kho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 21/12/2017.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 368 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phan Tấn Mỹ (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình giao thông Bến Tre), địa chỉ: 10/2 ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm cụ thể như sau:

- - Diện tích đất: 2.116,1 m2 (trong đó có 148,2 m2 đất nằm trong hành lang lộ giới).

- Loại đất: chuyên trồng lúa nước;

- Thuộc tờ bản đố 42, thửa đất số 388;

- Tài sản tọa lạc: ấp 4, xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

* Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BO 972369, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 01468 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm cấp cho ông Phan Tấn Mỹ vào ngày 25/9/2013 không thực hiện việc đo đạc lại. Trường hợp người mua có yêu cầu đo đạc lại phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất trong Giấy chứng nhận tăng thì người mua hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất ông Phan Tấn Mỹ (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình giao thông Bến Tre) do Ngân hàng TMCP Đông Á– Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 1.240.518.740 đ (Một tỷ, hai trăm bốn mươi triệu, năm trăm mười tám ngàn, bảy trăm bốn mươi đồng).

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ , nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 248.000.000đ/hồ sơ, nộp chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.   

   - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/01/2017 (trong giờ làm việc) tại: ấp 4 xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/01/2018 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/01/2018 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 11/01/2018.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 367 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là 05 (năm) chiếc xe trộn bê tông, 01 (một) chiếc xe lu bánh sắt-lốp của Công ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Bến Tre (người đại diện theo pháp luật là ông Đinh Ngọc Vượng - Tổng Giám đốc), địa chỉ trụ sở tại: 694C, ĐT 885 ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre và 03 (ba) chiếc xe ô tô tải ben của Công ty TNHH một thành viên Thương mại - Xây dựng và Dịch vụ Giao Long (người đại diện theo pháp luật là ông Lưu Minh Nhân - Giám đốc), địa chỉ trụ sở tại: ấp 7, xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm cụ thể như sau:

I. Tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Bến Tre (người đại diện theo pháp luật là ông Đinh Ngọc Vượng - Tổng Giám đốc).

1. Xe trộn bê tông nhãn hiệu SSang Yong; số máy: D2848M900393; số khung: AU745L-571-02574; biển số đăng ký: 71C-007.64. Theo giấy đăng ký xe số: 001737 do phòng cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bến Tre cấp ngày 16/11/2011. Giá khởi điểm: 69.372.500đ (Sáu mươi chín triệu, ba trăm bảy mươi hai ngàn, năm trăm đồng).

2. Xe trộn bê tông nhãn hiệu Mitubishi; màu sơn: trắng-xanh; số máy: 8DC9-393713; số khung: FP415D-50761; biển số đăng ký: 71C-008.74. Giấy đăng ký xe số: 000004 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre cấp ngày 29/01/2012. Giá khởi điểm: 277.489.000đ (Hai trăm bảy mươi bảy triệu, bốn trăm tám mươi chín ngàn đồng).

3. Xe trộn bê tông nhãn hiệu Ford; màu sơn: đỏ-trắng; số máy: WVA19230; số khung: S86WVA19230; biển số đăng ký: 71C-007.98. Giấy đăng ký xe số: 001828 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre cấp ngày 09/12/2011. Giá khởi điểm: 485.605.500đ (Bốn trăm tám mươi lăm triệu, sáu trăm lẻ năm ngàn, năm trăm đồng).

4. Xe trộn bê tông nhãn hiệu Ford; màu sơn: đỏ-trắng; số máy: WVA19231; số khung: S86WVA19231; biển số đăng ký: 71C-006.60. Giấy đăng ký xe số: 001526 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre cấp ngày 29/9/2011. Giá khởi điểm: 485.605.500đ (Bốn trăm tám mươi lăm triệu, sáu trăm lẻ năm ngàn, năm trăm đồng).

5. Xe trộn bê tông nhãn hiệu Ford; màu sơn: đỏ-trắng; số máy: WVA19228; số khung: S86WVA19228; biển số đăng ký: 71C-006.61. Giấy đăng ký xe số: 001527 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre cấp ngày 29/9/2011. Giá khởi điểm: 485.605.500đ (Bốn trăm tám mươi lăm triệu, sáu trăm lẻ năm ngàn, năm trăm đồng).

6. Xe lu bánh sắt lốp nhãn hiệu LONKING; màu sơn: vàng; số máy: 6B10A001125; số khung: Y1004178; biển số đăng ký: 71SA-0065. Giấy đăng ký xe số: 00379 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre cấp ngày 12/7/2010. Giá khởi điểm: 577.600.000đ (Năm trăm bảy mươi bảy triệu, sáu trăm ngàn đồng).

II. Tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH một thành viên Thương mại - Xây dựng và dịch vụ Giao Long Bến Tre (người đại diện theo pháp luật là ông Lưu Minh Nhân - Giám đốc).

1. Xe ô tô tải ben nhãn hiệu THACO; màu sơn: xanh; số máy: 1D12F9A00113; số khung: 60YDAC057529; biển số đăng ký: 71C-011.65. Giấy đăng ký xe số: 000554 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre cấp ngày 28/6/2012. Giá khởi điểm: 259.920.000đ (Hai trăm năm mươi chín triệu, chín trăm hai mươi ngàn đồng).

2. Xe ô tô tải ben nhãn hiệu THACO; màu sơn: xanh; số máy: 490ZL1059829; số khung: 20SZAC055951; biển số đăng ký: 71C-011.67. Giấy đăng ký xe số: 000556 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre cấp ngày 28/6/2012. Giá khởi điểm: 206.311.500đ (Hai trăm lẻ sáu triệu, ba trăm mười một ngàn, năm trăm đồng).

3. Xe ô tô tải ben nhãn hiệu THACO; màu sơn: xanh; số máy: 1D12F9902866; số khung: 60YDAC055684; biển số đăng ký: 71C-011.66. Giấy đăng ký xe số: 000553 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre cấp ngày 28/6/2012. Giá khởi điểm: 259.920.000đ (Hai trăm năm mươi chín triệu, chín trăm hai mươi ngàn đồng).

- Tài sản (I+II) tọa lạc tại: Công ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Bến Tre, địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Bến Tre và Công ty TNHH một thành viên Thương mại - Xây dựng và Dịch vụ Giao Long do Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á – Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Lưu ý:

 - Tài sản bán từng chiếc theo nhu cầu người sử dụng.

- Xe trên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Các loại phí khác khách hàng trúng đấu giá phải chịu.

- Trong 30 ngày tính từ ngày nhận tài sản, khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á – Chi nhánh Bến Tre để được hướng dẫn xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá thời gian trên Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á – Chi nhánh Bến Tre không xem xét, giải quyết.          

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (I+II): 3.107.429.500 đ (Ba tỷ, một trăm lẻ bảy triệu, bốn trăm hai mươi chín ngàn, năm trăm đồng).

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ (Tài sản I.1), 200.000đ/hồ sơ (Tài sản I.2), (Tài sản I.3), (Tài sản I.4), (Tài sản I.5), (Tài sản II.1), (Tài sản II.2), (Tài sản II.3), 500.000đ/hồ sơ (Tài sản I.6), nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 13.800.000đ/hồ sơ (Tài sản I.1), 55.400.000đ/hồ sơ (Tài sản I.2), 97.100.000 đ/hồ sơ (Tài sản I.3), (Tài sản I.4), (Tài sản I.5), 115.500.000đ/hồ sơ (Tài sản I.6), 51.900.000 đ/hồ sơ (Tài sản II.1), (Tài sản II.3),  41.200.000 đ/hồ sơ (Tài sản II.2), nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc), tại Trung tâm khai thác vận chuyển (địa chỉ: đường Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2017 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 21/12/2017.

 

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 955,4 m2 (trong đó: 180,0 m2 đất ONT và 775,4 m2 đất trồng cây hàng năm khác);

- Thuộc thửa đất số 444, tờ bản đồ số 6.

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 439068 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00578 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 16/6/2011.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Hàng rào lưới B40. Diện tích 6.2md; trụ xi măng đúc sẳn: 41 trụ.

3. Cây trồng trên đất:

- Cây dừa loại 1: 07 cây, dừa loại 3: 23 cây;

- Cây gừa: 29 bụi

- Khế loại 2: 01 cây

- Tre loại 2: 02 bụi

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 835.219.053đ (Tám trăm ba mươi lăm triệu, hai trăm mười chín ngàn, không trăm năm mươi ba đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 167.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/01/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/01/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ ngày 11/01/2018  tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Trước khi mở cuộc bán  đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

* Lưu ý: Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký mua tài sản, tham gia đấu giá và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667 - 02753512081 - 02753512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

11/12/2017 5:00 CHĐã ban hành
Những điểm mới cơ bản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáoNhững điểm mới cơ bản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 09 Chương, 68 Điều. Luật có những điểm mới cơ bản như sau:

Mở rộng chủ thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Theo Hiến pháp năm 2013 "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào". Cụ thể hóa Hiến pháp Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào" (Khoản 1 Điều 6).  

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định này thể hiện tính nhân văn trong chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho những người bị hạn chế quyền công dân.

Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Quy định này thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người.

Bổ sung một Chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

 Để phản ánh rõ hơn phạm vi điều chỉnh của Luật cũng như thể hiện cơ bản nhất chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã bổ một Chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với 04 Điều quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung

Chủ thể thực hiện quyền này được mở rộng. Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung không xem là mốc khởi điểm để hình thành về tổ chức.

Một số nội dung theo quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ nay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở Trung ương

Theo quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, một số nội dung thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ nay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương (công nhận tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo; tiếp nhận thông báo giải thể trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo). Việc thay đổi này sẽ giảm tải công việc cho Thủ tướng Chính phủ, tăng thẩm quyền cho cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cũng như giúp cho việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo nhanh gọn, thuận lợi hơn khi các tổ chức, cá nhân liên quan có nhu cầu.

Thời gian được công nhận là tổ chức tôn giáo giảm còn 05 năm

Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 quy định tổng thời gian kể từ khi được Ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận sinh hoạt tôn giáo đến đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo là 23 năm. Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thời gian công nhận tổ chức tôn giáo được tính từ khi tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Đây là một quy định thuận lợi cho các tổ chức khi đề nghị công nhận tổ chức tôn giáo.

Vấn đề tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo

Điều 30 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Đối với tổ chức tôn giáo được công nhận trước ngày Luật có hiệu lực là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày Luật này có hiệu lực với điều kiện các tổ chức tôn giáo này có trách nhiệm điều chỉnh, đăng ký hiến chương tại đại hội gần nhất theo quy định.

Đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 21 của Luật còn phải được tổ chức tôn giáo đề nghị và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký mới trở thành pháp nhân phi thương mại.

 Tách nội dung phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc thành hai nội dung: phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc và bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tách bạch, phân định rõ chức sắc, chức việc. Trên cơ sở phân định rõ chức sắc, chức việc, Luật quy định cách thức thực hiện đối với việc phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc (Điều 33) khác với bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc (Điều 34).

Về cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo

Cơ sở đào tạo tôn giáo, trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Luật đã bổ sung làm mới các quy định liên quan đến cơ sở đào tạo tôn giáo bao gồm từ đổi tên trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo thành cơ sở đào tạo tôn giáo, điều kiện thành lập, thẩm quyền chấp thuận đến các nội dung liên quan đến hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo.

Mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định việc mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo và phân tách việc mở lớp cho hai đối tượng là người chuyên hoạt động tôn giáo đăng ký việc mở lớp với cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh và những người không chuyên hoạt động tôn giáo thì thông báo với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi mở lớp.

 Bổ sung nội dung phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Đây là một quy định hoàn toàn mới, phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo, với xu thế hội nhập quốc tế và thông lệ quốc tế. Quy định này đã tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được đề nghị phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị khi đáp ứng các điều kiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định, đó là: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; Được đào tạo tôn giáo tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam; Tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được thay đổi theo hướng chỉ đăng ký, thông báo lần đầu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những nội dung không có trong văn bản đăng ký hoặc thông báo sẽ đăng ký, thông báo bổ sung.

Bổ sung theo hướng tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 8 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, đó là được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với các quyền cụ thể như sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đối với chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.

Trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc này, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có 7 Điều quy định về hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài, trong đó tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo tập trung có thể thuê, mượn địa điểm để sinh hoạt tôn giáo; người nước ngoài có thể được tổ chức tôn giáo ở Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị; tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có quyền gia nhập, chấm dứt tham gia tổ chức tôn giáo nước ngoài;…

 Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để các cơ quan này biết, thực hiện trách nhiệm phối hợp với các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc để các hoạt động tôn giáo diễn ra đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn, bảo vệ môi trường... Các nội dung theo quy định của Luật, người đại diện cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có trách nhiệm thông báo như thông báo lễ hội định kỳ; thông báo về khoản thu, mục đích sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng; thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo; thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử; thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành; thông báo cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc; thông báo hội nghị thường niên… Đây cũng là quy định phù hợp với xu hướng hiện nay nhằm nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tôn giáo trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.

Phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, Luật cũng có các quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Đề bảo đảm có đầy đủ công cụ pháp lý nhằm thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, đồng thời bảo đảm quyền phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định về thanh tra chuyên ngành tôn giáo; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và một số biện pháp chế tài khác như đình chỉ, thu hồi, giải thể.

13/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 01/10/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 01/10/2015
 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 384/2015

Tài sản là một phần quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của ông Cao Văn Tài và bà Võ Thị Chung, địa chỉ tại: ấp Vinh Điền, xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

      - Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS499111, số vào sổ cấp GCN CH01323 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 07/4/2014 diện tích là 303,9m2 (trong đó: 70 m2 đất ONT và 233,9 m2 đất CLN); thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 02.

      - Theo trích lục bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất huyện Bình Đại trích lục ngày 07/7/2015, diện tích: 257,8 m2 (trong đó: 70 m2 đất ONT và 187,8 m2 đất CLN)

      - Thuộc một phần thửa số 141, tờ bản đồ số 02

      * Lưu ý: Tài sản bán theo diện tích trích lục họa đồ là 257,8 m2 (trong đó: 70 m2 đất ONT và 187,8 m2 đất CLN).

     2. Nhà ở trên đất:

            a) Nhà chính: chiều ngang 6,2m, chiều dài 15,5m, gồm 01 phòng thờ, 02 phòng ngủ, 01 phòng khách, 01 gian nhà sau, trong nhà sau có 01 phòng vệ sinh. Kết cấu: nền móng bê tông cốt thép, cột bê tông cốt thép, mái lợp tol firôximăng, không trần, nền lát gạch ceramic, tường sơn nước, xây gạch dày 10cm, cửa chính, cửa sổ bằng nhôm lắp kính, kèo bằng gỗ.

            b) Nhà phụ: Kết cấu: nền tráng xi măng, mái lợp tol firô xi măng, tường xây gạch chưa tô, cột xi măng.

            c) Hàng rào: bằng lưới B40, cao 1,8m, dài 15,2m.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở  trên đất của ông Cao Văn Tài và bà Võ Thị Chung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 430.020.000đ (Bốn trăm ba mươi triệu, không trăm hai mươi ngàn đồng).

         Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ

 * Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 396/2015

Tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước, gồm: 02 lô xe môtô 02 bánh các loại. Cụ thể như sau:

1. Lô số 01: gồm 219 chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng phế liệu, giá khởi điểm: 153.300.000đ (Một trăm năm mươi ba triệu, ba trăm ngàn đồng).

 2. Lô số 02: gồm 13 chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng được phép đăng ký lại, giá khởi điểm: 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán theo từng lô, có bảng kê chi tiết kèm theo. Đối với xe bán dạng phế liệu bán đấu giá thành, khi người trúng đấu giá nhận xe phải thực hiện việc cắt sườn, đục bỏ số máy, số khung.

- Tài sản tọa lạc tại: Phòng Cảnh sát Giao thông đường bộ Đường sắt – Công an tỉnh Bến Tre, địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát Giao thông Đường bộ - Đường sắt - Công an tỉnh Bến Tre bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 189.300.000 đ (Một trăm tám mươi chín triệu, ba trăm ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/10/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 13/10/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đồng/hồ sơ (lô số 01), 100.000 đ/hồ sơ (lô số 02).

* Tiền đặt trước: 22.000.000 đồng/hồ sơ (lô số 01), 5.000.000 đ/hồ sơ (lô dố 02)

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 386/2015

Tài sản là xe môtô hai bánh, ba bánh, xe lôi máy các loại tịch thu sung công quỹ nhà nước của Công an huyện Thạnh phú chuyển bán. Tài sản gồm có:

- Một trăm năm mươi một (151) chiếc xe môtô, gắn máy hai bánh các loại (trong đó: có 66 (sáu mươi sáu) chiếc xe được phép đăng ký lại; 85 (tám mươi lăm) xe bán dạng phế liệu); 05 (năm) chiếc xe môtô ba bánh và 02 (hai) chiếc xe lôi máy bán dạng phế liệu (có bảng kê chi tiết kèm theo).

* Lưu ý:

- Xe ba bánh bán dạng phế liệu, khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản phải tự trang bị các công cụ, thiết bị để thực hiện cắt đôi thùng xe và khung xe. Xe môtô, gắn máy hai bánh cắt đôi khung xe.

- Thời hạn 15 ngày, kể từ ngày trúng đấu giá người mua được tài sản phải di dời phương tiện ra khỏi trụ Sở Công an huyện Thạnh Phú, nếu chưa thực hiện xong việc di dời thì phải trả chi phí trông giữ, bảo quản theo mức phí tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tập trung vận chuyển xe vào ngày thứ bảy và chủ nhật.

- Tài sản tọa lạc tại: Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện Thạnh phú, tỉnh Bến Tre, địa chỉ: Thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh phú, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính không xác định được chủ sỡ hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp của Công an huyện Thạnh phú bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 223.300.000đ (Hai trăm hai mươi ba triệu, ba trăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 01/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/10/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 09/10/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ.

* Tiền đặt trước: 33.000.000 đ/hồ sơ.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 366/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất của hộ ông Võ Tấn Thành; hiện cư ngụ tại: ấp Phú Thành, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Thửa số 383, tờ bản đồ số 11;

- Diện tích: 1.811,9 m2; Loại đất: MNC;

2. Một phần thửa số 382 (theo hồ sơ đo đạc kê biên là thửa 382a), tờ bản đồ số 11;

- Diện tích:  694,2 m2; Loại đất: HNK;

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Võ Tấn Thành, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

 *Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 941.152.419đ (Chín trăm bốn mươi mốt triệu, một trăm năm mươi hai ngàn, bốn trăm mười chín đồng).

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ hồ sơ.

 * Khoản tiền đặt trước tài sản: 80.000.000 đ/hồ sơ.

 Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 10/11/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 383/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Hồ Văn Chân và bà Trần Thị Rĩ, địa chỉ tại: ấp Long Hòa 1, xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

      - Diện tích: 894,5 m2;

      - Loại đất: 70 m2 đất thổ cư và 824,5 m2 đất CLN;

      - Thuộc một phần thửa số 966, 967, tờ bản đồ số 01 (số liệu chính quy thuộc thửa 88, tờ bản đố 17);

      * Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C850945, số vào sổ 405QSDĐ/83/UB-QĐ, do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 26/8/1993.

       2. Cây trồng trên đất: 11 cây dừa loại 1 trên 06 năm tuổi đã cho trái ổn định và 11 cây dừa loại 3 04 năm tuổi, chưa cho trái.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Hồ Văn Chân và bà Trần Thị Rĩ, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 839.500.000 đ (Tám trăm ba mươi chín triệu, năm trăm ngàn đồng).

         Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ.

 * Khoản tiền đặt trước: 80.000.000đ/hồ sơ.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 375/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Bé Ngọc, địa chỉ: Số nhà 412C, Khu phố 3, Phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 118,2m2;

- Thuộc thửa đất số 94; tờ bản đồ số 09.

- Mục đích sử dụng: 80,7m2 đất ở đô thị và 37,5m2 đất trồng cây lâu năm;

- Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 403375, số vào sổ cấp GCN: CH01943 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 09/7/2015.

- Tài sản tọa lạc: phường 7, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Bé Ngọc do không có nhu cầu sử dụng cần bán.

* Lưu ý: Tài sản bán không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua trúng đấu giá khi nhận tài sản có yêu cầu đo đạc lại thì phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại có tăng hơn diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu diện tích đất giảm thì người mua phải chịu không khiếu nại.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 105.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/10/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 13/10/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre. Tỉnh Bến Tre).

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 395/2015

Tài sản là một phần quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (cây trồng) của bà Lê Thị Nhi, địa chỉ: ấp Kinh Gãy, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

- Diện tích: 1.941,5 m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 08 (mới), thửa đất số 02 (mới);

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 252897 do UBND huyện Mỏ Cày (nay là UBND huyện Mỏ Cày Bắc) cấp ngày 09/01/2004.

- Tài sản tọa lạc: ấp Phú Bình, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

* Lưu ý:  Tài sản bán theo diện tích đã đạc thực tế.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là một phần quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (cây trồng) của bà Lê Thị Nhi do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 174.735.000 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, bảy trăm ba mươi lăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/10/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 20/10/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 392/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của bà Phan Thị Thu Thủy; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 195,7m2;

- Thuộc thửa đất số 83; tờ bản đồ số 20.

- Mục đích sử dụng: 159, 0m2 đất ở đô thị và 37,6 m2 đất trồng cây lâu năm;

2. Về nhà:

- Loại nhà: Nhà ở riêng lẻ, cấp 4, có 08 căn nhà trọ được xây dựng kiên cố, với Diện tích xây dựng là 147,9m2, được cấp phép và chủ quyền nhà đầy đủ, nằm trong khu quy hoạch đất nhà ở kết hợp dịch vụ và đất thương mại dịch vụ, đất đẹp và nở hậu;

- Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 537557, số vào sổ cấp GCN: CH01691 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 27/10/2014.

- Tài sản tọa lạc: số 289, Khu phố 3, phường 7, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của bà Phan Thị Thu Thủy do không có nhu cầu sử dụng cần bán.

  * Lưu ý: Tài sản bán không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua trúng đấu giá khi nhận tài sản có yêu cầu đo đạc lại thì phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại có tăng hơn diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu diện tích đất giảm thì người mua phải chịu không khiếu nại.

  *Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 105.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/10/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 13/10/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 385/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Kế và bà Phạm Thị Hửng, địa chỉ: ấp Vĩnh Đức Trung, xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm sau:

- Diện tích đất: 374,5 m2; Loại đất: trồng cây hàng năm khác (HNK);

- Thuộc tờ bản đồ 02, thửa đất 530;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số  AH 546787 do UBND huyện Ba Tri cấp ngày 27/12/2006.

- Tài sản tọa lạc: xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Phan Văn Kế và bà Phạm Thị Hửng do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi – Phòng Giao dịch Ba Tri xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 300.000.000 đ (Ba trăm triệu  đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015 (trong giờ làm việc).

        Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 367/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út; hiện cư ngụ tại: ấp Bình Hòa, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

a) Thửa số 42, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  227,8 m2  (diện tích lộ giới 56,3m2); Loại đất: ODT;

b) Thửa số 44, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  202,2 m2; Loại đất: TSL (nuôi trồng thủy sản);

2. Công trình xây dựng trên đất (nhà ở diện tích 337,541 m2).

- Tầng trệt: phòng massage, khu phòng massage, phòng xông hơi 1, phòng xông hơi 2, hồ thủy lực, khu vệ sinh.

- Tầng lầu: phòng karaoke, khu vệ sinh.

- Phần tài sản phụ: cổng rào, hàng rào, mái che, gác gỗ.

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.372.457.253 đ (Một tỷ, ba trăm bảy mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi bảy ngàn, hai trăm năm mươi ba đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/10/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/11/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 10/11/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667; 075-3512081; 075-3512083.

01/10/2015 5:00 CHĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luậtỦy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Căn cứ Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; thực hiện Quyết định số 699/QĐ-BTP ngày 22/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 và Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2525/KH-UBND ngày 08/6/2017 xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Mục đích Kế hoạch đề ra là thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả nhiệm vụ được giao tại Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (ban hành kèm theo Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ) và nhiệm vụ "Đánh giá, công nhận, xây dựng xã tiếp cận pháp luật; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân" theo nội dung số 06 tại điểm b, mục 9, phần III, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ). Gắn trách nhiệm quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, thực hiện các tiêu chí tiếp cận pháp luật và xây dựng xã, phường, thị trấn (cấp xã) đạt chuẩn tiếp cận pháp luật với thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của ngành Tư pháp và các sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; phát huy đầy đủ vai trò của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp - Hộ tịch trong tham mưu xây dựng nông thôn mới, xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Kề hoạch đề ra các nội dung chính như sau:

Ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, đề ra giải pháp triển khai cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và các tiêu chí tiếp cận pháp luật gắn với thi hành các luật, văn bản pháp luật có liên quan thuộc phạm vi quản lý của sở, ngành, địa phương;

 Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi thực hiện tiêu chí thành phần 18.5 về xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thuộc Tiêu chí 18 về Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 trong Quyết định của Ủy ban nhân dân quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp;

Quán triệt, phổ biến, truyền thông để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, cộng đồng về xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật;

 Chỉ đạo, hướng dẫn, xây dựng giải pháp thực hiện các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật theo trách nhiệm và phạm vi quản lý của các cơ quan, đơn vị, địa phương;

Các nhiệm vụ, hoạt động phục vụ việc đánh giá, công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật: Chỉ đạo, hướng dẫn việc rà soát, chấm điểm, tổ chức đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Thành lập Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật, xây dựng, ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng; Tổ chức đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Niêm yết kết quả đánh giá, công bố cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Đề xuất, triển khai giải pháp khắc phục, cải thiện, thực hiện có hiệu quả các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trên cơ sở kết quả đánh giá hằng năm, tập trung trọng tâm vào địa bàn chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật hoặc có nhiều tiêu chí, chỉ tiêu đạt kết quả thấp;

 Kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả; chọn triển khai mô hình điểm cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; thực hiện trách nhiệm của cơ quan chủ trì;

Bảo đảm nguồn lực và điều kiện cần thiết (nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí) trong triển khai nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật;

Ủy ban nhân dân tỉnh giao trách nhiệm cho Sở Tư pháp; các sở, ban, ngành tỉnh có liên quan; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, các xã, phường, thị trấn trong phạm vi, lĩnh vực quản lý của Ngành, địa phương mình có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch này; Sở Tư pháp Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp - Hộ tịch là đầu mối tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp triển khai thực hiện các nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Những nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong năm 2017Những nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong năm 2017

"Năm 2017, Toàn ngành Tư pháp cần chung tay thực hiện nhiệm vụ do Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy và UBND tỉnh đề ra nhằm tập trung mọi nỗ lực, đoàn kết khắc phục khó khăn, hăng hái thi đua phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh" là chỉ đạo của Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp – Phan Tuấn Thanh tại Hội nghị triển khai công tác Tư pháp năm 2017.

Năm 2016, ngành Tư pháp Bến Tre đã triển khai toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm nhiệm vụ công tác tư pháp bảo đảm chất lượng, tiến độ so với chương trình, kế hoạch đề ra. Công tác chỉ đạo, điều hành được đổi mới, kịp thời triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là gắn với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội X của tỉnh, ngành Tư pháp từ tỉnh đến xã đã quán triệt, thực hiện phương châm "Dân chủ - Kỷ cương - Đoàn kết - Năng động - Đổi mới", đây là phương châm hành động suốt nhiệm kỳ 2015-2020. Trong năm 2016, các nhiệm vụ được giao tương đối nặng nề, song do có sự chỉ đạo quyết liệt trong toàn hệ thống, sự nỗ lực, cố gắng của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong toàn Ngành, công tác Tư pháp đã đạt được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận; góp phần vào việc duy trì, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

nhiem-vu-2017.3.jpg

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, công tác Tư pháp cũng gặp  không ít khó khăn, hạn chế như: Việc công bố chuẩn hóa thủ tục hành chính  còn chậm; việc triển khai thực hiện Kế hoạch, Đề án công tác PBGDPL ở một số ít cơ quan, đơn vị, địa phương chưa kịp thời; công tác phối hợp tuyên truyền, PBGDPL giữa một số ngành, địa phương có nơi, có lúc chưa thường xuyên, chưa sát đối tượng, chưa nhân rộng mô hình, cách làm hay hiệu quả; đội ngũ luật sư chưa đáp ứng yêu cầu; thiếu giám định viên lĩnh vực kim khí, đá quý ; công tác đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với Phòng Tư pháp do đây là nhiệm vụ mới nên chưa có kinh nghiệm, cũng còn nhiều khó khăn, lúng túng…

Năm 2017, được Tỉnh ủy xác định là "Năm hành động" để triển khai thực hiện nghiêm túc, kịp thời, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, đề án, chương trình, kế hoạch đã đề ra. Toàn ngành tư pháp cần chung tay thực hiện nhiệm vụ do Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy và Uỷ ban nhân dân tỉnh đề ra nhằm tập trung mọi nỗ lực, đoàn kết khắc phục khó khăn, hăng hái thi đua phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh; trong đó chú trọng triển khai các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, Tiếp tục triển khai thực hiện các văn bản do Trung ương và tỉnh ban hành có liên quan đến phong trào thi đua "Nông thôn mới", "Đồng Khởi mới", "cải cách hành chính", hành động thực hiện cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh trên lĩnh vực do Ngành phụ trách với phương châm "Dân chủ, kỷ cương, đoàn kết, năng động, đổi mới", gắn với thực hiện phong trào thi đua "Cán bộ Tư pháp đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh".

Thứ hai, Tập trung triển khai hiệu quả việc thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; tiếp tục thực hiện có chất lượng công tác góp ý, thẩm định dự thảo VBQPPL của các cấp trên địa bàn tỉnh; đặc biệt là nâng vị thế của cơ quan tư pháp trong công tác thẩm định. Tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ về kiểm soát TTHC; trong đó, tập trung kiểm soát TTHC ngay từ khâu xây dựng, thẩm định đề xuất, dự thảo VBQPPL.

nhiem-vu-2017.2.jpg

Thứ ba, Tiếp tục triển khai thực hiện công tác quản lý XLVPHC, theo dõi thi hành pháp luật đảm bảo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, gắn với công tác xây dựng, kiểm tra VBQPPL, tập trung vào các lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận và lĩnh vực được xác định trọng tâm theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017.

Thứ tư, Tuyên truyền, phổ biến các Luật, Pháp lệnh mới được Quốc hội thông qua năm 2016 và năm 2017; hướng dẫn, chỉ đạo triển khai công tác PBGDPL gắn với các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của đất nước, nhất là vấn đề khởi nghiệp; an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường và những vấn đề dư luận xã hội quan tâm. Triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật gắn với triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả tiêu chí tiếp cận pháp luật trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

Thứ năm, Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động hành chính tư pháp, nhất là công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã chuyển giao về cấp huyện; triển khai có hiệu quả Chương trình hành động quốc gia về đăng ký, thống kê hộ tịch giai đoạn 2016-2024 gắn với việc thi hành Luật hộ tịch; mở rộng việc áp dụng phần mềm đăng ký hộ tịch gắn với cấp số định danh cá nhân khi thực hiện đăng ký khai sinh.

Thứ sáu, Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về luật sư; chú trọng phát triển đội ngũ giám định viên tư pháp; thực hiện các giải pháp nhằm phát triển bền vững các nghề bổ trợ tư pháp như: thừa phát lại, đấu giá tài sản, quản tài viên, tăng cường đội ngũ đấu giá viên của tỉnh. Tiếp tục tổ chức thực hiện thống nhất, đồng bộ Đề án Đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 trên địa bàn tỉnh; tổ chức thực hiện công tác trợ giúp pháp lý đi vào chiều sâu, hiệu quả.

nhiem-vu-2017.1.jpg

Thứ bảy, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, góp phần thiết thực, hiệu quả trong việc tăng cường chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan tư pháp địa phương. Tiếp tục xây dựng, thực hiện đúng tiêu chuẩn các chức danh của Ngành phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao; nâng cao nhận thức, đạo đức, bản lĩnh và năng lực của đội ngũ lãnh đạo, quản lý phù hợp với yêu cầu phát triển của công cuộc cải cách tư pháp. Tập trung thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong ngành tư pháp (chú trọng lĩnh vực dễ sai phạm, phát sinh tiêu cực); thực hiện tốt công tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng.

Hy vọng với niềm tin nổ lực phấn đấu trong toàn Ngành Tư pháp Bến Tre, năm 2017, sẽ là một năm mới với nhiều thắng lợi mới.

07/02/2017 2:00 CHĐã ban hành
Pháp luật về Trợ giúp pháp lý và những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động tham gia tố tụng năm 2012Pháp luật về Trợ giúp pháp lý và những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động tham gia tố tụng năm 2012
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, ...

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Hiện nay, tình hình tranh chấp, khiếu kiện vẫn còn xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, người dân tự đứng ra bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho mình chưa được đảm bảo tuyệt đối, một phần do văn bản pháp luật ngày càng nhiều, họ không thể tự tìm hiểu để bảo vệ cho chính mình. Ngoài ra, lời trình bày của họ rất hạn chế, không mang tính thuyết phục trước cơ quan nhà nước có thẩm. Trong khi đó, điều kiện về đời sống vật chất của người dân ngày càng rất khó khăn, thế nhưng các chi phí về dịch vụ pháp lý hiện nay khá cao, người dân nghèo ít có điều kiện thuê mướn các dịch vụ pháp lý để giúp đỡ mình trong từng vụ việc. Chính vì thế, nhu cầu trợ giúp pháp lý, nhất là trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng đang rất cần thiết trong nhân dân, đặc biệt là “Hộ nghèo”. Nhưng nhiều người dân nghèo hiện nay lại “e ngại”, bởi còn rất nhiều người chưa am hiểu hết về hoạt động của trợ giúp pháp lý, đặc biệt là trợ giúp pháp lý trong hoạt động tham gia tố tụng.

Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, thì các hình thức trong hoạt động trợ giúp pháp lý bao gồm: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác. Theo đó, hình thức tham gia tố tụng trong hoạt động trợ giúp pháp lý là khi có yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước quyết định cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư là cộng tác viên tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính.

Với công tác này, trong năm 2012, Trung tâm và Chi nhánh trợ giúp pháp lý thực hiện đạt được một số kết quả khá tốt; Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre đã cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên tham gia bào chữa 263 vụ việc, cho 263 đối tượng được trợ giúp pháp lý (Trợ giúp viên pháp lý tham gia 132 vụ việc, Luật sư cộng tác viên tham gia 131 vụ việc). Trong đó, có 153 vụ án hình sự, 29 vụ việc dân sự, 29 vụ đất đai, 43 vụ hôn nhân gia đình, 08 vụ hành chính và 01 vụ lao động. Qua đó, cho thấy số vụ việc tham gia tố tụng ngày càng được nâng lên, một phần do có sự phối hợp tốt của các cơ quan tố tụng, trong số các vụ việc đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý tham gia ngày càng nhiều, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên đã bảo vệ tốt quyền lợi ích chính đáng cho rất nhiều người thuộc diện được trợ giúp pháp lý và theo quy định pháp luật. Từ những kết quả đáng ghi nhận trong năm 2012. Thiết nghĩ, để thực hiện tốt hơn công tác này đòi hỏi cần có sự quan tâm hơn nữa của lãnh đạo các cấp, sự phối hợp đắc lực của các ngành, đặc biệt là nghiêm túc thực hiện nội dung Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BTC-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 của Bộ Tư pháp, Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, nhằm nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Đồng thời, về phía Trung tâm trợ giúp pháp lý sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng nhằm đảm bảo kịp thời theo yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý. Đặc biệt, đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý tại xã nông thôn, xã biên giới biển, khu vực phòng thủ, xã nghèo để người được trợ giúp pháp lý hiểu rõ hơn về quyền được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật và không bỏ sót, bỏ lọt đối tượng được trợ giúp pháp lý.

18/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Pháp luật về Trợ giúp pháp lý và những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động tham gia tố tụng năm 2012Pháp luật về Trợ giúp pháp lý và những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động tham gia tố tụng năm 2012
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, ...

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Hiện nay, tình hình tranh chấp, khiếu kiện vẫn còn xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, người dân tự đứng ra bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho mình chưa được đảm bảo tuyệt đối, một phần do văn bản pháp luật ngày càng nhiều, họ không thể tự tìm hiểu để bảo vệ cho chính mình. Ngoài ra, lời trình bày của họ rất hạn chế, không mang tính thuyết phục trước cơ quan nhà nước có thẩm. Trong khi đó, điều kiện về đời sống vật chất của người dân ngày càng rất khó khăn, thế nhưng các chi phí về dịch vụ pháp lý hiện nay khá cao, người dân nghèo ít có điều kiện thuê mướn các dịch vụ pháp lý để giúp đỡ mình trong từng vụ việc. Chính vì thế, nhu cầu trợ giúp pháp lý, nhất là trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng đang rất cần thiết trong nhân dân, đặc biệt là “Hộ nghèo”. Nhưng nhiều người dân nghèo hiện nay lại “e ngại”, bởi còn rất nhiều người chưa am hiểu hết về hoạt động của trợ giúp pháp lý, đặc biệt là trợ giúp pháp lý trong hoạt động tham gia tố tụng.

Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, thì các hình thức trong hoạt động trợ giúp pháp lý bao gồm: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác. Theo đó, hình thức tham gia tố tụng trong hoạt động trợ giúp pháp lý là khi có yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước quyết định cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư là cộng tác viên tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính.

Với công tác này, trong năm 2012, Trung tâm và Chi nhánh trợ giúp pháp lý thực hiện đạt được một số kết quả khá tốt; Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre đã cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên tham gia bào chữa 263 vụ việc, cho 263 đối tượng được trợ giúp pháp lý (Trợ giúp viên pháp lý tham gia 132 vụ việc, Luật sư cộng tác viên tham gia 131 vụ việc). Trong đó, có 153 vụ án hình sự, 29 vụ việc dân sự, 29 vụ đất đai, 43 vụ hôn nhân gia đình, 08 vụ hành chính và 01 vụ lao động. Qua đó, cho thấy số vụ việc tham gia tố tụng ngày càng được nâng lên, một phần do có sự phối hợp tốt của các cơ quan tố tụng, trong số các vụ việc đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý tham gia ngày càng nhiều, Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên đã bảo vệ tốt quyền lợi ích chính đáng cho rất nhiều người thuộc diện được trợ giúp pháp lý và theo quy định pháp luật. Từ những kết quả đáng ghi nhận trong năm 2012. Thiết nghĩ, để thực hiện tốt hơn công tác này đòi hỏi cần có sự quan tâm hơn nữa của lãnh đạo các cấp, sự phối hợp đắc lực của các ngành, đặc biệt là nghiêm túc thực hiện nội dung Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BTC-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 của Bộ Tư pháp, Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, nhằm nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Đồng thời, về phía Trung tâm trợ giúp pháp lý sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng nhằm đảm bảo kịp thời theo yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý. Đặc biệt, đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý tại xã nông thôn, xã biên giới biển, khu vực phòng thủ, xã nghèo để người được trợ giúp pháp lý hiểu rõ hơn về quyền được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật và không bỏ sót, bỏ lọt đối tượng được trợ giúp pháp lý.

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hoạt động thẩm định văn bản QPPL có quy định thủ tục hành chínhHoạt động thẩm định văn bản QPPL có quy định thủ tục hành chính
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal"Ngày 08 tháng 6 năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính. Theo đó, tại các Điều 9, 10, 11 của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP có quy định đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính thì phải gửi lấy ý kiến góp ý của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; trước khi gửi lấy ý kiến thẩm định cơ quan soạn thảo phải có bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính./p

Ngày 08 tháng 6 năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính. Theo đó, tại các Điều 9, 10, 11 của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP có quy định đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính thì phải gửi lấy ý kiến góp ý của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; trước khi gửi lấy ý kiến thẩm định cơ quan soạn thảo phải có bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính.

Để thể chế hóa Nghị định, đồng thời đảm bảo việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh được thực hiện thống nhất và đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định; góp phần hoàn thiện hơn nữa thể chế, nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh; ngày 29 tháng 8 năm 2011 Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 24/2011/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 24 tháng 4 năm 2007 về ban hành Quy định về trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản quy pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Theo quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP thì ở địa phương chỉ có Ủy ban nhân dân tỉnh mới có thẩm quyền quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của mình. Việc thủ tục hành hành chính quy định trong các văn bản khác và không phải do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành đều trái với quy định của pháp luật. Sở Tư pháp sẽ không tiếp nhận hồ sơ gửi thẩm định nếu dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính chưa có bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính và ý kiến góp ý của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh (Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính). Kết quả thực hiện trong năm 2012, Sở đã thực hiện việc trả 05 hồ sơ và đã đề nghị cơ quan soạn thảo đánh giá tác động thủ tục hành chính và gửi lấy ý kiến góp ý của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh trước khi gửi thẩm định.

Về thành phần hồ sơ gửi thẩm định đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính: ngoài thành phần hồ sơ theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan gửi thẩm định phải có thêm bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính và báo cáo giải trình về việc tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, trong đó có ý kiến góp ý của Cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính.

Khi tiến hành thẩm định, Sở Tư pháp sẽ tập trung xem xét các vấn đề về nguyên tắc, yêu cầu của thủ tục hành chính theo đúng quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. Đồng thời, bổ sung vào trong Báo cáo thẩm định phần kết quả thẩm định về thủ tục hành chính quy định trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp nếu thấy cần thiết, cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có thể mời cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính cùng cấp tham gia để thẩm định nội dung thủ tục hành chính quy định trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo hơn nữa tính pháp lý của thủ tục hành chính có trong dự thảo văn bản.

Kết quả thực hiện việc thẩm định dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính trong năm 2012, Sở Tư pháp đã thực hiện thẩm định 98 văn bản; trong đó, thẩm định 03 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến thủ tục hành chính theo đúng quy trình và thời gian quy định.

Mặc dù số lượng thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre không nhiều, nhưng công tác này đã được thực hiện nghiêm túc, góp phần nâng cao chất lượng của thủ tục hành chính dự kiến được ban hành và bảo đảm tính khả thi trong thực tế.

 

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bến Tre - thực trạng và giải phápCông tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bến Tre - thực trạng và giải pháp
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w:LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo quy định tại Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp (hiện nay áp dụng theo Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật). Theo đó, ngành Tư pháp được giao nhiệm vụ đầu mối theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn quản lý. Cụ thể: ở cấp tỉnh, cơ quan đầu mối làm công tác theo dõi chung là Sở Tư pháp, ở cấp huyện thì giao cho Phòng Tư pháp là cơ quan đầu mối làm nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn cấp huyện và riêng ở cấp xã thì nhiệm vụ này được giao cho công chức tư pháp - hộ tịch. /span/p

Thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo quy định tại Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp (hiện nay áp dụng theo Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật). Theo đó, ngành Tư pháp được giao nhiệm vụ đầu mối theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn quản lý. Cụ thể: ở cấp tỉnh, cơ quan đầu mối làm công tác theo dõi chung là Sở Tư pháp, ở cấp huyện thì giao cho Phòng Tư pháp là cơ quan đầu mối làm nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn cấp huyện và riêng ở cấp xã thì nhiệm vụ này được giao cho công chức tư pháp - hộ tịch.

Với chức năng, nhiệm vụ được giao, trong những năm qua, công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh được sự quan tâm lãnh đạo và triển khai thực hiện khá tốt của các cơ quan, đơn vị và địa phương. Qua công tác theo dõi đã đánh giá được thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh; từ đó kiến nghị xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong thời gian tới. Nhìn chung, công tác theo dõi thi hành pháp luật đến nay đã mang lại những tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần nâng cao ý thức chấp hành, tuân thủ, chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên, qua gần 03 năm triển khai công tác này, bên cạnh những kết quả đạt được cũng còn gặp không ít những khó khăn, vướng mắc, tồn tại và hạn chế như sau:

Thứ nhất, hiện nay chưa có quy định, cơ chế hoặc cách thức để xác định lĩnh vực cần tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Thực tế ở địa phương khi chọn lĩnh vực theo dõi hàng năm thường căn cứ vào hướng dẫn lĩnh vực trọng tâm cần theo dõi của Bộ Tư pháp, tuy nhiên hướng dẫn của Bộ Tư pháp còn khá rộng, rất nhiều lĩnh vực, trong đó có nhiều lĩnh vực không sát với thực tế địa phương (ví dụ như các lĩnh vực: tiền tệ, kinh doanh vàng miếng, tình trạng đôla hóa, xây dựng chung cư…). Do đó, việc lựa chọn lĩnh vực ở địa phương nhiều lúc phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cán bộ làm tham mưu trong công tác này.

Thứ hai, tính chất công việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật trùng lặp với nhiều chức năng, công việc khác của Nhà nước như: công tác thanh tra, kiểm tra, công tác thông tin báo cáo, thống kê, công tác nghiên cứu khoa học…

Thứ ba, các tiêu chí để theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật, phương pháp thực hiện, kinh phí… quy định trong Thông tư số 03/2010/TT-BTP không rõ ràng. Các nội dung của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP mới ban hành cũng chưa giải quyết được các vấn đề này (quy định mới còn khái quát hơn, chung chung hơn, ví dụ như: quy định đối với nội dung đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đánh giá về hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật; phương pháp, đối tượng, nội dung khi tiến hành điều tra khảo sát...). Do đó, việc theo dõi thi hành pháp luật nhìn chung còn khó triển khai thực hiện.

Thứ tư, ngành Tư pháp chủ trì việc theo dõi, tổng hợp báo cáo, kiến nghị, đề xuất. Tuy nhiên, trong thực tế, đối với việc thực thi các quy định có tính chất chuyên môn của từng ngành, lĩnh vực, cán bộ của ngành Tư pháp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nội dung công việc, ví dụ: các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường ở các làng nghề (khi theo dõi tình hình ô nhiễm môi trường tại các làng nghề) hoặc các quy định pháp luật liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật của ao nuôi tôm, tôm giống, các loại dịch bệnh (khi theo dõi trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản)…

Thứ năm, hiện nay chưa có quy định về tổ chức, biên chế, cơ chế tài chính cụ thể dành cho công tác theo dõi thi hành pháp luật, chưa có nguồn kinh phí phục vụ cho việc triển khai công tác này (mới chỉ có kinh phí cho việc xây dựng báo cáo tổng hợp công tác theo dõi thi hành pháp luật).

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác theo dõi thi hành pháp luật trong thời gian tới mang lại hiệu quả cao hơn, xin đưa ra 05 nhóm giải pháp như sau:

Một là, cần có quy định, cơ chế để xác định lĩnh vực theo dõi thi hành pháp luật hàng năm. Cụ thể hơn, hàng năm đề nghị Bộ Tư pháp căn cứ vào tình hình thực tế của cả nước để xác định lĩnh vực trọng tâm cần theo dõi thi hành pháp luật, lĩnh vực trọng tâm này cần phù hợp với từng vùng miền, khu vực (đồng bằng, miền núi, đô thị và nông thôn) trên cơ sở đó toàn ngành tư pháp sẽ tập trung tham mưu tổ chức theo dõi trong cả nước. Từ đó, toàn Ngành đưa ra giải pháp đồng bộ, toàn diện và triệt để cho từng lĩnh vực theo dõi. Như vậy sẽ phù hợp hơn với thực tế nhân sự, kinh nghiệm và điều kiện vật chất còn thiếu và yếu như hiện nay.

Hai là, cần có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, khả thi hơn về phương thức theo dõi thi hành pháp luật (ví dụ: cách thức triển khai, tiêu chí để theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật…).

Ba là, cần có hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành đồng thời phát huy vai trò, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong việc triển khai thực hiện; quy định về cung cấp thông tin, báo cáo của các cơ quan, đơn vị trong việc theo dõi thi hành pháp luật.

Bốn là, cần có cơ chế để quy định trách nhiệm tiếp thu các kiến nghị, ý kiến góp ý sau khi theo dõi của các cơ quan liên quan.

Năm là, cần có quy định cụ thể về điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp như về tổ chức, biên chế thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật (bố trí công chức chuyên trách), kinh phí và bố trí nguồn kinh phí để thực hiện công tác này.

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công tác lý lịch tư pháp -Những kết quả bước đầuCông tác lý lịch tư pháp -Những kết quả bước đầu
Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. Đây là một đạo luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền của công dân và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp và khó khăn trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, cụ thể như xây dựng cơ sở d...

Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. Đây là một đạo luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền của công dân và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp đặt ra những nhiệm vụ mới, phức tạp và khó khăn trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, cụ thể như xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; hình thành cơ chế cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp; chủ động thực hiện cập nhật thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp người bị kết án đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích…. Xác định rõ tầm quan trọng của công tác này, thời gian qua, Sở Tư pháp đã chủ động khắc phục những khó khăn bước đầu, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp cho công dân ngày càng tăng.

Từ khi Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Luật trên địa bàn tỉnh, cụ thể là tổ chức triển khai nội dung Luật cho đại diện các sở, ngành, đoàn thể tỉnh, thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; cán bộ pháp chế của các sở, ban, ngành tỉnh; lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố. Đồng thời, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì tổ chức hội nghị phối hợp thực hiện Luật Lý lịch tư pháp giữa các cơ quan Công an tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự, Sở Nội vụ, Sở Tài chính để chuẩn bị các điều kiện cần thiết thực hiện nhiệm vụ trong khi chờ văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Đối với các cơ quan cung cấp thông tin, Sở Tư pháp định kỳ thực hiện việc đối chiếu thông tin để đảm bảo thông tin không bị bỏ sót hoặc chậm trễ. Năm 2011, Sở Tư pháp đã được phê duyệt kinh phí để trang bị cơ sở vật chất phục vụ công tác Lý lịch tư pháp. Từ nguồn kinh phí được phê duyệt, Sở Tư pháp đã trang bị tủ hồ sơ chuyên dụng, in ấn sổ và bìa hồ sơ để phục vụ lưu trữ hồ sơ giấy.

Sau khi Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2010 được ban hành, Sở Tư pháp đã có Công văn gửi Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin cải chính, chứng tử để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Tính đến tháng 12 năm 2012, Sở Tư pháp đã tiếp nhận 8021 thông thông tin lý lịch tư pháp do Cơ quan Thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố và Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cung cấp; 3556 thông tin chứng tử; 2106 thông tin thay đổi, cải chính hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp. Lượng thông tin tiếp nhận được cập nhật đầy đủ, kịp thời trên cơ sở dữ liệu do việc chủ động ứng dụng công nghệ thông tin, giải quyết những khó khăn bước đầu khi chưa có biên chế phục vụ công tác, chưa có phần mềm quản lý dùng chung. Song song với dữ liệu điện tử, các hồ sơ Lý lịch tư pháp đã lập được lưu trữ trên các bìa giấy, mỗi hồ sơ có mã số riêng, tương ứng với dữ liệu điện tử.

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đang từng bước đi vào hoạt động. Bên cạnh kết quả tra cứu của Công an tỉnh, đầu năm 2012, Sở Tư pháp đã thực hiện tra cứu thông tin từ hệ thống cơ sở dữ liệu đang xây dựng để cấp Phiếu Lý lịch tư pháp. Trong năm 2012, Sở Tư pháp đã tiếp nhận và cấp 1672 Phiếu Lý lịch tư pháp. Sở Tư pháp và Công an tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự đã ký Quy chế phối hợp liên ngành trong việc cung cấp, rà soát, xác minh thông tin lý lịch tư pháp trên địa bàn tỉnh. Đến nay, công tác lý lịch tư pháp tại địa phương đã cơ bản đi vào ổn định; quan hệ phối hợp ngày càng được tăng cường. Dữ liệu lý lịch tư pháp lưu trữ trên phần mềm ứng dụng của Sở đã được chuyển đổi tương ứng và tương đối phù hợp với phần mềm quản lý lý lich tư pháp dùng chung của Bộ Tư pháp.

 

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác lý lich tư pháp cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề biên chế. Theo Quyết định số 2369/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Xây dựng Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chức thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp” thì biên chế tối thiểu làm công tác lý lịch tư pháp tại các Sở Tư pháp tỉnh là 03 biên chế. Thực hiện Quyết định trên, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 967/KH-UBND ngày 16 tháng 3 năm 2011 thực hiện Đề án “Xây dựng Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chức thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp” trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Sở Tư pháp ban hành Kế hoạch kiện toàn Phòng hành chính tư pháp. Theo đó, Sở Tư pháp được bổ sung thêm 4 biên chế làm công tác lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, đến nay số biên chế này vẫn chưa được phân bổ. Mặc dù vậy, để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phương, Sở Tư pháp đã chủ động bố trí cán bộ đang làm công tác hành chính tư pháp kiêm nhiệm công tác này, đồng thời bố trí cán bộ làm việc ngoài giờ hành chính và ký thêm hợp đồng lao động để xử lý thông tin.

Đến nay, lượng thông tin tiếp nhận đã được cập nhật vào cơ sở dữ liệu, lập Lý lịch tư pháp để tra cứu tại Sở, cung cấp cho các Sở Tư pháp khác để xử lý theo thẩm quyền. Tuy nhiên, việc xử lý thông tin lý lịch tư pháp, thông tin cải chính, chứng tử, cung cấp bản lý lịch tư pháp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp vẫn chưa kịp tiến độ do nhiều nguyên nhân, trong đó bên cạnh yếu tố nhân sự còn do chưa có hướng dẫn thống nhất cách xử lý đối với các trường hợp phát sinh trên thực tế. Một trong những vấn đề phát sinh là việc xử lý đối với các thông tin lý lich tư pháp bổ sung như các Quyết định, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận đặc xá…Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp thì cơ sở để lập Lý lich tư pháp là bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc bản án hình sự phúc thẩm. Tuy nhiên, việc đề nghị các Tòa án cung cấp bản án, đặc biệt là các bản án trước ngày 01/7/2010 cần phải có thời gian để Tòa án thực hiện tra cứu. Trong khi đó, nếu chờ có bản án rồi mới thực hiện lập Lý lịch tư pháp thì sẽ dẫn đến việc bỏ sót thông tin khi tra cứu để cấp Phiếu. Trước tình hình này, để đảm bảo không bị bỏ sót thông tin, phục vụ tra cứu, Sở Tư pháp đã chủ động lập Lý lịch tư pháp ngay khi nhận được các quyết định, giấy chứng nhận, sau đó mới thống kê và có công văn gửi các Tòa án để xin bản án, bổ sung thông tin và cung cấp về Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia.

Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu lý lich tư pháp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tư pháp. Qua 2 năm thi hành Luật, cùng với các địa phương khác, Sở Tư pháp Bến Tre đã có nhiều nỗ lực góp phần vào nhiệm vụ chung. Tuy nhiên, để đảm bảo cho công tác lý lich tư pháp tại địa phương đạt hiệu quả cao trong thời gian tới, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, vấn đề cấp thiết là phải quan tâm, củng cố, sớm bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp chuyên trách theo quy định.

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ngành Tư pháp huyện Châu Thành chung tay góp sức xây dựng nông thôn mớiNgành Tư pháp huyện Châu Thành chung tay góp sức xây dựng nông thôn mới
 Châu Thành là huyện cửa ngõ của tỉnh Bến Tre, với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và tự nhiên, trong những năm qua, Châu Thành không ngừng phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Dấu ấn quan trọng mà nhân dân Châu Thành đã đạt được là huyện nhà đã được công nhận đạt chuẩn các tiêu chí Huyện văn hóa vào tháng 4 năm 2011. Không dừng lại ở đó, trên nền tảng Huyện văn hóa,...

Châu Thành là huyện cửa ngõ của tỉnh Bến Tre, với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và tự nhiên, trong những năm qua, Châu Thành không ngừng phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Dấu ấn quan trọng mà nhân dân Châu Thành đã đạt được là huyện nhà đã được công nhận đạt chuẩn các tiêu chí Huyện văn hóa vào tháng 4 năm 2011. Không dừng lại ở đó, trên nền tảng Huyện văn hóa, nhân dân huyện Châu Thành tiếp tục hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới với mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2015, huyện hoàn thành cơ bản các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.

Để làm được điều đó, một trong những nhiệm vụ mà lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện quan tâm chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể thực hiện là tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, làm cho cán bộ, nhân dân hiểu đúng, hiểu đủ về nội dung, tính chất, ý nghĩa của chủ trương xây dựng huyện nông thôn mới, để họ tự nguyện, tự giác tham gia xây dựng nông thôn giàu về kinh tế, đẹp về văn hóa, mạnh về quốc phòng - an ninh.

Không đứng ngoài cuộc, ngành Tư pháp Châu Thành từ huyện đến cơ sở cũng đã có những động thái tích cực, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm góp phần cùng toàn huyện xây dựng thành công huyện nông thôn mới.

Ý thức được vai trò, vị trí quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng như nhiệm vụ của ngành Tư pháp trong việc thực hiện công tác này, Phòng Tư pháp là thành viên nhóm tuyên truyền xây dựng nông thôn mới và đời sống văn hóa của Huyện ủy, đã chỉ đạo công chức tư pháp - hộ tịch các xã, thị trấn tích cực thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở địa phương, trong đó, nội dung trọng tâm là: tuyên truyền 19 tiêu chí nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia Nông thôn mới; Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 02/8/2011 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 02-NQ/HU ngày 19/8/2011 của Huyện ủy “về xây dựng nông thôn mới" giai đoạn 2011 – 2015; Quyết định số 1624/QĐ-UBND ngày 20/7/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về ban hành Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Bến Tre; Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 24/10/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành về việc thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 02/8/2011 của Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020... Cùng với việc tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là văn bản mới ban hành có liên quan mật thiết đến đời sống nhân dân, nhằm góp phần nâng cao dân trí pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân, qua đó hạn chế vi phạm pháp luật, góp phần giữ gìn an ninh, chính trị, trật an toàn xã hội ở địa phương - một trong những tiêu chí về nông thôn mới.

Ngành Tư pháp tích cực tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016. Đồng thời, thực hiện tốt các Đề án: “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho thanh thiếu niên” giai đoạn 2011 – 2015; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến 2016 trên địa bàn huyện Châu Thành... Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật ngày càng được chú trọng về chiều sâu, nội dung và hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú. Phòng Tư pháp thực hiện tốt vai trò thành viên Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án về tuyên truyền, phổ biến pháp luật do đơn vị chủ trì. Phòng duy trì phối hợp với Đài Truyền thanh huyện xây dựng chuyên mục Tìm hiểu pháp luật, trong năm 2011 và 2012, đã phát sóng 30 câu chuyện truyền thanh và trên 20 bản tin tìm hiểu pháp luật; phối hợp với Ban Tuyên giáo Huyện ủy hàng tháng thực hiện chuyên mục tìm hiểu pháp luật trên Bản tin sinh hoạt nội bộ. Bên cạnh đó, công tác trợ giúp pháp lý cũng được Phòng thường xuyên thực hiện bằng các hình thức như trợ giúp pháp lý tại trụ sở, phối hợp với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ huyện tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ... Phòng cũng thường xuyên biên soạn tài liệu tuyên truyền pháp luật để cung cấp cho các ban, ngành, đoàn thể huyện, xã, Tổ nhân dân tự quản để phục vụ cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; năm 2011, đã phát hành 2.500 sổ tay tìm hiểu pháp luật về Nuôi con nuôi; năm 2012 phát hành 2.500 tờ bướm tìm hiểu pháp luật về giao thông đường bộ, 1.700 sổ tay tìm hiểu pháp luật về khiếu nại, pháp luật về tố cáo. Chủ động phối hợp với Phòng giáo dục và Đào tạo tổ chức sinh hoạt ngoại khóa cho học sinh các trường trung học cơ sở tìm hiểu pháp luật về phòng, chống tội phạm, ma túy; tổ chức cuộc thi "học sinh với kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ" năm 2012... Ngoài ra, hàng năm Phòng còn phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện tổ chức tập huấn kỹ năng và kiến thức pháp luật cho đội ngũ tuyên truyền viên, hòa giải viên cơ sở, qua đó kịp thời bổ sung, trang bị kiến thức để tuyên truyền viên, hòa giải viên cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ.

Công chức tư pháp - hộ tịch các xã, thị trấn cũng thực hiện tốt vai trò tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thường xuyên phối hợp với các ngành, đoàn thể địa phương tổ chức tuyên truyền trong chi, tổ hội; thông qua Đài truyền thanh, bản tin tuyên giáo của xã; tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ Tuổi trẻ với pháp luật, Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; tọa đàm về xây dựng nông thôn mới... Nhìn chung, những hoạt động đó đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới.

Trong thời gian tới, ngành Tư pháp Châu Thành tiếp tục duy trì thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, không ngừng đổi mới hình thức và nội dung tuyên truyền, củng cố các mô hình tuyên truyền pháp luật như Câu lạc bộ Tuổi trẻ với pháp luật, Tủ sách pháp luật, trong đó chú trọng các xã điểm xây dựng nông thôn mới của huyện là Hữu Định, Thành Triệu, Quới Sơn và Tiên Long. Với sự quyết tâm nổ lực cao, ngành Tư pháp Châu Thành sẽ thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ được giao, góp phần cùng toàn huyện xây dựng thành công huyện nông thôn mới.

07/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 20/02/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 20/02/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 40 (Kèm NQ)

 

 Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ các dãy nhà tập thể cũ, hội trường của Đoàn Nghệ thuật Cải lương Bến Tre. Kết cấu: móng, cột gạch, nền ximăng, mái lợp tole, diện tích 437,7 m2. Tỷ lệ còn lại 3%.

- Tài sản tọa lạc tại: Đoàn Nghệ thuật Cải lương Bến Tre; địa chỉ: phường Phú Khương, thành phố Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Đoàn Nghệ thuật Cải lương Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý: Khi bán đấu giá thành:

          - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản bắt buộc lấy móng, đà, picton trả lại mặt bằng sạch cho Đoàn Nghệ thuật Cải lương Bến Tre.

                   - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo  cho người dân qua lại và khu làm việc xung quanh của Đoàn Nghệ thuật Cải lương Bến Tre.

          - Khoản tiền đặt trước của khách hàng trúng đấu giá sẽ được Trung tâm tạm giữ, khi nào tháo dỡ xong Đoàn Nghệ thuật Cải lương Bến Tre có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm để hoàn trả lại cho khách hàng. 

          - Tổng giá khởi điểm làm tròn của tài sản bán đấu giá: 18.909.000đ (Mười tám triệu, chín trăm lẻ chín ngàn đồng).

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre.

          * Khoản tiền đặt trước: 2.800.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 21/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2017 (trong giờ làm việc).

  Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 07/3/2017 (Thứ ba) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 48 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý các thiết bị của Sở Giao thông vận tải tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Trụ đỡ Ponton (02 trụ). Giá khởi điểm: 23.316.000đ

2. Cầu dẫn (Nhịp Eiffel 3 Nes). Giá khởi điểm: 44.000.000đ

3. Ponton 150 tấn. Giá khởi điểm: 71.934.000đ

- Tài sản tọa lạc tại: Bến phà Hàm Luông cũ (phía Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre).

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Sở Giao thông vận tải tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

            - Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 139.250.000đ (Một trăm ba mươi chín triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).

            * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 21/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2017 (trong giờ làm việc).

   Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 07/3/2017 (Thứ ba) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 39 (Kèm NQ)

 

  Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Tống Văn Thức và bà Huỳnh Thị Thúy, hiện cư ngụ tại: ấp 3, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 373m2;

- Loại đất: CLN;

- Thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 06.

2. Cây trồng trên đất: Xoài mới trồng: 8 cây và Xoài loại 4: 02 cây

           * Tài sản (1+2) tọa lạc tại: ấp Giao Bình, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

          * Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Tống Văn Thức và bà Huỳnh Thị Thúy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 165.317.100đ (Một trăm sáu mươi lăm triệu, ba trăm mười bảy ngàn, một trăm đồng).

    - Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

    - Khoản tiền đặt trước tài sản: 15.000.000 đ/ 01hồ sơ, chuyển vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

    - Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 21/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/3/2017 (trong giờ làm việc).

     Tổ chức bán đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 04/4/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 20 (Kèm NQ)

 

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của bà Phạm Kim Phượng, hiện cư ngụ tại: 96B2, Khu phố 1, phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm sau:

1. Về đất:

- Diện tích:  73,4 m2 ;

- Loại đất: đất trồng cây lâu năm (CLN);

- Thuộc tờ bản đồ số 21, thửa đất số 164, 164a.

2. Công trình cây dựng:

a) Về nhà (nhà nằm trên diện tích đất trên):

* Cấu trúc:

- Diện tích xây dựng: 56,06m2 (cất trên phần thửa đất 164, tờ bản đồ số 21 có cất lấn qua phần đất của ông Nguyễn Văn Bền thuộc thửa 10a, tờ bản đồ số 21 diện tích xây dựng là 8,3m2); dạng nhà cấp IV. Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao và tường ngăn xây gạch dày 10cm (có vách tường cung với ông Phan Văn Đồng, dài 12,15m), trần nhựa, máy lợp tole sóng vuông. Hệ thống điện đi ngoài, hệ thống nước âm tường.

- Lưu ý: người mua tài sản chỉ được sử dụng nhà trên phần đất do bà Phượng đứng tên, không tính phần nhà cất lấn qua ông Nguyễn Văn Bền.

* Kết cấu:

- Phòng khách: nền lát gạch ceramic (40 x 40)cm, tường bao và tường ngăn xây gạch dày 10cm, sơn nước; trần nhựa; đòn tay gỗ, mái tole sóng vuông. Cửa đi chính bằng sắt + kính loại 04 cánh; cửa sổ bằng gỗ +kính loại hai cánh (khung bảo vệ bằng sắt).

- Phòng ngủ: có kết cấu tương tự nư phòng khách, cửa phòng bằng khung nhôm+kính loại 01 cánh.

- Khu nhà bếp: có kết cấu tương tự nư phòng khách. Cửa phụ bằng sắt. Bếp bằng bêtông cốt thép, tường và bề mặt bếp ốp gạch men. Hộc tủ khung nhôm +kính.

- Phòng vệ sinh: nền lát gạch ceramic nhám (25x25)cm, tường ốp gạch men cao 1,8m. Cửa bằng gỗ loại 01 cánh. Trang thiết bị vệ sinh: bồn cầu, vòi nước, chậu rửa...

b) Mái che: Diện tích xây dựng 24,64m2. Kết cấu: nền lát gạch ceramic nhám (40x40)cm và láng xi măng, khung vách lửng trên tường rào. Một phần kèo, đòn tay thép và một phần kèo, đòn tay gỗ đước, máy tole sóng vuông.

c) Cổng + tường rào: Kích thước 10md.

- Cổng rào (01 cánh): khung bằng thép hình tổ hợp hàn lại với nhau.

- Tường rào: Kết cấu: móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,8m, tường xây gạch dày 10cm, cao 1,7m, quét vôi, trên lắp khung sắt bảo vệ.

- Tài sản tọa lạc tại: Khu phố 1, Phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của bà Phạm Kim Phượng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 244.484.422 đ (Hai trăm bốn mươi bốn triệu, bốn trăm tám mười bốn ngàn, bốn trăm hai mươi hai đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ /hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ /hồ sơ, nộp bằng hình thức chuyển vào tài khoản Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản số 721100000200470 mở tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 21/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/3/2017 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 04/4/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 21 (Kèm NQ)

   Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của ông Nguyễn Ngọc Thuận, hiện cư ngụ tại: 309A, đường Đoàn Hoàng Minh, khu phố 1, phường 5, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

    - Diện tích 0,9 m2 thuộc thửa 18B + diện tích 111,6 m2 thuộc thửa 18A + diện tích 8,6 m2 thuộc thửa 131, cùng tờ bản đồ số 6, loại đất: ODT;

    - Diện tích 7,5 m2 (đất công) thuộc thửa 192A + diện tích 11,1 m2 (đất lấn rạch) thuộc thửa 192A, cùng tờ bản đồ số 6; ông Thuận chưa đứng tên quyền sử dụng đất.

    2. Nhà trên đất:

    a) Cất trên phần đất do ông thuận đứng tên: Diện tích 0,9 m2 thuộc thửa 18B + diện tích 111,6 m2 thuộc thửa 18A, cùng tờ bản đồ số 6;

    b) Cất trên phần đất vi phạm: Diện tích 7,5 m2 (đất công) thuộc thửa 192A + diện tích 11,1 m2 (đất lấn rạch), cùng tờ bản đồ số 6.

    c) Đặc điểm:

    - Nhà chính: nền gạch men ceramic, tường xây gạch, cột bêtông, mái tole, trần nhựa 7,38 x 8,27 = 61,03 m2;

    - Nhà phụ: nền gạch men ceramic, tường xây gạch, cột bêtông, không trần 8 x 6,07 = 48,56 m2;

    - Hàng rào: dài 34 m, cao 2m, tường xây gạch cao 0,6 m, lưới B40, trụ bêtông cốt thép;

    - 01 đồng hồ điện + 01 đồng hồ nước;

    d) Người mua tài sản được quyền sử dụng nhà cất trên phần đất vi phạm, nhưng khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền phải trả lại phần đất vi phạm gồm diện tích 7,5 m2 (đất công) thuộc thửa 192A + diện tích 11,1 m2 (đất lấn rạch) thuộc thửa DTL, cùng tờ bản đồ số 6;

    * Tài sản (1+2) tọa lạc tại: phường 5, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

    * Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà trên đất của ông Nguyễn Ngọc Thuận, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 384.613.677đ (Ba trăm tám mươi bốn triệu, sáu trăm mười ba ngàn, sáu trăm bảy mươi bảy đồng).

* Lưu ý: Người mua được tài sản bán đấu giá phải chịu trách nhiệm nộp thuế giá trị gia tăng trong trường hợp giá khởi điểm chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng mà tài sản bán đấu giá thuộc diện phải chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định.

    Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 21/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/3/2017 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 8 giờ ngày 04/4/2017; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre.

 * Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ. Nộp bằng hình thức chuyển vào tài khoản Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản số 721100000200470 mở tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

 

  Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

 

                   

21/02/2017 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 17/02/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 17/02/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 37/2017 (kèm NQ)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô con 05 chỗ màu xanh, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: COROLLA, biển số 71B-0456, số máy: 4AH898695; số khung: AE1119567425; sản xuất năm 2000, tại Việt Nam. Xe bán dạng đăng ký lại.

 * Lưu ý:

- Khách hàng trúng đấu giá phải chịu các loại thuế và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.

- Trong 30 ngày tính từ ngày bàn giao tài sản, khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá thời gian trên Trung tâm dịch vụ bán đấu giá Bến Tre và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre không giải quyết cho khách hàng.          

- Tài sản tọa lạc tại: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre; (địa chỉ: phường 3, thành phố Bến Tre, Bến Tre).

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâ dịch vụ bán đấu giá tài sản.

          * Khoản tiền đặt trước: 18.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/02/2017 (trong giờ làm việc).

  Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 03/3/2017 (Thứ sáu) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

          THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 41 (kèm NQ)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý 02 (hai) chiếc xe ôtô con 05 chỗ có các đặc điểm sau:

1. 01 (một) chiếc xe ôtô con 05 chỗ màu xám, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: COROLLA GLI, biển số 71B-0457, số máy: 4AH690328; số khung: AE 1119563457; sản xuất năm 2000, tại Việt Nam. Xe bán dạng đăng ký lại. Giá khởi điểm: 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng).

2. 01 (một) chiếc xe ôtô con 05 chỗ màu xanh, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: COROLLA GLI, biển số 71B-0487, số máy: 4A-H616958; số khung: AE 111-9569747; sản xuất năm 2000, tại Việt Nam. Xe bán dạng đăng ký lại. Giá khởi điểm: 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng).

 * Lưu ý:

- Xe bán từng chiếc theo yêu cầu người sử dụng.

- Khách hàng trúng đấu giá phải chịu các loại thuế và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.

- Trong 30 ngày tính từ ngày bàn giao tài sản, khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá thời gian trên Trung tâm dịch vụ bán đấu giá Bến Tre và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre không giải quyết cho khách hàng.           

- Tài sản tọa lạc tại: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre; (địa chỉ: phường 4, thành phố Bến Tre, Bến Tre).

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          - Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 290.000.000đ (Hai trăm chín mươi triệu đồng).

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ/01 tài sản, nộp tiền mặt cho Trung tâm.

          * Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/01 hồ sơ/01 tài sản, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/02/2017 (trong giờ làm việc).

  Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 03/3/2017 (Thứ sáu) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 42/2017 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý 03 (ba) xe tải ben; tài sản có đặc điểm như sau:

1. Xe tải ben số đăng ký 71M-000.09

- Nhãn hiệu: THACO

- Màu sơn: xanh

- Số máy: WD615.441510F023786

- Số khung: RNHBD13WDAC065011

- Sản xuất năm 2010, tại Việt Nam

- Niên hạn sử dụng: 2035

* Giá khởi điểm tài sản (1): 418.200.000đ (Bốn trăm mười tám triệu, hai trăm ngàn đồng)

2. Xe tải ben số đăng ký 71M-000.10

- Nhãn hiệu: THACO

- Màu sơn: xanh

- Số máy: WD615.441510F023794

- Số khung: RNHBD13WDAC065019

- Sản xuất năm 2010, tại Việt Nam

- Niên hạn sử dụng: 2035

* Giá khởi điểm tài sản (2): 418.200.000đ (Bốn trăm mười tám triệu, hai trăm ngàn đồng)

3. Xe tải ben số đăng ký 71M-001.00

- Nhãn hiệu: VEAM

- Màu sơn: xanh

- Số máy: A0405321

- Số khung: RN1J1D227CT000107

- Sản xuất năm 2012, tại Việt Nam

- Niên hạn sử dụng: 2037

* Giá khởi điểm tài sản (3): 427.800.000đ (Bốn trăm hai mươi bảy triệu, tám trăm ngàn đồng)

* Lưu ý: Tài sản bán trọn gói và khách hàng trúng đấu giá phải chịu các loại thuế và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.           

 - Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: Trung tâm Quản lý phà và bến xe Bến Tre (địa chỉ: 739/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Quản lý phà và bến xe Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          - Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 1.264.200.000đ (Một tỷ, hai trăm sáu mươi bốn triệu, hai trăm ngàn đồng).

          * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

          * Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

          Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/02/2017 (trong giờ làm việc).

  Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 03/3/2017 (Thứ sáu) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 27(Kèm NQ)

 

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Trần Công Dạng và bà Huỳnh Thị Kim Quyên; hiện cư ngụ tại: 82A3, khu phố 2, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

* Về đất và công trình xây dựng trên đất thửa số 37 và 28, tờ bản đồ số 22:

1. Về đất:

a) Diện tích: 40,5 m2;

- Loại đất: ODT;

- Thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 22.

b) Diện tích: 366 m2 (trong đó: 357,9 m2 đất ODT và 8,1m2 đất CLN);

- Thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 22.

2. Công trình xây dựng trên thửa đất số 28, tờ bản đồ số 22:

* Cấu trúc:

- Năm xây dựng: không rõ năm xây dựng;

- Diện tích xây dựng: tầng trệt là 164,9 m2, tầng 2 là 164,9 m2;

- Diện tích sàn: 329,8 m2;

- Dạng nhà: biệt thự, 02 tầng;

- Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 20 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, trần thạch cao, mái tole giả ngói. Hệ thống điện nước âm tường.

* Kết cấu:

a.1) Tầng trệt:

- Bậc thang: dạng bậc thang tam cấp, bằng bêtông cốt thép, ốp đá granite;

- Hành lang: nền lát gạch ceramic (40 x 40) cm, khung bảo vệ sung quanh bằng sắt;

- Phòng khách: nền lát gạch ceramic (40 x 40) cm, tường bao xây gạch dày 20 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, ốp gạch trang trí + sơn nước. Trần thạch cao, trang trí đèn. Cửa đi chính bằng sắt + kính, 04 cánh; cửa bên khung sắt + kính, 02 cánh; cửa sổ bằng khung sắt + kính.

- Phòng ngủ: Có kết cấu tương tự như phòng khách, cửa phòng bằng gỗ, 01 cánh.

- khu nhà bếp (phòng ăn + nhà bếp);

+ Phòng ăn: là phòng mặt chữ L, có kết cấu tương tự như phòng khách. Cửa đi khung sắt + kính, 02 cánh; cửa sau khung sắt + kính, 02 cánh;

+ Khu bếp: bằng bêtông cốt thép, tường ốp gạch men, bề mặt bếp ốp đá granite. Khung tủ + kệ treo bằng gỗ + kính;

- Phòng vệ sinh: Nền lát gạch ceramic nhám (25 x 25) cm, tường ốp gạch men. Cửa bằng gỗ, 01 cánh. Trang thiết bị vệ sinh: bồn cầu, vòi nước, chậu rửa,...

Cầu thang từ tầng trệt lên tầng 2: cầu thang dạng bậc, bằng bêtông cốt thép, ốp đá granite, tay vịnh khung gỗ.

a.2) Tầng 2:

- Hành lang: nền lát gạch ceramic (40 x 40) cm, khung bảo vệ sung quanh bằng sắt;

- Phòng khách: có kết cấu tương tự phòng khách tầng trệt, tường sơn nước. Đòn tay thép, mái tole giả ngói. Cửa đi chính + cửa bên: khung sắt + kính, 02 cánh;

- Phòng khách chữ L: có kết cấu tương tự như phòng ăn chữ L tầng trệt;

- Phòng ngủ: Có kết câu tương tự như phòng ngủ tầng trệt

- Hiện trạng: nhà ở đang sử dụng bình thường.

a.3) Cổng rào:

- Diện tích: 17,3 m2;

- Trụ cổng: bằng bêtông cốt thép (40 x 40) cm, trang trí sơn nước;

- Cánh cổng (02 cánh): khung bằng thép tròn tổ hợp hàn lại với nhau, cao 2,5m;

- Hiện trạng: Cổng rào đang sử dụng bình thường.

a.4) Tường rào:

- Kích thước: chiều dài 9,5 m, chiều cao 2,8 m;

- Kết cấu: móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,8 m, tường xây gạch dày 10 cm, trên lắp hoa tiêu bảo vệ, cao 2,2 m, sơn nước;

- Hiện trạng: tường rào đang sử dụng bình thường.

a.5) Sân nền:

- Diện tích 292 m2;

- Sân bêtông, trên mặt trải đá sỏi.

- Hiện trạng: Sân nền đang sử dụng bình thường.

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Trần Công Dạng và bà Huỳnh Thị Kim Quyên, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 6.656.031.626 đ (Sáu tỷ, sáu trăm năm mươi sáu triệu, không trăm ba mươi mốt ngàn, sáu trăm hai mươi sáu đồng).

   * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

     * Khoản tiền đặt trước: 500.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

     Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/3/2017 (trong giờ làm việc).

     Tổ chức bán đấu giá vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 31/3/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 28(Kèm NQ)

 

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Huỳnh Văn Triêm, hiện cư ngụ tại: khu phố 1, phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre và bà Trần Thị Thảo, hiện cư ngụ: ấp Tân Lễ 2, xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

A. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của hộ ông Huỳnh Văn Triêm:

1. Đất và tài sản trên đất thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 15

a) Về đất

- Diện tích 906 m2 (trong đó: 50 m2 đất ODT, đất đường đi diện tích 10,6 m2 CLN và 845,4 m2 đất CLN).

b) Tài sản trên đất:

- Dừa loại 1 từ 6 năm tuổi trở lên cho trái ổn định: 07 cây;

- Bưởi loại 3 từ 2 năm tuổi đến dưới 4 năm tuổi: 03 cây;

- Mận loại 1 từ 3 năm tuổi trở lên cho trái ổn định: 02 cây.

* Tài sản (1A) tọa lạc: phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm tài sản (1A): 421.186.753đ (Bốn trăm hai mươi một triệu, một trăm tám mươi sáu ngàn, bảy trăm năm mươi ba đồng)

2. Đất thuộc thửa số 574, tờ bản đồ số 13

- Diện tích 782,6 m2 (trong đó: đất lộ giới – đất HNK là 352,4 m2 và 430,2 m2 đất HNK).

* Tài sản (2A) tọa lạc: xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm tài sản (2A): 501.640.027đ (Năm trăm lẻ một triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn, không trăm hai mươi bảy đồng)

3. Đất và tài sản trên đất

a) Diện tích 1.033,1m2;

- Loại đất: CLN.

- Thuộc thửa đất số 577, tờ bản đồ số 13.

b) Diện tích 156,4m2 và tài sản gắn liền với đất;

- Loại đất: HNK.

- Thuộc thửa đất số 576, tờ bản đồ số 01.

* Tài sản (3A) tọa lạc: xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm tài sản (3A): 105.115.235đ (Một trăm lẻ năm triệu, một trăm mười lăm ngàn, hai trăm ba mươi lăm đồng)

4. Đất và tài sản trên đất

a) Diện tích 217,4m2;

- Loại đất: CLN;

- Thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số 14.

b) Diện tích 7.386,6m2 và tài sản gắn liền với đất;

- Loại đất: CLN.

- Thuộc thửa đất số 172, tờ bản đồ số 01.

c) Tài sản trên thửa đất số 172, tờ bản đồ số 01: Dừa loại 1 từ 6 năm tuổi trở lên cho trái ổn định có 125 cây; cây Dừa loại 2 từ 4 năm tuổi đến dưới 6 năm tuổi đã cho trái có 44 cây; cây Dừa loại 3 từ 1 năm tuổi trở đến dưới 4 năm tuổi có 04 cây.

* Tài sản (4A) tọa lạc: xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm tài sản (4A): 681.091.353đ (Sáu trăm tám mươi một triệu, không trăm chín mươi một ngàn, ba trăm năm mươi ba đồng)

B. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của hộ bà Trần Thị Thảo

1. Đất thuộc thửa số 578, tờ bản đồ số 13 và tài sản trên đất

- Diện tích 2.403,6m2;

- Loại đất: CLN.

* Tài sản (1B) tọa lạc: xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm tài sản (1B): 209.561.504đ (Hai trăm lẻ chín triệu, năm trăm sáu mươi một ngàn, năm trăm lẻ bốn đồng)

2. Về đất và tài sản trên đất

a) Diện tích 18,8m2;

- Loại đất: CLN;

- Thuộc thửa đất số 580, tờ bản đồ số 13.

b) Diện tích 4.437m2 (trong đó: 300 m2 đất ONT và 4.137 m2 đất CLN);

- Thuộc thửa đất số 584, tờ bản đồ số 13.

c) Diện tích 2.873,9m2;

- Loại đất: CLN;

- Thuộc thửa đất số 583, tờ bản đồ số 13.

d) Diện tích 2.108,6m2;

- Loại đất: CLN;

- Thuộc thửa đất số 582, tờ bản đồ số 13.

e) Tài sản trên thửa đất số 582, tờ bản đồ số 13: Dừa loại 1 từ 6 năm tuổi trở lên cho trái ổn định có 170 cây; cây Dừa loại 3 từ 1 năm tuổi đến dưới 4 năm tuổi có 22 cây.

* Tài sản (2B) tọa lạc: xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm tài sản (2B): 868.974.119đ (Tám trăm sáu mươi tám triệu, chín trăm bảy mươi bốn ngàn, một trăm mười chín đồng)

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Huỳnh Văn Triêm và hộ bà Trần Thị Thảo, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Lưu ý: Tài sản trên bán theo từng mục (1A,2A,3A,4A,1B và 2B) theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (A+B):  2.787.568.991đ (Hai tỷ, bảy trăm tám mươi bảy triệu, năm trăm sáu mươi tám ngàn, chín trăm chín mươi một đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: Nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre đối với từng tài sản như sau:

- Tài sản 1A, 1B: 200.000đ/1 hồ sơ;

- Tài sản 2A, 4A, 2B: 500.000đ/1 hồ sơ;

- Tài sản 3A: 150.000đ/1 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: Nộp vào tài khoản 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre đối với từng tài sản như sau:

- Tài sản 1A: 40.000.000đ/1 hồ sơ;

- Tài sản 2A: 50.000.000đ/1 hồ sơ;

- Tài sản 3A: 10.000.000đ/1 hồ sơ;

- Tài sản 4A: 60.000.000đ/1 hồ sơ;

- Tài sản 1B: 20.000.000đ/1 hồ sơ;

- Tài sản 2B: 80.000.000đ/1 hồ sơ.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/3/2017 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08giờ ngày 31/3/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 29 (Kèm NQ)

 

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành bán đấu giá là quyền sử dụng đất, nhà ở và cây trồng trên đất của hộ ông Nguyễn Trung Nhân và bà Nguyễn Thị Thu Nguyệt; hiện cư ngụ tại: 678D, ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

-  Diện tích: 1.174,4 m2;

- Loại đất: ONT+CLN;

- Thuộc thửa đất số 5, 16, tờ bản đồ số 22.

2. Về nhà ở trên đất:

- Nhà cấp 4, diện tích xây dựng 157,41 m2, nền gạch ceramic, mái tole, trần nhựa, mái che có diện tích 47,52 m2, mái che sau có diện tích 15,53 m2, 04 (bốn) hồ nước phía sau nhà cao 02 m, đường kính 1,6 m bằng bêtông đúc, hàng rào xây gạch cao 0,5 m, trụ bêtông cốt thép, lưới b40 cao 02 m, chiều dài 254 m, sân bêtông trước nhà diện tích 98 m2, sân bêtông bên hông nhà diện tích 45,5 m2,

3. Cây trồng trên đất: Có 14 cây dừa từ 08 đến 10 năm tuổi.

- Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, nhà ở và cây trồng trên đất của hộ ông Nguyễn Trung Nhân và bà Nguyễn Thị Thu Nguyệt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 1.396.674.593 đ (Một tỷ, ba trăm chín mươi sáu triệu, sáu trăm bảy mươi bốn ngàn, năm trăm chín mươi ba đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản: 500.000đ/ 01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 100.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/3/2017 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 31/3/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 30(Kèm NQ)

 

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, nhà kho, nhà máy xay xát lúa và hoa màu trên đất của ông Phan Kim Hữu và bà Lê Thị Thu, cư ngụ tại: ấp Nhơn Phú, xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất, công trình xây dựng và hoa màu trên đất thửa số 103, tờ bản đồ số 01

a) Về đất:

- Diện tích: 2.474,4 m2.

- Loại đất: trồng cây hang năm (HNK).

b) Công trình xây dựng:

b1) Nhà ở:

* Cấu trúc

- Năm xây dựng: không rõ năm xây dựng;

- Diện tích xây dựng: 218,4 m2;

- Nhà dạng biệt thự 01 tầng.

- Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 20 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, mái bêtông + ốp ngói. Hệ thống điện, nước âm tường.

* Kết cấu:

- Bậc thang tam cấp (phía trước và mặt bên) bằng bêtông cốt thép, cột, bậc tam cấp ốp đá granite.

- Phòng khách và phòng thờ: Nền lát gạch ceramic (50X50) cm, tường bao xây gạch dày 20 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, sơn nước. Trần thạch cao, trang trí. Mái bêtông + ốp ngói. Cửa đi chính bằng gỗ, 04 cánh, cửa sổ bằng khung gỗ + kính.

- Phòng khách chữ L: Có kết cấu như phòng khách. Cửa đi bằng gỗ 04 cánh, cửa phụ (bên hong nhà) bằng gỗ, 02 cánh

- Phòng ngủ (04 phòng), có kết cấu tương tự như phòng khách, cửa phòng bằng gỗ, 01 cánh.

-  Khu nhà bếp: có kết cấu tương tự như phòng khách. Trần thạch cao không trang trí, bếp bằng bêtông cốt thép, tường ốp gạch men, bề mặt bếp lát gạch men. Kệ tủ bằng gỗ, cửa sau: bằng gỗ 04 cánh.

- Nhà vệ sinh có hai phòng (phòng tắm và phòng vệ sinh có kết cấu tương tự nhau), nền lát gạch ceramic nhám 30 x 30 (cm), tường xây gạch dày 10 cm, ốp gạch men cao khoảng 2,2 m, cửa phòng bằng khung nhôm + kính mờ. Thiết bị vệ sinh: máy nước nóng, bồn cầu, lavabo, gương soi, vòi sen,…

* Hiện trạng: Nhà ở đang sử dụng bình thường.

b2) Nhà kho:

* Cấu trúc

- Năm xây dựng: không rõ năm xây dựng;

- Diện tích xây dựng: 244 m2;

- Nhà dạng tiền chế.

* Kết cấu:

- Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền láng ximăng, tường bao xây gạch dày 20 cm, khung sườn, kèo bêtông cốt thép, đòn tay gỗ. Mái lợp tole firô ximăng. Cửa đi chính bằng sắt, 02 cánh.

* Hiện trạng: Nhà kho đang sử dụng bình thường.

b3) Cổng + tường rào:

- Cổng rào:

+ Kích thước 4,2 md;

+ Trụ cổng: bằng bêtông cốt thép (trụ chôn),

+ Cánh cổng (02 cánh): khung bằng thép hình + lưới B40 tổ hợp hàn lại với nhau, cao 2,5 m;

- Tường rào xây gạch:

+ Kích thước 60 md;

+ Kết cấu: Móng cột đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,2 m, tường xây gạch dày 10 cm, cao 1,9 m;

- Tường rào xây lửng + lưới B40;

+ Kích thước: 123 md;

+ Kết cấu: Móng cột đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,2 m, tường xây gạch dày 10 cm, cao < 0,8 m, trên một phần lắp lưới B40, cao 1,9 m;

- Tường rào cột đúc sẵn + lưới B40;

+ Kích thước 51 md;

+ Kết cấu: trụ bêtông cốt thép, đúc sẵn kéo lưới B40, cao 1,9 m;

* Hiện trạng: cổng + tường rào đang sử dụng bình thường;

b4) Chuồng gà:

- Diện tích: 71,4 m2;

- Nền đất + ximăng, tường xây gạch lửng + lưới B40. Mái lợp tole firô ximăng;

* Hiện trạng: chuồng gà đang sử dụng bình thường;

b5) Hệ thống phòng và bơm nước:

- Diện tích xây dựng: 3,36 m2;

- Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền láng ximăng, tường bao xây gạch dày 10 cm, mái bêtông, thiết bị gồm có: 01 ổn áp Hansico, 5 KVA, 02 máy bơm 1 Hp, 02 bồn chứa nước, bằng nhựa, loại 500 lít và hệ thống đường ống.

* Hiện trạng: Hệ thống phòng và bơm nước đang sử dụng bình thường;

b6) Hồ chứa nước: Dạng cống tròn, không nắp đậy, dung tích 1,1 m3;

* Hiện trạng: Hồ chứa nươc đang sử dụng bình thường;

c) Hoa màu trên đất:

- Cây dừa loại 1: từ 6 năm tuổi trở lên, có trái ổn định, 01 trái;

- Cây nguyệt huế loại 1: đường kính gốc 15 cm trở lên, 10 cây;

- Cây mai vàng loại 1: đường kính gốc 15 cm trở lên, 05 cây;

- Cây mận loại 1: từ 3 năm tuổi trở lên, có trái ổn định, 05 cây;

- Cây mít loại 4: từ 1 năm đến dưới 4 năm tuổi, 08 cây;

- Cây nhãn loại 3: từ 2 năm đến dưới 4 năm tuổi, 02 cây;

- Cây xoài loại 2: từ 4 năm đến dưới 7 năm, 04 cây;

- Cây bồ đề loại 1: đường kính gốc 15 cm trở lên, 01 cây;

- Cây mai vàng (loại nhỏ), loại 4: đường kính gốc 5 cm, 45 cây;

- Cây xanh loại 1: đường kính gốc 15 cm trở lên, 02 cây;

- Cây xoài loại 2: từ 4 năm đến dưới 7 năm tuổi, 06 cây;

- Cây sứ loại 2: đường kính gốc từ 10 cm đến dưới 15 cm, 05 cây;

- Cây mãng cầu loại 2: từ 3 năm đến dưới 5 năm, 03 cây;

- Cây cau kiểng: đường kính gốc từ 15 cm trở lên; 04 cây;

- Cây chanh loại 1: từ 3 năm tuổi trở lên, có trái ổn định, 01 cây.

2. Về đất, nhà máy xay lúa và máy móc thiết bị thửa số 123, tờ bản đồ số 02

a) Về đất:

- Diện tích: 480,9 m2;

- Loại đất: ONT;

b) Nhà máy xay lúa:

- Diện tích xây dựng: 180,9 m2;

- Năm xây dựng: không rõ;

- Kết cấu: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền láng ximăng, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, đòn tay gỗ, mái ngói + 01 phần lợp tole firô ximăng;

* Hiện trạng: Nhà máy xay lúa đã bị xuống cấp nhiều.

c) Máy móc thiết bị:

c1) Dây chuyền xay xát lúa gạo:

- Hệ thống dây chuyền máy móc thiết bị có công suất: 2 – 4 tấn/giờ, gồm các thiết bị sau:

- Hố nạp nguyên liệu: kích thước (D x R x C): 1 x1 x 1 (m), tường xây tô gạch dày 20 cm;

- Sử dụng bù đài bằng gỗ tiết điện 25 x 30 (cm) để hút lúa từ hồ nạp liệu;

- 01 bù đài bằng gỗ tiết điện 20 x 25 (cm), cao 3,5 (m);

- 02 bù đài bằng gỗ tiết điện 20 x 25 (cm), cao 5,5 (m);

- 01 bù đài bằng gỗ tiết điện 20 x 30 (cm), cao 6,5 (m);

- 01 sàng tạp chất bằng gỗ kích thước (D x R): 1,4 x 1,8 (m);

- 02 lượt cám bằng thiết, dạng hình côn có đường kính lớn nhất 2 m, dài 3,5 m;

- 01 lượt cám bằng thiết, dạng hình côn có đường kính lớn nhất 1 m, dài 3 m;

- 01 cối xát trắng của cơ sở Phước Thành, đường kính 0,9 m;

- 01 cối xát trắng của cơ sở Hiệp Thành, đường kính 0,76 m;

- 01 sàng đảo bằng gỗ kích thước (D x R): 1 x 2 (m);

- 02 quạt hút đường kính 0,8 m;

- 01 sàng bắt tấm 01 lớp kích thước (D x R): 0,8 x 1 (m);

- Ống hơi bằng thiết đường kính 300 (mm);

- Ngoài ra dây chuyền còn sử dụng 01 môtơ 75 Hp và 01 môtơ 30 Hp của Nhật, sản xuất dùng để kéo dây chuyền;

- Hệ thống láp, puli, dây đai và một số thiết bị khác;

- Hệ thống điện 3 pha: 01 tủ điều khiển, dây cáp, trụ điện…

* Hiện trạng: Dây chuyền xay xát lúa gạo bị hư hỏng, không hoạt động được.

c2) Bộ salon:

- Bộ salon bằng gõ đỏ, tay 14 gồm 8 món;

- 01 bàn nước có kích thước (D x R xC): 1,55 x 0,75 x 0,55 (m);

- 02 bàn nước nhỏ;

- 01 băng ghế dài có kích thước (D x R x C): 1,88 x 0,65 x 0,45 : 1,2 (m);

- 04 ghế đơn có kích thước (D x R x C): 0,65 x 0,65 x 0,45 : 1,2 (m).

3) Thửa số 136, tờ bản đồ số 01

- Diện tích: 667,1 m2;

- Loại đất: Lúa;

4) Thửa số 114, tờ bản đồ số 01

- Diện tích: 236,9 m2;

- Loại đất: Nuôi trồng thủy sản (NTS);

5) Thửa số 70, tờ bản đồ số 07

- Diện tích: 2.396,2 m2;

- Loại đất: (HNK – LUA);

6) Thửa số 68, tờ bản đồ số 01

- Diện tích: 433,9 m2;

- Loại đất: (HNK – LUA);

* Tài sản (1+2+3+4+5+6) tọa lạc tại: xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, nhà kho, nhà máy xay xát lúa và hoa màu trên đất của ông Phan Kim Hữu và bà Lê Thị Thu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3+4+5+6): 2.375.005.500đ (Hai tỷ, ba trăm bảy mươi lăm triệu, không trăm lẻ năm ngàn, năm trăm đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 500.000.000đ /01hồ sơ, chuyển vào tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Bến Tre.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/3/2017 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 31/3/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 31(Kèm NQ)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

1. Về đất

          - Diện tích: 261,4 m2 (trong đó: 100 m2 đất ONT; 161,4m2 đất BHK và 67,9 m2 diện tích lộ giới)

          - Thuộc thửa đất số 634, tờ bản đồ số 01.

          2. Công trình xây dựng trên đất

             a) Nhà ở: không rõ năm xây dựng, nhà dạng cấp 4;

             - Diện tích xây dựng: 144 m2;

             * Kết cấu: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic, tường xây gạch dày 10 cm, trần thạch cao, mái tole sóng vuông. Hệ thống điện, nước âm tường. Nhà gồm: 01 phòng khách, 3 phòng ngủ, 01 nhà bếp và 01 phòng vệ sinh.

             - Hành lang: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic (40 x 40) cm, cột bêtông cốt thép ốp đá thẻ + sơn nước.

             - Phòng khách: nền lát gạch ceramic (40 x 40) cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, tường ốp gạch men cao 1,6 m + sơn nước. Trần thạch cao, trang trí hoa văn. Mái tole sóng vuông, cửa đi chính bằng gỗ (04 cánh), cửa sổ bằng gỗ (02 cánh).

             - Phòng khách chữ L: có kết cấu như phòng khách, trần thạch cao, cửa đi chính bằng gỗ (02 cánh).

             - Phòng ngủ: có kết cấu tương tự như phòng khách chữ L, cửa phòng bằng gỗ (01 cánh).

             - Khu nhà bếp: có kết cấu tương tự như phòng khách chữ L, cửa sau bằng gỗ (02 cánh). Bếp bằng bêtông cốt thép, tường ốp gạch men, bề mặt bếp lát gạch men.

             - Phòng vệ sinh: nền lát gạch ceramic nhám (30 x 30) cm, tường ốp gạch men, cửa bằng nhôm (01 cánh). Trang thiết bị vệ sinh: bồn cầu, vòi nước, chậu rửa…           

             - Hiện trạng: Nhà ở đang sử dụng bình thường.

             b) Cổng + tường rào

             - Cổng rào: diện tích 6,9 m2, trụ cổng bêtông cốt thép, ốp đá thẻ, cánh cổng (02 cánh) khung bằng thép tròn tổ hợp hàn lại với nhau.

             - Tường rào khung thép hình: kích thước 12, 5 m2, kết cấu móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2 m, tường xây lửng, xây gạch dày 10 cm, cao < 0,8 m, trên lắp khung sắt tròn cao 1,2 m.

             - Tường rào khung thép + lưới B40, kích thước 28 m2, kết cấu móng cột, đà kềng bêtông cốt thép, khoảng cột 2m, tường xây lửng, xây gạch dày 10 cm, cao < 0,8 m, trên lắp khung lưới B 40, cao 1,2 m.

            - Hiện trạng: Cổng + tường rào đang sử dụng bình thường. 

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng của ông Lê Văn Hải và bà Nguyễn Thị Trinh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

             * Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 425.682.600đ (Bốn trăm hai mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi hai ngàn, sáu trăm đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản: 200.000đ/01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 30.000.000đ /01hồ sơ.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/3/2017 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 31/3/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 32(Kèm NQ)

  Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 433,0 m2 (trong đó: 300,0m2 đất  ONT và 133,0m2 đất LNK),

- Thửa đất số: 133, tờ bản đồ số 02.

2. Công trình xây dựng trên đất

- Nhà ở: không rõ năm xây dựng, nhà dạng cấp 4;

+ Kết cấu: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic (40 x 40) cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm,  quét voi. Đòn tay gỗ, kèo gỗ, mái ngói. Cửa đi bằng gỗ bốn cánh.

+ Hiện trạng: Nhà ở đang sử dụng bình thường.

- Nhà phụ: Dạng nhà tiền chế

+ Kết cấu: Nền lát gạch ceramic (40 x 40) cm. Cột thép tròn, kèo thép V tổ hợp lại, xà gồ thép, mái tole sóng vuông.

+ Hiện trạng: Nhà phụ đang sử dụng bình thường.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng của ông Lê Quang Dái và bà Nguyễn Thị Huệ, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 226.094.617đ (Hai trăm hai mươi sáu triệu, không trăm chín mươi bốn ngàn, sáu trăm mười bảy đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản: 200.000đ/01hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 20.000.000đ /01hồ sơ, chuyển vào tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Bến Tre.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/3/2017 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 31/3/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 33(Kèm NQ)

 

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của bà Bùi Thị Tiến, cư ngụ tại: ấp Thạnh Ninh, xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre,

1. Về đất và nhà thửa số 329, tờ bản đồ số 11

a) Về đất:

- Diện tích: 348,2 m2 (trong đó: 253,0 m2 đất ONT và 95,2 m2 đất LNK).

- Giá khởi điểm: 81.184.000 đ (Tám mươi một triệu, một trăm tám mươi bốn ngàn đồng).

b) Về nhà:

b.1) Nhà ở:

* Cấu trúc

- Năm xây dựng: không rõ năm xây dựng;

- Diện tích xây dựng: 158,8 m2 (theo biên bản kê biên, xử lý tài sản của thi hành án ngày 15/01/2015).

- Nhà dạng cấp IV.

- Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, mái ngói. Hệ thống điện, nước âm tường.

* Kết cấu:

- Hành lang xung quanh: Nền lát gạch ceramic, lan can bằng bêtông cốt thép, ốp gạch.

- Phòng khách: Nền lát gạch ceramic, tường bao xây gạch dày 10 cm, sơn nước, trần nhựa, mái ngói, cửa đi chính bằng gỗ, chạm trổ, cửa sổ khung bằng gỗ + cánh kính.

- Phòng khách chữ L: Có kết cấu như phòng khách nhà chính.

- Phòng ngủ (04 phòng), có kết cấu tương tự như phòng khách, cửa phòng bằng gỗ, cửa sổ khung, cánh bằng gỗ + kính.

* Hiện trạng: Nhà ở trần bị hư hỏng, sơn bong tróc, đang sử dụng bình thường.

b.2) Nhà bếp + nhà vệ sinh:

- Kết cấu: là mái che của nhà chính.

- Nhà bếp: khung cột bêtông cốt thép, nền láng ximăng, tường bao xây gạch dày 10 cm, quét vôi, mái tole firô ximăng.

- Phòng vệ sinh (trong khu nhà bếp): nền lát gạch ceramic nhám (20 x 20) cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, ốp gạch men cao khoảng 2m, cửa bằng thiếc 01 cánh, thiết bị vệ sinh, vòi nước, lavabo,…

* Hiện trạng: Nhà bếp + nhà vệ sinh đang sử dụng bình thường.

- Giá khởi điểm: 304.089.500 đ (Ba trăm lẻ bốn triệu, không trăm tám mươi chín ngàn, năm trăm đồng).

* Giá khởi điểm tài sản (1): 385.273.500 đ (Ba trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm bảy mươi ba ngàn, năm trăm đồng).

2. Thửa đất số 60, tờ bản đồ số 13

- Diện tích: 10.720,8 m2;

- Loại đất: NTS;

- Giá khởi điểm tài sản (2): 365.004.300đ (Ba trăm sáu mươi lăm triệu, kho6g trăm lẻ bốn ngàn, ba trăm đồng).

3. Thửa đất số 40, tờ bản đồ số 13

- Diện tích: 2.621,9 m2;

- Loại đất: NTS;

- Giá khởi điểm tài sản (3): 89.266.200 đ (Tám mươi chín triệu, hai trăm sáu mươi sáu ngàn, hai trăm đồng).

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà trên đất của bà Bùi Thị Tiến, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

     * Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 839.544.000 đ (Tám trăm ba mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi bốn ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 100.000.000đ /01hồ sơ. Nộp bằng hình thức chuyển vào tài khoản của Trungt âm Dịch vụ bán đấu giá tài sản số 721100000200470 mở tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bên Tre).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 20/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/3/2017 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 31/3/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

  Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 để biết thêm chi tiết.

21/02/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 13 và 15 /02/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 13 và 15 /02/2017

    THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 12 (Kèm NQ)

 

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Trang Sĩ Tri và bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền, cư ngụ tại: ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 3.359,0 m2 (trong đó 197,5 m2 đất ONT và 3.161,5 m2 đất CLN, trong 3.161,5 m2 đất CLN có 525,5 m2 thuộc HLLG và chỉ giới xây dựng).

- Thuộc thửa số 157, tờ bản đồ số 12.       

2. Công trình xây dựng

* Khu nhà chính (khu A)

- Diện tích xây dựng: 70,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Móng, khung, cột là bêtông cốt thép; Nền gạch ceramic + gạch tàu; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm, sơn nước; Trần nhựa; Mái lợp tole fbrôximăng.

              - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch và mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Khu nhà chính (khu B)

- Diện tích xây dựng: 33,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Móng, khung, cột là bêtông cốt thép; Nền gạch tàu; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm + lưới B40; Mái lá.

              - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu, mái lá bị rách nát nhiều chỗ.

* Khu nhà phụ

- Diện tích xây dựng: 48,32m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền gạch ceramic; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm, sơn nước; Trần nhựa.

             - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà bao che khu nhà phụ 1

- Diện tích xây dựng: 48,32m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột thép; Nền láng ximăng; Mái tole fbrôximăng.

             - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà phụ 2 (khu A, B)

- Diện tích xây dựng: 16,36m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền láng ximăng;Tường xây gạch ống dày 100 cm; Trần nhựa; Mái tole fbrôximăng.

             - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng và tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà bao che khu nhà phụ 2

- Diện tích xây dựng: 42,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông đúc sẵn + cột gỗ; Nền láng ximăng; Mái tole fbrôximăng.

             - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà xấy nhãn (khu A)

- Diện tích xây dựng: 429,81m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông cốt thép; Nền đất; Mái tole fbrôximăng.

             - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà xấy nhãn (khu B)

- Diện tích xây dựng: 53,5m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông cốt thép; Nền gạch tàu; Mái lá.

             - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu, mái lá có nhiều chỗ bị rách nát

            * Lò xấy nhãn:

            * Lò 1, 2

- Diện tích xây dựng: 82,88m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Thành lò xây gạch ống dày 100cm;

            * Lò 3, 4:

- Diện tích xây dựng: 78,4m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Thành lò xây gạch ống dày 100cm;

             - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, thành lò có nhiều chỗ bị rạn nứt

             * Nhà vệ sinh

- Diện tích xây dựng: 3,96m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền gạch ceramic; Vách tường xây gạch 100 cm; Mái tole fbrôximăng.

             - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền gạch và mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

            * Hồ nước

            - Thể tích: 6,6 m3;

            - Kết cấu chính: Thành hồ xây gạch ống 100 cm;

            - Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, thành hồ có vài chỗ bị rạn nứt.

            3. Cây trồng trên đất

- Cây Bòn bon loại 2: 06 cây, cây trồng từ 6 năm tuổi, chưa cho trái;

- Cây Nhãn loại 3: 31 cây, cây trồng 02 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Xoài loại 3: 02 cây, cây trồng 03 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Xoài loại 2: 01 cây, cây trồng 05 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dừa loại 1: 01 cây, cây trồng 10 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dừa loại 3: 03 cây, cây trồng 02 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Thanh long loại 2: 02 trụ, cây trồng 01 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Mận loại 1: 04 cây, cây trồng 05 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dâu loại 4: 01 cây, cây trồng 03 năm tuổi, đã cho trái;

* Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Trang Sĩ Tri và bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 1.724.846.367đ (Một tỷ, bảy trăm hai mươi bốn triệu, tám trăm bốn mươi sáu ngàn, ba trăm sáu mươi bảy đồng).

   Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 13/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/3/2017 (trong giờ làm việc).

   Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ, ngày 28/3/2017; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

   * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre).

   * Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/ 01 hồ sơ (chuyển vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản số 721100000200470 mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre).

   * Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 19 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của hộ bà Nguyễn Thị Ghi, địa chỉ: số 23ª đường Võ Trường Toản, khu phố 3, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

1. Về đất

- Diện tích: 88,0 m2;

- Loại đất: ở tại đô thị;

- Thuộc tờ bản đố 21, thửa đất số 135;

- Giá khởi điểm (1): 1.369.280.000 đ (Một tỷ, ba trăm sáu mươi chín ngàn, hai trăm tám mươi đồng).

 2. Về nhà (nằm trên đất): nhà cấp 4. Kết cấu: nhà ở kiên cố, độc lập, một trệt, 01 lầu. Diện tích xây dựng: 88m2, diện tích sử dụng: 181m2.

 - Tầng trệt: Móng, khung, cột BTCT; tường xây gạch D100 tô trát + sơn nước; nền lót gạch men; cửa đi chính + cửa sổ sắt kính; cầu thang BTCT + lát gạch men, tay vịn sắt; trần BTCT + trần nhựa.

- Tầng 01: Khung, cột BTCT; tường xây gạch D100 tô trát + sơn nước; sàn lót gạch men; cửa sổ sắt kính + khung sắt bảo vệ; mái lọp ngói, xà gồ gỗ, không trần. Thiết bị vệ sinh loại thường, thiết bị điện + nước hoàn thiện.

- Giá khởi điểm (2): 275.120.000 đ (Hai trăm bảy mươi lăm triệu, một trăm hai mươi ngàn đồng).

 * Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 403909, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 000378 do Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri cấp ngày 04/8/2000.

      * tài sản tọa lạc: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của hộ bà Nguyễn Thị Ghi do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.644.400.000 đ (Một tỷ, sáu trăm bốn mươi bốn triệu, bốn trăm ngàn đồng).

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 13/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/3/2017 (trong giờ làm việc).

        Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 28/3/2017; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản 72910000091403 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 36 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà ở) của bà Lương Thị Hồng Diễm, địa chỉ: ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

   1. Vế đất

- Diện tích:  90,0 m2 ;

- Loại đất:  79,0  m2 đất ở nông thôn và 11,0 m2 đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 410, tờ bản đồ số 11;

- Giá khởi điểm đất: 166.522.810 đ (Một trăm sáu mươi sáu triệu, năm trăm hai mươi hai ngàn, tám trăm mười đồng)

2. Tài sản trên đất: nhà ở diện tích 79,0 m2 (dài 10 m, rộng 7,9 m), kết cấu: nền gạch bông, vách tường, cột bê tông, mái tol. Theo Đơn xin xác nhận chủ quyền nhà ở do Ủy ban nhân dân xã Sơn Đông cấp ngày 24/10/2007.

- Giá khởi điểm nhà: 139.466.600 đ (Một trăm ba mươi chín triệu, bốn trăm sáu mươi sáu ngàn, sáu trăm đồng)

* Lưu ý: Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB  073094 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre) cấp ngày 31/12/2004, khi bàn giao tài sản sẽ không đo đạc lại, trường hợp người mua trúng đấu giá có yêu cầu đo đạc lại thì phải chịu chi phí, nếu diện tích đất có tăng hơn diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua hưởng, giảm thì người mua chịu không được khiếu nại.

         - Tài sản (1+2) tọa lạc tại số 567/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

         - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà ở) của bà Lương Thị Hồng Diễm do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thành phố Bến Tre  phát mãi để thu hồi nợ vay.

         - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 305.989.410 đ (Ba trăm lẻ năm triệu, chín trăm tám mươi chín ngàn, bốn trăm mười đồng).

 

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/02/2017  đến 16 giờ 30 phút ngày 17/3/2017(trong giờ làm việc)

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 22/3/2017; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre);

* Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ (nộp vào tài khoản 7100201003417 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre);


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 38 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước, gồm 02 lô xe (có danh sách chi tiết kèm theo):

+ Lô số 01:  gồm 35 (ba mươi lăm) xe mô tô, xe gắn máy hai bánh  bán dạng phế liệu. Giá khởi điểm: 35.000.000 đ (Ba mươi lăm triệu đồng).

+ Lô số 02:  gồm 01 (một) xe mô tô, xe gắn máy hai bánh bán dạng đăng ký lại. Giá khởi điểm: 7.000.000 đ (Bảy triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán theo từng lô và đối với xe bán dạng phế liệu, người mua trúng đấu giá khi nhận bàn giao xe phải thực hiện đụt, phá bỏ số khung, số máy.

- Tài sản tọa lạc tại: Phòng Cảnh sát Giao thông đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre, địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát Điều tra và Phòng Cảnh sát Giao thông Đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 42.000.000 đ (Bốn mươi hai triệu  đồng).

Thời gian xem, tham khảo và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/02/2017.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 01/3/2017 (thứ tư); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/hồ sơ (lô số 01), 50.000 đ/hồ sơ (lô số 02), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ (lô số 01), 1.000.000đ/hồ sơ (lô số 02), nộp vào tài khoản 72110000200470 mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 22 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy và bà Ngô Thị Ra, hiện cư ngụ tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

1. Về đất:

           - Diện tích: 500,1 m2 đất CLN;

            - Thuộc tờ bản đồ 5, một phần thửa số 182.

2. Cây trồng trên đất: cây dừa, sakê, cây cau, cây chuối.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy và bà Ngô Thi Ra, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 39.464.405 đ (Ba mươi chín triệu, bốn trăm sáu mươi bốn ngàn, bốn trăm lẻ năm đồng).

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/3/2017 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 31/3/2017; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre).

* Khoản tiền đặt trước: 4.000.000đ/hồ sơ (nộp vào tài khoản số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 24 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô 04 chỗ ngồi; nhãn hiệu: NISSAN; màu sơn: trắng; số máy: 865479; số khung: JN1TB4E24Z0600472; biển số: 71B-0382; sản xuất năm 1998, tại Nhật Bản. Xe bán dạng đăng ký lại.

* Lưu ý:

- Khách hàng trúng đấu giá phải chịu các khoản phí khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.

- Trong 30 ngày khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Kho bạc Nhà nước Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá thời hạn trên Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và Kho bạc Nhà nước Bến Tre không chịu trách nhiệm giải quyết mọi khiếu nại về sau.           

 - Tài sản tọa lạc tại: Kho bạc Nhà nước Bến Tre; phường 3, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Kho bạc Nhà nước Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

            - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

            * Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt cho Trung tâm.

            * Khoản tiền đặt trước: 7.500.000 đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/02/2017 (trong giờ làm việc).

   Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 01/3/2017 (Thứ tư) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 25 (Kèm NQ)

          Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất trên đất của ông Nguyễn Minh Ngọc và bà Bạch Thị Ánh Nguyệt, địa chỉ tại: ấp 4, xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

  - Diện tích đất: 190 m2 (trong đó 60 m2 đất ONT; 74,5 m2 đất LUK và 55,4 m2 đất thuộc HLLG);

- Thuộc thửa đất số 320, tờ bản đồ số 42.

       2. Công trình xây dựng trên đất:

* Nhà chính:

- Diện tích 113 m2. Kết cấu chính: móng, cột bằng bêtông cốt thép, nền gạch ceramic, vách tường xây gạch 10 cm, sơn nước, ốp gạch cao 1,5 m, mái lợp tole, trần thạch cao + trần nhựa, cửa đi chính là cửa gỗ, cửa sổ là cửa nhôm gắn kính.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, tường nhà có vài chỗ bị rạn nứt, nền gạch có vài chỗ bị rạn nứt, cửa sổ có nhiều chỗ bị rĩ sét, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà tiền chế:

- Diện tích: 38,5 m2. Kết cấu chính bằng gỗ tạp, nền gạch men + nền ximăng, vách tường xây gạch + vách lá, mái lợp tole tráng kẽm;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường + vách lá có nhiều chỗ bị rạn nứt và rách nát, nền gạch + nền ximăng có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Minh Ngọc và bà Bạch Thị Ánh Nguyệt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 583.507.347đ (Năm trăm tám mươi ba triệu, năm trăm lẻ bảy ngàn, ba trăm bốn mươi bảy đồng).

* Lưu ý: Người mua trúng đấu giá phải chịu trách nhiệm nộp thuế giá trị gia tăng nếu tài sản thuộc diện phải chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định.

       Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/02/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/3/2017 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 31/3/2017; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre).

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/ 01 hồ sơ (nộp vào tài khoản 72110000200470 của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 26 (Kèm NQ)

          Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất trên đất của ông Đinh Hồng Em và bà Võ Thị Kim Chi, địa chỉ tại: ấp 2, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 684,7m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 45;

       2. Công trình xây dựng đã qua sử dụng trên đất:

* Nhà chính:

- Diện tích xây dựng 4,7m x 3m = 14,1m2.

- Kết cấu: Nhà ở bán kiên cố, độc lập cấp 4 (01 trệt); móng, khung, cột bê tông cốt thép; nền lót gạch ceramic, tường xây gạch D100 + quét vôi, tường ốp gạch men cao 1,2m; cửa đi chính và cửa sổ sắt kính, trần nhựa, xà gồ gỗ; hệ thống điện nước đã hoàn chỉnh.

- Hiện trạng: đang sử dụng bình thường.

* Mái che:

- Diện tích 4,7m x 40,2m = 188,94m2.

- Kết cấu: cột bê tông cốt thép, nền láng xi măng, xà gồ gỗ, mái lợp tol.

- Hiện trạng: đang sử dụng bình thường.

* Nhà phụ (nhà sàn):

- Diện tích xây dựng: (2,4m x 4,7m) + (10,4m x 4,5m) = 58,08m2.

- Kết cấu: cột bê tông cốt thép, sàn lót gỗ tạp, tường xây gạch D100 + quét vôi, trần nhựa, xà gồ gỗ, mái lợp tole.

  • Hiện trạng: Đang sử dụng bình thường.
    * Nhà kho:
    - Diện tích xây dựng: (2,9m x 6,8m) = 19,72m2.
    - Kết cấu: móng, khung cột bê tông cốt thép, vách tole, sàn lót gỗ tạp, xà gồ gỗ, mái lợp tole, không trần.
    - Hiện trạng: Đã cũ, vẫn sử dụng bình thường.
    * Tường rào:
    - Diện tích xây dựng 26,38m x 2,9m = 76,5m2.
    - Kết cấu: móng, khung, cột bê tông cốt thép, tường xây gạch cao 0,8m, phía trên lưới B40 cao 2,1m.
    - Hiện trạng: Lưới B40 có dấu hiệu gỉ sét, đang sử dụng bình thường.
    * Hàng rào lưới B40:
    - diện tích 37,5m x 1,7m = 63,75m2
    - Hiện trạng: Lưới B40 có dấu hiệu gỉ sét, đang sử dụng bình thường.
    * Hồ chứa nước:
    - Diện tích xây dựng: (2,6m x 10,4m x 1,6m) = 43,26) m3
    - Kết cấu: Móng, khung, cột gạch, tường xây gạch + tô tường D200, nền láng xi măng.
    - Hiện trạng: hồ đã cũ, đang sử dụng bình thường.
    3. Cây trồng trên đất:
    - Xoài loại 1 (từ 4 đến dưới 6 năm tuổi): 05 cây
    - Xoài loại 2 (từ 2 đến 4 năm tuổi): 02 cây
    * Tài sản (1+2+3) tọa lạc: ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
    * Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Đinh Hồng Em và bà Võ Thị Kim Chi, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
    - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 1.550.906.840đ (Một tỷ, năm trăm năm mươi triệu, chín trăm lẻ sáu ngàn, tám trăm bốn mươi đồng).
    * Lưu ý: Người mua trúng đấu giá phải chịu trách nhiệm nộp thuế giá trị gia tăng nếu tài sản thuộc diện phải chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định.
           Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/02/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/3/2017 (trong giờ làm việc).
    Tổ chức bán đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 31/3/2017; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.
    * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre).
    * Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/hồ sơ (nộp vào tài khoản số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre).
    * Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.
    Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667 để biết thêm chi tiết.
20/02/2017 10:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014
Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm&#58; Công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật; công tác kiểm soát thủ tục hành chính; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; công tác trợ giúp pháp lý; công tác hành chính tư pháp; quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp; công tác thanh tra, kiểm tra và tổ chức xây dựng Ngành.

 

Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật; công tác kiểm soát thủ tục hành chính; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; công tác trợ giúp pháp lý; công tác hành chính tư pháp; quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp; công tác thanh tra, kiểm tra và tổ chức xây dựng Ngành.


 

 

Qua phát động, Sở Tư pháp đã chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, chỉ tiêu đề ra trong Kế hoạch, Chương trình thi đua và một số công việc đột xuất theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhan dân tỉnh. Trên cơ sở đó, các phòng và trung tâm thuộc Sở đã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện phong trào thi đua tại đơn vị mình. Công tác thi đua đã có nhiều khởi sắc, đi vào thực chất, phát triển rộng khắp, thiết thực, hiệu quả; các hoạt động phong trào thi đua đều hướng đến thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao có trọng tâm, trọng điểm, góp phần thực hiện thành công các giải pháp chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua đợt 01/2014 đã phát huy tính thiết thực, giải quyết tốt khối lượng công việc tương đối lớn và những công việc trọng tâm, chương trình kế hoạch năm đã đề ra, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành; nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức về vị trí, vai trò, tác dụng của công tác thi đua, khen thưởng đã từng bước được nâng cao.

 

Kết thúc đợt thi đua, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành quyết định tặng Giấy khen và công nhận 06 tập thể và 20 cá nhân đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc trong quá trình thực hiện phong trào thi đua đợt 1/2014. Đồng thời, tổ chức phát động và thực hiện phong trào thi đua đợt 02/2014 theo Kế hoạch và Chương trình thi đua đề ra đầu năm, kết hợp với phát động phong trào thi đua hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước Ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 394/QĐ-BTP ngày 19 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp và Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Báo cáo thống kê năm 2016 (năm lần một) trong lĩnh vực tư phápBáo cáo thống kê năm 2016 (năm lần một) trong lĩnh vực tư pháp

Ngày 03 tháng 3 năm 2016, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2016/TT-BTP quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của Ngành Tư pháp; trong đó, có quy định về chế độ, thời hạn báo cáo thống kê định kỳ của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Để thực hiện công tác báo cáo thống kê năm 2016 (thống kê năm lần một) theo quy định trên, Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị:

1. Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tiến hành thống kê, điền đầy đủ, chính xác các nội dung yêu cầu trong từng biểu mẫu báo cáo thống kê ban hành kèm theo Thông tư số 04/2016/TT-BTP và gửi về Sở Tư pháp để tổng hợp chậm nhất ngày 18/11/2016, cụ thể như sau:

a) Đối với các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh: Báo cáo biểu mẫu số 09c/BTP/PBGDPL, 27b/BTP/BTTP/GĐTP và 32a/BTP/VĐC/PC. (Biểu mẫu kèm theo)

b) Đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố: Báo cáo biểu mẫu số 01b/BTP/VĐC/XDPL, 03b/BTP/KTrVB/TKT, 04a/BTP/KTrVB/KTTTQ, 05b/BTP/KTrVB/RSVB, 09b/BTP/PBGDPL, 10a/BTP/PBGDPL, 11c/BTP/PBGDPL/HGCS, 12c/BTP/PBGDPL/HGCS, 13b/BTP/HTQTCT/HT, 17b/BTP/HTQTCT/CT và 22b/BTP/CN/TN. (Biểu mẫu kèm theo)

c) Đối với Ủy ban nhân dân các xã, phường, trị trấn: Báo cáo biểu mẫu số 01a/BTP/VĐC/XDPL, 03a/BTP/KTrVB/TKT, 05a/BTP/KTrVB/RSVB, 09a/BTP/PBGDPL, 11b/BTP/PBGDPL/HGCS, 12b/BTP/PBGDPL/HGCS, 13a/BTP/HTQTCT/HT, 17a/BTP/HTQTCT/CT và 22a/BTP/CN/TN. (Biểu mẫu kèm theo)

d) Đối với Tổ hòa giải: Báo cáo biểu mẫu số 11a/BTP/PBGDPL/HGCS và  12a/BTP/PBGDPL/HGCS. (Biểu mẫu kèm theo)

2. Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu, xử lý, tổng hợp thông tin thống kê của cấp xã và gửi về Sở Tư pháp theo thời gian nêu trên.

Lưu ý:

- Thời điểm chốt số liệu báo cáo: Kỳ báo cáo thống kê năm lần một được tính từ ngày 01/01/2016 đến hết ngày 31/12/2016, gồm số liệu thống kê thực tế (từ ngày 01/01/2016 đến hết ngày 31/10/2016) và số liệu thống kê ước tính (từ ngày 01/11/2016 đến hết ngày 31/12/2016).

- Các cơ quan, đơn vị có thể truy cập vào Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp để tải các biểu mẫu thống kê.

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, yêu cầu các cơ quan, đơn vị phản ánh về Văn phòng Sở Tư pháp qua số điện thoại 0753.827.364 (đ/c Nguyễn Tuấn Khanh) để được hướng dẫn, xử lý kịp thời.

27/10/2016 8:00 SAĐã ban hành
Đội hình Luật gia trẻ trong Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013Đội hình Luật gia trẻ trong Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013
 Thực hiện Kế hoạch số 2370/KH-UBND ngày 29 tháng 5 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tổ chức Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013, Đoàn Khối các Cơ quan tỉnh đã thành lập đội hình “Luật gia trẻ” để tư vấn, tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho đoàn viên thanh niên trong Chiến dịch tình nguyện hè năm 2013. Tham gia Đội hình “Luật gia trẻ” có trên 30 lượt đoàn viên của ...

Thực hiện Kế hoạch số 2370/KH-UBND ngày 29 tháng 5 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tổ chức Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013, Đoàn Khối các Cơ quan tỉnh đã thành lập đội hình “Luật gia trẻ” để tư vấn, tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho đoàn viên thanh niên trong Chiến dịch tình nguyện hè năm 2013. Tham gia Đội hình “Luật gia trẻ” có trên 30 lượt đoàn viên của Chi đoàn Sở Tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh.

Đội hình Luật gia trẻ đã triển khai thực hiện được 03 cuộc tư vấn, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho đoàn viên thanh niên và bà con nông dân tại 03 xã của 3 huyện (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách; xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm và xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc) thu hút trên 500 lực lượng tham gia và phát trên 1.000 tài liệu tuyên truyền với các nội dung như: Quy định pháp luật về Trợ giúp pháp lý, hôn nhân và gia đình, bảo hiểm xã hội, an toàn giao thông đường bộ, quy định pháp luật phòng chống bạo lực gia đình, quy định pháp luật dân sự về thừa kế, sổ tay pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, pháp luật về bảo vệ rừng...


Ngoài ra, tại xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, Đội hình “Luật gia Trẻ” còn tổ chức một phiên tòa hình sự giả định về tội “Cố ý gây thương tích”. Phiên tòa đã tái hiện sinh động về việc hành xử manh động của thanh thiếu niên trong ứng xử, giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực và cuối cùng họ phải trả giá bằng việc bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội…Qua đó, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật, phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên.


Hoạt động của Đội hình “Luật gia Trẻ” đã tuyên truyền, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật, giải đáp những thắc mắc của bà con nông dân và đoàn viên thanh niên về nhiều vấn đề trong đó vấn đề được quan tâm nhiều nhất là về pháp luật hôn nhân gia đình (kết hôn, ly hôn, phân chia tài sản, thừa kế,…), tranh chấp đất đai, tội phạm hình sự, bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm hành chính và bảo trợ xã hội,… Qua đó, Bà con nông dân và đoàn viên thanh niên ở vùng sâu vùng xa, hiểu biết rõ hơn về đối tượng được trợ giúp pháp lý và các vấn đề cơ bản về luật hôn nhân gia đình, đất đai, bảo hiểm xã hội, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, pháp luật hình sự, tố tụng hình sự… góp phần nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật.

21/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Lễ phát động đổi mũ bảo hiểm kém chất lượng lấy mũ bảo hiểm đúng quy chuẩnLễ phát động đổi mũ bảo hiểm kém chất lượng lấy mũ bảo hiểm đúng quy chuẩn
Sáng ngày 21/8/2013, Ban An toàn giao thông tỉnh phối hợp Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre tổ chức “Lễ phát động đổi mũ bảo hiểm kém chất lượng lấy mũ bảo hiểm đúng quy chuẩn” tại Công viên tượng đài Đồng Khởi Bến Tre. Ông Lê Văn Hoàng, Phó Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải, Phó ban Thường trực Ban An toàn giao thông tỉnh; ông Trần Khánh Dư, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre đến dự ...

Sáng ngày 21/8/2013, Ban An toàn giao thông tỉnh phối hợp Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre tổ chức “Lễ phát động đổi mũ bảo hiểm kém chất lượng lấy mũ bảo hiểm đúng quy chuẩn” tại Công viên tượng đài Đồng Khởi Bến Tre. Ông Lê Văn Hoàng, Phó Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải, Phó ban Thường trực Ban An toàn giao thông tỉnh; ông Trần Khánh Dư, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre đến dự và phát biểu tại buổi lễ.


Hiện nay trên địa bàn tỉnh nói chung, thành phố Bến Tre nói riêng tình trạng về số người tham gia giao thông bằng xe mô tô hai bánh, ba bánh, xe gắn máy đội mũ bảo hiểm không đảm bảo chất lượng và người đi xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm còn khá phổ biển. Trên thị trường xuất hiện nhiều loại mũ bảo hiểm giả, kiểu dáng không đúng quy định, kém chất lượng, không đáp ứng yêu cầu bảo vệ người sử dụng; là một trong những nguyên nhân làm gia tăng đáng kể số người chết và bị thương nghiêm trọng vùng đầu trong các vụ tai nạn giao thông. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 04 ngày 08/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông  nhằm đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của người dân trong việc đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn khi tham gia giao thông để tự bảo vệ chính mình.


Tại buổi lễ phát động, Ban Tổ chức đã trao tặng mũ bảo hiểm cho người dân nghèo cư ngụ tại các xã của thành phố Bến Tre và phát học bổng cho 10 học sinh nghèo có thành tích xuất sắc trong học tập.

Được biết, chương trình Đổi mũ bảo hiểm kém chất lượng lấy mũ bảo hiểm đạt chất lượng, được chứng nhận hợp quy và gắn dấu hợp quy (CR) có trợ giá” diễn ra từ ngày 21/8/2013 tại Trung tâm Siêu thị Co.opmart, số 26 A, Trần Quốc Tuấn, phường 4, thành phố Bến Tre, do cơ sở sản xuất nón Đức Huy thực hiện. Đây là lần đầu tiên Bến Tre chọn thành phố Bến Tre tổ chức thực hiện chương trình này. Sau đó chương trình sẽ được triển khai thực hiện mở rộng ở các huyện, thị trong toàn tỉnh.

22/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết và nhân rộng Dự án “Xây dựng mô hình điểm phòng ngừa người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật và phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật” trên địa bàn tỉnh Bến TreTổng kết và nhân rộng Dự án “Xây dựng mô hình điểm phòng ngừa người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật và phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật” trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 27/8/2013, Ban chỉ đạo phòng, chống tội phạm (gọi tắt là Ban chỉ đạo 138) tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết và nhân rộng Dự án “Xây dựng mô hình điểm phòng ngừa người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật và phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật” trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, kiêm Trưởng B...

Ngày 27/8/2013, Ban chỉ đạo phòng, chống tội phạm (gọi tắt là Ban chỉ đạo 138) tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết và nhân rộng Dự án “Xây dựng mô hình điểm phòng ngừa người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật và phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật” trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, kiêm Trưởng Ban chỉ đạo 138 đến dự và chủ trì hội nghị.

Đại tá Lê Minh Trung, Phó Giám đốc Công an tỉnh báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện Dự án “Xây dựng mô hình điểm phòng ngừa người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật và phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật” (gọi tắt là Dự án 495) và triển khai Kế hoạch nhân rộng thực hiện Dự án “Xây dựng mô hình điểm phòng ngừa người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật và phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật” trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Quang cảnh Hội nghị

Ngày 03 tháng 3 năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 495/QĐ-UBND phê duyệt Dự án “Xây dựng mô hình điểm phòng ngừa người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật và phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật”trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Phạm vi Dự án được triển khai ở 9 xã, phường điểm gồm: Phường 5 (thành phố Bến Tre), Tân Thanh (Giồng Trôm), Thạn Hải (Thạnh Phú), Vĩnh Thành (Chợ Lách), Thới Thuận (Bình Đại), Thành Thới A (Mỏ Cày Nam), Tân Phú Tây (Mỏ Cày Bắc), Tân Thạch (Châu Thành), Mỹ Nhơn (Ba Tri)

Đối tượng là dưới 18 tuổi không còn đi học; mồ côi cha, mẹ hoặc cả cha, mẹ; cha, mẹ làm ăn xa không thường xuyên chăm soxc, quản lý, giáo dục, có tiền án, tiền sự; sống, làm việc trong môi trường, điều kiện xã hội có thể trở thành tội phạm; bỏ nhà đi lang thang; tụ tập băng nhóm, chơi bời liêu lỏng; vi phạm pháp luật được xử lý bằng các hình thức giáo dục, cảnh cáo, phạt tiền; đã hoặc đang đưa vào diện quản lý, cảm hóa, giáo dục tại xã, phường; đã hoặc đang học tập ở trường giáo dưỡng.

Kết quả triển khai, cấp tỉnh thành lập Ban chủ nhiệm Dự án, cấp xã thành lập Ban thực hiện Dự án; Ban chủ nhiệm Dự án đã xây dựng Kế hoạch và Quy chế hoạt động; đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, hội nghị sơ kết đánh giá kết quả thực hiện Dự án; tổ chức khảo sát các nhóm đối tượng, thống kê, phân loại, đề nghị đưa đối tượng vào Dự án; lập hồ sơ đối tượng; phân công cán bộ quản lý, giáo dục, can thiệp, trợ giúp, đánh giá chuyển biến của từng đối tượng.

Qua điều tra, thẩm định có 609 đối tượng thuộc tiêu chí Dự án; đối tượng học: Tiểu học có 56, lớp 6 có 63, lớp 7 có 87, lớp 8 có 127, lớp 9 có 181, lớp 10 có 53, số còn lại không xác định là 42; hộ nghèo 125, hộ cận nghèo 92, hộ trung bình 66, hộ khá 90, hộ giàu 36 đối tượng.

Ban thực thiện Dự án phân công thành viên quản lý, giáo dục, can thiệp, trợ giúp đối tượng như: Công an xã 153 đối tương, Đoàn Thanh niên 96 đối tượng, Phụ nữ 73 đối tượng, Nông dân 73 đối tượng, Mặt trận Tổ quốc 61 đối tương, Cựu chiến binh 74 đối tượng, Lao động-Thương bin và Xã hội 32 đối tượng…

Đã can thiệp, trợ giúp cho 45 đốI tượng khó khăn có nguy cơ bỏ học tiếp tục học, 43 đối tượng bỏ học trở lại trường, 30 đối tượng học các lớp phổ cập, 100 đối tượng học nghề, 251 đối tượng được tư vấn làm việc; ưu tiên cho 74 gia đình đối tượng được hỗ trợ vay vốn để nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục con em trong gia đình tốt hơn.

Trong 511 đối tượng nguy cơ có 471 đối tượng đã giải quyết tốt những vấn đề nguy cơ (chiếm 92,17%), 36 đối tượng chưa giải quyết vấn đề nguy cơ (07,04%), 02 đối tượng chuyển biến xấu hơn nhưng chưa vi phạm pháp luật (0,39%), 02 đối tượng đang chờ xử lý (0,39%).

Ông Trương Văn Nghĩa Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trương Văn Nghĩa đánh giá cao kết quả thực hiện Dự án 495 trong thời gian qua và tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, có trách nhiệm của thành viên Ban chỉ đạo 138 và các đại biểu; đặc biệt trách nhiệm chủ động, chủ trì phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, thường xuyên của các ngành Công an tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục- Đào tạo; đã kiềm chế được tình hình tội phạm xảy ra, số vụ vi phạm pháp luật được kéo giảm (xã Thới Thuận 3/5 vụ, giảm 66,66%; phường 5 4/9 vụ, giảm 55/55%; Mỹ Nhơn 6/11 vụ, giảm 54,45%; Thành Thới A 9/10 vụ, giảm 10%; Tân Thạch 9/10 vụ, giảm 10%. Để tiếp tục triển khai nhân rộng thực hiện Dự án 495 trong thời gian tới, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, ông Trương Văn Nghĩa đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, các ngành, địa phương phối hợp triển khai nhân rộng những kinh nghiệm, mô hình làm được trong thời gian qua; thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 48-CT/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 09/CP và Chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm giai đoạn 2012-2015. Các ngành Công an, Giáo dục, Lao động- Thương binh và Xã hội, các đoàn thể, Ngân hàng …tiếp tục phối hợp, gắn giải quyết việc làm, bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Lực lượng Công an các cấp tiếp tục tham mưu Ban chỉ đạo 138, kịp thời phát hiện, đề xuất giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Ban chỉ đạo 138 rà soát, bổ sung Quy chế phối hợp, tổ chức họp giao ban định kỳ, thông báo kịp thời tình hình trẻ em vi phạm pháp luật. Tăng cường công tác điều tra, truy tố, xét xử; thực hiện có hiệu quả việc quản lý cư trú, vũ khí, chất nỗ; xác định phòng ngừa tội phạm là nhiệm vụ cấp thiết, công tác phòng ngừa là nhiệm vụ thường xuyên, nhằm góp phần kiềm chế người chưa thành niên có nguy cơ vi phạm pháp luật và phòng chống người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

03/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2014Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2014
Chiều ngày 17 tháng 01 năm 2014, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và triển khai công tác tư pháp năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các Phó Giám đốc Sở; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, chuyên viên các phòng, trung tâm thuộc Sở; thủ trưởng Phòng T...

Chiều ngày 17 tháng 01 năm 2014, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và triển khai công tác tư pháp năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các Phó Giám đốc Sở; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, chuyên viên các phòng, trung tâm thuộc Sở; thủ trưởng Phòng Tư pháp và đại diện Công chức Tư pháp – Hộ tịch của 9 huyện, thành phố.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp báo cáo tóm tắt kết quả công tác tư pháp năm 2013; triển khai dự thảo Kế hoạch công tác tư pháp năm 2014; báo cáo tổng kết công tác thi đua, khen thưởng ngành Tư pháp năm 2013 và phát động phong trào thi đua năm 2014. Tại hội nghị các ý kiến phát biểu của đại biểu đã thẳng thắn đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại cơ bản trong các lĩnh vực công tác tư pháp năm 2013 của tỉnh, trên cơ sở đó góp ý cho phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp công tác năm 2014.


Công tác tư pháp của tỉnh năm 2013 đã triển khai đồng bộ, rộng khắp, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và cả nước; thể hiện sự chủ động, nhạy cảm với những vấn đề lớn của tỉnh và đã đạt được nhiều thành tích, có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh ở địa phương. Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác tư pháp trên địa bàn tỉnh trong năm 2013 cũng còn một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục khắc phục trong thời gian tới như: Chất lượng một số văn bản quy phạm pháp luật chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu; chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có lúc, có nơi và một số lĩnh vực chưa sâu, kinh phí cho công tác này còn hạn chế nhất là cấp huyện, cấp xã; công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp vẫn còn hạn chế, do số lượng thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp ngày càng nhiều, nhưng chưa bố trí được biên chế đáp ứng yêu cầu thực tế khối lượng công việc; công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở cấp xã vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót; việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng còn chậm so với quy hoạch; bố trí nhân sự thực hiện các nhiệm vụ công tác của Ngành còn thiếu, nhất là trong các lĩnh vực mới như: xử lý vi phạm hành chính, lý lịch tư pháp, bồi trường nhà nước, theo dõi thi hành pháp luật...


Năm 2014, tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong điều kiện ngân sách của tỉnh rất hạn hẹp. Theo phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của Ngành năm 2014 đã được thông qua tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2014 vừa qua là rất nặng nề, đòi hỏi toàn ngành Tư pháp nói chung, tư pháp tỉnh Bến Tre nói riêng phải triển khai đồng bộ, toàn diện các mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình, áp dụng đồng bộ các giải pháp, nhất là những giải pháp mang tính đột phá để tạo chuyển biến mạnh trong năm 2014, tạo đà cho các năm tiếp theo, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám Đốc Sở Tư pháp nhấn mạnh công tác tư pháp năm 2014 cần tập trung một số vấn đề như: Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật nhằm góp phần hoàn thiện thể chế phục vụ công tác chỉ đạo điều hành các mặt kinh tế - xã hội của tỉnh, cải thiện vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; triển khai thực hiện tốt công tác theo dõi thi hành pháp luật, qua đó đưa công tác tư pháp vào cuộc sâu hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý theo các chương trình, đề án đã được phê duyệt; tiếp tục tổ chức tốt Ngày pháp luật Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014; triển khai đồng bộ, quyết tâm thực hiện hiệu quả kế hoạch của Chính phủ về triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013; thực hiện các giải pháp để đưa Luật Hòa giải ở cơ sở đi vào cuộc sống; có giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng công tác trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở; tập trung triển khai có hiệu quả Chiến lược phát triển lý lịch tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030; tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước đối với công tác hộ tịch, chứng thực, nhất là ở cơ sở; tiếp tục quan tâm phát triển đội ngũ công chứng viên, đấu giá viên, giám định viên tư pháp; xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin công chứng và thông tin ngăn chặn để đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chế độ công vụ, công chức, viên chức và trách nhiệm người đứng đầu; tiếp tục quan tâm, kiện toàn tổ chức, bổ sung kịp thời biên chế để thực hiện các nhiệm vụ mới được giao thêm cho Ngành; chú trọng đào tạo nguồn Công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã; kiện toàn và nâng cao vai trò, năng lực cho công chức pháp chế sở, ngành tỉnh để phối hợp triển khai tốt công tác tư pháp trên địa bàn tỉnh; tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tư pháp các cấp trong sạch, vững mạnh.

Cũng tại hội nghị, 3 Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày Nam, Bình Đại và 9 Công chức Tư pháp – Hộ Tịch của 9 huyện, thành phố đã được Sở Tư pháp tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác tư pháp năm 2013 và nhiều tập thể Phòng, Trung tâm, cán bộ, công chức, viên chức Sở Tư pháp nhận Danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đạo đức trên mỗi tuyến đườngĐạo đức trên mỗi tuyến đường
Vừa qua, từ ngày 19/10 đến ngày 19/11/2012, cả nước đã tổ chức nhiều hoạt động để hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông”. Đây là hoạt động đầy ý nghĩa, mang tính nhân đạo sâu sắc. Giúp các gia đình có nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông giảm đi phần nào nỗi đau về tinh thần cũng như giúp đỡ phần nào vật chất khi họ mất đi người thân. Đồng thời hoạt độn...

Vừa qua, từ ngày 19/10 đến ngày 19/11/2012, cả nước đã tổ chức nhiều hoạt động để hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông”. Đây là hoạt động đầy ý nghĩa, mang tính nhân đạo sâu sắc. Giúp các gia đình có nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông giảm đi phần nào nỗi đau về tinh thần cũng như giúp đỡ phần nào vật chất khi họ mất đi người thân. Đồng thời hoạt động này cũng nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của mỗi người khi tham gia giao thông.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông như uống rượu bia, đua xe, lạng lách, phóng nhanh, vượt ẩu và những trường hợp vi phạm nguyên tắc an toàn giao thông khác. Vấn đề đặt ra là đạo đức, trách nhiệm của người gây tai nạn giao thông đối với nạn nhân của họ.

Luật Giao thông đường bộ quy định người điều khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây: Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu; Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất.

Nhưng vẫn có trường hợp người gây tai nạn đã không chấp hành đúng theo quy định của Luật Giao thông đường bộ. Thay vì nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế nơi gần nhất để được cấp cứu kịp thời thì đã có không ít những vụ tai nạn, người gây tai nạn đã bỏ lại nạn nhân trong tình trạng nguy hại đến tính mạng để tẩu thoát. Việc làm này lại càng được thể hiện khi vụ tai nạn xảy ra trên đoạn đường vắng, vào đêm khuya. Hành động “gây tai nạn bỏ chạy” là một hành vi trái với đạo đức và trái quy định của pháp luật vì đã làm ảnh hưởng nghiệm trọng đến sức khỏe, thậm chí cướp đi mạng sống của con người. Giả sử, nếu được cấp cứu kịp thời thì nạn nhân sẽ giữ được mạng sống nhưng chính hành động không cứu giúp người trong tình trạng nguy hại đến tính mạng đã cướp đi cơ hội sống sót cuối cùng của một con người. Nhiều hệ lụy sau đó sẽ diễn ra: Cha, mẹ mất con; mất chồng vợ, con cái mất cha mẹ; kinh tế gia đình sa sút; nỗi đau sẽ kéo dài về sau.

Hành vi gây tai nạn giao thông nhưng bỏ chạy, không cứu giúp nạn nhân gây hậu quả nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe của người khác có thể bị xử lý hình sự theo Điều 102 và Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung).

Điều 102 về tội không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng quy định: Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm: Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm; Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 202 quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ: Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

Phạm tội  thuộc trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn.

Đó là sự chế tài của pháp luật đối với những người không cứu giúp người khác trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Mức xử phạt có thể chưa tương xứng với, chưa bù đắp so với hành vi trực tiếp và gián tiếp cướp đi sinh mạng của người khác. Nhưng đối với lương tâm, đạo đức của một con người thì không thể tránh khỏi sự truy sét của chính bản thân, nỗi ám ảnh sẽ mang theo suốt đời bởi hành động sai trái của mình. Vì vậy đạo đức, trách nhiệm của người tham gia giao thông là vấn đề quan trọng cần được quan tâm thực hiện./.

11/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ.Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ.

Ngày 01 tháng 10 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ. Nghị định này quy định chi tiết về đại diện của lao động nữ; quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ; cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ; quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai; giúp đỡ, hỗ trợ của người sử dụng lao động trong việc xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo; tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ và chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động.

Theo đó, về đại diện của lao động nữ theo quy định tại Khoản 2 Điều 154 Bộ luật Lao động được xác định như sau:

Trường hợp đã thành lập tổ chức công đoàn thì đại diện của lao động nữ là công đoàn cơ sở;

Trường hợp chưa thành lập tổ chức công đoàn thì đại diện của lao động nữ là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở nếu được tập thể lao động nữ có yêu cầu. Trường hợp không có yêu cầu thì người sử dụng lao động lấy ý kiến của trên 50% lao động nữ tại doanh nghiệp;

Công đoàn cơ sở và công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện quyền, trách nhiệm trong việc tổng hợp và phản ánh ý kiến của lao động nữ đối với những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ khi người sử dụng lao động tham khảo ý kiến.

Tại Điều 5 của Nghị định số 85/2015/NĐ-CP quy định về quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ như sau:

Quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ theo quy định tại Khoản 1 Điều 153 Bộ luật Lao động: Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện quyền bình đẳng giữa lao động nữ và lao động nam trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, tiền lương, khen thưởng, thăng tiến, trả công lao động, các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện lao động, an toàn lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, các chế độ phúc lợi khác về vật chất và tinh thần; Nhà nước bảo đảm bình đẳng về các lĩnh vực quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này trong quan hệ lao động, chính sách ưu đãi, xét giảm thuế.

 Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động: Ưu tiên tuyển dụng, sử dụng phụ nữ vào làm việc khi người đó đủ điều kiện, tiêu chuẩn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ; Thực hiện các chính sách đối với lao động nữ tốt hơn so với quy định của pháp luật.

Về cải thiện điều kiện lao động đối với lao động nữ tại Điều 6 của Nghị định số 85/2015/NĐ-CP quy địnhn người sử dụng lao động bảo đảm có đủ buồng tắm, buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc theo quy định của Bộ Y tế. Khuyến khích người sử dụng lao động phối hợp với tổ chức công đoàn lập kế hoạch, thực hiện các giải pháp để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà phù hợp với nguyện vọng chính đáng của lao động nữ.

Về chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ tại Điều 7 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP quy định:  

Khi khám sức khỏe định kỳ, lao động nữ được khám chuyên khoa phụ sản theo danh mục khám chuyên khoa phụ sản do Bộ Y tế ban hành.

Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ như sau: Mỗi ngày 30 phút, tối thiểu là 03 ngày trong một tháng; Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động; Thời gian nghỉ cụ thể do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ.

Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ như sau: Mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi; Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Người sử dụng lao động lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của lao động nữ và khả năng của người sử dụng lao động.

Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ nuôi con từ 12 tháng tuổi trở lên vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Thời gian nghỉ do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động.

Về quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai tại Điều 8 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP quy định:  

 Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động, kèm theo ý kiến đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.

Thời hạn báo trước để đơn phương chấm dứt, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động theo thời hạn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

Trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động, nhưng tối thiểu phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

Bên cạnh đó Điều 9 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP quy định về giúp đỡ, hỗ trợ của người sử dụng lao động trong việc xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo như sau: Căn cứ điều kiện cụ thể, người sử dụng lao động xây dựng phương án, kế hoạch giúp đỡ, hỗ trợ, xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc hỗ trợ một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo đối với lao động nữ có con trong độ tuổi gửi trẻ, mẫu giáo bằng tiền mặt hoặc hiện vật. Mức và thời gian hỗ trợ do người sử dụng lao động thỏa thuận với đại diện lao động nữ. Khuyến khích người sử dụng lao động tổ chức, xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo.

Tại Điều 10 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP quy định về tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ. Theo đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo, triển khai việc tổ chức, xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ như sau:

Quy hoạch xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo khi quy hoạch, thành lập khu công nghiệp theo quy định của pháp luật. Trường hợp các khu công nghiệp đã hình thành nhưng chưa có quy hoạch nhà trẻ, lớp mẫu giáo, cần quy hoạch bổ sung để xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo;

Xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo phù hợp với nhu cầu gửi trẻ;

Thực hiện quản lý hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu giáo theo quy định của pháp luật;

Có chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức đầu tư xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo.

Ngoài ra, Nghị định số 85/2015/NĐ-CP còn quy định về chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động:

Người sử dụng lao động đầu tư xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo, cơ sở y tế, công trình văn hóa và các công trình phúc lợi khác, nếu đủ điều kiện về quy mô, tiêu chuẩn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ thì được hưởng chính sách khuyến khích xã hội hóa theo quy định hiện hành của Nhà nước về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường.

Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở cho người lao động thì được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của Luật Nhà ở.

Người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ được Nhà nước hỗ trợ như sau: Được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp; Các khoản chi tăng thêm cho lao động nữ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Bộ Tài chính.

Nghị định số 85/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2015 thay thế Nghị định số 23/CP ngày 18 tháng 4 năm 1996 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về những quy định riêng đối với lao động nữ.

13/10/2015 5:00 CHĐã ban hành
Kế hoạch hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2016  trên địa bàn tỉnh Bến TreKế hoạch hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2016  trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Ngày 28 tháng 12 năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 6872/KH-UBND về hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2016 trên địa bàn tỉnh. Mục đích nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC), góp phần đẩy mạnh công tác cải cách TTHC theo chỉ đạo của Trung ương và đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ công tác cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu:

Các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã (cơ quan, địa phương) tiếp tục xác định cải cách TTHC là nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2016; xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu của các cơ quan, địa phương trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC, kiểm soát TTHC theo Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong công tác cải cách TTHC; 

Cán bộ, công chức, viên chức phải đề cao vai trò trách nhiệm trong thực thi công vụ, nhất là cán bộ đầu mối kiểm soát TTHC và cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức; kịp thời phát hiện, đề xuất kiến nghị đơn giản hóa những TTHC còn rườm rà, bất cập, gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện TTHC;

Thủ trưởng các cơ quan, địa phương phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra để kịp thời động viên, khen thưởng hoặc đề xuất cấp thẩm quyền khen thưởng đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong hoạt động kiểm soát TTHC, sáng kiến cải cách TTHC. Đồng thời, xử lý nghiêm những cá nhân, tập thể đơn vị thực hiện không tốt nhiệm vụ kiểm soát TTHC hoặc có hành vi tiêu cực trong thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC.  

Theo Kế hoạch, một số nội dung trọng tâm cần tập trung thực hiện trong năm 2016 như sau: Tiếp tục thực hiện các kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016; Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2015 của Thủ trướng Chính phủ về việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong công tác cải cách TTHC (Kế hoạch số 3482/KH-UBND); Quyết định số 08/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch đơn giản hóa TTHC trọng tâm năm 2015; xây dựng và triển khai thực hiện các kế hoạch liên quan đến kiểm soát TTHC...; tập trung chuẩn hóa bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp trên địa bàn tỉnh và cập nhật công khai kịp thời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC và niêm yết tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; tiếp tục rà soát để kiến nghị đơn giản hóa TTHC và báo cáo Bộ, ngành Trung ương theo quy định; tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; tăng cường hoạt động truyền thông về kiểm soát TTHC, cải cách TTHC và thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo định kỳ (hoặc đột xuất) về tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC…  

Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn và đơn vị có liên quan nghiêm túc triển khai thực hiện Kế hoạch số 6872/KH-UBND. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc kịp thời phản ánh về Ủy ban nhân dân tỉnh (thông qua Sở Tư pháp) để xem xét, giải quyết./.

28/01/2016 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 13/01/2016Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 13/01/2016

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 02/2016

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Tấn Dũng và bà Phan Thị Phượng, địa chỉ tại: ấp 1, xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

1. Về đất;

- Diện tích: 3.374,5 m2;

- Loại đất: Lúa;

- Thửa số 89, tờ bản đồ số 20.

2. Cây trồng trên đất: 07 cây dừa (trong đó 4 cây dừa trên 6 năm tuổi, 3 cây dừa từ 2 đến 6 năm tuổi).

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Tấn Dũng và bà Phan Thị Phượng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

 * Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 141.441.154đ (một trăm bốn mươi mốt triệu, bốn trăm bốn mươi mốt ngàn, một trăm năm mươi bốn đồng).

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 13/01/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/02/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 23/02/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 8.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 01/2016

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Thanh Tâm và bà Lê Ngọc Tú, địa chỉ tại: ấp 5, xã Long Hòa, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

1. Về đất;

- Diện tích: 3.155,1 m2;

- Loại đất: Lúa;

- Thửa số 806, 809, tờ bản đồ số 02.

2. Cây trồng trên đất: 10 cây dừa khoảng 5 năm tuổi, 168 cây nhãn khoảng 25 năm tuổi và 40 gốc bưởi da xanh mới trồng khoảng 3 tháng tuổi.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Long Hòa, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Thanh Tâm và bà Lê Ngọc Tú, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 252.408.000đ (hai trăm năm mươi hai triệu, bốn trăm lẻ tám ngàn đồng).

- Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 13/01/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/02/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 23/02/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 10.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 08/2016

Tài sản là quyền sử dụng đất công đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; tài sản cụ thể như sau:

- Tổng diện tích đất: 4.258,0 m2 (gồm 06 thửa). Riêng thửa đất số 02, tờ bản đồ số 07, lô đất bệnh viện thị xã (cũ), tọa lạc phường 1, thành phố Bến Tre bán đấu giá dưới hình thức thuê đất, thời hạn thuê 50 (năm mươi) năm và trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

- Loại đất: ODT và SKC (có bảng kê chi tiết kèm theo).

-  Tài sản tọa lạc tại: phường 1 và phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, nhà của Trung tâm Phát triển quỹ nhà, đất tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 37.428.000.000đ (ba mươi bảy tỷ, bốn trăm hai mươi tám triệu đồng).

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

            Thời gian xem,khảo hồ sơ tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 13/01/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/02/2016 (trong giờ làm việc).

Thời gian đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 15/02/2016.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 18/02/2016 tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 493/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi trên đất của ông Lê Thanh Phong và bà Nguyễn Thị Tâm, địa chỉ tại: 143A6, khu phố 1, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

1. Về quyền sử dụng đất:

a) Thửa số 760, tờ bản đồ số 03;

- Diện tích: 463,8 m2, loại đất trồng cây lâu năm;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00131 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 10/02/2010;

b) Thửa số 968, tờ bản đồ số 02;

- Diện tích: 604,2 m2, loại đất lúa;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00132 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 10/02/2010;

2. Công trình xây dựng:

- Nhà ở: Diện tích 117 m2, móng cột bêtông cốt thép, vách tường xây gạch ống 10 cm, sơn nước, mặt tiền ốp gạch trang trí, nền gạch ceramic, hệ thống đèn chiếu sáng đầy đủ, cửa đi chính, cửa phụ là cửa gỗ cao cấp, cửa sổ bằng gỗ thường, 02 phòng khách, 02 phòng ngủ, 01 phòng bếp và 01 tolet, mái lợp tole tráng kẽm không có trần, kiểu nhà: nhà cửa L.

- Nhà tạm: Diện tích 40 m2, cột bêtông, kèo gỗ, vách tường xây gạch ống 10 cm, không tô ximăng, nền láng ximăng, mái lợp lá, không có trần; Giá là 10.080.000đ (Mười triệu, không trăm tám mươi ngàn đồng).

- Tường rào xây tường: Diện tích 17,22 m2, chiều dài 8,2m, chiều cao 2,1 m, kết cấu cột bêtông cốt thép, xây tường cao 2,1 m, không quét vôi;

- Tường rào lưới B40 trước nhà: Diện tích 26,18 m2, chiều dài 11,9 m, chiều cao 2,2 m, kết cấu cột bêtông cốt thép, xây tường cao 0,55 m, kéo lưới;

- Tường rào lưới B40 sau nhà: Diện tích 131,6 m2, chiều dài 65,8 m, chiều cao 2,1 m, kết cấu cột bêtông cốt thép, xây tường cao 0,6 m, kéo lưới;

- Cổng rào: Diện tích 8,38 m2, chiều dài 3,35 m, chiều cao 2,5 m, kết cấu: móng trụ cột bêtông cốt thép, chưa sơn, cửa cổng bằng song sắt.

- Sân xi măng: Diện tích 80,33m2.

- Ống nước: Thể tích 9,42 m3/ống, số lượng 2, kết cấu: Dạng ống, bêtông cốt thép D1.000 mm.

 3. Cây trồng trên đất: 34 Cây dừa trên 4 năm tuổi, 05 cây bưởi da xanh trên 4 năm tuổi, 06 cây mít khoảng 4 năm tuổi và 02 cây táo khoảng 5 năm tuổi;

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc: phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi trên đất của ông Lê Thanh Phong và bà Nguyễn Thị Tâm, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 875.748.881đ (tám trăm bảy mươi lăm triệu, bảy trăm bốn mươi tám ngàn, tám trăm tám mươi mốt đồng).

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút, ngày 13/01/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/02/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 23/02/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 70.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 11/2016

Tài sản thuê bến đò ngang Nhuận Phú Tân – Thanh Bình như sau:

- Đấu giá thuê 01 (một) bến phía Nhuận Phú Tân theo Quyết định số 1953/QĐ-UBND ngày 15/10/2015 của Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc;

- Tài sản thuê tọa lạc: xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc;

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, bán đấu giá dưới hình thức cho thuê làm phương tiện vận chuyển qua lại hàng hóa và hành khách.

        - Nhà thầu tham gia đấu giá thuê bến đò ngang Nhuận Phú Tân – Thanh Bình phải đảm bảo đủ các điều kiện sau đây:

        + Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đường thủy;

        + Chỉ được tham gia một bộ hồ sơ với tư cách là nhà thầu độc lập;

        + Về năng lực và kỹ thuật của nhà thầu bao gồm các nội dung cơ bản sau:

 

 

Số TT

Nội dung yêu cầuMức yêu cầu để được đánh giá là đáp ứng (đạt)
1Năng lực hành nghề 
 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vận tải đường thủy.Cung cấp bản chính để đối chiếu
2Năng lực nhân sự chủ chốt 
 Thuyền trưởng có bằng cấp chuyên môn.Cung cấp bản chính để đối chiếu
Máy trưởng: có bằng cấp chuyên môn.Cung cấp bản chính để đối chiếu
3Năng lực kỹ thuật 
 Đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông thủy – bộ theo quy định hiện hành 
Phương tiện vận tải tham gia hoạt động khai thác bến phải là phà thép (sắt) có trọng tải ≥ 50 tấn, tương đương chở 49 người và 5,63 tấn hoặc (49 người và 45 xe máy), phải được đăng kiểm, cung cấp giấy tờ chứng minh tài sản thuộc sở hữu của nhà thầu hoặc nếu thuê phải kèm theo hợp đồng được chứng thực (người cho thuê thiết bị cũng phải chứng minh tài sản thuộc sở hữu của người cho thuê).

      

 

 

Cung cấp bản chính để đối chiếu

4Phải nộp bảo đảm dự thầu theo quy định của nhà nước

 

        * Ghi chú: Nhà thầu phải đảm bảo tất cả các nội dung nêu trên mới đủ năng lực và kỹ thuật để tham gia đấu giá, nếu không đạt một trong những nội dung trên sẽ bị loại.

  * Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá thuê: 802.000.000 đồng /năm (tám trăm lẻ hai triệu đồng). Lưu ý: thời gian thuê là 03 năm, trong mỗi năm nhà thầu trúng đấu giá thuê nộp tiền chia thành 02 đợt vào ngày đầu ký hợp đồng và 06 tháng sau đó. Riêng đối với năm đầu tiên, nhà thầu trúng đấu giá thuê phải nộp 50% số tiền trúng đấu giá ngay sau khi ký hợp đồng, số tiền 50% còn lại nộp vào ngày cuối cùng của 06 tháng theo thời gian ký hợp đồng.

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản thuê: 500.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản thuê: 70.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 13/01/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/01/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 22/01/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 12/2016

Tài sản thanh lý tháo dỡ trụ sở làm việc cũ của Trường Tiểu học phường 5 như sau:

1. 03 phòng học của Trường Tiểu học phường 5: diện tích 171,1 m2; kết cấu nền gạch bông, vách xây tường lửng phía trên lắp lưới B40, mái lợp tole thiếc, trần nhựa, khung cột pêtông cốt thép. Tỷ lệ còn lại 3%. Tài sản có các cửa như sau: 02 (hai) bộ cửa đi 02 cánh bằng sắt khung kiếng, 04 (bốn) cái cửa sổ 02 cánh bằng sắt khung kiếng, 01 (một) cái cửa đi 02 cánh bằng khung sắt, 01 (một) cái cửa sổ 02 cánh bằng khung sắt .

2. Hàng rào: diện tích 44,25 m2; kết cấu khung cột pêtông cốt thép, chân xây gạch cao 0,8 m phía trên kéo lưới B40, kết hợp cổng khung sắt hình. Tỷ lệ còn lại 5%

* Lưu ý: Tài sản khi bán đấu giá thành cho lấy móng và đà trả lại mặt bằng sạch cho Ủy ban nhân dân phường 5 hoặc nếu khách hàng muốn lấy từ mặt đất trở lên vẫn được. Sân đan để lại không bán và bức tường phía sau giáp với chùa khi đập để bức tường lại bảo vệ tài sản cho chùa.

- Tài sản tọa lạc: tại Trường Tiểu học phường 5; địa chỉ: phường 5, thành phố Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

        - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 12.700.000đồng (Mười hai triệu, bảy trăm ngàn đồng).

        * Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ.

        * Khoản tiền đặt trước: 1.900.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 13/01/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/01/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 22/01/2016 (Thứ sáu) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667; 075-3512081; 075-3512083.

14/01/2016 9:00 SAĐã ban hành
Giải pháp nâng cao tỷ lệ hòa giải thành trên địa bàn huyện Châu ThànhGiải pháp nâng cao tỷ lệ hòa giải thành trên địa bàn huyện Châu Thành

Trong những năm gần đây, công tác hòa giải cơ sở trên địa bàn huyện Châu Thành được sự quan tâm của lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện và sự phối hợp chặt chẽ của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện, từng bước đưa công tác hòa giải cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực.

Công tác hòa giải ở cơ sở thời gian qua đã góp phần tích cực vào việc ổn định tình hình an ninh, trật tự tại địa phương; kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân, giữ gìn tình làng nghĩa xóm; hạn chế tình hình khiếu kiện vượt cấp của người dân. Qua công tác hòa giải cũng góp phần tuyên truyền pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân.

Đến nay, trên địa bàn huyện Châu Thành có 122 tổ hoà giải, có 912 hòa giải viên, am hiểu pháp luật và có uy tín với nhân dân. Trong năm 2015, Ủy ban nhân dân huyện phối hợp với Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện tổ chức rà soát, kiện toàn tổ hoà giải ở cơ sở; kết quả đã tổ chức kiện toàn được 57 tổ hoà giải theo quy định, các tổ hoà giải còn lại không có sự thay đổi thành viên. Các tổ hoà giải ở cơ sở hoạt động có nền nếp, lập sổ ghi chép, lưu trữ, bảo quản hồ sơ tốt. Kết quả hòa giải thành ở cơ sở đạt 88.38% vượt 3.38% so với chỉ tiêu của Bộ Tư pháp, Nghị quyết của huyện ủy đề ra là 85%.

chau-thanh1.gif

Để nâng cao tỷ lệ hoà giải thành ở cơ sở trên địa bàn huyện, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện đã tập trung chỉ đạo thực hiện những công việc như sau:

Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện đưa chỉ tiêu hòa giải thành ở cơ sở đạt 85% là chỉ tiêu để xét chính quyền cơ sở vững mạnh.

Ủy ban nhân dân huyện thường xuyên phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện trong công tác chỉ đạo cấp xã phối hợp trong công tác tổ chức rà soát, kiện toàn tổ hoà giải ở cơ sở. Tổ chức kiểm tra công tác hoà giải ở cơ sở 12/22 xã, thị trấn. Qua đó đã kịp thời phát hiện những hạn chế, thiếu sót trong công tác hòa giải ở cơ sở nói riêng và công tác tư pháp nói chung để chấn chỉnh kịp thời.

Phòng Tư pháp phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện tổ chức 02 lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng hoà giải cho hoà giải viên cơ sở trên địa bàn huyện có 122 học viên tham dự.

chau-thanh2.gif

Ủy ban nhân dân huyện thường xuyên chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã phân công công chức, các đoàn thể hỗ trợ các tổ hòa giải trong việc tổ chức hòa giải và hòa giải nhiều lần đối với các vụ việc phức tạp để tạo điều kiện cho các bên gặp gỡ hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp. 

Ngoài ra, qua theo dõi kết quả công tác hòa giải ở cơ sở trong 6 tháng đầu, có 3 xã Tân Phú, Quới Thành, Phú Túc cỏ tỷ lệ hòa giải thấp, Phòng Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân huyện phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở tại 3 xã trên. Qua kiểm tra, đã hướng dẫn các xã phân loại các vụ việc thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở. 

Tuy nhiên, trong công tác hòa giải ở cơ sở còn gặp một số khó khăn, hạn chế như: Ở một số địa phương, công tác lãnh, chỉ đạo về hòa giải cơ sở chưa được tập trung quan tâm đúng mức; sự phối hợp giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp còn hạn chế, chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hỗ trợ hoạt động của tổ hòa giải. Công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở một số xã, thị trấn có lúc chưa chặt chẽ, chưa thực hiện tốt chế độ thống kê, báo cáo, theo dõi sự biến động về tổ chức cũng như chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở. Trên địa bàn huyện chưa thực hiện chi hỗ trợ hoạt động cho tổ hòa giải 100.000đồng/tháng, chỉ thực hiện hỗ trợ văn phòng phẩm đủ để tổ hòa giải ở cơ sở hoạt động, qua đó phần nào ảnh hưởng đến chất lượng hòa giải ở cơ sở.

Từ những kết quả đạt được, cũng như những khó khăn, hạn chế trong công tác hòa giải ở cơ sở trong năm qua, trong thời gian tới công tác hòa giải trên địa bàn huyện Châu Thành tập trung những công việc sau: Thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, tập huấn, kiểm tra đối với Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ hòa giải trong công tác hòa giải cơ sở; thực hiện tốt công tác phối hợp giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, b trí đ kinh phí đ đảm bảo chi hỗ trợ công tác hòa giải cơ sở theo quy định.

Phòng Tư pháp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

06/01/2016 10:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối với thửa đất số 451, 476 tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Phong, xã Thành Thới A, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối với thửa đất số 451, 476 tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Phong, xã Thành Thới A, MCN, tỉnh Bến Tre
28/09/2017 5:00 CHĐã ban hành
Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018

Ngày 20 tháng 6 năm 2017, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, các bộ luật, luật sau đây có hiệu lực thi hành: Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH1(sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015); Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Các quy định tại Nghị quyết số 110/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 có ghi thời điểm “ngày 01 tháng 7 năm 2016” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2018”, thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2019” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2020”.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng như sau:

Tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;

Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;

Tội phạm mới quy định tại các điều 147, 154, 167, 187, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 217a, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 393 và 418 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; các điều luật quy định hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201để giải quyết;

Quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết này cũng được áp dụng đối với các điều luật mới quy định tội được tách ra từ các tội ghép trong Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 1999);

Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”“số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”“thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”“đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”“giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”“quy mô lớn” của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này;

Đối với hành vi hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, hành vi kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án thì không được căn cứ vào việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ, tội danh đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội danh kinh doanh trái phép, tội danh cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để kháng cáo, kháng nghị theo hướng không phạm tội. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về tội hoạt động phỉ, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội kinh doanh trái phép, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, tội kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội danh tương ứng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết này;

 Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại Bộ luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;

Trường hợp chất thu giữ được nghi là chất ma túy ở thể rắn đã được hòa thành dung dịch, chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, xái thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải xác định hàm lượng chất ma túy làm cơ sở để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ được. Đối với các trường hợp khác thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.

Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sau đây gọi là Luật số 12/2017/QH14) được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định sau đây:

Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử;

Hình phạt tử hình đã tuyên đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này nhưng chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không thi hành án và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính; hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa. Nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Đối với các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 không quy định là tội phạm nữa: nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm các tội mà không được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015; nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này thì đương nhiên được xóa án tích;

Thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này;

Áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 để thi hành quy định tại điểm b khoản Điều 2 Nghị quyết này và các quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi cho người phạm tội.

 Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 7 năm 2017. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành cho đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này, tiếp tục áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 30/2006/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 09/2009/PL-UBTVQH12.

20/07/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/7/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/7/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 215 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Phạm Thị Thanh Thảo, địa chỉ liên hệ: 220F khu phố 2, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

1. Về đất

- Diện tích: 358,4 m2;

- Loại đất: thổ cư;

- Thuộc tờ bản đồ 06, thửa đất số 67;

2. Về nhà (nằm trên đất):

- Nhà chính: Dài 12m, rộng 4,5m, diện tích 54m2, kết cấu: nền gạch men, vách tường, cột bê tông, mái tol

- Nhà phụ: Dài 12m, rộng 4,0m, diện tích 48m2, kết cấu: nền gạch men, vách tường, cột bê tông, mái tol

* Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W715310, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01395QSDĐ/517/QĐ-UB do UBND thị xã Bến Tre (nay là UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 04/3/2003 cho hộ bà Trà Thị Bé Vân; điều chỉnh tên người sử dụng là bà Phạm Thị Thanh Thảo ngày 17/12/2015 và Đơn xin xác nhận chủ quyền nhà ở của bà Trà Thị Bé Vân ngày 25/8/2008.

* Tài sản tọa lạc: 220F khu phố 2, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

    - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của bà Phạm Thị Thanh Thảo do Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 3.176.676.000 đ (Ba tỷ, một trăm bảy mươi sáu triệu, sáu trăm bảy mươi sáu ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 600.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 117000105999 được mở tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 17/7/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/7/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 (trong giờ làm việc);

  - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 (trong giờ làm việc);

  - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 04/8/2017;

 * Lưu ý:  Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 225 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá quyền sử dụng đất dưới hình thức cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án đầu tư và nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền trên đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1580/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2017, cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Tổng diện tích đất: 4.833,1 m2;

- Thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ số 9;

- Mục đích sử dụng: Đất thương mại dịch vụ;

- Hình thức: Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án đầu tư;

- Thời gian sử dụng đất: 50 năm kể từ ngày có Quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất.

- Giá khởi điểm (1): 111.161.300.000đ (Một trăm mười một tỷ, một trăm sáu mươi một triệu, ba trăm ngàn đồng).

2. Tài sản khác gắn liền với đất: Nhà cửa, vật kiến trúc Trụ sở công an cũ.

- Giá khởi điểm (2): 2.282.000.000đ (Hai tỷ, hai trăm tám mươi hai triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản đấu giá dưới hình thức Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và thời hạn thuê là 50 (năm mươi) năm.

- Tài sản tọa lạc tại: phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: tài sản là quyền sử dụng đất và nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền trên đất được Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre giao Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng bán nộp ngân sách nhà nước;

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá thuê: 113.443.300.000đ (Một trăm mười ba tỷ, bốn trăm bốn mươi ba triệu, ba trăm ngàn đồng).

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 17/7/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/7/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ ngày 04/8/2017;

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua, nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 217 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá quyền sử dụng đất công đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, tài sản cụ thể như sau:

 

Số TTTên, địa chỉ tài sảnSố thửa Số tờDiện tích đất (m2)

Mục đích

sử dụng

Giá khởi điểm
1

Quyền sử dụng đất

tại Thị trấn Châu Thành

112342.081,9ODT3.497.592.000
2

Quyền sử dụng đất

 tại Thị trấn Châu Thành

2420194ODT194.000.000
3

Quyền sử dụng đất

tại xã Phú An Hòa

080612,5TMD87.500.000
Tổng cộng: 2.288,4 3.779.092.000

- Tài sản tọa lạc tại: Thị trấn Châu Thành và xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công giao Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Châu Thành quản lý do không có nhu cầu sử dụng bán nộp vào ngân sách nhà nước.

* Lưu ý: Tài sản trên bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 3.779.092.000 đ (Ba tỷ, bảy trăm bảy mươi chín triệu, không trăm chín mươi hai ngàn đồng).

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 17/7/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Thị trấn Châu Thành và xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 17/7/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ 30 phút ngày 04/8/2017;

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667 để biết thêm chi tiết.

19/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn