Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản
THÔNG BÁO HĐ 50 (kèm NQ)Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (chi phí đào ao nuôi cá, công trình xây dựng đã qua sử dụng, cây trồng trên đất) của Công ty TNHH AAA (ông Nguyễn Quang Châu Lâm - Giám đốc), địa chỉ: khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:1. ... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 45 (Kèm NQ)          Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là một chiếc Tàu cá của ông Mai Văn Lạc và bà Nguyễn Thị Thanh, địa chỉ thường trú tại ấp 4, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản có đặc điểm như sau:          -... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 416/2016 (Kèm nội quy)Tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô con 05 chỗ màu xanh, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: COROLLA-altis, biển số  71B-0471, số máy: 1ZZ-0871145; số khung: ZZE122-7500610; sản xuất năm 2001, tại Việt Nam. Xe bán dạng đăng ký lại.* Lưu ý: - Khách hàng trúng đấu giá phải chịu các loại thuế và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 398/2016 (Kèm nội quy)Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Hồ Văn Chân và bà Trần Thị Rĩ, địa chỉ tại: ấp Long Hòa 1, xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:      1. Về đất:      - Diện tích: 894,5 m2;      - Loại đất&#58... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 379/2016 (Kèm nội quy)Tài sản của ông Phan Văn Nghĩa và bà Trần Thị Ngoan, địa chỉ: 133G2, ấp An Thạnh B, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre như sau:1. Quyền sử dụng đất: Diện tích 270m2 (đất trồng cây lâu năm), thửa số 331, tờ bản đồ số 5 (theo kết quả đo đạc địa chính tạm thời gọi là thửa số 553, tở bản đồ số 5) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đấ... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 327/2016 (Kèm nội quy)Tài sản thanh lý 24 (Hai mươi bốn) cây cọc pêtông cốt thép, kích thước mỗi cọc là: 11m x 0,25 x 0,25 đã đúc sẵn để sử dụng vào thi công xây dựng công trình nhưng không sử dụng hết.- Tài sản tọa lạc: tại Chi Cục Thuế huyện Giồng Trôm; thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.        - Nguồn gốc và tình... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 316/2016 (Kèm nội quy)Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Ngô Văn Thiện, ông Ngô Công Sử và bà Ngô Thị Lượng, hiện cư ngụ tại: ấp Cầu Cống, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;1) Về đất:a) Một phần thửa số 183, tờ bản đồ số 12- Diện tích đất: 1.719,5 m2 ; - Loại đất: BHK;b) Một phần th... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 300/2016 (Kèm nội quy)Tài sản là quyền sử dụng đất, cây trồng và nhà ở gắn liền với đất của ông Trương Hoàng Kiểng, hiện cư ngụ tại: số 155A1, khu phố 2, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.1. Về đất:- Diện tích:  325,4 m2 (trong đó có 100 m2 đất ODT và 225,4 m2 đất CLN);- Thuộc tờ bản đồ số 14, thửa  137A và 137B; 2. Về nhà (nhà nằm trên diệ... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 302/2016 (Kèm nội quy)  Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Loan, hiện cư ngụ tại: 63/2 ấp Thạnh A, xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản có các đặc điểm sau:  1) Về đất: Diện tích: 562,8 m2 (trong đó 70 m2 đất ONT; 197,3 m2 đất CLN và 295,5 m2 đất HLLG); Thửa số 187... 
 
Người tham gia đấu giá tài sản là cá nhân, đại diện tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để mua tài sản bán đấu giá theo qui định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 06/10/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 06/10/2017
23/10/2017 2:00 CHĐã ban hành
Danh mục thủ tục hành chính cấp xãDanh mục thủ tục hành chính cấp xã
19/06/2017 4:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

STT

Tên

văn

 bản

Số, ký hiệu

 văn bản

Ngày, tháng, năm ban hành văn bản Trích yếu/nội dung văn bản Hiệu lực văn bản Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01Pháp lệnh

09/2014/

UBTVQH13

20/1/2014Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dânCòn hiệu lực  ​
02Nghị định

111/2013/

NĐ-CP

30/9/2013Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
03Nghị định 221/2013/NĐ-CP30/12/2013Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộcCòn hiệu lực  
04Nghị định

02/2014

NĐ-CP

10/01/2014Quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực  
​05​Nghị định
26/2016/NĐ-CP​16/4/2016Quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập​Từ ngày 01/6/2016
06Thông tư 38/2014/TT-BCA12/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡngCòn hiệu lực  
07Thông tư 39/2014/TT-BCA12/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực  
08Thông tư 20/2014/TT-BTP25/9/2014Về việc ban hành các biểu mẫu để sử dụng trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp thay thế xử lý hành chính quản lý tại gia đình đối với người chưa thành niên theo quy định của Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/09/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
09Thông tư 42/2014/TT-BCA25/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
10
Thông tư 43/2014/TT-BCA08/10/2014Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử  lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực 
11Thông tư

48/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2013 quy định chế độ áp dụngbiện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực 
12Thông tư 193/2014/TT-BTC12/12/2014Về việc quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực 
13Thông tư liên tịch

17/2015/

TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA

09/7/2015Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túyCòn hiệu lực 
14Công văn

1503/

BTP-QLXLVPHC

&TDTHPL

08/5/2015Về việc sử dụng các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BTP và Thông tư số 42/2014/TT-BCACòn hiệu lực 
​15​Thông tư
​19/2015/TT-BTP​28/12/2015

Việc kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

​Còn hiệu lực


25/09/2015 2:00 CHĐã ban hành
Quyết định thu hồi thẻ công chứng viên của Ông Nguyễn Văn Biên và Ông Huỳnh Thanh TânQuyết định thu hồi thẻ công chứng viên của Ông Nguyễn Văn Biên và Ông Huỳnh Thanh Tân
30/08/2017 2:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn  bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01

Luật

 

 15/2012/

QH13

20/6/2012Xử lý vi phạm hành chính
Hết hiệu lực một phần: Khoản 1 Điều 122; Đoạn đầu Khoản 1 Điều 123

Đã được sửa đổi

 bởi Luật Hải quan 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014

02Nghị định

81/2013/

NĐ-CP

19/7/2013Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Còn hiệu lực

Đính chính Khoản 2 Điều 10

Đã được đính chính  bởi Công văn 1500/TTg-PL của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/9/2013
03Nghị định

112/2013/

NĐ-CP

02/10/2013Quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuấtHết hiệu lựcĐã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016
04Nghị định

115/2013/

NĐ-CP

03/10/2013Quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
05Nghị định

165/2013/

NĐ-CP

12/11/2013Quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương  tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự , an toàn giao thông và bảo vệ môi trườngCòn hiệu lực 
​Nghị định
17/2016/NĐ-CP
17/3/2016​

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Còn hiệu lực
06Thông tư

26/2013/

TT-BCT

30/10/2013Quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi mục Đ Điều 3; bổ sung Điểm c Khoản 6 Điều 5; ban hành 07 mẫu ấn thay thế các mẫu ấn quy định tại các khoản 9, 11, 13, 15, 16 và 17 mục B và khoản 2 mục C Điều 3

Đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 13/2015/TT-BCT ngày 16/6/2015
07Thông tư

153/2013/

TT-BTC

31/10/2013Về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử  phạt vi phạm hành chính

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6  Điều 4; Sửa đổi Khoản 2 Điều 5; bổ sung Khoản 2a sau Khoản 2 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Điểm a Khoản 2 Điều 11

Được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư  105/2104/TT-BTC ngày 07/8/2014
08Thông tư

173/2013/

TT-BTC

20/11/2013Về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
09Thông tư

105/2014/

TT-BTC

07/8/2014Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chínhCòn hiệu lực  
10Thông tư

34/2014/

TT-BCA

15/8/2014Quy định về các biểu mẫu đê sử  dụng khi xử  phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Công an nhân dânCòn hiệu lực 
11Thông tư

149/2014/

TT-BTC

10/10/2014Quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để bổ sung vào ngân sách Nhà nướcCòn hiệu lực 
12Thông tư

47/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
13Thông tư

13/2015/

TT-BCT

16/6/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 26/2013/TT-BCT ngày 30/10/2013 của Bộ Công Thương quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trườngCòn hiệu lực  
14Thông tư liên tịch

27/2015/TTLT-BCT-BCA-VKSNDTC-TANDTC

17/8/2015Hướng dẫn chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện để truy cứu trách nhiệm hình sựChưa có hiệu lực 

 

 

08/06/2016 3:00 CHĐã ban hành
DANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TREDANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TRE
15/06/2018 5:00 CHĐã ban hành
CUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNGCUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

CUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

Mời quý đọc giả cùng tham gia cuộc thi viết tìm hiểu pháp luật về lao động trên Bản tin Tư pháp với những nội dung cụ thể như sau:

1. Đối tượng dự thi

- Công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

- Thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo, Tổ thư ký giúp việc cho Ban Tổ chức, Ban Giám khảo của cuộc thi không được tham gia dự thi.

2. Hình thức dự thi

- Mỗi cá nhân chỉ được gửi 01 bài dự thi, bài dự thi bằng tiếng Việt, có thể viết tay hoặc đánh máy trên giấy A4, đánh số trang theo thứ tự.

- Trang bìa bài dự thi phải ghi rõ họ; tên; ngày, tháng, năm sinh, giới tính; địa chỉ (nơi ở, nơi học tập hoặc nơi làm việc) của người dự thi. Ngoài phong bì của bài dự thi ghi rõ: "Bài dự thi tìm hiểu pháp luật về lao động".

3. Nội dung thi

Mỗi thí sinh phải trả lời 05 câu hỏi sau đây:

Câu 1: Quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động được pháp luật quy định như thế nào?

Câu 2: Người lao động, người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp nào?

Câu 3: Pháp luật lao động quy định chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ như thế nào?

Câu 4: Việc sử dụng lao động dưới 15 tuổi được pháp luật quy định ra sao?

Câu 5: Giải đáp tình huống:

Chị T là công nhân, con của chị T chưa được một tuổi, nhà lại xa nơi làm việc nên chị T hay đi làm muộn, mặc dù đã được Tổ trưởng sản xuất nhắc nhở nhiều lần nhưng chị T vẫn không khắc phục được. Vừa qua, lãnh đạo Công ty đã ra quyết định xử lý kỷ luật chị T bằng hình thức khiển trách, đồng thời quyết định nếu chị T còn tiếp tục vi phạm sẽ kéo dài thời hạn nâng lương thêm 01 năm.

Hỏi: Công ty xử lý kỷ luật chị T như vậy là đúng hay sai, giải thích tại sao?

4. Thời gian và địa điểm nhận bài dự thi

- Thời gian nhận bài dự thi: Từ nay đến hết 17 giờ, ngày 05/12/2016.

- Địa điểm nhận bài thi: Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp. Địa chỉ: Số 17, đường Cách mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Bài dự thi có thể gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện. Riêng đối với bài dự thi được gửi qua đường bưu điện, Ban Tổ chức sẽ tính thời gian theo dấu bưu điện.

5. Cơ cấu giải thưởng

01 giải nhất: 2.000.000 đồng.

02 giải nhì: 1.500.000 đồng/giải

03 giải ba: 1.000.000 đồng/giải.

05 giải khuyến khích: 500.000 đồng/giải.

BAN TỔ CHỨC CUỘC THI

18/10/2016 5:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 216 thuộc tờ bản đồ số 1 tại ấp Phước Tân, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 216 thuộc tờ bản đồ số 1 tại ấp Phước Tân, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến Tre
15/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 22/12/2011Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 22/12/2011

THÔNG BÁO SỐ 968


- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và nhà của bà Đào Ánh Kiều, địa chỉ tại: 258/2 Trần Quốc Tuấn, khu phố 2, phường 4, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
a) Về đất:
- Diện tích: 151,5 m2 (diện tích đo đạc thực tế)
- Loại đất: ở đô thị;
- Thuộc tờ bản đồ số 04, thửa  253, 362a, 254a;
b) Về nhà (nhà nằm trên đất): Nhà được xây kiên cố, vách tường, mái lợp tole, nền gạch men, khung cột bêtông cốt thép, có hệ thống điện nước đấy đủ.
- Tài sản tọa lạc tại: 258/2 Trần Quốc Tuấn, khu phố 2, phường 4, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà của bà Đào Ánh Kiều, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 572.682.079đ (năm trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm tám mươi hai ngàn không trăm bảy chục  đồng).
* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ (năm trăm ngàn đồng)/ 01 hồ sơ.
* Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng)/ 01 hồ sơ.
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 22/12/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 30/01/2012.
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 03/02/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO SỐ 973


Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:
a) Tài sản bán đấu giá là máy móc, thiết bị,... (kèm theo bảng mục kê khai tài sản), có giá khởi điểm: 126.070.000đ (một trăm hai mươi sáu triệu không trăm bảy chục ngàn đồng).
b) Sắt chữ V và sắt chữ C: Hội đồng định giá thống nhất với giá 10.000đ/kg, số lượng được cân thực tế là: 1.910kg x 10.000đ/kg = giá khởi điểm: 19.100.000đ (mười chín triệu một trăm ngàn đồng).
- Tài sản (a+b) tọa lạc tại: phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tư nhân công nghệ nông nghiệp Xanh Sun Hoa do bà Trần Thị Hai làm giám đốc đã giao cho xí nghiệp cơ khí công nông Bến Tre khấu trừ nợ theo biên bản trao đổi, giải quyết việc thi hành án vụ nợ giữa công ty Xanh Sun Hoa với xí nghiệp cơ khí công nông Bến Tre vào ngày 19/4/2010 tại thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 145.170.000đ (một trăm bốn mươi lăm triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng).
* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)/01 hồ sơ.
* Khoản tiền đặt trước: 10.000.000đ ( mười triệu đồng)/01 hồ sơ.
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 23/12/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 30/12/2011.
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 07/01/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

26/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò của đăng ký khai sinh đối với việc quản lý nhà nước và đối với công dânVai trò của đăng ký khai sinh đối với việc quản lý nhà nước và đối với công dân
Đăng ký hộ tịch theo quy định của Điều 1 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 /12/ 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước c...

Đăng ký hộ tịch theo quy định của Điều 1 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 /12/ 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi. Đăng ký hộ tịch là quyền, nghĩa vụ của mọi công dân, là một trong những nguyên tắc chung xét ở gốc độ pháp lý về mặt quyền thì đăng ký hộ tịch là việc thể hiện quyền dân sự của công dân; về mặt nghĩa vụ công dân phải có trách nhiệm thực hiện đăng ký hộ tịch. Đối với Nhà nước thông qua việc đăng ký này đảm bảo được quyền của công dân. Do vậy, đăng ký hộ tịch là quyền và nghĩa vụ của mỗi người, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định.

Đăng ký khai sinh là một loại sự kiện đăng ký hộ tịch, là sự kiện đăng ký đầu tiên có liên quan đến nhân thân của một người từ khi mới sinh ra.Từ khái niệm đăng ký hộ tịch nêu ra ở trên chúng ta suy ra khái niệm đăng ký khai sinh là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận và ghi vào Sổ đăng ký khai sinh sự kiện được sinh ra của một cá nhân. Nội dung đăng ký là việc xác định những thông tin về bản thân người được đăng ký khai sinh như họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh và thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh…Sau khi được đăng ký khai sinh cá nhân được cơ quan đăng ký cấp cho Giấy khai sinh có ghi nhận đầy đủ các thông tin liên quan đến nhân thân của cá nhân như nội dung mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ghi nhận.

Ở mỗi thời kỳ, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của đất nước, tùy thuộc vào mong muốn của nhà quản lý, việc đăng ký khai sinh có một ý nghĩa nhất định. Cùng với sự phát triển của đất nước, ngày nay việc đăng ký khai sinh được hoàn thiện dần cùng với công tác đăng ký hộ tịch qua các văn bản về hộ tịch mà Nhà nước đã ban hành. Đăng ký khai sinh là một lĩnh vực trong công tác đăng ký hộ tịch, đăng ký khai sinh có vai trò ý nghĩa rất quan trọng đối với công dân và đối với Nhà nước, đăng ký khai sinh tạo mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.

Thứ nhất, vai trò của đăng ký khai sinh đối với việc quản lý nhà nước: Nhà nước đăng ký khai sinh cho công dân là để Nhà nước quản lý về mặt pháp lý từng người dân, qua đó quản lý toàn bộ dân cư trong cả nước, nắm bắt được biến động tự nhiên về dân cư. Nhà nước quản lý con người, thống kê được dân số, tình hình tăng dân số giúp Nhà nước có cơ sở hoạch định chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Qua đó, Nhà nước có cơ sở khoa học để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Mặt khác công tác đăng ký khai sinh một yêu cầu không thể thiếu trong quản lý nhà nước về hộ tịch, là ghi nhận về mặt pháp lý sự tồn tại của một cá nhân, là cơ sở ràng buộc trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân, từ đó phát sinh trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống người dân, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Hơn thế nữa, đối với Nhà nước thông qua việc đăng ký này đảm bảo được quyền của công dân, quyền được khai sinh mà pháp luật đã quy định. Đặc biệt đối với trẻ em đối tượng Nhà nước quan tâm bảo vệ, thì đăng ký khai sinh cho trẻ em là nghĩa vụ phải làm của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ em, đối tượng được quan tâm hàng đầu trong mọi xã hội.

Khi đăng ký khai sinh Nhà nước cấp cho người dân chứng thư pháp lý là Giấy khai sinh. Giấy khai sinh góp phần hỗ trợ hoạt động các cơ quan nhà nước trong việc xác định nhân thân của một người như độ tuổi, giới tính, cha mẹ…., phục vụ cho các quan hệ khác. Ví dụ: Giấy khai sinh dùng để xác định cha và mẹ đẻ của một cá nhân, giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp người chết không để lại di chúc, phân chia tài sản theo pháp luật, hay Giấy khai sinh dùng để hỗ trợ cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tuổi của một người để áp dụng chính sách trong tố tụng cho phù hợp…

Thứ hai, vai trò của đăng ký khai sinh đối với công dân: Đăng ký khai sinh là quyền của mỗi người được pháp luật quốc tế ghi nhận, đồng thời cũng được ghi nhận trong pháp luật của quốc gia. Đăng ký khai sinh có vai trò, ý nghĩa là sự ghi nhận về mặt pháp lý tình trạng nhân thân của một người được sinh ra, thông qua đăng ký khai sinh, cá nhân được cấp Giấy khai sinh, là cơ sở xác định nguồn gốc các mối quan hệ nhân thân, quan hệ gia đình; là một trong những chứng cứ pháp lý tạo ra sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa Nhà nước và công dân và có giá trị chứng minh đối với các mối quan hệ khác trong xã hội ví dụ như truy nhận cha, mẹ con, thừa kế di sản, học tập…Đăng ký khai sinh cho một cá nhân là cơ sở đầu tiên để cá nhân đó trở thành công dân một quốc gia, làm phát sinh quyền của mình, công dân thực hiện được các quyền của mình được Nhà nước ghi nhận và là cơ sở để được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Nếu cá nhân không đăng ký khai sinh, cá nhân sẽ không hưởng được các quyền dành cho công dân mà Nhà nước quy định, cũng như công dân sẽ không được bảo vệ khi quyền và lợi ích bị xâm hại. Nếu không có khai sinh thì không có cơ sở chắc chắn để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác thông qua các yếu tố cơ bản như: họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, nơi sinh, thông tin về cha mẹ…

Trong cộc sống, Đăng ký khai sinh có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với người dân, tuy nhiên nếu không thực hiện đúng quy định pháp luật thì sẽ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đăng ký khai sinh đòi hỏi phải được đăng ký chính xác tuyệt đối các thông tin liên quan đến nhân thân của một cá nhân. Nếu trong việc đăng ký khai sinh có sự không chính xác trong việc ghi nhận các thông tin đã đăng ký thì hệ lụy này do người dân gánh chịu.

23/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREDANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

(Đến tháng 11 năm 2017)


STTTên Tổ chức hành nghề công chứngTrưởng Văn phòng/Phòng công chứngCông chứng viên hợp danh/làm việc theo hợp đồngĐịa điểm đặt trụ sởĐiện Thoại
01Phòng Công chứng số 1 - Sở Tư pháp Bến TreNguyễn Văn Tứ

- Lê Thị Thanh Trang

- Huỳnh Đoàn Ngọc Hân

17 Đường CMT8, phường 3, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre02753.810.618
02Văn phòng Công chứng Đồng KhởiVõ Văn ThanhLê Duy Phúc Hải (Công chứng viên hợp danh)Số 89A1, đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0918256585

 

03Văn Phòng Công chứng Tín HữuNguyễn Thị Kim Phượng

Ngô Xuân Hoàng

(Công chứng viên hợp danh)

số 46, đường số 3, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0983.626.700

0917.491.319

04Văn phòng Công chứng Kim CươngĐặng Thị Kim Cương

Nguyễn Thị Diễm Phương

(Công chứng viên hợp danh)

89A khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre0918.267.7570
02753.869.459
05Văn phòng Công chứng Bình ĐạiNgô Công Lợi

Nguyễn Văn Rậm

(Công chứng viên hợp danh)

08 đường Nguyễn Đình Chiểu, ấp Bình Thuận, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre0983.407.100
06Văn phòng Công chứng Ba TriPhan Văn Trung

Phạm Thị Minh Thủy

(Công chứng viên hợp danh)

27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

0918.813.969

02753.859.234

07Văn phòng Công chứng Hà Thị TiếnHà Thị Tiến 78A, quốc lộ 60, khu phố &, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

0978862448

02753.663.646

08Văn phòng Công chứng Thạnh PhúNguyễn Văn Mộng

Lê Văn Hòa

(Công chứng viên hợp danh)

ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre0753.870.771
09

Văn phòng Công chứng

Phan Đức Toàn

Phan Đức Toàn

Huỳnh Thị Kim Yến

(Công chứng viên hợp danh)

Số 50A, ấp Phước Hậu, xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre0912.223.045
10Văn phòng công chứng Nguyễn Văn MớiNguyễn Văn Mới

Nguyễn Minh Phương

(Công chứng viên hợp danh)

Số 1, ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre0918.262.633
11Văn phòng công chứng Lê Hùng DũngLê Hùng Dũng Số 59, ấp An Hòa, xã An Hiệp, Châu Thành, Bến Tre

0908.869.750

02753.626.626


09/11/2017 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 10/7/2013Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 10/7/2013

THÔNG BÁO Số 554

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của bà Lê Thị Xương, hiện cư ngụ tại: ấp 01, xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

- Diện tích: 1.101,1 m2 ;

- Loại đất: CLN;

- Thuộc một phần thửa số 51, tờ bản đồ số 01;

b) Tài sản trên đất là cây trồng các loại bao gồm: cây dừa, tràm bông vàng, cây điều, cây sơ ri.

- Tài sản toạ lạc tại: xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của bà Lê Thị Xương, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 1.277.788.831đ (một tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn tám trăm ba mươi mốt đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ (năm trăm ngàn đồng)/ 01 hồ sơ.

* Tiền đặt trước: 100.000.000đ (một trăm triệu đồng)/ 01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 10/07/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/08/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 16/08/2013 (Thứ hai) tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (trong khuôn viên Sở Tư pháp) hoặc điện thoại : 075.3823667 – 0753512081- 0753512083, Fax: 0753512080, website: sotuphap.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

 

02/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017Hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017

Thực hiện Công văn số 2076/BTP-PBGDPL ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017 và Công văn số 3025/UBND-NC ngày 04 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017, Sở Tư pháp hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017 (Ngày Pháp luật năm 2017) với nội dụng cụ thể như sau:

 Chủ đề Ngày Pháp luật năm 2017: "Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cải cách hành chính, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp".

Nội dung trọng tâm: Căn cứ điều kiện thực tiễn và nhiệm vụ chính trị, các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tập trung vào các nội dung sau:

 Về công tác hoàn thiện thể chế: Rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, quy định pháp luật về đầu tư, kinh doanh, xuất nhập khẩu, thuế, đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, tín dụng…; các chính sách tư vấn, hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp;

Về công tác tổ chức thi hành pháp luật: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; quán triệt, truyền thông, phổ biến nội dung chính sách, quy định mới ban hành; tác động, hiệu ứng của chính sách, pháp luật đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp; các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý; quyền, nghĩa vụ của công dân và biện pháp bảo đảm thực hiện; pháp luật về đất đai, vệ sinh, an toàn thực phẩm, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền biên giới lãnh thổ; phòng, chống tham nhũng, lãnh phí; bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền tài sản, sở hữu trí tuệ; các điều ước, thỏa thuận quốc tế nhất là các thỏa thuận hợp tác về pháp luật và tư pháp mà Việt Nam là thành viên.

 Thông tin về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động đầu tư kinh doanh; triển khai nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; tăng cường theo dõi thi hành pháp luật, các vấn đề pháp lý phát sinh trong bối cảnh hội nhập quốc tế; các vấn đề dư luận quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội.

 Giáo dục ý thức và lợi ích của việc tuân thủ, chấp hành pháp luật; xây dựng, bồi dưỡng, nhân rộng, khen thưởng, tôn vinh gương người tốt, việc tốt, điển hình trong xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; phê phán, đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn xã hội; nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân trong chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; phát huy tinh thần gương mẫu tuân thủ, chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để hình thành nhân cách con người Việt Nam phát triển toàn diện; củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào chế độ; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật để tạo đồng thuận xã hội; có các giải pháp cụ thể để tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

 Hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017: Hưởng ứng Ngày Pháp luật là việc làm hàng ngày, thường xuyên của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người dân; trong đó tập trung vào đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến các luật, pháp lệnh và các văn bản mới liên quan đến chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hoặc liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp từ ngày 01/10 đến ngày 30/11/2017.

Các hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật phải phù hợp, thiết thực, hiệu quả, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, cụ thể là:

Tổ chức lễ hưởng ứng Ngày Pháp luật hoặc lồng ghép hưởng ứng thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm, qua hoạt động chính trị, chuyên môn phù hợp với điều kiện thực tiễn; lồng ghép trong triển khai hoạt động xây dựng, thi hành, bảo vệ pháp luật; tổ chức lễ ký kết chương trình phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; tổ chức đối thoại chính sách pháp luật; xây dựng, phát hiện, nhân rộng mô hình hay, cách làm mới, hiệu quả; tổ chức các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng để nâng cao năng lực xây dựng, thi hành thể chế, chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; ngày tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn phí; "Ngày Pháp luật" định kỳ hàng tháng; "Tiết học pháp luật"…

Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong phổ biến, giáo dục pháp luật; phát động, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật (trực tuyến, sân khấu hóa); sử dụng hiệu quả mạng lưới thông tin cơ sở, các phương tiện thông tin đại chúng; nhân rộng mô hình ngày hội pháp luật; thiết lập chuyên trang, chuyên mục phát thanh, truyền hình để bình luận, đối thoại chính sách, định hướng dư luận; áp phích, pa-nô, băng rôn, cờ, phướn trên đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; ra quân tình nguyện, hoạt động giáo dục ngoại khóa ngoài giờ lên lớp gắn với giáo dục khởi nghiệp; tư vấn pháp luật, thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, nhất là vụ việc tham gia tố tụng; mở phiên tòa xét xử lưu động; lồng ghép qua lễ hội, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, phòng, chống tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật có sự tham gia rộng rãi của Nhân dân.

Tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động nhân dân tuân thủ, chấp hành chính sách, pháp luật, củng cố khối đoàn kết cộng đồng, gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", Phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Thời gian thực hiện Ngày Pháp luật năm 2017: Các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tổ chức thường xuyên, liên tục trong cả năm, tập trung vào 02 tháng, bắt đầu từ ngày 01/10 đến hết ngày 30/11/2017, cao điểm từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2017.

Trong tuần lễ cao điểm từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2017, tổ chức tuyên truyền, cổ động trực quan chủ đề, khẩu hiệu về Ngày Pháp luật năm 2017 qua hệ thống áp phích, pa-nô, băng rôn, cờ, phướn trên các tuyến đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; chú ý lựa chọn khẩu hiệu phù hợp với đối tượng, địa bàn.

13/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Phân biệt hòa giải ở cơ sở với các loại hình hòa giải khácPhân biệt hòa giải ở cơ sở với các loại hình hòa giải khác

Ở nước ta hiện nay có những hình thức hòa giải khác nhau như: Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án, hòa giải trong tố tụng trọng tài, hòa giải tranh chấp lao động, hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và hòa giải ở cơ sở.

Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án

Hòa giải trong tố tụng dân sự của Tòa án là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động, trừ những trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Trường hợp các đương sự thống nhất thỏa thuận với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó, thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

 Hòa giải trong tố tụng trọng tài      

Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài, các bên tranh chấp có thể thương lượng, tự hòa giải hoặc đề nghị trọng tài giúp các bên hòa giải. Trọng tài cũng có thể chủ động tự mình tiến hành hòa giải các bên. Nếu các bên thông qua hòa giải giải quyết được tranh chấp thì có thể yêu cầu trọng tài viên xác nhận sự thỏa thuận đó bằng văn bản, lập biên bản hòa giải thành và công nhận sự thỏa thuận của các bên. Văn bản này có giá trị như quyết định trọng tài - có hiệu lực thi hành, không bị kháng cáo.

Hòa giải tranh chấp lao động

Hòa giải tranh chấp lao động được Hội đồng trọng tài lao động hoặc hòa giải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hòa giải viên lao động) tiến hành khi có tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề giữa người lao động với người sử dụng lao động. Thẩm quyền và trình tự hòa giải tranh chấp lao động được quy định tại Bộ luật Lao động.

 Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Đây là việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp đối với các tranh chấp về đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.

Tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định việc hòa giải tranh chấp đất đai như sau:

“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

Hòa giải ở cơ sở

Khác với các loại hình hòa giải nêu trên, hòa giải ở cơ sở trước hết xuất phát từ đặc điểm lịch sử, truyền thống, tâm lý dân tộc. Ở Việt Nam, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước với nhu cầu làm thủy lợi, đắp đê, chống lụt, thêm vào đó là nguy cơ giặc ngoại xâm luôn đe dọa đã khiến cho người Việt cổ sớm hình thành lối sống cộng đồng, truyền thống đoàn kết, tương thân, thương ái. Trong các làng xã cổ truyền, người nông dân quen sống với các mối quan hệ xóm làng, huyết thống ràng buộc nhau một cách chặt chẽ, do đó họ rất coi trọng tình làng, nghĩa xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau”. Nếu có xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, hàng xóm láng giềng thì họ chủ trương “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười”, xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn, xây dựng cộng đồng hòa thuận, yên vui, hạnh phúc. Vì vậy, hòa giải được xem là phương án tối ưu để giải quyết xích mích, mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân…

Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định: “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này”.

Như vậy, hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những vi phạm pháp luật nhằm giữ gìn đoàn kết và tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân, củng cố phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư. Hoạt động hòa giải được thông qua các hòa giải viên ở các tổ hòa giải. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở để hoạt động hòa giải theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở. Cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác.

10/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 09/01/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 09/01/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 383 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Đằng và bà Nguyễn Thị Kim Thoa, địa chỉ tại: ấp Mỹ Sơn Đông, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 414,3 m2;

- Thuộc thửa đất số 237A, tờ bản đồ số 04;

- Loại đất: CLN.

2. Cây trồng trên đất 

- Măng cụt > 15 năm: 07 cây;

- Bòn bon > 10 năm: 12 cây;

- Dừa từ 3 đền 5 năm: 04 cây;

- Bưởi > 4 năm: 04 cây;

- Tắc > 3 năm: 08 cây.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: Ấp Mỹ Sơn Đông, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Đằng và bà Nguyễn Thị Kim Thoa, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 50.022.410đ (Năm mươi triệu, không trăm hai mươi hai ngàn, bốn trăm mười đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 150.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 10.000.000đ/hồ sơ, chuyển vào tài khoản Trung tâm Dịch vụ đấu giá số 72910000091403 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Mỳ Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 10 giờ 30 phút ngày 22/02/2018 (Trước khi mở cuộc ấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 388 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Trang Sĩ Tri và bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền, cư ngụ tại: ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 3.359,0 m2 (trong đó 197,5 m2 đất ONT và 3.161,5 m2 đất CLN, trong 3.161,5 m2 đất CLN có 525,5 m2 thuộc HLLG và chỉ giới xây dựng).

- Thuộc thửa đất số 157, tờ bản đồ số 12.     

2. Công trình xây dựng

* Khu nhà chính (khu A)

- Diện tích xây dựng: 70,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Móng, khung, cột là bêtông cốt thép; Nền gạch ceramic + gạch tàu; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm, sơn nước; Trần nhựa; Mái lợp tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch và mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Khu nhà chính (khu B)

- Diện tích xây dựng: 33,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Móng, khung, cột là bêtông cốt thép; Nền gạch tàu; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm + lưới B40; Mái lá.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu, mái lá bị rách nát nhiều chỗ.

* Khu nhà phụ

- Diện tích xây dựng: 48,32m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền gạch ceramic; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm, sơn nước; Trần nhựa.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà bao che khu nhà phụ 1

- Diện tích xây dựng: 48,32m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột thép; Nền láng ximăng; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà phụ 2 (khu A, B)

- Diện tích xây dựng: 16,36m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền láng ximăng;Tường xây gạch ống dày 100 cm; Trần nhựa; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng và tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà bao che khu nhà phụ 2

- Diện tích xây dựng: 42,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông đúc sẵn + cột gỗ; Nền láng ximăng; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà xấy nhãn (khu A)

- Diện tích xây dựng: 429,81m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông cốt thép; Nền đất; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà xấy nhãn (khu B)

- Diện tích xây dựng: 53,5m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông cốt thép; Nền gạch tàu; Mái lá.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu, mái lá có nhiều chỗ bị rách nát

* Lò xấy nhãn:

* Lò 1, 2

- Diện tích xây dựng: 82,88m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Thành lò xây gạch ống dày 100cm;

* Lò 3, 4:

- Diện tích xây dựng: 78,4m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Thành lò xây gạch ống dày 100cm;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, thành lò có nhiều chỗ bị rạn nứt

* Nhà vệ sinh

- Diện tích xây dựng: 3,96m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền gạch ceramic; Vách tường xây gạch 100 cm; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền gạch và mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Hồ nước

- Thể tích: 6,6 m3;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

- Kết cấu chính: Thành hồ xây gạch ống 100 cm;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, thành hồ có vài chỗ bị rạn nứt.

3. Cây trồng trên đất

- Cây Bòn bon loại 2: 06 cây, cây trồng từ 6 năm tuổi, chưa cho trái;

- Cây Nhãn loại 3: 31 cây, cây trồng 02 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Xoài loại 3: 02 cây, cây trồng 03 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Xoài loại 2: 01 cây, cây trồng 05 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dừa loại 1: 01 cây, cây trồng 10 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dừa loại 3: 03 cây, cây trồng 02 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Thanh long loại 2: 02 trụ, cây trồng 01 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Mận loại 1: 04 cây, cây trồng 05 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dâu loại 4: 01 cây, cây trồng 03 năm tuổi, đã cho trái;

* Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Trang Sĩ Tri và bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.343.117.169đ (Một tỷ, ba trăm bốn mươi ba triệu, một trăm nười bảy ngàn, một trăm sáu mươi chín đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 268.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

 - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 22/02/2018;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 390 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Trần Duy Khương (Doanh nghiệp tư nhân Duy Khương), địa chỉ tại: 354 ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 07, thửa số 689:

- Diện tích: 88,9 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AM 699416, số vào sổ cấp giấy chứng nhận HPN/01799 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 16/5/2008.

- Giá khởi điểm (1) là: 76.712.500 đ (Bảy mươi sáu triệu, bảy trăm mười  hai ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (1) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

2. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 07, thửa số 512:

- Diện tích: 3.219,0 m2;

- Mục đích sử dụng: 300,0 m2 đất ONT và 2.919,0 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 489205, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPN/01440 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 10/8/2007.

- Giá khởi điểm (2) là: 843.837.500 đ (Tám trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm ba mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (2) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

3. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 408 và thửa số 610:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 408

- Diện tích: 1.260,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 478003, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HNT/01835 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 16/7/2007.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 610:

- Diện tích: 1.068,0 m2

- Mục đích sử dụng: 300,0m2 đất ONT và 768,0m2 đất HNK;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 478446, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HNT/01865 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 06/8/2007.

- Giá khởi điểm (3): 609.187.500 đ (Sáu trăm lẻ chín triệu, một trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm đồng)

- Tài sản (3) tọa lạc tại: xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

4. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa số 37:

- Diện tích: 111,1 m2 ;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259775, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP7/02375 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 30/3/2009.

- Giá khởi điểm tài sản (4): 115.520.000đ (Một trăm mười lăm triệu, năm trăm hai mươi ngàn đồng).

- Tài sản (4) tọa lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

5. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 36 và thửa số 37:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 36

- Diện tích: 773,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất MNC;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 873795, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/04189 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 37

- Diện tích: 406,0 m2 đất ODT, HNK;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 873796, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/04190 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007

- Giá khởi điểm (5) là: 723.805.000 đ (Bảy trăm hai mươi ba triệu, tám trăm lẻ năm ngàn đồng).

- Tài sản (5) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

6. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 46, thửa số 133:

- Diện tích: 1.555,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AN 381153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/05967 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007.

- Giá khởi điểm (6): 370.927.500 đ (Ba trăm bảy mươi triệu, chín trăm hai mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (6) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

7. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 46, thửa số 157:

- Diện tích: 432,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AM 412903, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/05218 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 24/4/2008.

- Giá khởi điểm (7): 131.765.000 đ (Một trăm ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (7) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

8. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 47, thửa số 19:

- Diện tích: 1.009,3 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BA 170179, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00081 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre­ cấp ngày 25/01/2010.

- Giá khởi điểm (8): 297.825.000 đ (Hai trăm chín mươi bảy triệu, tám trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (8) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

9. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 47, thửa số 68:

- Diện tích:  641,7 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BA 170180, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00082 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre­ cấp ngày 25/01/2010.

- Giá khởi điểm (9): 197.647.500 đ (Một trăm chín mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (9) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

10. Quyền sử dụng đất thuộc 11 thửa trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

Số

TT

Giấy CN QSDĐ sốSố vào sổ cấp GCN QSDĐThửa đất số

Tờ

bản đồ

Mục đích sử dụngDiện tích (m2)
01AO259753HPH/0679113946HNK173,0
02AO259757HPH/0679414046HNK630,0
03AO259754HPH/0679214146HNK789,0
04AO259756HPH/0679314246HNK237,0
05AM729723HPH/0564214446LUA1.122,0
06AM729724HPH/0564314546LUA1.219,0
07AL953541HPH/0485115146CLN1.417,0
     08BA170308CH0008915246LUA873,3
09AM412904HPH/0521915346LUA1.691,0
10BA170310CH0009148646LUA1.785,5
11BA170307CH0008850746CLN740,7
TỔNG CỘNG10.677,5

- Giá khởi điểm tài sản (10) là: 2.687.645.000 đ (Hai tỷ, sáu trăm tám mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (10) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

11. Quyền sử dụng đất thuộc 13 thửa trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

 

Số

TT

Giấy CN QSDĐ sốSố vào sổ cấp GCN QSDĐThửa đất số

Tờ

bản đồ

Mục đích sử dụngDiện tích (m2)
01AK998336HPH/044225146LUA2.087,0
02AN385027HPH/060645246LUA2.039,0
03

AL878509

 

HPH/04576

 

53

 

46

 

ONT300,0
HNK1.902,0

04

 

AK410769

 

HPH/03958

 

54

 

46

 

ONT300,0
CLN5.627,0

05

 

AM729966

 

HPH/05730

 

55

 

46

 

ONT300,0
HNK1.422,0
06AL879257HPH/047106246CLN1.106,0
07AN409164HPH/063176446LUA864,0
08AN409163HPH/063166546LUA1.004,0
09AK410768HPH/0395949446CLN2.050,0

10

 

AO206200

 

HPH/07114

 

587

 

46

 

ONT100,0
CLN2.401,6
11BC 159081CH0073860446ONT100,0
CLN2.135,6
12AQ224626HPH/0720519527CLN1.005,1

13

 

AM729057

 

HPH/05487

 

253

 

27

 

ONT150,0
HNK2.321,5
TỔNG CỘNG27.214,8

- Giá khởi điểm tài sản (11) là: 6.077.435.000 đ (Sáu tỷ, không trăm bảy mươi bảy triệu, bốn trăm ba mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (11) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

12. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 05 và thửa số 65:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 05

- Diện tích: 268,1 m2;

- Mục đích sử dụng: 100,0 m2 đất ODT và 168,1 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259652, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP6/01402 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 17/3/2009.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 65

- Diện tích: 89,4 m2;

- Mục đích sử dụng: đất ODT;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259539, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP6/01397 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 19/3/2009.

- Giá khởi điểm (12) là: 364.610.000 đ (Ba trăm sáu mươi bốn triệu, sáu trăm mười ngàn đồng).

- Tài sản (12) tọa lạc tại: phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

13. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 75 và thửa số 751:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 75

- Diện tích: 709,0 m2;

- Mục đích sử dụng: 200,0 m2 đất ODT và 509,0 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 206606, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HBP/03641 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 19/6/2009.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 751

- Diện tích: 200,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AQ 181073, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HBP/03761 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 14/9/2009.

- Giá khởi điểm (13) là: 532.475.000 đ (Năm trăm ba mươi hai triệu, bốn trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (13) tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Duy Khương (DNTN Duy Khương) do Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

    - Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1 + 2+ 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10 + 11 + 12 + 13) là: 13.029.392.500 đ (Mười ba tỷ, không trăm hai mươi chín triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, năm trăm đồng).

   * Lưu ý: Tài sản trên bán từng mục (1 + 2+ 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10 + 11 + 12 + 13) theo nhu cầu người sử dụng.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là: 500.000đ/hồ sơ (tài sản 2), (tài sản 3), (tài sản 5), (tài sản 10), (tài sản 11) (tài sản 13); 150.000 đ/hồ sơ (tài sản 1) và 200.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), (tài sản 6), (tài sản 07), (tài sản 8), (tài sản 9), (tài sản 12), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là: 15.000.000đ/hồ sơ (tài sản 1), 168.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 121.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 3), 23.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), 164.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 5), 74.000.000 đ (tài sản 6), 26.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 7),  59.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 8) 39.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 9), 537.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 10), 1.215.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 11), 72.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 12), 106.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 13) nộp vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận,  xã Nhơn Thạnh, xã Phú Hưng, xã Bình Phú, phường 6, phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo tài sản, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá tài sản vào lúc: 09 giờ ngày 26/01/2018; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 01 (Kèm QC)

            Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất trên đất của ông Đinh Hồng Em và bà Võ Thị Kim Chi, địa chỉ tại: ấp 2, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 684,7m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 45;

       2. Công trình xây dựng đã qua sử dụng trên đất:

* Nhà chính:

- Diện tích xây dựng 4,7m x 3m = 14,1m2.

- Kết cấu: Nhà ở bán kiên cố, độc lập cấp 4 (01 trệt); móng, khung, cột bê tông cốt thép; nền lót gạch ceramic, tường xây gạch D100 + quét vôi, tường ốp gạch men cao 1,2m; cửa đi chính và cửa sổ sắt kính, trần nhựa, xà gồ gỗ; hệ thống điện nước đã hoàn chỉnh.

- Hiện trạng: đang sử dụng bình thường.

* Mái che:

- Diện tích 4,7m x 40,2m = 188,94m2.

- Kết cấu: cột bê tông cốt thép, nền láng xi măng, xà gồ gỗ, mái lợp tol.

- Hiện trạng: đang sử dụng bình thường.

* Nhà phụ (nhà sàn):

- Diện tích xây dựng: (2,4m x 4,7m) + (10,4m x 4,5m) = 58,08m2.

- Kết cấu: cột bê tông cốt thép, sàn lót gỗ tạp, tường xây gạch D100 + quét vôi, trần nhựa, xà gồ gỗ, mái lợp tole.

Hiện trạng: Đang sử dụng bình thường.

* Nhà kho:

- Diện tích xây dựng: (2,9m x 6,8m) = 19,72m2.

- Kết cấu: móng, khung cột bê tông cốt thép, vách tole, sàn lót gỗ tạp, xà gồ gỗ, mái lợp tole, không trần.

- Hiện trạng: Đã cũ, vẫn sử dụng bình thường.

* Tường rào:

- Diện tích xây dựng 26,38m x 2,9m = 76,5m2.

- Kết cấu: móng, khung, cột bê tông cốt thép, tường xây gạch cao 0,8m, phía trên lưới B40 cao 2,1m.

- Hiện trạng: Lưới B40 có dấu hiệu gỉ sét, đang sử dụng bình thường.

* Hàng rào lưới B40:

- diện tích 37,5m x 1,7m = 63,75m2

- Hiện trạng: Lưới B40 có dấu hiệu gỉ sét, đang sử dụng bình thường.

* Hồ chứa nước:

- Diện tích xây dựng: (2,6m x 10,4m x 1,6m) = 43,26) m3

- Kết cấu: Móng, khung, cột gạch, tường xây gạch + tô tường D200, nền láng xi măng.

- Hiện trạng: hồ đã cũ, đang sử dụng bình thường.

3. Cây trồng trên đất:

- Xoài loại 1 (từ 4 đến dưới 6 năm tuổi): 05 cây

- Xoài loại 2 (từ 2 đến 4 năm tuổi): 02 cây

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc: ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Đinh Hồng Em và bà Võ Thị Kim Chi, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.430.063.282đ (Một tỷ, bốn trăm ba mươi triệu, không trăm sáu mươi ba ngàn, hai trăm tám mươi hai đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 286.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 22/02/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá). 


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 02 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất của ông Trương Sơn Bồi và bà Nguyễn Thị Kim Hoa, hiện cư ngụ tại: xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất và cây trồng rên đất thửa 735, tờ bản đồ số 11:

a) Quyền sử dụng đất

- Diện tích: 902,7m2 (gồm 100m2 đất ở va 802,7m2 đất trồng cây lâu năm);

b) cây trồng trên đất: gồm 03 cây dừa lớn, 01 cây sa kê đã cho trái, 07 cây xoài và 03 cây cóc khoảng 4 năm tuổi.

* Giá khởi điểm: 711.890.000đ (Bảy trăm mười một triệu, tám trăm chín mươi ngàn đồng).

2. Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thửa 736, tờ bản đồ số 11:

a) Quyền sử dụng đất:

- Diện tích 895,8m2 (gồm 200m2 đất ở và 695,8m2 đất trồng cây lâu năm).

b) Vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất:

- Nhà chính: Diện tích 151,4m2 (15,14m x 10m). Kết cấu: Nền gạch ceramic, vách tường, khung cột bê tông, trần thạch cao, mái tole.

- Nhà phụ: Diện tích: 72,06m2 (15,14m x 4,76m ). Kết cấu: nền gạch ceramic, vách thạch cao, tường, khung cột thép, trần thạch cao, mái tole.

- Nhà tiền chế, nhà vệ sinh và hồ nước.

c) Cây trồng trên đất:

- Dừa cho trái ổn định: 12 cây;

- Xoài khoản bốn năm tuổi: 02 cây;

- Cóc khoản bốn năm tuổi: 04 cây.

* Giá khởi điểm (a+b+c): 1.087.060.000đ (Nột tỷ, không trăm tám mươi bảy ngàn, không trăm sáu mươi ngàn đồng)

* Tài sản (1 + 2) tọa lạc tại: Xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu ông Trương Sơn Bồi và bà Nguyễn Thị Kim Hoa, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. 

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2) là: 1.798.950.000đ (Một tỷ, bảy trăm chín mươi tám triệu, chín trăm năm mươi ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên được bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng và đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 10 giờ ngày 22/02/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 05 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm 02 lô xe (có Danh sách kèm theo), cụ thể như sau:

1. Lô số 01: gồm 266 (hai trăm sáu mươi sáu) chiếc xe bán dạng phế liệu (265 xe mô tô 02 bánh, trong đó có 22 xe bị tháo bỏ đầu máy, bình xăng con, pô; 01 xe đầu kéo). Giá khởi điểm: 298.000.000 đ (Hai trăm chín mươi tám triệu đồng).

2. Lô số 02: gồm 27 (hai mươi bảy chiếc) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng cho đăng ký lại. Giá khởi điểm: 49.000.000 đ (Bốn mươi chín triệu đồng).

- Tài sản đang quản lý tại: kho Công an huyện Ba Tri (địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

     * Lưu ý: Tài sản bán từng lô theo nhu cầu người sử dụng và đối với xe bán dạng phế liệu, người mua trúng đấu giá khi nhận bàn giao xe phải thực hiện cà số khung, đục số máy, các khoản chi phí liên quan người mua chịu.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính từ số 01 đến số 10/QĐ-TTTVPT ngày 03/12/2017 của Công an huyện Ba Tri bán nộp vào ngân sách nhà nước.

    - Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 347.000.000 đ (Ba trăm bốn mươi bảy triệu đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ (lô số 01) và 100.000đ/hồ sơ (lô số 02), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

  * Khoản tiền đặt trước: 59.600.000 đ/hồ sơ (lô số 01) và 9.800.000 đ/hồ sơ (lô số 02) nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Công an huyện Ba Tri (địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 22/01/2018.

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký  và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

23/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 02/3/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 02/3/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 41 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 955,4 m2 (trong đó: 180,0 m2 đất ONT và 775,4 m2 đất trồng cây hàng năm khác);

- Thuộc thửa đất số 444, tờ bản đồ số 6.

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 439068 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00578 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 16/6/2011.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Hàng rào lưới B40. Diện tích 6.2md; trụ xi măng đúc sẳn: 41 trụ.

3. Cây trồng trên đất:

- Cây dừa loại 1: 07 cây, dừa loại 3: 23 cây;

- Cây gừa: 29 bụi

- Khế loại 2: 01 cây

- Tre loại 2: 02 bụi

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 801.810.291đ (Tám trăm lẻ một triệu, tám trăm mười ngàn, hai trăm chín mươi mốt đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 160.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ 30 phút ngày 10/4/2018  tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 42 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Phan Văn Nghĩa và bà Trần Thị Ngoan, hiện cư ngụ tại: 133G2, ấp An Thanh B, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 270 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc một phần thửa đất  số 311, tờ bản đồ số 5 (theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bến Tre thuộc thửa đất số 553, tờ bản đồ số 5).

 - Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 101032, vào sổ cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất số 01810QSDĐ/2206QĐ-UB do UBND thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 12/8/2002 cho hộ ông Phan Văn Nghĩa.

            2. Cây trồng trên đất:

- 01 cây nhãn trên 01 năm tuổi;

- 08 cây bưởi trên 2 năm tuổi;

- 02 cây dừa trên 4 năm tuổi.

- Tài sản toạ lạc tại: xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Phan Văn Nghĩa và bà Trần Thị Ngoan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 131.719.875đ (Một trăm ba mươi mốt triệu, bảy trăm mười chín ngàn, tám trăm bảy mươi lăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 26.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bđấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ 30 phút ngày 10/4/2018  (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 43 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có đặc điểm sau:

1. Quyền sử dụng đất:

a) Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 166, 167, tờ bản đồ số 6.

- Thửa đất số 166, diện tích: 740,4m2; loại đất trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số 167, diện tích: 1.345,5m2; loại đất trồng cây lâu năm;

b) Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 337, tờ bản đồ số 6.

- Diện tích: 181,7 m2; loại đất trồng cây lâu năm;

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01227 QSDĐ/2493 QĐ-UB do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 21/6/2004 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ PN/00242 QSDĐ/3891 QĐ-UB (TX) do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 24/3/2005.

- Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất thửa số 166, 167 ngày 27/4/2017 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bến Tre và phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 337 ngày 23/12/2015 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Bến Tre.

2. Công trình xây dựng gắn liền trên thửa đất số 166, 167

a) Nhà bán kiên cố: có diện tích 22,63m2. Kết cấu: Nền láng ximăng, khung, cột gỗ, kèo gỗ, vách gỗ, mái tole. Hiện trạng: nhà đã xuống cấp, cột gỗ, vách gỗ mối mọt đục khoét...

b) Hàng rào lưới B40. Kết cấu: cao khoảng 1,6m, dài 194,2md, trụ đỡ BTCT, kèo rào xung quanh các thửa đất. Hiện trạng: Lưới bị gỉ sét, hư hỏng.

3. Cây trồng trên đất:

- Dừa loại 1: 90 cây (trong đó có 03 cây trên thửa đất số 337);

- Dừa loại 3: 10 cây;

- Bưởi da xanh loại 2: 10 cây;

- Nhãn: 01 cây;

- Mận: 01 cây.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.283.019.650đ (Một tỷ, hai trăm tám mươi ba triệu, không trăm mười chín ngàn, sáu trăm năm mươi đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản).

* Khoản tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: 256.000.000đ/01 hồ sơ (nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi).

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/4/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 -0275.3512083 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

22/03/2018 11:00 SAĐã ban hành
Một số vấn đề về nuôi con nuôi thực tếMột số vấn đề về nuôi con nuôi thực tế
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, khi mà các bên trở thành cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì giữa các bên có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối v...

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, khi mà các bên trở thành cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì giữa các bên có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con và ngược lại của con đối với cha mẹ theo quy định của pháp luật.

Trong thực tế, việc nuôi con nuôi rất phổ biến nhưng việc đăng ký nuôi con nuôi thì không phải ai cũng biết và thực hiện. Hầu hết người dân nhìn nhận vấn đề về nuôi con nuôi còn khá sơ sài, đa số đều làm theo cảm tính, chưa thấy hết các quyền, nghĩa vụ của người nhận cũng như người được nhận làm con nuôi. Một số người dân còn cho rằng việc nhận con nuôi chỉ để thể hiện tình cảm, nếu khi nào không muốn là cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì có thể tự chấm dứt hoặc có trường hợp về mặt thực tế họ có mối quan hệ là cha mẹ nuôi và con nuôi thực thụ, có công nuôi dưỡng, chăm sóc từ nhỏ đến lớn nhưng về mặt pháp lý họ không có bất cứ giấy tờ nào thể hiện là cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau.

Thực tế đã có không ít các trường hợp tranh chấp tài sản xoay quanh vấn đề về con nuôi thực tế, cụ thể về mặt thực tế các bên là cha mẹ nuôi, con nuôi của nhau nhưng không làm giấy tờ và cho rằng họ không có con ruột chỉ có con nuôi nên sau khi họ qua đời, tài sản để lại tất nhiên thuộc về người con nuôi nên cũng không làm di chúc. Khi cha mẹ nuôi qua đời, các anh, chị hoặc em của cha, mẹ nuôi với người con nuôi phát sinh tranh chấp về quyền thừa kế và cho rằng người con nuôi không có quyền thừa hưởng phần di sản đó vì chỉ là con nuôi và cũng không có giấy tờ gì chứng minh cho việc nuôi con nuôi. Thế là tranh chấp xảy ra, tình cảm gia đình rạn nứt, quyền lợi của người con nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày 01/01/2011, ngày Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi; đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

Đồng thời theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 03 năm 2011 của Chính phủ về đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế:

Việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký trước ngày 01/01/2011, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Nuôi con nuôi, thì được đăng ký kể từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2015 tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi.

Quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới nhận trẻ em của nước láng giềng cư trú ở khu vực biên giới của nước láng giềng làm con nuôi trước ngày 01/01/2011 mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Căn cứ vào những quy định nêu trên, người dân nếu muốn xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi hợp pháp cần nghiêm túc thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi để đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên cũng như tránh được những tranh chấp đáng tiếc về sau.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị giao ban công tác nội chính 6 tháng đầu năm 2012Hội nghị giao ban công tác nội chính 6 tháng đầu năm 2012
Chiều ngày 11/7/2012, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị giao ban công tác nội chính 6 tháng đầu năm 2012. Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo đến dự và chủ trì hội nghị.

Chiều ngày 11/7/2012, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị giao ban công tác nội chính 6 tháng đầu năm 2012. Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo đến dự và chủ trì hội nghị.

Sáu tháng đầu năm 2012, các cơ quan trong khối Nội chính đã tập trung triển khai thực hiện đạt kết quả công tác quân sự địa phương, công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Công tác tuyển quân, huấn luyện, diễn tập, xây dựng lực lượng đạt chỉ tiêu, kế hoạch đề ra. Lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm; kế hoạch năm an toàn giao thông, bảo vệ an toàn tết Nguyên đán, Festival Dừa lần thứ III và các sự kiện chính trị quan trọng trên địa bàn. Phạm pháp hình sự, tệ nạn xã hội được kéo giảm, tai nạn giao thông giảm cả 3 mặt. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được quan tâm. Công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có tập trung lãnh đạo và đạt kết quả khá tốt. Tổ chức bộ máy các cơ quan khối nội chính được tập trung củng cố, kiện toàn; đội ngũ cán bộ được tăng cường, bổ sung, chất lượng ngày càng nâng lên. Công tác phối hợp giữa các cơ quan ngày càng đồng bộ, hiệu quả hơn. Từ đó, góp phần quan trọng vào việc phục vụ thiết thực nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà.

 

Tuy nhiên, tình hình tranh chấp khiếu kiện vẫn còn tiền ẩn nhân tố ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. Phạm pháp hình sự được kéo giảm nhưng còn xảy ra nhiều vụ giết người (16/4 vụ, tăng 12 vụ), trong đó có đến 05 vụ giết người trong thân tộc; số người chết vì tai nạn giao thông vẫn còn cao (70/84 người chết); trong đó có nhiều vụ do lỗi chủ quan của người tham gia giao thông. Tình trạng thiếu cán bộ có chức danh tư pháp vẫn chưa có giải pháp khắc phục hiệu quả; tỷ lệ án hủy, án sửa còn cao so với chỉ tiêu quy định.

Kết luận và chỉ đạo hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo ghi nhận và đánh giá cao kết quả đạt được của các cơ quan khối Nội chính; đồng thời lưu ý, trong 6 tháng cuối năm 2012, các cơ quan khối Nội chính tiếp tục quán triệt cho cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan, chiến sỹ thống nhất nhận thức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, lấy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị làm cơ sở nhận xét, đánh giá năng lực cán bộ cuối năm. Tăng cường công tác xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; thực hiện tốt công tác huấn luyện, diễn tập; xây dựng lực lượng, chuẩn bị nguồn giao quân đợt 2/2012 đạt chỉ tiêu; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu; phát hiện, đề xuất giải quyết kịp thời những vụ việc liên quan đến an ninh trật tự, an ninh nông thôn, khu vực biên giới biển. Triển khai đồng bộ và có hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ, nắm chắc tình hình; bảo vệ các mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm; không để xảy ra các hoạt động phức tạp, đột xuất, bất ngờ. Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo yêu cầu cơ quan công an tập trung lực lượng, phương tiện, đẩy mạnh công tác phòng, chống tội phạm; trấn áp mạnh đối tượng lưu manh, côn đồ, hoạt động băng, nhóm; nâng cao tỷ lệ điều tra, khám phá án. Nâng cao chất lượng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; phối hợp các ngành, đoàn thể làm tốt công tác phòng ngừa xã hội. Thực hiện đạt kết quả thực hiện Kế hoạch Năm an toàn giao thông 2012; tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông; kéo giảm tai nạn giao thông trên cả 3 mặt. Tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, nâng cao chất lượng công tác hòa giải; đẩy mạnh hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo ngay tại cơ sở; trong đó, tập trung giải quyết các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài. Tăng cường công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan nội chính; trước mắt, tập trung lãnh đạo, triển khai thực hiện tốt việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI)  “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; triển khai thực hiện có hiệu quả việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị./.

19/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 19/5/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 19/5/2017
22/05/2017 5:00 CHĐã ban hành
Tặng quà cho các đối tượng có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016Tặng quà cho các đối tượng có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016

Ngày 08 tháng 01 năm 2016, Chủ tịch nước ban hành Quyết định 28/QĐ-CTN về việc tặng quà cho các đối tượng có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016.

Mức quà 400.000 đồng tặng:

 Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945 đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong kháng chiến đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng; thân nhân hai liệt sĩ trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng;

Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh bị suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật từ 81% trở lên (bao gồm cả những thương binh loại B được công nhận từ trước ngày 31 tháng 12 năm 1993) đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

Người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng;

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng.

Mức quà 200.000 đồng tặng:

Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh bị suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật từ 80% trở xuống (bao gồm cả những thương binh loại B được công nhận từ trước ngày 31 tháng 12 năm 1993) đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; thương binh đang hưởng chế độ mất sức lao động;

Đại diện thân nhân chủ yếu của liệt sĩ (bố, mẹ, vợ, chồng, con, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ);

 Đại diện gia đình thờ cúng liệt sĩ (anh, em, người được họ tộc ủy nhiệm việc thờ cúng Liệt sĩ);

Người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, suy giảm khả năng lao động từ 80% trở xuống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

 Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

28/01/2016 3:00 CHĐã ban hành
Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 16/6/2015Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 16/6/2015
17/06/2015 9:00 SAĐã ban hành
Hành vi tham nhũng theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũngHành vi tham nhũng theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng
Tham nhũng, theo Từ điển tiếng Việt, là hành vi lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của. Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng...

 

 

Tham nhũng, theo Từ điển tiếng Việt, là hành vi lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của. Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Các chủ thể này lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi. Khi thực hiện hành vi tham nhũng, người tham nhũng sử dụng “chức vụ, quyền hạn” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình hoặc cho người khác. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hay lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng.

Các hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 3 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 gồm các hành vi sau: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi và hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

Ngày 17/6/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng thay thế Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng. Các hành vi tham nhũng được quy định tại các Khoản 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng được xác định như sau:

Hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi bao gồm những hành vi sau đây: Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được nhận cơ chế, chính sách có lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được ưu tiên trong việc cấp ngân sách cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được giao, phê duyệt dự án cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được nhận danh hiệu thi đua, danh hiệu vinh dự nhà nước đối với tập thể và cá nhân; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được cấp, duyệt các chỉ tiêu về tổ chức, biên chế nhà nước cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để không bị kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán hoặc để làm sai lệch kết quả kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được nhận các lợi ích khác cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương.

Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi bao gồm những hành vi sau đây: Sử dụng tài sản của Nhà nước vào việc riêng; cho thuê, cho mượn tài sản của Nhà nước trái quy định của pháp luật; sử dụng tài sản của Nhà nước vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

Hành vi nhũng nhiễu vì vụ lợi là hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhằm đòi hỏi, ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phải nộp những khoản chi phí ngoài quy định hoặc phải thực hiện hành vi khác vì lợi ích của người có hành vi nhũng nhiễu.

Hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi là hành vi cố ý không thực hiện trách nhiệm mà pháp luật quy định cho mình để triển khai nhiệm vụ, công vụ được giao hoặc không thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn liên quan đến nhiệm vụ, công vụ của mình vì vụ lợi.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi bao gồm những hành vi sau đây: Sử dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình để che giấu hành vi vi phạm pháp luật hoặc giúp giảm nhẹ mức độ vi phạm pháp luật của người khác; sử dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình để gây khó khăn cho việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc làm sai lệch kết quả các hoạt động trên.

Tham nhũng được xác định là một trong những nguy cơ, căn bệnh nguy hiểm, là mối đe dọa của toàn xã hội, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Tham nhũng gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cần kiên quyết đấu tranh chống lại các hành vi tham nhũng để  xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

27/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tiêu chí, thang điểm và quy trình phân loại Tổ nhân dân tự quản trên địa bàn tỉnh Bến TreTiêu chí, thang điểm và quy trình phân loại Tổ nhân dân tự quản trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Ngày 28 tháng 4 năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ký Quyết định số 24/2017/QĐ-UBND ban hành Quy định về tiêu chí, thang điểm và quy trình phân loại Tổ nhân dân tự quản trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12 tháng 5 năm 2017.

 Theo đó, có 3 nhóm tiêu chí phân loại Tổ nhân dân tự quản và thang điểm (chấm điểm theo thang điểm 100) gồm: Tiêu chí tổ chức (15 điểm), tiêu chí chế độ sinh hoạt và báo cáo (30 điểm), tiêu chí kết quả hoạt động của Tổ (55 điểm).

Ngoài ra, các trường hợp được cộng điểm thưởng (cộng trực tiếp vào tổng điểm; tổng số điểm cộng không quá 10 điểm) gồm:

Có thành tích trong cảm hóa, giáo dục người vi phạm pháp luật hoàn lương, mỗi trường hợp được cộng 2 điểm.

Phát hiện, tố giác người có hành vi vi phạm pháp luật hoặc tham gia bắt người phạm tội quả tang, mỗi trường hợp được cộng 2 điểm.

 Kịp thời phối hợp, tham gia hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các hộ dân, cá nhân trong Tổ; mỗi trường hợp được cộng 1 điểm (tối đa không quá 2 điểm).

Có thành viên trong Tổ tham gia vào các mô hình trong phòng, chống tội phạm, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, được cộng 1 điểm.

Vận động học sinh bỏ học đi học trở lại, mỗi trường hợp cộng 1 điểm.

Phân loại Tổ nhân dân tự quản theo 4 mức:  Tổ đạt từ 80 điểm trở lên: Phân loại “Mạnh”. Tổ đạt từ 70 đến dưới 80 điểm: Phân loại “Khá”. Tổ đạt từ 50 đến dưới 70 điểm: Phân loại “Trung bình”. Tổ đạt dưới 50 điểm: Phân loại “Yếu”.

Thẩm quyền, trình tự, thời gian tự chấm điểm, phân loại Tổ nhân dân tự quản:

          Hàng năm, Tổ nhân dân tự quản tiến hành tổng kết, tự đánh giá chấm điểm và báo cáo Hội đồng bảo vệ an ninh, trật tự ấp, khu phố xem xét. Trước ngày 01 tháng 10, Hội đồng bảo vệ an ninh, trật tự ấp, khu phố đề nghị Thường trực Ban Chỉ đạo phòng, chống AIDS, tội phạm, tệ nạn xã hội và xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc xã, phường, thị trấn (Ban Chỉ đạo 138) xem xét, thẩm định đối với kết quả tự chấm điểm phân loại của Tổ nhân dân tự quản; tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp công nhận.

 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ vào kết quả do Thường trực Ban Chỉ đạo 138 cùng cấp tham mưu, quyết định công nhận và thông báo cho Tổ nhân dân tự quản biết; đồng thời báo cáo kết quả phân loại về Công an huyện, thành phố trước ngày 15 tháng 10 hàng năm.

Trước ngày 30 tháng 10 hàng năm, Công an huyện, thành phố tổng hợp gửi kết quả phân loại Tổ nhân dân tự quản về Ủy ban nhân dân cấp huyện và Giám đốc Công an tỉnh để báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi, chỉ đạo.

01/06/2017 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 18/6/2013Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 18/6/2013

THÔNG BÁO SỐ 483

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Lê Hùng Dũng và bà Trần Thị Kim Nhung, địa chỉ: số 381E khu phố 2, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

1. Về đất thuộc thửa số 184, 185; tờ bản đồ số 11;

- Diện tích đất: 2.272,9 m2;

- Loại đất: 400m2 đất ở đô thị (ODT) và 1.872,9 m2 đất trồng cây lâu năm (CLN);

* 2. Nhà ở nằm trên thửa đất số 184

- Loại nhà cấp 4, xây dựng năm 2008. Kết cấu: vách gạch, khung cột bêtông cốt thép, mái ngói.

- Diện tích sàn và xây dựng: 333,02 m2;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AO 191512, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/06636 do UBND Thị xã Bến Tre (nay là TP Bến Tre) cấp ngày 22/01/2009 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BA176383, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00200 do UBND thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre cấp ngày 08/4/2010.

- Tài sản (1 + 2) tọa lạc tại: số 381E Khu phố 2, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất ông Lê Hùng Dũng và bà Trần Thị Kim Nhung do Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1 + 2): 3.645.000.000 đ (Ba tỷ sáu trăm bốn mươi lăm triệu đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 19/06/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/07/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 25/07/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  500.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trước: 180.000.000đ/hồ sơ;


 

THÔNG BÁO Số 481

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ông Nguyễn Văn Tân bà Nguyễn Thị Ngọc Hiển, địa chỉ tại: 16/7 khu phố 2, phường Tân Thuận Đông, Quận 7, thành phố Hồ Chi Minh.

1) Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 1057,3016.

- Diện tích: 4.318 m2 (trong đó: 250 m2 đất ONT, 2.648 m2 ĐRM và 1.420 m2 đất trồng cây hàng năm khác)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số vào sổ 03244 QSDĐ/2963/QĐ-UB (H) do UBND huyện Mỏ Cày (nay là huyện Mỏ Cày Nam) cấp ngày 31/8/2004 và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số vào sổ H00327 do UBND huyện Mỏ Cày (nay là huyện Mỏ Cày Nam) cấp ngày 02/11/2005

2) Tài sản trên đất là nhà kho diện tích 250 m2

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc Quyền sử sụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Tân và bà Nguyễn Thị Ngọc Hiển do Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá là (1+2): 3.361.400.000 đ (ba tỷ ba trăm sáu mươi mốt triệu bốn trăm ngàn đồng);

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 19/06/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 03/07/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 05/07/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trước: 170.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO Số 482

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của bà Đặng Thanh Vi (là người có tài sản thế chấp vay cho bà Nguyễn Thị Phương Hà – DNTN Sắc Màu), địa chỉ: số 463B1/16, khu phố 6, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

1. Về đất thuộc thửa số 104, tờ bản đồ số 39

- Diện tích đất: 150,1 m2;

- Loại đất: 70 m2 đất ở đô thị (ODT) và 80,1 m2 đất trồng cây lâu năm (CLN);

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AK 873537, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPK/03108 (TX) do UBND Thị xã Bến Tre (nay là TP Bến Tre) cấp ngày 07/10/2007.

- Giá khởi điểm (1): 814.740.000 đ ( Tám trăm mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng)

2. Về đất và tài sản trên đất thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 33

a) Về đất:

- Diện tích đất: 196,7 m2;

- Loại đất: 132,5m2 đất ở đô thị (ODT) và 64,2 m2 đất lúa (LUA);

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 004419, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPK/02119 (TX) do UBND Thị xã Bến Tre (nay là TP Bến Tre) cấp ngày 13/12/2006.

b) Tài sản trên đất (nhà ở): Loại nhà cấp IV. Kết cấu: nền gạch Ceramic, vách gạch, cột BTCT, mái tole.

- Diện tích xây dựng: 173,76 m2;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 838292875600097 do UBND Thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 04/11/2008.

- Giá khởi điểm (2): 2.066.988.000 đ (hai tỷ không trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm tám mươi tám ngàn đồng).

3. Về đất và tài sản trên đất thuộc thửa số 280, tờ bản đồ số 33

a) Về đất:

- Diện tích đất: 199,5 m2;

- Loại đất: 139,5m2 đất ở đô thị (ODT) và 60 m2 đất lúa (LUA);

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 004420, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPK/02120 (TX) do UBND Thị xã Bến Tre (nay là TP Bến Tre) cấp ngày 13/12/2006.

b) Tài sản trên đất (nhà ở): Loại nhà cấp IV. Kết cấu: nền gạch Ceramic, vách gạch, cột BTCT, mái tole.

- Diện tích xây dựng: 205,5 m2;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 838292875600098 do UBND Thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 04/11/2008.

- Giá khởi điểm (3): 2.109.370.000 đ (hai tỷ một trăm lẻ chín triệu ba trăm bảy mươi ngàn đồng).

- Tài sản tọa (1+2+3) lạc tại: Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của bà Đặng Thanh Vi (là người có tài sản thế chấp vay cho bà Nguyễn Thị Phương Hà – DNTN Sắc Màu) do Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 4.991.098.000 đ (Bốn tỷ chín trăm chín mươi mốt ngàn không trăm chín mươi tám ngàn đồng)

* Tài sản bán theo nhu cầu người sử dụng.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 19/06/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 03/07/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 05/07/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ (tài sản 1), (tài sản 2), tài sản 3);

* Khoản tiền đặt trước: 40.000.000đ/hồ sơ (tài sản 1), 103.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 105.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 3);


THÔNG BÁO Số 485

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là một phần diện tích đất trong giấy quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Hoàng Dũng và bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp (người có tài sản bảo lãnh thế chấp vay cho ông Nguyễn Văn Diệu và bà Nguyễn Thị Hiệp), địa chỉ: ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Diện tích đất: 2.000 m2 (trong đó: 50 m2 đất ở nông thôn và 1.950 m2 đất trồng cây lâu năm);

- Thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 141;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 081046, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H06078 do UBND huyện Chợ Lách cấp ngày 29/4/2008.

- Tài sản tọa lạc tại: ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Hoàng Dũng và bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp (người có tài sản bảo lãnh thế chấp vay cho ông Nguyễn Văn Diệu và bà Nguyễn Thị Hiệp) do Ngân hàng TMCP Đông Á- Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 405.000.000đ (Bốn lẻ năm triệu đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 19/06/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 03/07/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 05/07/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO Số 486

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Võ Văn Hiền và bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung, địa chỉ: số 235 ấp 1, xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

- Diện tích đất: 1.006,5 m2;

- Loại đất: HNK (đất trồng cây hàng năm khác);

- Thuộc tờ bản đồ số 17, thửa đất 127;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BD 446274, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất CH 00164 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cấp ngày 31/12/2010

- Tài sản tọa lạc tại: ấp 2, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của của ông Võ Văn Hiền và bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung do Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 445.500.000 đ (Bốn trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 19/06/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 03/07/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 05/07/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trước: 22.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667 – 0753512081 - 0753512083, fax số : 075-3512080 và website: sotuphap.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

 

25/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 08/12/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 08/12/2015

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 473/2015

            Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (công trình xây dựng và cây trồng) của ông Dương Thanh Phong và bà Đỗ Thị Kim Dung, địa chỉ tại: ấp 5, xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

      - Diện tích: 3.477,0 m2 (theo số liệu đo đạc chính quy), ( trong đó: 300,0m2 đất ONT và 3.177,0m2 đất CLN).

      - Thuộc thửa số 72, 73, 74, tờ bản đồ số 01 (số liệu chính quy thửa đất 01, tờ bản đồ số 05);

     * Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB241638, AB241637 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 28/12/2004 và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB796574 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 12/4/2005 cho ông Dương Thanh Phong và bà Đỗ Thị Kim Dung.

       2. Tài sản trên đất:

       a) Công trình xây dựng:

       - Nhà ở: diện tích xây dựng 69,03 m2. Kết cấu: nhà 01 tầng; móng cột bê tông cốt thép; vách tường xây gạch dày 10cm, có ngăn phòng tường bao che chưa tô; nền lát gạch ceramic, mái lợp tole prôximăng, không trần; khung cửa sắt (loại cửa kéo).

       - Nhà kho: diện tích xây dựng 52,2 m2. Kết cấu: nhà 01 tầng; móng cột bê tông cốt thép; vách tường xây gạch dày 10cm, không có ngăn phòng tường bao che chưa tô và có một vách hướng Bắc sử dụng chung với nhà ở; nền tráng ximăng, mái lợp tole tráng kẽm, không trần.

       - Nhà tiền chế: diện tích xây dựng 8,75 m2. Kết cấu: cây gỗ tạp, mái tole kẽm, nền tráng ximăng.

       - Nhà vệ sinh: diện tích 6,0 m2. Kết cấu: Vách tường xây gạch 10cm, tường bao che chưa tô; nền tráng ximăng, mái tole kẽm.

      b) Cây trồng: 01 cây dừa khoảng 06 năm tuổi và 02 cây dừa khoảng 04 năm tuổi.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (công trình xây dựng, cây trồng) của ông Dương Thanh Phong và bà Đỗ Thị Kim Dung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 753.483.390 đ (Bảy trăm năm mươi ba triệu, bốn trăm tám mươi ba ngàn, ba trăm chín mươi đồng).

       Thời gian xem, tham khỏa hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 09/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/01/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút, ngày 19/01/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 70.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 464/2015

            Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất; công trình xây dựng trên đất và hoa màu trên đất của ông Lê Văn Tài, hiện cư ngụ tại: ấp Thanh Bình 2, xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Tổng diện tích: 809 m2 (trong đó 224 m2 đất ONT và 585 m2 đất CLN).

- Thuộc một phần thửa số 862, 863; tờ bản đồ số 03;

2) Công trình xây dựng trên đất: (nhà chính có diện tích là 190 m2, nhà phụ là 49,63 m2, nhà vệ sinh, hồ nước, tường rào, sân nền).

3) Hoa màu trên đất: cây bưởi da xanh, đu đủ, vú sữa, khế, mận, xoài, mít, sa kê, mãng cầu.

- Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: ấp Thanh Bình 2, xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất; công trình xây dựng trên đất và hoa màu trên đất của ông Lê Văn Tài bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 554.487.404đ (năm trăm năm mươi bốn triệu bốn trăm tám mươi bảy ngàn bốn trăm lẻ bốn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ (năm trăm ngàn đồng)/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng)/01 hồ sơ.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 09/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/01/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 19/01/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 467/2015

            Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của bà Ngô Thị Kim Thủy, địa chỉ tại: ấp Vinh Thái, xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:           

      - Diện tích: 136,3 m2 (diện tích lộ giới: 61,6 m2)

      - Loại đất: ONT;

      - Thuộc thửa số 1773, tờ bản đồ số 02 (số liệu chính quy thửa đất 67, tờ bản đồ số 10);

      2. Tài sản trên đất (nhà): gồm 01 phòng khách, 01 phòng ngủ, 01 gian trống, 01 nhà sau, 01 phòng vệ sinh.

      - Nhà trước: diện tích xây dựng 67 m2. Kết cấu: móng bê tông; cột bê tông cốt thép; vách tường xây gạch dày 10cm, sơn nước, tường bên trong dán gạch cao 1,2m, tường mặt tiền dán gạch ceramic; nền lát gạch ceramic; mái lợp tole fibrô ximăng và tole tráng kẽm; cửa chính bằng gỗ lắp kính, cửa phòng bằng gỗ, cửa sổ bằng khung sắt lắp kính; không trần.

      - Nhà sau: diện tích xây dựng 11m2. Kết cấu: móng bêtông; cột bêtông cốt thép; vách tường xây gạch dày 10cm, sơn nước, dán gạch cao 1,6m; nền lát gạch ceramic; mái lợp tole fibrô ximăng; cửa gỗ; không trần.

      - Tài sản (1+2) tọa lạc: ấp Vinh Thái, xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà trên đất của bà Ngô Thị Kim Thủy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

      * Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 363.000.000 đ (Ba trăm sáu mươi ba triệu đồng).

       Thời gian xem, tham khỏa hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 09/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/01/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút, ngày 19/01/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 25.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 466/2015

            Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng gắn liền trên đất của ông Nguyễn Thanh Kiếm và bà Nguyễn Hoàng Yến, cư ngụ tại: ấp Phụng Châu, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất thuộc một phần thửa số 80, tờ bản đồ số 22

- Diện tích: 1.356,5 m2;

- Loại đất: CLN;

2. Cây trồng trên đất gồm: cây nhãn khoảng 03 năm tuổi 20 cây, bưởi 02 năm tuổi là 27 cây, sầu riêng khoảng 06 năm tuổi 03 cây, chanh khoảng 01 năm tuổi 700 cây, chanh mới trồng 100 cây

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phụng Châu, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng gắn liền trên đất của ông Nguyễn Thanh Kiếm và bà Nguyễn Hoàng Yến, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 268.500.000 đ (Hai trăm sáu mươi tám triệu, năm trăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 09/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/01/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút, ngày 19/01/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 465/2015

            Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất và hoa màu trên đất của bà Trần Thị Mỹ Nương, địa chỉ tại: ấp Thanh Sơn 3, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

1) Về đất:

a. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1021

- Diện tích: 300m2.

- Loại đất: ở nông thôn

b. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1022

- Diện tích: 1.106 m2  (trừ diện tích đất mộ là 29m2), diện tích còn lại là: 1.077m2;

- Loại đất: cây lâu năm

c. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1059

- Diện tích: 300 m2

- Loại đất: ở nông thôn

d. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1060

- Diện tích: 285 m2;

- Loại đất: cây lâu năm

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận  550422-002117 do UBND huyện Mỏ Cày, ký cấp ngày 27/4/2001.

2) Về công trình xây dựng trên đất;

          a. Nhà ở 1: Diện tích: 39,96 m2; Dạng nhà cấp 4; kết cấu: Móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền đất, tường bao xây gạch dày 10cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, không tô. Đòn tay gỗ, mái tole fibro xi măng.

b. Nhà ở 2: Diện tích: 58,29 m2; Kết cấu: Nền láng ximăng, vách tole, cột, kèo, đòn tay  bằng gỗ tạp, mái lá.

c. Nhà vệ sinh: Diện tích: 1,96 m2; Kết cấu: Nền lát gạch ceramic nhám (30x30)cm, tường xây gạch dày 10cm. Không mái, không cửa.

d. Hồ nước: 02 cái, hồ không có nắp đậy, dạng cống tròn, khung trụ bêtông, thành xây gạch dày 50mm

e. Chuồng heo: Diện tích: 21,02 m2. Kết cấu:  Nền láng xi măng, cột bêtông cốt thép; tường xây gạch dày 10cm, phía trong láng ximăng, phía ngoài không tô. Kèo đòn tay bằng gỗ tạp, mái lá.

3) Hoa màu trên đất:

a. Hoa màu trên thửa đất 1021,1022; tờ bản đồ số 1: Gồm dừa: 28 cây, Xoài: 6 cây, mận: 01 cây, cau: 08 cây và chuối: 15 bụi.

b. Hoa màu trên thửa đất 1059,1060; tờ bản đồ số 1: Gồm dừa: 24 cây.

- Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, tài sản trên đất và cây trồng trên đất của bà Trần Thị Mỹ Nương, bị kê biên theo quyết định Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 186.943.857đ (một trăm tám mươi sáu triệu chín trăm bốn mươi ba ngàn tám trăm năm mươi bảy đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng)/01 hồ sơ.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 09/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/01/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 19/01/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 463/2015

            Tài sản là quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

- Thửa số 29, tờ bản đồ số 20

- Diện tích được sử dụng: 124.473,5 m2;

- Diện tích lộ giới: 0,0 m2;

- Diện tích tính vào giá bán: 124.473,5 m2;

- Loại đất: TSL.

* Tài sản tọa lạc xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng bán đấu giá nộp vào ngân sách nhà nước.

* Giá khởi điểm: 3.111.837.000đ (ba tỷ một trăm mười một triệu tám trăm ba mươi bảy ngàn đồng).

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 ngày 09/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/01/2016 trong giờ làm việc).

Thời gian tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 ngày 08/01/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/01/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 13/01/2016 tại Hội trường Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 5.000.000đ/01 hồ sơ;

* khoản tiền đặt trước: 300.000.000đ/01 hồ sơ.

            Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667; 075-3512081; 075-3512083.

11/12/2015 2:00 CHĐã ban hành
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể, đình công không đúng quy định của pháp luậtTrình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể, đình công không đúng quy định của pháp luật
Trên thực tế, vấn đề đình công của người lao động trên cả nước cũng như trên địa bàn tỉnh Bến Tre không ngừng gia tăng. Hầu hết, các cuộc đình công đều diễn ra không tuân theo trình tự thủ tục của pháp luật quy định. Điều này dẫn đến những thiệt hại lớn về mặt kinh tế đối với người lao động và người sử dụng lao động, kéo theo tình trạng mất an ninh trật tự và những điều đáng tiếc có thể xảy ra t...

Trên thực tế, vấn đề đình công của người lao động trên cả nước cũng như trên địa bàn tỉnh Bến Tre không ngừng gia tăng. Hầu hết, các cuộc đình công đều diễn ra không tuân theo trình tự thủ tục của pháp luật quy định. Điều này dẫn đến những thiệt hại lớn về mặt kinh tế đối với người lao động và người sử dụng lao động, kéo theo tình trạng mất an ninh trật tự và những điều đáng tiếc có thể xảy ra từ những cuộc đình công này. Xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương; đồng thời đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa người sử dụng lao động và người lao động hạn chế thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra, ngày 07 tháng 2 năm 2012 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ký Quyết định ban hành Quy chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể, đình công không đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quyết định này quy định về giải quyết tranh chấp lao động tập thể, đình công tự phát tại các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế không theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công không đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Theo Quyết định, quy trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể, đình công không đúng quy định của pháp luật được tiến hành theo trình tự sau:

* Thành lập Đoàn công tác giải quyết tranh chấp lao động tập thể, đình công không đúng pháp luật

Khi có tranh chấp lao động tập thể xảy ra tại doanh nghiệp trên địa bàn quản lý thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thành phố nơi đó chịu trách nhiệm chủ trì và chỉ đạo thành lập Đoàn công tác liên ngành gồm đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động cấp huyện và các phòng, ban có liên quan để giải quyết tranh chấp.

Khi có đình công không đúng quy định của pháp luật xảy ra tại doanh nghiệp trên địa bàn quản lý thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thành phố nơi đó chịu trách nhiệm chỉ đạo tổ chức Đoàn công tác tương tự như Đoàn công tác giải quyết tranh chấp lao động tập thể, đồng thời chỉ đạo cơ quan công an cùng cấp cử lực lượng phối hợp cùng với Đoàn công tác để giải quyết đình công.

Trường hợp tranh chấp lao động tập thể hoặc đình công không đúng quy định của pháp luật xảy ra tại doanh nghiệp nằm trong khu công nghiệp thì Ban quản lý các khu công nghiệp cùng Công đoàn các khu công nghiệp cử ngay đại diện tham gia phối hợp chặt chẽ với Đoàn công tác cấp huyện trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động, đình công.

Trường hợp cùng lúc trên địa bàn xảy ra nhiều vụ tranh chấp lao động, tập thể, đình công thì những người có thẩm quyền nêu trên tổ chức nhiều Đoàn công tác để thực hiện giải quyết các vụ tranh chấp lao động, đình công. Tùy theo tính chất và quy mô của vụ tranh chấp lao động, đình công, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố quyết định số lượng thành viên tham gia giải quyết.

* Cử Đoàn công tác đến hiện trường

Khi nhận được thông tin có xảy ra tranh chấp lao động tập thể, đình công không đúng pháp luật, những người có thẩm quyền tổ chức và cử Đoàn công tác đến ngay hiện trường để ổn định tình hình an ninh trật tự và ngăn chặn kịp thời những trường hợp quá khích, không để gây rối, làm thiệt hại đến tài sản doanh nghiệp đồng thời tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp lao động tập thể hoặc đình công để đưa ra phương án giải quyết.

* Phân công nhiệm vụ

Trưởng Đoàn công tác liên ngành phân công thành viên tiếp cận với chủ doanh nghiệp và người lao động để nắm thông tin, chứng cứ liên quan; tham gia ổn định trật tự; phát hiện, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện quá khích; có biện pháp xử lý nhanh, đạt hiệu quả, không để lan tỏa vụ tranh chấp lao động hoặc đình công sang khu vực lân cận; ghi nhận các kiến nghị, yêu cầu của tập thể lao động; làm việc với chủ doanh nghiệp để tìm hiểu nguyên nhân và quá trình giải quyết kiến nghị, yêu cầu tại cơ sở.

* Xem xét nội dung tranh chấp và đưa ra phương án giải quyết

Đoàn công tác thống nhất đánh giá việc thực hiện pháp luật lao động của doanh nghiệp liên quan đến nội dung tranh chấp, yêu cầu doanh nghiệp khắc phục ngay vi phạm (nếu có) và giải quyết các kiến nghị chính đáng, hợp pháp của tập thể (kiến nghị về quyền). Đối với các yêu cầu của tập thể lao động cao hơn mức quy định của pháp luật hiện hành (yêu cầu về lợi ích), Đoàn công tác thống nhất phương án giải quyết để đưa ra trong cuộc họp giữa các bên tranh chấp.

* Tổ chức cuộc họp giữa các bên tranh chấp

Đoàn công tác tổ chức cuộc họp và yêu cầu Ban chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc tập thể lao động cử đại diện tham gia dự cuộc họp để cùng trao đổi, thương lượng với người sử dụng lao động về hướng giải quyết từng nội dung kiến nghị, yêu cầu theo phương án giải quyết của các ngành chức năng. Kết quả trao đổi, thương lượng đều phải được lập thành biên bản gửi cho các thành viên tham gia dự họp theo dõi. Nếu một trong các bên tranh chấp không đồng ý theo phương án giải quyết của liên ngành và trong quá trình thương lượng cũng không thỏa thuận được thì Đoàn công tác hướng dẫn cho bên không đồng ý thực hiện đúng quy định của pháp luật về tranh chấp lao động tập thể và đình công.

* Thông báo kết quả giải quyết cho người lao động

Đoàn công tác tổ chức thông báo kết quả đã thương lượng, thời gian và hướng giải quyết nêu trên; giải thích rõ những kiến nghị, yêu cầu không phù hợp với chính sách, pháp luật để các bên tranh chấp cùng thực hiện.

20/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quy chế phối hợp quản lý hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh.Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quy chế phối hợp quản lý hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh.
Để tăng cường công tác quản lý hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh, đảm bảo việc quản lý đạt hiệu quả cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ của các sở ngành tỉnh và các đơn vị, cá nhân có liên quan trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động giám định tư pháp.

Để tăng cường công tác quản lý hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh, đảm bảo việc quản lý đạt hiệu quả cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ của các sở ngành tỉnh và các đơn vị, cá nhân có liên quan trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động giám định tư pháp.

Ngày 09 tháng 8 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 24/2013/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, Quy chế đã quy định rõ nội dung phối hợp của các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình quản lý hoạt động giám định tư pháp, cụ thể như sau: Củng cố, kiện toàn tổ chức giám định tư pháp công lập và bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp theo thẩm quyền; lập và công bố danh sách tổ chức giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, người giám định tư pháp theo vụ việc ở địa phương. Bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động, cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác cho tổ chức giám định tư pháp công lập ở địa phương. Tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cho người giám định tư pháp ở địa phương. Trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chế độ, chính sách cho các cá nhân, cơ quan, đơn vị có tham gia hoạt động giám định tư pháp và các quy định khác có liên quan đến giám định tư pháp theo quy định pháp luật. Kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về giám định tư pháp. Tuyên truyền, phố biến các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động giám định tư pháp. Trưng cầu giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng giữa cơ quan tiến hành tố tụng với các sở, ngành tỉnh, tổ chức giám định tư pháp, người giám định tư pháp.

Ngoài việc quy định cụ thể các nội dung phối hợp trên, Quy chế cũng đã quy định rõ các nguyên tắc phối hợp cũng như phương thức và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, đơn vị có liên quan trong hoạt động giám định.

Như vậy, với việc ban hành quy chế phối hợp trên sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hoạt động giám định tư pháp, tạo tiền đề, đánh dấu những chuyển biến lớn không chỉ trên phương diện phối hợp trong quản lý mà còn đảm bảo cho hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh đạt được hiệu quả. Từ đó, góp phần nâng cao vị trí, vai trò của đội ngũ giám định viên trên địa bàn tỉnh.

27/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phối hợp đẩy mạnh phòng trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mớiPhối hợp đẩy mạnh phòng trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới
"Ngày 28 tháng 7 năm 2014, Công an tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã ban hành Chương trình phối hợp về “Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”; với mục đích nâng cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và Công an các cấp, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân tham gia xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Phát huy dân chủ cơ sở, nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân; đổi mới nội dung, hình thức công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng đơn vị, địa phương gắn với xây dựng khu dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường an toàn về an ninh, trật tự.

 

Ngày 28 tháng 7 năm 2014, Công an tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã ban hành Chương trình phối hợp về “Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”; với mục đích nâng cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và Công an các cấp, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân tham gia xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Phát huy dân chủ cơ sở, nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân; đổi mới nội dung, hình thức công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng đơn vị, địa phương gắn với xây dựng khu dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường an toàn về an ninh, trật tự.

 

Để thực hiện tốt Chương trình phối hợp về “Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”, trước hết, cần tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức cho đoàn viên, hội viên và nhân dân về  đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; về Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 30/3/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 09-CT//TW của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc  trong tình hình mới”; về ý thức chấp hành pháp luật, cảnh giác, phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn chiến lược “Diễn biến hòa bình”, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

 

Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, củng cố thế trận an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc. Vận động nhân dân tích cực tham gia tấn công, trấn áp, đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, lên án những hành vi vi phạm pháp luật. Xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến có hiệu quả theo hướng xã hội hóa ngày càng cao; đẩy mạnh hoạt động tự phòng, tự quản, tự bảo vệ, tự hòa giải về an ninh trật tự tại cơ sở. Kịp thời động viên, khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

 

Gắn trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các phong trào “ Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Dân vận khéo”, “Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở”…Huy động sức mạnh tổng hợp của  khối đại đoàn kết toàn dân tộc tham gia trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; Hướng dẫn xây dựng khu dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường “An toàn về an ninh trật tự”; tổ chức đăng ký thu đua trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc hàng năm.

 

Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong sạch vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn làm nồng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, chuyên môn đối với lực lượng làm công tác xây dựng trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

06/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013
Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổ...

Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống kinh - xã hội.


Tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước được phát động của ngành Tư pháp, của tỉnh và của cụm thi đua Khối Nội chính. Năm 2013, Sở Tư pháp đã phấn đấu, nỗ lực cụ thể hóa nội dung, tiêu chí thi đua vào từng lĩnh vực chuyên môn, gắn liền với từng giai đoạn cụ thể (thi đua ngắn hạn, dài hạn và đột xuất) với một số kết quả đáng ghi nhận. Cụ thể:

Tổ chức góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 - một sự kiện chính trị, pháp lý quan trọng của đất nước. Sở Tư pháp đã tích cực tham mưu Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và báo cáo kết quả về Ủy ban dự thảo, Bộ Tư pháp theo đúng thời gian quy định. Tổ chức in ấn và phát hành 820 quyển, 360.600 phiếu lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với khoảng 43.000.000 lượt ý kiến.

Đã thẩm định, góp ý văn bản kịp thời, đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo chất lượng, tính khả thi, hợp lý của dự thảo văn bản cụ thể gồm: thẩm định 133 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, gồm 37 dự thảo nghị quyết, 85 dự thảo quyết định và 11 dự thảo chỉ thị (tăng 35 văn bản so với năm 2012), tham gia góp ý 160 dự thảo văn bản (trong đó có 60 cuộc họp góp ý và góp ý 18 văn bản của trung ương).

Thực hiện việc tự kiểm tra 1.803 văn bản, trong đó: cấp tỉnh 35 văn bản, cấp huyện 1.768 văn bản theo đúng quy trình, thời gian quy định, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý các văn bản có nội dung và hình thức không phù hợp với quy định. Bên cạnh đó, đã tiếp nhận, kiểm tra theo đúng thẩm quyền 766 văn bản (cấp tỉnh kiểm tra 117 văn bản, cấp huyện kiểm tra 649 văn bản). Đặc biệt trong năm 2013, đã chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch và tổ chức triển khai, báo cáo kết quả tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành từ năm 1976 đến ngày 31/12/2012. Kết quả: đã kiến nghị công bố 260 văn bản hết hiệu lực thi hành; kiến nghị bãi bỏ 192 văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành có nội dung không còn phù hợp; kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần 15 nghị quyết có nội dung không còn phù hợp.


Thời gian qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã mang lại hiệu quả thiết thực; nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Đội ngũ làm công tác PBGDPL cấp tỉnh, cấp huyện thường xuyên được củng cố, kiện toàn, tăng về số lượng, chất lượng; được tập huấn, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo phục vụ ngày càng tốt hơn công tác PBGDPL. Toàn tỉnh hiện có 222 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện; 2.473 tuyên truyền viên pháp luật cấp xã. Hoạt động hòa giải ở cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả. Hiện nay, toàn tỉnh có 983 Tổ hòa giải/983 ấp, khu phố (đạt 100%) với hơn 7.400 hòa giải viên; đã tổ chức 05 lớp tập huấn và cấp phát trên 600 tài liệu cho các Tổ hòa giải. Kết quả hòa giải thành trên địa bàn tỉnh đạt trên 82,5% (tăng 2,16% so với năm 2012).

Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) ở địa phương từng bước củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy và đội ngũ thực hiện công tác TGPL, qua đó nâng cao chất lượng vụ việc TGPL và ngày càng đi vào chiều sâu, tăng cường đưa hoạt động TGPL về cơ sở, gắn chặt với công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chú trọng tại các địa bàn khó khăn, ven biển. Năm 2013, đã thực hiện TGPL cho người thuộc đối tượng là 828 vụ việc. Ngoài ra, còn tư vấn trực tiếp cho một số người không thuộc đối tượng được TGPL thông qua hình thức tư vấn tại trụ sở, TGPL lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ; thực hiện 63 đợt TGPL lưu động với 3.478 người dân tham gia, cấp phát 17.130 tờ gấp pháp luật cho người dân.

Lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch, chứng thực đã đi vào nền nếp, các sự kiện hộ tịch được đăng ký đúng quy định, đặc biệt là người dân đi đăng ký khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn quy định ngày càng tăng, đã kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của người dân. Trong năm, đã giải quyết 211 trường hợp đăng ký kết hôn; đăng ký khai sinh 134 (đăng ký lại 62, trẻ em 72); khai tử 08; nhận cha, mẹ, con 33; ghi chú 103 (kết hôn 27, ly hôn 76); quốc tịch 03; các trường hợp khác 504. Công tác lý lịch tư pháp, được triển khai khá đồng bộ, tiếp tục xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho người dân ngày càng tốt hơn; phối hợp chặt chẽ trong việc đối chiếu thông tin lý lịch tư pháp, đã cấp 3.178 phiếu lý lịch tư pháp trong năm.

Chú trọng xã hội hóa hoạt động công chứng: Năm 2013, toàn tỉnh có 05 tổ chức hành nghề công chứng với 08 công chứng viên; cơ sở vật chất của các tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu theo quy định. Đã giải quyết 21.703 hợp đồng, giao dịch của khách hàng theo đúng quy định của pháp luật (tăng 6.884 hợp đồng, giao dịch so với năm trước), tổng số phí thu được là 4.211.974.000 đồng (tăng 494.989.000 đồng so với năm trước).

Hoạt động bán đấu giá tài sản: đã xây dựng và áp dụng quy trình phần mềm bán đấu giá và chính thức đưa vào hoạt động kể từ tháng 01/2013, trong năm đã thực hiện 588 hợp đồng bán đấu giá tài sản của các cơ quan, đơn vị gửi bán, đã bán được 114 hợp đồng với số phí thu được là 6.164.980.000 đồng.

Về công tác quản lý luật sư: Toàn tỉnh có 35 luật sư với 24 tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động. Thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch, phối hợp đào tạo nghiệp vụ luật sư tại tỉnh Bến Tre với 66 học viên. Tiếp nhận và giải quyết cấp giấy đăng ký hoạt động cho 02 Văn phòng luật sư và quyết định thu hồi 01 giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng và 03 Chi nhánh. Phối hợp kiểm tra về tổ chức và hoạt động của 06 tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.

Với những kết quả đạt được như trên, tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua yêu nước năm 2013 và phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2014, Sở Tư pháp đã vinh dự được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước tỉnh Bến Tre năm 2013.

19/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tổ ấm gia đìnhTổ ấm gia đình
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;" Với nhịp sống nhanh trong xã hội hiện đại, thiết nghĩ cụm từ “tổ ấm gia đình” càng nên được nhắc nhỡ, khuyên nhủ với nhau thường xuyên. Bởi sự tất bật với công việc, rồi hội họp, tiệc tùng, giao du… chúng ta không có nhiều thì giờ rãnh rỗi, nên dễ xao lãng với “tổ ấm” của mình, mà lẽ ra ta phải chăm chút nó từng ngày. Vì đây là nơi “neo đậu” bình yên, vỗ về, ấm áp cho mỗi con người trong cuộc đi xa trở về hay sau khi vật lộn căng thẳng với cuộc mưu sinh… /span/span/p

Với nhịp sống nhanh trong xã hội hiện đại, thiết nghĩ cụm từ “tổ ấm gia đình” càng nên được nhắc nhỡ, khuyên nhủ với nhau thường xuyên. Bởi sự tất bật với công việc, rồi hội họp, tiệc tùng, giao du… chúng ta không có nhiều thì giờ rãnh rỗi, nên dễ xao lãng với “tổ ấm” của mình, mà lẽ ra ta phải chăm chút nó từng ngày. Vì đây là nơi “neo đậu” bình yên, vỗ về, ấm áp cho mỗi con người trong cuộc đi xa trở về hay sau khi vật lộn căng thẳng với cuộc mưu sinh…

Ông bà ta nói rằng: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, nhắc nhỡ chúng ta giữ gìn tổ ấm, hạnh phúc gia đình, trong đó đề cao vai trò quan trọng của người phụ nữ trong gia đình là “Xây tổ ấm”. Từ việc chăm sóc cho cha mẹ, chăm lo cho chồng đến việc nuôi dạy con cái, rồi “công, ngôn, dung hạnh”, “nữ công gia chánh” hay ứng xử trong gia đình “Chồng giận thì vợ bớt lời/ Cơm sôi bớt lửa chớ đời nào khê”.

Mỗi ngày do công việc chi phối nên những thành viên trong gia đình ít được kết nối tình cảm chặt chẽ và thường xuyên, sự gần gũi để chia sẻ, quan tâm nhau cũng ít dần. Lại có thêm phương tiện thông tin hiện đại, như điện thoại di động, Internet… nên cứ “gặp nhau qua mạng”, thăm hỏi qua nhắn tin, mail, chát, pacbook… nên mỗi ngày tình cảm trong gia đình nhạt đi mà chúng ta người trong cuộc mãi bận rộn quên đi giá trị tinh thần đã mất dần đi. Không ít chuyên gia tâm lý khuyên dù bận rộn, nhưng trong một ngày các thành viên trong gia đình nên có một bữa ngồi ăn cơm chung với nhau. Vì đây chính là một phần yếu tố tạo nên “tổ ấm”. Nơi mà các buồn phiền, căng thẳng… đã tan biến, chỉ còn lời tâm sự nhỏ to ấm áp, ngọt ngào, quan tâm chia sẻ từ miếng thức ăn cho nhau, đến động viên, khích lệ trong học tập, sinh hoạt hằng ngày…

Không phải ở Việt Nam mà nhiều nước văn minh, hiện đại trên thế giới họ cũng coi trọng tổ ấm gia đình. Vì chính nơi đó là nguồn cơn của mọi sự hạnh phúc, thành đạt chung của gia đình, nó giúp cho các thành viên trong gia đình toàn tâm toàn ý, hưng phấn tập trung vào học tập, công việc để thực hiện ước mơ, hoài bão… đi đến thành đạt, thành danh. Chứng minh cho điều đó là bao giờ người phụ nữ cũng cần có “bờ vai” vững chãi của người chồng để nương tựa. Còn người đàn ông phía sau sự thành đạt luôn có bóng dáng của người vợ, hết lòng “nâng khăn sửa túi” cho chồng. Hay con cái trong nhà bao giờ cũng cần sự quan tâm, chia sẽ của cha mẹ về tâm tư, nguyện vọng của mình.

Có lẽ khó có thể tìm từ nào cho thật hay, thật đẹp hơn và khái quát cao hơn từ “tổ ấm” khi đề cập đến gia đình. Không hoa mỹ, không chảy chuốt, chỉ là sự bình dị mà hàm chứa tình cảm sâu sắc, đằm thắm, lung linh khiến cho mọi người nếu xao lãng, thiếu quan tâm khi nhớ đến nó phải giật mình, cân nhắc. Trong cuộc đời không ít người tổ ấm gia đình vì lý do này lý do khác bị đỗ vỡ, cũng như không ít người không có được tổ ấm gia đình. Nỗi bất hạnh đó không có gì bù đắp được. Vậy những ai đang có tổ ấm gia đình nên quan tâm vun đắp, gìn giữ thật tốt. Không những ta giữ cho ta mà ta giữ cho mọi người thân yêu nhất trong tổ ấm của mình, đồng thời qua đó nhằm góp phần làm tốt đẹp cho xã hội hơn.

19/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn