Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ
Sáng ngày 01 tháng 8 năm 2014, tại số 178, ấp Lộc Sơn, xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Văn phòng Công chứng Lộc Thuận đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động theo Quyết định số 1356/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc cho phép thành lập Văn phòng Công chứng Lộc Thuận và Giấy đăng ký hoạt động số 12/TP-ĐKHĐ ngày 30 tháng 7 năm 2014 của ... 
 
Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của ... 
 
Ngày 20 tháng 7 năm 2014, Quốc hội thông qua Luật Công chứng, thay thế Luật Công chứng năm 2006 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật Công chứng năm 2014 có 10 chương và 81 điều, trong đó có nhiều quy định đáng chú ý như mở rộng phạm vi công chứng; tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên, về tổ chức hành nghề công chứng,… 
 
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng, phát hiện những sai sót để kịp thời chấn chỉnh, đảm bảo hoạt động hành nghề công chứng tại Bến Tre diễn ra đúng quy định pháp luật, ngày 28 tháng 4 năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-STP về việc kiểm tra về tổ chức và hoạt động đối với 05 Văn phòng Công chứng trên đ... 
 
Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Công chứng Thạnh Phú  tổ chức lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại địa chỉ ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.  
 
Sáng ngày 23 tháng 4 năm 2014, Văn phòng Công chứng Ba Tri đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại địa chỉ số 27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Phan Văn Trung làm Trưởng Văn phòng. Văn phòng Công chứng Ba Tri hiện có 02  Công chứng viên và 02 nhân viên.  
 
Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu... 
 
Theo quy định tại Điều 594 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối. Theo đó, người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ:  
 
Đứng trước vành móng ngựa, anh Thắng với ánh mắt ngân ngấn lệ, vẽ mặt đầy hối hận nhìn về phía gia đình đang ngồi trong phòng xét xử. Câu chuyện thương tâm bắt nguồn từ việc tranh chấp lối đi do chưa hiểu quy định của pháp luật.  
 
Ngày 07 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 10/2014/TT-BTP quy định về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư. Thông tư này quy định về đối tượng, thời gian, hình thức, nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; xử lý luật sư vi phạm nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; học phí tham gia lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động Trợ giúp pháp lýBảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động Trợ giúp pháp lý
Ngày 31/3/2011 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông Tư số 07/2011/TT-BTP hướng dẫn bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động trợ giúp pháp lý, Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2011. Thông tư ban hành với nội dung chính là bảo đảm bình đẳng trong tổ chức và cán bộ thực hiện trợ giúp pháp lý và bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý.  

Ngày 31/3/2011 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông Tư số 07/2011/TT-BTP hướng dẫn bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động trợ giúp pháp lý, Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2011. Thông tư ban hành với nội dung chính là bảo đảm bình đẳng trong tổ chức và cán bộ thực hiện trợ giúp pháp lý và bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Thông tư được áp dụng đối với các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, bao gồm: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (Trung tâm), Chi nhánh của Trung tâm; tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý là công ty luật, văn phòng luật sư, các trung tâm tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp đã đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm: Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý; luật sư, tư vấn viên pháp luật thuộc tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý và những người có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý; các cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước. Đối với bình đẳng giới trong tổ chức và cán bộ thực hiện trợ giúp pháp lý, cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý có trách nhiệm tuyển chọn, thu hút để bảo đảm có đầy đủ hai giới trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, Trợ giúp viên pháp lý và viên chức pháp lý của Trung tâm và Chi nhánh, bảo đảm đội ngũ cán bộ về trợ giúp pháp lý được đào tạo, có kiến thức về giới và ổn định để tích lũy kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Vì thế, các cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm xây dựng các giải pháp để bảo đảm cân bằng tỉ lệ giới trong đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Đối với bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý, Thông tư cũng quy định tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý có kiến thức pháp luật về bình đẳng giới, có kinh nghiệm về giới thực hiện trợ giúp pháp lý trong các lĩnh vực pháp luật (trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại) để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho phụ nữ nghèo, phụ nữ thuộc đối tượng chính sách theo quy định Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý; Điều 2 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý là nữ giới trong các trường hợp: là nạn nhân của bạo lực gia đình; người đang trong quá trình chuẩn bị thủ tục kết hôn và ly hôn; là nạn nhân bị mua bán; nạn nhân bị bóc lột sức lao động hoặc bị xâm hại tình dục; người có tranh chấp, vướng mắc pháp luật, người bị hại, bị can, bị cáo trong thời gian mang thai, đang nuôi con dưới 36 tháng; người dân tộc thiểu số ở các vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn hoặc người di cư; người bị nhiễm HIV, người khuyết tật hoặc đang bị các bệnh hiểm nghèo. Người lao động bị sa thải trái pháp luật hoặc nạn nhân bị lừa đảo trong quan hệ lao động, trong quan hệ hôn nhân gia đình hoặc bị tước đoạt tài sản trái pháp luật. Khi tiếp nhận người thực hiện trợ giúp pháp lý phải thông báo cho họ về quyền được pháp luật bảo vệ, được sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí, không được có hành vi phán xét, đổ lỗi, gây áp lực, gây sợ hãi hoặc làm tổn thương về mặt tâm lý cho người được trợ giúp pháp lý.
Thông tư số 07 năm 2011 của Bộ Tư pháp được ban hành là sự chú trọng tới các biện pháp khắc phục nguyên nhân sâu xa của sự bất bình đẳng giữa nữ giới và nam giới, tìm cách đáp ứng tối đa những nhu cầu, nguyện vọng khác nhau của họ thông qua các hình thức trợ giúp pháp lý để bảo đảm cả nam giới và nữ giới được tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí, nhằm góp phần xóa bỏ bất bất bình đẳng về giới trong xã hội.

 

03/06/2011 12:00 SAĐã ban hành
Quạ kêuQuạ kêu
Người xưa thường có quan niệm cú mèo và quạ là hai con vật mang lại xui xẻo cho những ai nghe thấy, nhìn thấy hoặc khi chúng vô nhà, bởi tiếng kêu của chúng mang lại điều không may mắn. Và tiếng kêu của con quạ quả thật đã đem lại điều không may mắn cho hai gia đình vốn rất thân thiết khiến cho một phải nằm viện còn người kia phải đi tù.

Người xưa thường có quan niệm cú mèo và quạ là hai con vật mang lại xui xẻo cho những ai nghe thấy, nhìn thấy hoặc khi chúng vô nhà, bởi tiếng kêu của chúng mang lại điều không may mắn. Và tiếng kêu của con quạ quả thật đã đem lại điều không may mắn cho hai gia đình vốn rất thân thiết khiến cho một phải nằm viện còn người kia phải đi tù.

Số là, ông An và ông Biên là hàng xóm sát ranh nhau từ mười mấy năm nay, quan hệ rất thân thiết dù tư tưởng hai ông có phần khác nhau, như ông An hướng nội, mang đậm chất cổ truyền có chút gì đó mê tín còn ông Biên lại là người hướng ngoại, hiện đại và mang phong cách phương tây rõ ràng. Những điều ấy ai cũng biết, không vì thế mà hai ông xa lánh, trái lại rất thân thiết. Một tối nọ, ông An nằm võng ngoài hiên nhà thì nghe thấy tiếng quạ kêu. Ông thấy bất an trong lòng nên vào nhà thấp nén nhang cho tổ tiên để yên dạ. Trùng hợp hay sao mà hôm sau ông An đi vườn té bong gân, vết thương ở chân không nặng nhưng nổi lo trong lòng đã gợn sóng to. Sau mấy ngày vất vả với cái chân đau, ông An làm gà cúng đất đai mời ông Biên qua chén tạc chén thù. Liên tiếp hai ba ngày sau khi cúng, ông An luôn nghe tiếng quạ kêu vào ban đêm, thế là sáng ra ông tất bật cúng kiến, rầu rỉ cả ngày, ông than với ông Biên mong một lời chia sẽ. Mà ông Biên với tư tưởng thoáng hơn đâu có tin mấy chuyện mê tín này nên khuyên ông An đừng lo lắng và đừng có cúng kiến chi mà cứ bình tâm thì mọi chuyện sẽ qua. Vậy mà đã một tháng hơn ông An không nói tới ông Biên mà còn lời lẽ bóng gió bảo ông Biên đừng nhiều chuyện và quan hệ tốt đẹp mười mấy năm trời của hai ông bạn già đã thật sự trở nên tồi tệ và câu chuyện hai người đến cực điểm khi ông An mời thầy cúng về tụng suốt 3 ngày đêm để giải hạn. Ông Biên không bực mình vì thầy tụng mà bực mình về cái mê tín của ông An nên ông qua khuyên lần cuối còn ông An không nghe thì thôi. Thầy đang cúng ông Biên kêu ông An ra khuyên bảo thì ông An gạt phắt, gân cổ đuổi ông Biên về để thầy tụng tiếp, lời qua tiếng lại ông An bực tức lấy dao để ngoài hiên nhà chém ông Biên một phát vào lưng mang thương tích 28%.

Thế là tiếng quạ kêu đã mang lại xui xẻo cho cả hai ông bạn già. Một ông nằm viện chưa thể đi lại được, một ông chuẩn bị ra toà vì tội cố ý gây thương tích. Ông Biên nói trên giường bệnh: thiệt là tức, tức không phải vì ổng ghét mà chém tui mà vì quá mê tín đến nỗi giờ thân mang tội, tôi không truy cứu gì hết nhưng hành vi ổng là trái pháp luật nên sẽ bị pháp luật trừng trị, hy vọng nhận được sự khoan hồng của pháp luật, sau việc này mong ổng bớt tin vào những điều mê tín.

Thật là đáng tiếc cho hai người bạn, ông An không biết sẽ hối hận như thế nào khi cầm bản án trên tay, còn ông Biên mặc dù tha thứ, không yêu cầu bồi thường còn viết đơn xin toà giảm nhẹ hình phạt cho ông An nhưng cũng thở dài vì có cảm giác mất mát về tình bạn thân thiết của hai ông.

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2014Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2014
Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật; ngày 27/12/2013, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉ...

 

 

Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật; ngày 27/12/2013, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bến Tre đã ký ban hành Kế hoạch số 6410/KH-UBND về theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2014.

Theo Kế hoạch, việc tổ chức theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong năm 2014 sẽ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của địa phương. Trong đó, xác định lĩnh vực trọng tâm cần theo dõi là “Việc thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Bến Tre”. Theo đó các đơn vị, địa bàn tổ chức theo dõi bao gồm tất cả các sở, ngành tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh. Riêng đối với lĩnh vực trọng tâm thì Sở Tư pháp sẽ là cơ quan chủ trì và các đơn vị phối hợp, thực hiện gồm có: Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, UBND cấp huyện, xã.

Việc theo dõi thi hành pháp luật bao gồm 03 nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, là xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như: đánh giá về tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết; tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của văn bản.

Thứ hai, là xem xét, đánh giá tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật như: tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật; tính phù hợp của tổ chức bộ máy, mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực, về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật.

Thứ ba, là xem xét, đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực thuộc phạm quản lý, bao gồm: tính kịp thời, đầy đủ trong thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Phương pháp theo dõi: Việc theo dõi sẽ được thực hiện thông qua báo cáo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thu thập các thông tin được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, thông tin do tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp và qua kết quả kiểm tra thực tế từ Đoàn Kiểm tra của tỉnh về việc thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Bến Tre (đối với lĩnh vực trọng tâm). Bên cạnh đó, UBND tỉnh còn giao cho các sở, ngành tỉnh và UBND cấp huyện có thể lựa chọn phương pháp điều tra, khảo sát thông qua phiếu khảo sát, tọa đàm, phỏng vấn trực tiếp và các hình thức phù hợp khác để thu thập thông tin tùy vào điều kiện thực tế đơn vị, địa bàn mình.

UBND tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức triển khai thực hiện; tham mưu thành lập, tổ chức Đoàn Kiểm tra, tổng hợp kết quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh, báo cáo về Bộ Tư pháp, Chính phủ. Đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm để triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trong những năm tiếp theo.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dânSơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dân
Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Văn Tuân, Tỉnh ủy viên, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh trình bày báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân (03/3/2009 – 03/3/2013) của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Hội nghị đã nghe nhiều ý kiến tham luận về công tác phối hợp thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân, đã thông nhất cơ bản nội dung báo cáo; các ngành, địa phương đã phối hợp phố biến về mục đích, ý nghĩa Ngày Biên phòng toàn dân, gắn với việc triển khai Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Biên phòng, Nghị định 161/2003 về Quy chế khu vực biên giới biển… với nhiều hình thức sinh động, phối hợp thực hiện Chuyên mục “Vì chủ quyền an ninh biên giới”, Chuyên trang “Quốc phòng toàn dân”, tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về biên giới quốc gia”.


Phối hợp với ngành công an điều tra, xác minh làm rõ 96/111 vụ án hình sự, đưa ra xử lý hành chính 149 đối tượng. Phối hợp thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; tổ chức nhiều cuộc diễn tập, ứng phó tình huống có thể xảy ra; kịp thời kêu gọi, thông báo tình hình bão, áp thấp nhiệt đới; tổ chức giúp dân khắc phục hậu quả lốc xoáy, lụt bão…

Quan tâm xây dựng, củng cố các công trình phòng thủ bảo vệ biên giới sát hợp với yêu cầu, sẵn sàng chiến đấu; chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng biên phòng vững mạnh toàn diện. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân được vững chắc.

Vận động xây dựng  368 căn nhà “Đại đoàn kết”, 270 căn nhà “Tình thương”, 36 căn nhà “Tình nghĩa”, 07 căn nhà “Nhân ái”, 08 căn nhà “Đồng đội” trị giá 17 tỷ đồng; tặng hơn 2.000 phần quà cho học sinh nghèo hiếu học trị giá trên 500 triệu đồng.

Phối hợp các ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức họp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng gắn với Ngày Biên phòng toàn dân. Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao bước đầu tạo được sinh khí Ngày Biên phòng toàn dân, có ý nghĩa giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ biên giới biển.


Kết luận Hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Võ Thành Hạo đánh giá cao kết quả tổ chức thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân; đồng thời lưu ý trong thời gian tới Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể liên quan tiếp tục phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Ngày Biên phòng toàn dân, thực sự trở thành ngày hội toàn dân; phát động phòng trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc; đề cao cảnh giác, phòng, chống có hiệu quả âm mưu, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các loại đối tượng ở khu vực biên giới biển; tiếp tục triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế biển, xây dựng nông thôn mới, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh; chăm lo gia đình chính sách, thực hiện công tác giảm nghèo; phối hợp các ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến sâu rộng Ngày Biên phòng toàn dân; xây dựng lực lượng biên phòng vững mạnh về tư tưởng, tổ chức; không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

19/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Họp giao ban Khối Nội chính năm 2011Họp giao ban Khối Nội chính năm 2011
Sáng ngày 29/12/2011, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức họp giao ban Khối Nội chính năm 2011. Đồng chí Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy đến dự và chủ trì cuộc họp

Năm 2011, các cơ quan Khối nội chính đã tích cực, chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh ủy; bảo đảm giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, thực hiện tốt công tác tuyển quân, huấn luyện, diễn tập, đảm bảo đạt chỉ tiêu, chất lượng; bảo vệ vững chắc các tuyến biên giới biển; phạm pháp hình sự được kéo giảm 4,6% so với cùng kỳ (xảy ra 560/587 vụ), tệ nạn xã hội giảm 7,6% (phát hiện 895/969 vụ), tai nạn giao thông đường bộ giảm cả 3 mặt (giảm 4,1% số vụ, 4% số người, 29,5% số người bị thương). Các cơ quan Tư pháp đã tập trung thực hiện tốt Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, trong đó, điều tra, khám phá án đạt kết quả khá tốt (trên 77%), chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp có nhiều chuyển biến tích cực, án truy tố đạt trên 99%. Ngành Tòa án đã thụ lý trên 6.700 vụ án các loại, giải quyết trên 5.200 vụ, đạt 78%, công thi hành án hình sự đạt 100%, công tác thi hành án dân sự đạt trên 89%, thi hành xong trên 6.800 vụ, số tiền trên 49 tỷ. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật được tăng cường; hoạt động trợ giúp pháp lý được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý cho các đối tượng thuộc diện trợ giúp miễn phí; tổ chức và hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp ngày càng ổn định, đổi mới và nâng dần chất lượng.
Tuy nhiên, tình hình phạm pháp hình sự vẫn còn diễn biến phức tạp, tội phạm xảy ra còn ở mức cao (560 vụ), nhất là các tội: cố ý gây thương tích, trộm cắp…; án các loại tăng cao (trên 6.700, tăng trên 1.300 vụ); giải quyết án dân sự còn thấp 66.25%), án chưa giải quyết còn nhiều (1.471 vụ); án bị hủy, sửa tăng so với cùng kỳ (hủy 146/139 vụ, sửa 89/54 vụ); tình trạng người dân sang Campuchia đánh bạc, ngư dân xâm phạm lãnh hải nước ngoài rất đáng quan tâm; tranh chấp, khiếu kiện về tập đoàn sản xuất, hợp tác xã nghêu, bồi thường giải phóng mặt bằng …còn tìm ẩn nhiều yếu tố bất ổn; tình trạng vở nợ vay, hụi đang có chiều hướng gia tăng.
Kết luận chỉ đạo cuộc họp, Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo đánh giá cao kết quả hoạt động của các ngành Khối Nội chính năm 2011; đồng thời lưu ý trong năm 2012, các ngành Khối Nội chính cần phối hợp chặt chẽ với các ngành, địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tiếp tục triển khai thực hiện Kết luận số 86-KL/TW của Bộ chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về “Tăng cường lãnh đạo công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới”; triển khai thực hiện Chỉ thị số 48 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; chỉ đạo triển khai thực hiện tốt “ Năm an toàn giao thông – 2012, phấn đấu giảm 10%” số vụ tai nạn, số người chết, bị thương do tai nạn giao thông. Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo yêu cầu 03 lực lượng Công an, Quân sự, Biên phòng phải phối hợp chặt chẽ hơn, gắn với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng chống tội phạm; thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương, thực hiện tốt công tác tuyển quân, huấn luyện, diễn tập đạt chỉ tiêu, yêu cầu đề ra; triển khai thực hiện tốt Đề án “Đảm bảo trật tự trị an, an toàn cho nhân dân và các hoạt động kinh tế trên biển đảo”, giảm thiểu tình trạng tàu cá của ngư dân Việt Nam xâm phạm lãnh hải nước ngoài bị bắt giữ; chủ động đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu “ Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo đề nghị tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý có chiều sâu, thiết thực; tập trung giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là những vụ việc bức xúc, kéo dài, hạn chế trình trạng khiếu kiện đông người vượt cấp; thực hiện tốt công tác hòa giải tại cơ sở nhằm tạo mối quan hệ “tình làng, nghĩa xóm”, hạn chế những mẫu thuẫn, xung đột, tranh chấp nhỏ trong nhân dân./.

 

06/01/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thành lập Đoàn công tác liên ngành kiểm tra người nước ngoài, tổ chức nước ngoài thuê đất không đúng quy định Thành lập Đoàn công tác liên ngành kiểm tra người nước ngoài, tổ chức nước ngoài thuê đất không đúng quy định
 Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Bến Tre có nhiều người nước ngoài, tổ chức nước ngoài thuê đất của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh không đúng với quy định của pháp luật. Để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục thực trạng trên, ngày 16 tháng 7 năm 2013 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1228/QĐ-UBND về việc thành lập Đoàn công tác liên ngành kiểm tra người nướ...

 

Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Bến Tre có nhiều người nước ngoài, tổ chức nước ngoài thuê đất của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh không đúng với quy định của pháp luật. Để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục thực trạng trên, ngày 16 tháng 7 năm 2013 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1228/QĐ-UBND về việc thành lập Đoàn công tác liên ngành kiểm tra người nước ngoài, tổ chức nước ngoài thuê đất không đúng quy định trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Đoàn kiểm tra có 22 thành viên, do ông Trần Quang Minh, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi Trường làm Trưởng đoàn. Đoàn kiểm tra có nhiệm vụ tiến hành kiểm tra tất cả các trường hợp người nước ngoài, tổ chức nước ngoài thuê đất không đúng quy định. Thời hạn kiểm tra là 60 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định kiểm tra. Kết thúc kiểm tra, Trưởng Đoàn kiểm tra tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và đề xuất hướng xử lý cụ thể đối với từng trường hợp.

06/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thành lập và ra mắt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý xã Châu Hưng, huyện Bình ĐạiThành lập và ra mắt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý xã Châu Hưng, huyện Bình Đại
Ngày 22 tháng 5 năm 2014, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Bình Đại và Ủy ban nhân dân xã Châu Hưng tổ chức ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Châu Hưng. Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Châu Hưng gồm có 11 thành viên, do ông Bùi Minh Quang, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm.

Ngày 22 tháng 5 năm 2014, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Bình Đại và Ủy ban nhân dân xã Châu Hưng tổ chức ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Châu Hưng. Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Châu Hưng gồm có 11 thành viên, do ông Bùi Minh Quang, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm.


Tại buổi ra mắt, lãnh đạo xã Châu Hưng khẳng định Câu lạc bộ là một hình thức hoạt động trợ giúp pháp lý cộng đồng, tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý ở địa phương tham gia sinh hoạt, trao đổi vướng mắc pháp luật, đây chính là chiếc cầu nối giữa pháp luật với nhân dân. Thành viên Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý là Công chức Tư pháp – Hộ tịch, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, tổ hòa giải, Mặt trận Tổ quốc xã, Trưởng ấp…, hơn ai hết, họ hiểu người dân đang cần được giúp đỡ nhiều nhất trong lĩnh vực pháp luật nào, đồng thời họ hiểu lối sống, sinh hoạt của người dân ở địa phương sẽ giúp cho việc tư vấn một cách kịp thời và hiệu quả. Thông qua hoạt động sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý giúp cho thành viên của Câu lạc bộ có điều kiện gần dân nhiều hơn, qua đó hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người dân để có hướng giải quyết đúng pháp luật, hợp lòng dân, giúp cho các thành viên có cơ hội học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, nhất là kiến thức pháp luật.

Sau buổi lễ, Ban Chủ nhiệm phối hợp cùng Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh đã tổ chức tư vấn cho những người tham dự các lĩnh vực tranh chấp đất đai, thừa kế và hôn nhân gia đình… Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Châu Hưng là Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý thứ 54 của tỉnh. Trong thời gian qua việc thành lập các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh không chạy theo số lượng mà trọng tâm là ngày càng củng cố, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, nhằm góp phần chung cho công tác tuyên truyền pháp luật tại địa phương,  phục vụ tối ưu nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dânQuy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
Chính sách về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập là một trong những chính sách lớn đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hiện nay, vì nó thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác giáo dục, đào tạo. Vì vậy, ngày 30/5/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTB...

Chính sách về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập là một trong những chính sách lớn đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hiện nay, vì nó thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác giáo dục, đào tạo. Vì vậy, ngày 30/5/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015 và Nghị định số 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.

Theo đó, Thông tư quy định các đối tượng không phải đóng học phí, được miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cụ thể như sau:

Đối tượng không phải đóng học phí:

Học sinh tiểu học trường công lập; học sinh, sinh viên ngành sư phạm hệ chính quy đang theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập, theo chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước, được Ngân sách nhà nước cấp bù học phí; người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm để đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đối tượng được miễn học phí:

Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Bao gồm: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; con của liệt sỹ; con của thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con của bệnh binh; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế. Cụ thể như: Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa; trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên bị tàn tật, khuyết tật thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ (Hiện nay đang được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015).

Trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân: theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 87/2013/NĐ-CP ngày 30/7/2013 của Chính phủ quy định chế độ, chính sách đối với gia đình, thân nhân hạ sĩ quan, chiến sỹ đang phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân và khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 20/2012/TTLT-BQP-BTC ngày 06/3/2012 của Liên Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 88/2011/NĐ-CP ngày 29/9/2011 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với gia đình hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ.

Học sinh, sinh viên hệ cử tuyển (kể cả học sinh cử tuyển học nghề nội trú với thời gian đào tạo từ 3 tháng trở lên); học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, khoa dự bị đại học; học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo. Chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

Sinh viên học chuyên ngành Mác - Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; học sinh, sinh viên, học viên học một trong các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Pháp Y, Giải phẫu bệnh tại các cơ sở đào tạo nhân lực y tế công lập, theo chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước; học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Đối tượng được giảm học phí:

Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc; một số nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với dạy nghề (Danh mục các nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định).

Các đối tượng được giảm 50% học phí gồm: Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên là con cán bộ, công nhân, viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên; trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ; học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở trong thời gian 3 năm kể từ ngày tốt nghiệp đi học trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp.

Đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập:

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn hộ nghèo được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho phụ nữTổng kết 10 năm thực hiện Chương trình phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho phụ nữ
Thực hiện Kế hoạch số 1681/KH-BTP ngày 06 tháng 3 năm 2012 của Bộ Tư pháp về việc tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình phối hợp số 14/2002/CTPH-TP-PN ngày 02/10/2002 (Chương trình 14) về phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho phụ nữ giữa Bộ Tư pháp và Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Sở Tư pháp Bến Tre đã phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổng kết Chương trình 14 trên ...

Thực hiện Kế hoạch số 1681/KH-BTP ngày 06 tháng 3 năm 2012 của Bộ Tư pháp về việc tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình phối hợp số 14/2002/CTPH-TP-PN ngày 02/10/2002 (Chương trình 14) về phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho phụ nữ giữa Bộ Tư pháp và Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Sở Tư pháp Bến Tre đã phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổng kết Chương trình 14 trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Trong 10 năm qua, công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho phụ nữ trên địa bàn tỉnh được các cấp, các ngành phối hợp tổ chức triển khai thực hiện đạt kết quả khá tốt, nổi bật như: tổ chức tuyên truyền hơn 26.000 cuộc cho trên 726.000 lược người; thành lập 257 câu lạc bộ Phụ nữ với pháp luật, 44 câu lạc bộ trợ giúp pháp lý (trong đó có 3 Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ ở cấp huyện); tổ chức 701 cuộc trợ giúp pháp lý lưu động tại cơ sở cho hơn 14.000 lượt người và tư vấn pháp luật hơn 10.000 cuộc cho hơn 21.000 người; thực hiện hòa giải trên 22.000 vụ với tỉ lệ hòa giải thành cao; phát hành hơn 24.000 cuốn sách, sổ tay hỏi đáp pháp luật, hơn 244.000 tờ gấp các loại; 1.100 băng đĩa tuyên truyền pháp luật; Bản tin Tư pháp được duy trì phát hành ổn định với số lượng 25.000bản/tháng đến các cơ quan, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh, huyện, xã, các cấp, khu phố, tổ nhân dân tự quản và các trường học trên địa bàn tỉnh…

Ngoài ra, Sở Tư pháp Bến Tre còn phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh thực hiện chuyên đề, chuyên trang tuyên truyền pháp luật trên sóng phát thanh, truyền hình và lồng ghép các chương trình, đề án tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật khác của địa phương để phổ biến pháp luật sâu rộng trong cán bộ và nhân dân. Đến nay, toàn tỉnh có 1018 báo cáo viên, 2.655 tuyên truyền viên pháp luật, 09 Trợ giúp viên pháp lý, 154 cộng tác viên trợ giúp pháp lý tham gia công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật…

Bên cạnh đó, qua tổng kết, Sở Tư pháp và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh cũng nghiêm túc đánh giá rút ra những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo, thực hiện Chương trình phối hợp số 14 trên địa bàn tỉnh, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho phụ nữ trong thời gian tới.

10/08/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòngTổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng
Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo: Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân 3 huyện Biên biển (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú), thành phố Bến Tre; lãnh đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Đồn Biên phòng Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên; các phòng, đơn vị trực thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.

Đại tá Nguyễn Thành Trí, Phó Chỉ huy trưởng – Tham mưu trưởng, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh nêu rõ: Qua 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống tổ chức bộ máy Bộ đội Biên phòng được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả; đã chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức triển khai, quán triệt Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng và các văn bản của Đảng, Nhà nước có liên quan đến công tác biên phòng; đến quốc phòng, an ninh; phòng, chống tội phạm, ma túy, buôn bán người…; gắn với phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới biển. Đặc biệt, đã phối hợp với Sở Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức học tập trên 3.000 buổi, có gần 160 nghìn lượt người tham dự. Qua tuyên truyền, học tập, nhận thức về bảo vệ an ninh quốc gia, phòng, chống tội phạm của đa số cán bộ và nhân dân được nâng lên, đã cung cấp cho Bộ đội Biên phòng trên 2.300 tin, trong đó có gần 1.000 tin có giá trị. Ngoài ra, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Tư lệnh vùng 2 Hải quân, Cảnh sát biển vùng 3 thực hiện tốt Quy chế phối hợp, nắm chắc diễn biến tình hình, quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng, chủ động ngăn chặn, xử lý có hiệu quả mọi hoạt động của các đối tượng. Kết quả, đã phát hiện và xử lý trên 1.000 trường hợp không khai báo tạm trú, gần 300 nhóm thanh niên gây mất trật tự; trên 1.200 tụ điểm đá gà ăn thu bằng tiền; lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 130 đối tượng; ra quyết định xử phạt hành chính trên 840 trường hợp, số tiền trên 560 triệu đồng; đề xuất địa phương xử lý gần 1.400 trường hợp, số tiền trên 1 tỷ đồng; lập hồ sơ ban đầu điều tra, xác minh làm rõ và giao Công an khởi tố 297 vụ phạm pháp hình sự; phối hợp bắt 27 đối tượng có lệnh truy nã…; góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới biển, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Hiếu đánh giá cao kết quả triển khai thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trong 15 năm qua trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đồng thời lưu ý trong thời gian tới, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các ngành, các cấp có liên quan triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, các văn bản có liên quan đến an ninh quốc gia, bảo vệ biên giới biển, phòng chống tội phạm, ma túy, trật tự xã hội…Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác biên phòng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, tập trung xây dựng các xã nông thôn mới theo kế hoạch, giải quyết các vụ việc khiếu kiện có liên quan đến đất đai, tập đoàn sản xuất, nghêu…nhằm ổn định tình hình tranh chấp khiếu kiện trong nhân dân. Bổ sung hoàn thiện Quy chế phối hợp giữa 3 lực lượng Công an, Quân sự, Biên phòng nhằm thực hiện nghiêm và có hiệu quả Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, tổ chức diễn tập, huấn luyện theo các phương án đã đề ra./.

15/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Kiểm tra thi hành pháp luật trên địa bàn huyện Thạnh PhúKiểm tra thi hành pháp luật trên địa bàn huyện Thạnh Phú
Thực hiện Kế hoạch kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú, Tổ kiểm tra theo dõi thi hành pháp luật huyện đã tổ chức kiểm tra việc thi hành pháp luật thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với 5 đơn vị gồm: Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện, xã Phú khánh, xã An Nhơn, xã Thạnh Phong và xã Thạnh Hải.

 

 

Thực hiện Kế hoạch kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú, Tổ kiểm tra theo dõi thi hành pháp luật huyện đã tổ chức kiểm tra việc thi hành pháp luật thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với 5 đơn vị gồm: Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện, xã Phú khánh, xã An Nhơn, xã Thạnh Phong và xã Thạnh Hải.

Kết quả kiểm tra cho thấy công tác thi hành pháp luật trên lĩnh vực đất đai, thời gian qua được các cấp, các ngành thực hiện khá tốt, các thủ tục hành chính áp dụng đúng qui định, qua đó đã làm hạn chế được những vi phạm xảy ra trong quá trình quản lý đất đai. Trong năm 2013, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các xã không có ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực quản lý đất đai. Riêng Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất đã tham mưu cho Phòng Tài nguyên – Môi trường và Ủy ban nhân dân huyện ban hành 09 công văn liên quan đến việc điều chỉnh thủ tục hành chính thực hiện pháp luật trên lĩnh vực đăng ký quyền sử dụng đất. Công tác tuyên truyền pháp luật về đất đai cũng được các ngành và các xã thường xuyên tổ chức triển khai, phổ biến đến cán bộ và nhân dân. Việc tuân thủ pháp luật trên lĩnh vực đất đai về hồ sơ thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được hướng dẫn thực hiện đúng theo qui định; công tác quản lý đất công ở cấp xã được cấp giấy chứng nhận và cắm ranh cụ thể từng thửa theo qui định.

Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế như: tiến độ cấp đổi giấy còn chậm so với yêu cầu; việc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 23 và 24 của Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có sự chồng chéo, chưa cụ thể, gây khó khăn khi áp dụng vào thực tế; tình hình lấn chiếm đất công, đất rừng phòng hộ ở xã Thạnh Hải, xã An Nhơn, khai thác cát trái phép trên sông khu vực xã Phú Khánh còn xảy ra; việc quản lý sử dụng đất trong nhân dân còn nhiều bất cập, người dân tự ý thay đổi mục đích sử dụng đất gây ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng đất của nhà nước nhưng chưa được xử lý kịp thời.

Tại các buổi làm việc, Tổ kiểm tra đã kiến nghị các đơn vị tiếp tục tuyên truyền sâu rộng Luật Đất đai ở những điểm nóng thường xảy ra tranh chấp đất đai; tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trên địa bàn, kịp thời nắm bắt để chấn chỉnh những sai sót, không để xảy ra vi phạm pháp luật trên diện rộng; tiếp tục tuyên truyền Chỉ thị 01/2013/CT-UBND của Ủy ban nhân dân huyện về việc nghiêm cấm sử dụng đất trồng lúa, trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm trên giồng cát và vùng Dự án ngọt hóa cụm Quới Điền để nuôi thủy sản chuyên canh nước mặn, lợ trên địa bàn huyện;  đẩy nhanh tiến độ cấp đổi quyền sử dụng đất theo đúng thủ tục và áp dụng đúng các qui định của pháp luật đã ban hành.

 

13/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhânBộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
Ngày 12/2/2014, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 04/2014/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2014.

Ngày 12/2/2014, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 04/2014/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2014.

Thông tư số 04/2014/TT-BLĐTBXH áp dụng đối với người sử dụng lao động trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã; cá nhân có sử dụng lao động, bao gồm: Các cơ quan hành chính; đơn vị sự nghiệp; lực lượng vũ trang (bao gồm cả lực lượng làm công tác cơ yếu); Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; Hợp tác xã; Các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế có trụ sở đóng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Các tổ chức, cá nhân khác có sử dụng lao động. Công chức, viên chức, người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố nguy hiểm, độc hại kể cả cán bộ quản lý thường xuyên đi thanh tra, kiểm tra, giám sát hiện trường, cán bộ nghiên cứu, giáo viên giảng dạy, sinh viên thực tập, học sinh học nghề hoặc người thử việc trong các doanh nghiệp, cơ quan, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động nêu trên.

Thông tư số 04/2014/TT-BLĐTBXH quy định phương tiện bảo vệ cá nhân là những dụng cụ, phương tiện cần thiết mà người lao động phải được trang bị để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ để bảo vệ cơ thể khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc hại phát sinh trong quá trình lao động, khi các giải pháp công nghệ, thiết bị, kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết.

Phương tiện bảo vệ cá nhân bao gồm: Phương tiện bảo vệ đầu; Phương tiện bảo vệ mắt, mặt; Phương tiện bảo vệ thính giác; Phương tiện bảo vệ cơ quan hô hấp; Phương tiện bảo vệ tay, chân; Phương tiện bảo vệ thân thể; Phương tiện chống ngã cao; Phương tiện chống điện giật, điện từ trường; Phương tiện chống chết đuối; Các loại phương tiện bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động khác.

Thông tư này còn quy định người lao động trong khi làm việc chỉ cần tiếp xúc với một trong những yếu tố nguy hiểm, độc hại dưới đây thì được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân: Tiếp xúc với yếu tố vật lý xấu; Tiếp xúc với bụi và hóa chất độc hại; Tiếp xúc với yếu tố sinh học độc hại, môi trường vệ sinh lao động xấu như vi rút, vi khuẩn độc hại gây bệnh, côn trùng có hại, phân, nước, rác, cống rãnh hôi thối, các yếu tố sinh học độc hại khác; Làm việc với máy, thiết bị, công cụ lao động, làm việc ở vị trí mà tư thế lao động nguy hiểm dễ gây ra tai nạn lao động; làm việc trên cao; làm việc trong hầm lò, nơi thiếu dưỡng khí; làm việc trên sông nước, trong rừng hoặc điều kiện lao động nguy hiểm, độc hại khác.

Nguyên tắc cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân được quy định như sau:

Người sử dụng lao động phải thực hiện các biện pháp về công nghệ, thiết bị, kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động để loại trừ hoặc hạn chế tối đa các tác hại của yếu tố nguy hiểm, độc hại đến mức có thể được, cải thiện điều kiện lao động trước khi thực hiện biện pháp trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân.

Người sử dụng lao động thực hiện việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động theo danh mục tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này. Trong trường hợp các nghề, công việc chưa được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà xét thấy có yếu tố nguy hiểm, độc hại không bảo đảm an toàn sức khỏe cho người lao động thì người sử dụng lao động trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân phù hợp với công việc đó, đồng thời phải báo cáo về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương hoặc Bộ, ngành chủ quản theo mẫu tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này để đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội bổ sung vào danh mục.

Người sử dụng lao động căn cứ vào mức độ yêu cầu của từng nghề hoặc công việc cụ thể tại cơ sở của mình, tham khảo ý kiến của tổ chức công đoàn cơ sở hoặc người đại diện tập thể người lao động để quyết định thời hạn sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân cho phù hợp với tính chất công việc và chất lượng của phương tiện bảo vệ cá nhân.

Người sử dụng lao động phải lập sổ cấp phát, theo dõi việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân và phải có chữ ký của người lao động nhận phương tiện bảo vệ cá nhân theo mẫu tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này.

Người lao động có quyền yêu cầu người sử dụng lao động bổ sung mới hoặc thay đổi loại phương tiện bảo vệ cá nhân quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này cho phù hợp với điều kiện thực tế. Người sử dụng lao động tham khảo ý kiến của tổ chức công đoàn cơ sở hoặc người đại diện tập thể người lao động trước khi quyết định.

Người đến thăm quan, học tập thì tùy theo yêu cầu cụ thể, người sử dụng lao động cấp phát các phương tiện bảo vệ cá nhân cần thiết để sử dụng trong thời gian thăm quan, học tập.

Nghiêm cấm người sử dụng lao động cấp phát tiền thay cho việc cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động hoặc giao tiền cho người lao động tự đi mua.

21/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Cảnh báo nguy cơ tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến TreCảnh báo nguy cơ tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Từ đầu năm đến nay, mặc dù các cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các giải pháp để đảm bảo trật tự an toàn giao thông; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các sở, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố cũng đã phối hợp triển khai thực hiện nhằm kéo giảm tai nạn giao thông, nhưng tình hình vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp; số người chết còn ở mức cao. Tron...

Từ đầu năm đến nay, mặc dù các cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các giải pháp để đảm bảo trật tự an toàn giao thông; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các sở, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố cũng đã phối hợp triển khai thực hiện nhằm kéo giảm tai nạn giao thông, nhưng tình hình vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp; số người chết còn ở mức cao. Trong năm tháng đầu năm 2014, xảy ra 136 vụ, chết 85 người, bị thương 95 người; so với cùng kỳ 2013, giảm 45 vụ (136/181), tăng 31 người chết (85/54), giảm 119 người bị thương (95/214). Trong đó, tháng 5/2014, xảy ra 20 vụ, chết 20 người, bị thương 13 người.

Nguyên nhân, do ý thức của người tham gia giao thông chưa tự giác chấp hành pháp luật về an toàn giao thông, đi không đúng phần đường quy định, thiếu chú ý quan sát, tránh vượt không đảm bảo an toàn, không giữ khoảng cách an toàn, không làm chủ tay lái, sử dụng bia, rượu tham gia giao thông; đội nón bảo hiểm không đạt chuẩn, trong đó, có nhiều trường hợp người đi bộ, đi xe đạp thiếu quan sát khi qua đường, chuyển hướng; vẫn còn tình trạng đối phó, né tránh lực lượng thi hành công vụ; còn một số thanh thiếu niên cố ý vi phạm an toàn giao thông, đua xe, lạng lách, đánh võng trái phép.

Trước tình hình trên, để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, góp phần kéo giảm số vụ, số người chết, số người bị thương; kịp thời ngăn chặn những rủi ro trong tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân; ảnh hưởng và làm thiệt hại đến kinh tế, để lại những hậu quả, nỗi đau lâu dài cho bản thân, gia đình và xã hội; Ban An toàn giao thông tỉnh cảnh báo các cơ quan, đơn vị và các hộ gia đình thường xuyên quan tâm nhắc nhở cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, người thân, bạn bè, nhất là con em trong gia đình; đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên thực hiện nghiêm chỉnh việc chấp hành pháp luật về an toàn giao thông; khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn dành cho người đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện; tuyệt đối không uống rượu khi tham gia giao thông. Đồng thời cảnh báo người đi bộ, đi xe đạp, xe đạp điện và xe thô sơ khác phải chấp hành các quy tắc về an toàn giao thông đường bộ.

30/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Câu đối ngày tếtCâu đối ngày tết
MỪNG ĐẢNG QUANG VINH THI ĐUA CHUNG SỨC CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ NÂNG TẦM THÀNH PHỐ TRẺ       VUI XUÂN ĐẮC LỘC NỔ LỰC KẾT ĐOÀN PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI MỚI Dân tộc Việt Nam nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã một lòng đi theo con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn là độc lập dân tộc tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đ...

MỪNG ĐẢNG QUANG VINH THI ĐUA CHUNG SỨC CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ NÂNG TẦM THÀNH PHỐ TRẺ

VUI XUÂN ĐẮC LỘC NỔ LỰC KẾT ĐOÀN PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI MỚI

Dân tộc Việt Nam nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã một lòng đi theo con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn là độc lập dân tộc tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đây được xem là chân lý và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, ánh sáng và chân lý ấy của Đảng, của Bác Hồ kính yêu luôn vẫn còn nguyên giá trị.  “Mừng Đảng quang vinh” mừng những chủ trương đường lối xây dựng đất nước đúng đắn của Đảng dẫn dắt và soi đường cho toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn gian khổ mà phát triển đi lên, để mọi người dân cùng nhau “Thi đua chung sức” chung lòng cùng xây dựng quê hương giàu đẹp. Với những kết quả bước đầu đã đạt được trong việc xây dựng và nâng tầm thị xã Bến Tre lên thành phố mới, một thành phố trẻ, để thành phố Bến Tre trở thành đô thị loại II theo tinh thần Nghị quyết của Tỉnh uỷ và đúng với nguyện vọng, Nghị quyết của Đảng bộ và nhân dân thành phố Bến Tre, việc đầu tiên cần phải làm là tiếp tục tuyên truyền vận động nhân dân toàn thành phố ra sức thi đua chung sức chung lòng cùng nhau làm đẹp và giữ gìn cảnh quan đô thị góp phần nâng tầm thành phố trẻ Bến Tre anh hùng.

Sự chỉnh trang đô thị nầy cũng là dịp để chúng ta lập thành tích chào đón  một mùa xuân mới  đang về “ Mừng Đảng Quang vinh, mừng xuân đắc lộc”, cùng cầu chúc cho muôn nhà hưởng một mùa xuân tươi vui, đầm ấm, hạnh phúc, đắc lộc; chúng ta phải phấn đấu nhiều hơn trong công việc, trong cuộc sống, nổ lực cùng nhau xây dựng xã hội ngày một tốt hơn. Với tinh thần đoàn kết cùng nhau xây dựng thành công nông thôn mới dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng cùng với khí thế tiến công, quyết tâm nối tiếp truyền thống hào hùng của quê hương Đồng Khởi anh hùng năm xưa, thế hệ hôm nay, trên thành phố mới quyết tâm đoàn kết, nổ lực phấn đấu xây dựng thành phố Bến Tre ngày thêm giàu đẹp, tiến lên làm cuộc Đồng Khởi mới xứng danh quê hương xứ dừa.

06/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân thành phố Bến tre tổ chức tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ công tác hoà giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho Hoà giải viên cơ sởỦy ban nhân dân thành phố Bến tre tổ chức tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ công tác hoà giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho Hoà giải viên cơ sở
 Ngày 13/11/2013, tại hội trường Trường Trung học cơ sở Mỹ Hoá, Ủy ban nhân dân thành phố Bến tre tổ chức tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ công tác hoà giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho Hoà giải viên cơ sở năm 2013. Đến tham dự lớp tập huấn có bà Phan Thị Mỹ Trinh, Trưởng phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp; ông Trịnh Minh Chấn,...

Ngày 13/11/2013, tại hội trường Trường Trung học cơ sở Mỹ Hoá, Ủy ban nhân dân thành phố Bến tre tổ chức tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ công tác hoà giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho Hoà giải viên cơ sở năm 2013. Đến tham dự lớp tập huấn có bà Phan Thị Mỹ Trinh, Trưởng phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp; ông Trịnh Minh Chấn, Trưởng phòng Tư pháp thành phố Bến Tre, cùng hơn 400 đại biểu là thành viên Hội đồng Tư vấn giải quyết khiếu nại, tố cáo xã, phường và Hoà giải viên ở Tổ Hoà giải ấp, khu phố trên địa bàn thành phố Bến Tre.

Tại lớp tập huấn các thành viên Hội đồng Tư vấn giải quyết khiếu nại, tố cáo xã, phường và Hoà giải viên được các Báo cáo viên cung cấp những nội dung cơ bản của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013; kỹ năng, nghiệp vụ công tác hoà giải và các Hoà giải viên giao lưu, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn trong việc thực hiện công tác hoà giải ở cơ sở.

Lớp tập huấn góp phần nâng cao hiệu quả công tác hoà giải ở cơ sở và đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua công tác hoà giải ở cơ sở; tạo chuyển biến tích cực trong công tác này, nâng tỷ lệ hoà giải thành đạt chỉ tiêu từ 80% trở lên do Hội đồng nhân dân thành phố Bến Tre giao và phấn đấu đạt chỉ tiêu hoà giải thành 85% do Bộ Tư pháp giao.

Năm 2013, kết quả hòa giải thành trên địa bàn tỉnh đạt tỷ lệ trên 82,5% (tăng 2,16% so với năm 2012), trong đó kết quả hoà giải thành của thành phố Bến Tre đạt tỷ lệ 91,7% và là một trong những địa phương trên địa bàn tỉnh đạt tỷ lệ hòa giải thành cao.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đảng bộ Sở Tư pháp tổ chức hội nghị sở kết giữa nhiệm kỳĐảng bộ Sở Tư pháp tổ chức hội nghị sở kết giữa nhiệm kỳ
   Chiều ngày 29/5/2013, Đảng bộ Sở Tư pháp tổ chức hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ 2010-2015. Ông Võ Thanh Liêm, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đến dự; ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trị hội nghị.

 

Chiều ngày 29/5/2013, Đảng bộ Sở Tư pháp tổ chức hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ 2010-2015. Ông Võ Thanh Liêm, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đến dự; ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trị hội nghị.

Hội nghị đã thông qua Dự thảo Báo cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Sở Tư pháp nhiệm kỳ 2010-2015; Dự thảo Bản tự kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Sở Tư pháp nhiệm kỳ 2010-2015.

Hội nghị đã dành thời gian tập trung thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến thiết thực; trong đó đi sâu phân tích, đánh giá những kết quả đạt được và cũng thẳng thắn nhìn nhận, chỉ ra những thiếu sót tồn tại trong nữa nhiệm kỳ qua, thảo luận khá kỷ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện trong nữa nhiệm kỳ còn lại.

Trong nửa nhiệm kỳ qua, Đảng bộ Sở Tư pháp đã tập trung lãnh đạo các hoạt động của Đảng bộ đúng định hướng, đúng chủ trương của tỉnh, của Ngành; giành được nhiều kết quả rất đáng trân trọng; nhiều chỉ tiêu đều đạt và vượt so với Nghị quyết. Công tác soạn thảo, thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản qui phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) được thực hiện ngày càng hiệu quả; hình thức PBDGPL bước đầu được đổi mới, biện pháp, mô hình, loại hình ngày càng phong phú, đa dạng và được nhân rộng kịp thời; công tác hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp ( gồm: công chứng, bán đấu giá tài sản, quản lý Luật sư, quản lý giám định tư pháp…) đã đi vào nền nếp; công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) đạt nhiều kết quả khá tốt. Công tác lãnh đạo chính trị tư tưởng được đặc biệt quan tâm, đã tổ chức triển khai, học tập, quán triệt và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nghiêm túc việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “ Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay’’. Đặc biệt, đã tổ chức tốt việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; xuất hiện nhiều tấm gương điển hình tiên tiến; nhiều cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện phong cách, đạo đức, lối sống; có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu, tận tụy với công việc; chất lượng cán bộ, đảng viên được nâng lên; nhiều tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; Đảng bộ và cơ quan đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh; riêng năm 2012 đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh; tiêu biểu, Công đoàn, Chi đoàn Thanh niên đạt danh hiệu vững mạnh xuất sắc 3 năm liên tục; công tác phát triển đảng viên vượt chỉ tiêu (14/10 so với Nghị quyết); công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc và đúng theo kế hoạch.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, những kết quả đạt được; cũng còn nhiều khó khăn, hạn chế; việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị trên một số lĩnh vực chưa toàn diện; chất lượng tham mưu, tổng hợp, đề xuất trên một số mặt chưa sâu, thiếu chủ động, nhạy bén, vẫn còn những sai sót nhất định; phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng chậm đổi mới; việc thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” tuy có tổ chức thường xuyên, nhưng chưa nêu nhiều gương điển hình tiên tiến, chưa tạo sự chuyển biến thật rõ nét việc làm theo gương Bác; chất lượng sinh hoạt chi bộ nâng lên chưa đều, tính giáo dục, tính chiến đấu, nêu gương của một ít cán bộ, đảng viên còn hạn chế; vẫn còn trường hợp đảng viên sai phạm phải xử lý kỷ luật.

Phát biểu tại hội nghị, ông Võ Thanh Liêm, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đánh giá cao việc tổ chức Hội nghị của Đảng bộ Sở Tư pháp được chuẩn bị công phu, chặt chẽ, nghiêm túc; các báo cáo trình bày tại hội nghị đánh giá khá sâu, khá toàn diện trên các mặt, các lĩnh vực công tác; nhiều chỉ tiêu thực hiện đạt và vượt so với Nghị quyết.

Ông Võ Thanh Liêm nhấn mạnh một số nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng bộ Sở Tư pháp phải tiếp tục phấn đấu: Tiếp tục lãnh đạo toàn diện và sâu sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Ngành, rà soát lại các chỉ tiêu để phấn đấu thực hiện trong nửa nhiệm kỳ còn lại; tiếp tục lãnh đạo cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần trách nhiệm; chất lượng tham mưu, tổng hợp, đề xuất; cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận tiện cho người dân; tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng triển khai, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với cán bộ, đảng viên, trong đó chú ý lực lượng quần chúng; tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “ Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay’’; triển khai sâu rộng Chỉ thị 03-CT/TW của bộ chính trị “về tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”;

Ông Võ Thanh Liêm đề nghị tiếp tục giữ vững danh hiệu Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu; thực hiện nghiêm túc Quy chế làm việc của Đảng ủy; nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng bộ, Đảng ủy, chi ủy, chi bộ; nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên; thực hiện tốt chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát hàng năm; phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Kiểm tra, cán bộ kiểm tra; kịp thời phát hiện các tiêu cực; tăng cường công tác giám sát, nhất là giám sát việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, văn hóa giao tiếp nơi công sở, không để khiếu nại, tố cáo nặc danh.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp trân trọng tiếp thu, ghi nhận và biểu dương những kết quả mà Đảng bộ và cán bộ, đảng viên đã đạt được trong nửa nhiệm kỳ qua; đồng thời lưu ý Đảng ủy, các chi ủy cần tập trung lãnh đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức khắc phục những hạn chế, yếu kém, ra sức thi đua, thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của Ngành.

Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động hành chính tư pháp, nhất là công tác hộ tịch ở cơ sở; thực hiện tốt công tác bổ trợ tư pháp; tiếp tục triển khai có hiệu quả kế hoạch phát triển Luật sư, quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng; quy hoạch phát triển các tổ chức và đội ngũ người làm giám định tư pháp; phối hợp thực hiện có hiệu quả công tác PBGDPL; thực hiện công tác TGPL đi vào chiều sâu, hiệu quả thiết thực; thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng.

Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng; lãnh đạo tổ chức học tập đầy đủ và nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các văn bản của cấp uỷ cấp trên; tiếp tục lãnh đạo việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong Đảng bộ, đưa việc làm theo gương Bác trở thành việc làm thường xuyên, nền nếp trong sinh hoạt Đảng và trong công tác, sinh hoạt của cán bộ, đảng viên; thực hiện có chiều sâu Nghị quyết trung ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay”; thường xuyên theo dõi diễn biến tư tưởng của cán bô, đảng viên, kịp thời nhắc nhở, động viên, giúp đỡ cán bộ, đảng viên có biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, đạo đức, lối sống.

Tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy, sắp xếp, bố trí, cán bộ một cách hợp; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để nâng cao trình độ chính trị, kỹ năng nghiệp vụ; bổ sung biên chế ở những nơi còn thiếu, yếu.

Tiếp tục lãnh đạo bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển đảng viên mới; thực hiện hoàn thành kế hoạch kiểm tra, giám sát hàng năm; bảo đảm đúng quy trình và gắn với nhiệm vụ cụ thề của từng đảng viên; thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình; thực hiện phân tích, đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên hàng năm nghiêm túc, thực chất.

Tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X); Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW ngày 02/3/2012 của Ban Tổ chức Trung ương; Hướng dẫn số 07-HD/ĐU ngày 7/5/2013 của Đảng ủy Khối Các cơ quan tỉnh. Nội dung sinh hoạt chi bộ phải chuẩn bị chặt chẽ, nghiêm túc; gắn với chức năng, nhiệm vụ của chi bộ và chỉ đạo của cấp ủy cấp trên để dự kiến nội dung, chương trình, thời gian sinh hoạt, chọn chủ đề hoặc thông tin sinh hoạt phù hợp, tạo điều kiện cho đảng viên tham gia phát biểu ý kiến, tạo không khí sinh hoạt cởi mở, dân chủ, bảo đảm nguyên tắc, chất lượng.

29/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2012Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2012
Nhằm sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm công tác phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng 6 tháng đầu năm 2012 và đề ra phương hướng hoạt động 6 tháng cuối năm, ngày 27/6/2012 Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Hội đồng) đã tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2012.

 

Nhằm sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm công tác phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng 6 tháng đầu năm 2012 và đề ra phương hướng hoạt động 6 tháng cuối năm, ngày 27/6/2012 Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Hội đồng) đã tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2012.

Tham dự Hội nghị có ông Huỳnh Quang Triệu – Giám đốc Sở Tư pháp – Chủ tịch Hội đồng; các thành viên Hội đồng, tổ giúp việc, Lãnh đạo Trung tâm Trợ giúp pháp lý và đại diện lãnh đạo các cơ quan tiến hành tố tụng 9 huyện, thành phố.


Trong 6 tháng đầu năm 2012, Hội đồng đã bám sát kế hoạch công tác, chỉ đạo thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu theo kế hoạch đề ra: Từng ngành là thành viên Hội đồng tiếp tục quán triệt Luật Trợ giúp pháp lý 2006 và Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BTC-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 của Bộ Tư pháp, Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh đã phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng toàn tỉnh trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng 165 vụ việc cho 165 đối tượng được trợ giúp pháp lý. Trong đó bao gồm 93 vụ án hình sự, 19 vụ việc dân sự, 24 vụ đất đai, 23 vụ hôn nhân gia đình, 05 vụ hành chính và 01 vụ lao động. (Trong 165 đối tượng thì có 49 đối tượng là người nghèo; 24 đối tượng là người có công với cách mạng; 61 đối tượng là người chưa thành niên; 02 đối tượng là người già cô đơn không nơi nương tựa, 21 đối tượng Phụ nữ ly hôn và 02 đối tượng phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi).

Nhìn chung, công tác phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng trên địa bàn tỉnh từng bước đi vào nền nếp, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan và từng bước mang lại hiệu quả, đáp ứng cơ bản trong việc đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng của đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Tại Hội nghị các đại biểu đã nhiệt tình thảo luận, đóng góp ý kiến cho dự thảo báo cáo sơ kết và đưa ra những kiến nghị thiết thực với Thường trực Hội đồng, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, đồng thời các đại biểu đại diện các cơ quan tiến hành tố tụng các huyện, thành phố cũng đã nêu lên những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động phối hợp, mà đặc biệt là trong việc phối hợp giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Luật sư và các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, Hội nghị đã thống nhất đề ra một số giải pháp khắc phục những khó khăn vướng mắc, nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp 6 tháng cuối năm 2012.

04/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IVSở Tư pháp Bến Tre: Phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV
Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phá...

Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV.

Theo đó, việc thực hiện phong trào thi đua sẽ gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao và có sự phối kết hợp chặt chẽ với thực hiện phong trào thi đua thường xuyên hàng năm với công tác khen thưởng và phong trào thi đua theo chuyên đề: “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”; phong trào thi đua “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và những phong trào thi đua khác do Bộ Tư pháp phát động.

Đối tượng phát động và thực hiện phong trào thi đua bao gồm tất cả những tập thể và cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Nội dung thực hiện phong trào thi đua tập trung vào nhóm các lĩnh vực về: công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở; công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, gắn với công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; tăng cường công tác kiểm soát thủ tục hành chính, hoạt động truyền thông, kiểm tra kiểm soát thủ tục hành chính; hoàn thiện và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ; kiện toàn tổ chức bộ máy của Ngành; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực thi chế độ công vụ, công chức, viên chức...

Theo kế hoạch, phong trào thi đua được triển khai thực hiện đến trước ngày 31 tháng 8 năm 2015. Đồng thời, giao cho Văn phòng Sở tham mưu Giám đốc Sở tổ chức triển khai, phổ biến, theo dõi và đôn đốc tiến độ thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch; tổng hợp, báo cáo kết quả về Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Tư pháp theo dõi, chỉ đạo.

08/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về ngôn ngữ và kỹ thuật trình bày trong văn bản hành chínhQuy định mới về ngôn ngữ và kỹ thuật trình bày trong văn bản hành chính
 Ngày 19 tháng 01 năm 2011, Bộ Nội  vụ đã ban hành Thông tư số 01/2011/TT-BNV hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật  trình bày văn bản hành chính. Thông tư này có hiệu lực vào ngày 05 tháng 3 năm  2011 và bãi bỏ những quy định về thể thức và kỹ thuật  trình bày văn bản hành chính và bản sao văn bản được quy định tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06 tháng 5  năm 2005 của Bộ Nội vụ ...

Ngày 19 tháng 01 năm 2011, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 01/2011/TT-BNV hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính. Thông tư này có hiệu lực vào ngày 05 tháng 3 năm 2011 và bãi bỏ những quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính và bản sao văn bản được quy định tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản. Hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính và bản sao văn bản theo Thông tư số 01/2011/TT-BNV được áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.

So với quy định trước đây thì Thông tư số 01 đã hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn. Đồng thời, cũng quy định thống nhất về cách viết hoa trong văn bản hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng trong việc triển khai và áp dụng trên thực tế.

Theo Thông tư này, thể thức văn bản là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản, bao gồm những thành phần chung áp dụng đối với các loại văn bản và các thành phần bổ sung trong những trường hợp cụ thể hoặc đối với một số loại văn bản nhất định theo quy định tại Khoản 3, Điều 1 Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư và hướng dẫn tại Thông tư này. Kỹ thuật trình bày văn bản bao gồm khổ giấy, kiểu trình bày, định lề trang văn bản, vị trí trình bày các thành phần thể thức, phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ và các chi tiết trình bày khác, được áp dụng đối với văn bản soạn thảo trên máy vi tính và in ra giấy; văn bản được soạn thảo bằng các phương pháp hay phương tiện kỹ thuật khác hoặc văn bản được làm trên giấy mẫu in sẵn; không áp dụng đối với văn bản được in thành sách, in trên báo, tạp chí và các loại ấn phẩm khác. Trong đó:

- Phông chữ sử dụng trình bày văn bản trên máy vi tính là phông chữ tiếng Việt của bộ mã ký tự Unicode theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6909:2001.

- Khổ giấy: văn bản hành chính được trình bày trên khổ giấy khổ A4 (210 mm x 297 mm). Các văn bản như giấy giới thiệu, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển được trình bày trên khổ giấy A5 (148 mm x 210 mm) hoặc trên giấy mẫu in sẵn (khổ A5). Văn bản hành chính được trình bày theo chiều dài của trang giấy khổ A4 (định hướng bản in theo chiều dài). Trường hợp nội dung văn bản có các bảng, biểu nhưng không được làm thành các phụ lục riêng thì văn bản có thể được trình bày theo chiều rộng của trang giấy (định hướng bản in theo chiều rộng).

- Định lề trang văn bản (đối với khổ giấy A4) bao gồm: lề trên: cách mép trên từ 20 - 25 mm; lề dưới: cách mép dưới từ 20 - 25 mm; lề trái: cách mép trái từ 30 - 35 mm; lề phải: cách mép phải từ 15 - 20 mm.

Vị trí trình bày cụ thể các thành phần thể thức văn bản, bản sao văn bản hành chính; bảng chữ viết tắt tên loại văn bản và bản sao văn bản hành chính; sơ đồ bố trí các thành phần thể thức văn bản, bản sao văn bản; mẫu chữ được thực hiện theo các phụ lục ban hành kèm theo Thông tư.

Do tính chất quan trọng của văn bản hành chính được ban hành nhằm mục đích thông tin, điều hành, triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hoặc dùng để giải quyết các tác nghiệp cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc,... của các cơ quan hành chính nhà nước. Xét trên phương diện giao tiếp thì văn bản hành chính là hình thức thể hiện nội dung các mối quan hệ hành chính, là bộ mặt của các cơ quan nhà nước trong mối quan hệ giao tiếp giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức và cá nhân, trong mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau,… nên yêu cầu đối với văn bản hành chính là phải đảm bảo tính trang trọng, chính xác, rõ ràng và dễ hiểu. Vì vậy, việc quán triệt và thực hiện đúng các quy định về ngôn ngữ, kỹ thuật trình bày trong văn bản hành chính tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.

DL

09/05/2011 12:00 SAĐã ban hành
Tình hình tiến độ rà soát quy định, thủ tục hành chính năm 2013  Tình hình tiến độ rà soát quy định, thủ tục hành chính năm 2013 
Ngày 17 tháng 10 năm 2013, Sở Tư pháp (Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính) tổ chức cuộc họp trao đổi thống nhất về tiến độ thực hiện nhiệm vụ rà soát quy định, thủ tục hành chính (TTHC) năm 2013 của các Sở, ban, ngành tỉnh. Đến dự, có đại diện Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; cán bộ, công chức đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính của các Sở, ban, ngành tỉnh; đại diện lãnh đạo cùng cán bộ, công c...

Ngày 17 tháng 10 năm 2013, Sở Tư pháp (Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính) tổ chức cuộc họp trao đổi thống nhất về tiến độ thực hiện nhiệm vụ rà soát quy định, thủ tục hành chính (TTHC) năm 2013 của các Sở, ban, ngành tỉnh. Đến dự, có đại diện Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; cán bộ, công chức đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính của các Sở, ban, ngành tỉnh; đại diện lãnh đạo cùng cán bộ, công chức đầu mối của Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố: Bến Tre, Giồng Trôm và Châu Thành.

Tại cuộc họp, đại diện các Sở, ban, ngành; các huyện, thành phố báo cáo và trao đổi về tiến độ thực hiện của đơn vị mình. Qua báo cáo, đến thời điểm này, các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Tài nguyên và Môi trường; Tư pháp; Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Công Thương đang trong giai đoạn hoàn thiện phương án, sáng kiến đơn giản hóa TTHC. Bên cạnh đó, các Sở, ngành còn lại: Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư; Ban Quản lý các Khu công nghiệp; Xây dựng; Lao động - Thương binh và Xã hội; Giáo dục và Đào tạo; Y tế; Khoa học và Công nghệ; Sở Nội vụ; Tài chính;… vẫn chưa có phương án, sáng kiến đơn giản hóa TTHC.

Để đảm bảo tiến độ rà soát theo Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 31 tháng 01 năm 2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre về ban hành Kế hoạch rà soát, đánh giá quy định, thủ tục hành chính năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp đề nghị các Sở, ban, ngành tiếp tục tập trung đẩy nhanh tiến độ rà soát, phối hợp với Phòng Kiểm soát TTHC thuộc Sở Tư pháp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đảm bảo gửi báo cáo rà soát về Sở Tư pháp trước ngày 25 tháng 10 năm 2013.

Việc rà soát này là nhiệm vụ thường xuyên của tỉnh, mục tiêu rà soát nhằm kịp thời để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc hủy bỏ quy định hành chính không cần thiết, không phù hợp, không đáp ứng được các nguyên tắc về quy định và thực hiện thủ tục hành chính, nhằm cắt giảm chi phí về thời gian và tài chính của người dân, tổ chức và doanh nghiệp, giảm phiền hà trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.

23/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tự thỏa thuận chia tài sản chung khi thuận tình ly hôn đôi điều cần lưu ýTự thỏa thuận chia tài sản chung khi thuận tình ly hôn đôi điều cần lưu ý
Khi tiến tới hôn nhân người nam và người nữ mong muốn cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình, nhưng không phải ai cũng được sống hạnh phúc bên nhau trọn đời như lời chúc của mọi người trong ngày vui hai họ. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và hạnh phúc không còn thì họ chọn giải pháp ly hôn. Đến với nhau đơn giản chỉ có “một tài sản quý giá” đó là “tình yêu” nhưng khi ly hôn thì phải giải quyết ...

Khi tiến tới hôn nhân người nam và người nữ mong muốn cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình, nhưng không phải ai cũng được sống hạnh phúc bên nhau trọn đời như lời chúc của mọi người trong ngày vui hai họ. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và hạnh phúc không còn thì họ chọn giải pháp ly hôn. Đến với nhau đơn giản chỉ có “một tài sản quý giá” đó là “tình yêu” nhưng khi ly hôn thì phải giải quyết nhiều vấn đề về quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản và vấn đề con chung.

Trong một số trường hợp để ly hôn nhanh chóng và không phải đưa ra xét xử tại phiên Tòa, nhiều cặp vợ chồng đã chọn cách gửi đơn thuận tình ly hôn. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000: Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải. Trong trường hợp Toà án hoà giải không thành thì Toà án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hoà giải đoàn tụ không thành. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không có phản đối sự thoả thuận đó, thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên toà khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn; hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con. Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không có quyền kháng cáo,Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm. Trong trường hợp hoà giải tại Toà án mà thiếu một trong các điều kiện được nêu trên thì Toà án lập biên bản về việc hoà giải đoàn tụ không thành về những vấn đề hai bên không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

Để thuận tiện, nhanh chóng trong quá trình ly hôn, nhiều cặp vợ chồng ghi tài sản chung tự thỏa thuận với nhau trong đơn yêu cầu thuận tình ly hôn. Chẳng hạn, trường hợp vợ chồng chị Linh, chồng chị nói với chị sẽ để lại toàn bộ tài sản chung cho chị và yêu cầu trong đơn thuận tình ly hôn tài sản chung ghi tự thỏa thuận. Sau đó, Tòa án đã ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn, ghi nhận tài sản chung tự thỏa thuận.

Tưởng là đường ai nấy đi, không còn vướng bận gì nhau nữa, nhưng rắc rối ở chỗ chồng chị Linh không thực hiện như lời đã nói. Đầu tiên là anh ta bán chiếc xe bốn chỗ cho người em họ với lý do vợ chồng đã ly hôn nên anh ta có quyền bán mà không cần phải có ý kiến của chị Linh. Tiếp đến, anh ta yêu cầu chị Linh chia đất cho anh ta, còn nhà thì anh ta nhường cho chị Linh và trả cho anh ta một số tiền. Chị Linh vô cùng bất ngờ với lời đề nghị của chồng dù đã ly hôn và cũng hiểu rằng trước đây thỏa thuận là giao toàn bộ tài sản cho chị chỉ thỏa thuận miệng. Khi ly hôn chị Linh và chồng chị không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản chung vợ chồng; nay không thỏa thuận được thì chị Linh chỉ còn cách gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác. Rõ ràng mục đích tự thỏa thuận ngay từ đầu để việc ly hôn được nhanh gọn, tiết kiệm được thời gian và tiền bạc không những không đạt được mà còn kéo theo nhiều rắc rối phát sinh.

Chính vì vậy, đối với thỏa thuận phân chia tài sản chung vợ chồng, cả hai đương sự nên giải quyết rõ ràng một lần trong một vụ án ly hôn. Nếu thống nhất thì cả hai cần ghi rõ sự thỏa thuận phân chia tài sản chung trong đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn như phần tài sản nào thuộc người vợ, phần tài sản nào thuộc người chồng hoặc các bên tự chuyển giao tài sản thỏa thuận như: đối với tài sản là tiền, vàng, đồ dùng có giá trị trong gia đình thì có thể lập tờ thỏa thuận, có chữ ký của hai bên, có chứng thực; đối với các tài sản mà theo quy định phải đăng ký quyền sở hữu, như nhà đất, xe, tàu thuyền..., thì phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực, sau đó phải làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định để tránh những rắc rối về sau.

17/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giám đốc Sở Tư pháp ban hành kế hoạch công tác thanh, kiểm tra năm 2014Giám đốc Sở Tư pháp ban hành kế hoạch công tác thanh, kiểm tra năm 2014
Ngày 12 tháng 12 năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp đã ký ban hành Kế hoạch công tác thanh, kiểm tra năm 2014, theo đó sẽ tập trung kiểm tra trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị thuộc quyền quản lý của Sở Tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc tiếp dân, tiếp nhận và xử lý đơn, thư phản ảnh kiến nghị; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, của cá nhân và tổ chức (kiểm tra hệ...

Ngày 12 tháng 12 năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp đã ký ban hành Kế hoạch công tác thanh, kiểm tra năm 2014, theo đó sẽ tập trung kiểm tra trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị thuộc quyền quản lý của Sở Tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc tiếp dân, tiếp nhận và xử lý đơn, thư phản ảnh kiến nghị; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, của cá nhân và tổ chức (kiểm tra hệ thống sổ sách, việc theo dõi, quản lý, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo Nghị định số 75, 76/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ…); trách nhiệm của thủ trương đơn vị trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kết hợp kiểm tra với kiểm tra việc thực thi công vụ của cán bộ công chức, viên chức tại các đơn vị trực thuộc Sở Tư pháp và mỗi đơn vị được kiểm tra ít nhất 02 lần/năm; phối hợp với các Phòng nghiệp vụ của Sở kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp cấp huyện đối với 05 Phòng Tư pháp.

Đối với Thanh tra chuyên ngành sẽ tập trung thanh tra, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của Phòng Công chứng và các Văn phòng Công chứng: Đồng Khởi, Tín Hữu, Kim Cương, Bình Đại và Văn phòng Công chứng mới đăng ký đã đi vào hoạt động (nếu có) mỗi đơn vị ít nhất 02 lần/năm; về tổ chức và hoạt động 03 Văn phòng Luật sư.

Tăng cường công tác tuyên truyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Kịp thời phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật đối với tổ chức, cá nhân vi phạm, tập trung nhất là đối với các lĩnh vục mà người dân quan tâm như: Đăng ký, quản lý hộ tịch và Công chứng.

23/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Trợ giúp pháp lý cho người nghèo ở xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú  Trợ giúp pháp lý cho người nghèo ở xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú 
Sáng ngày 10 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm) phối hợp với Phòng Tư pháp, Văn phòng DPRP huyện Thạnh Phú, Ủy ban nhân dân xã Hòa Lợi đã tổ chức buổi trợ giúp pháp lý lưu động tại xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú.

Sáng ngày 10 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm) phối hợp với Phòng Tư pháp, Văn phòng DPRP huyện Thạnh Phú, Ủy ban nhân dân xã Hòa Lợi đã tổ chức buổi trợ giúp pháp lý lưu động tại xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú.

Đến tham dự buổi trợ giúp pháp lý lưu động có gần 100 người dân tham dự, phần lớn người dân thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, người có công.

Tại buổi trợ giúp pháp lý, Trung tâm đã phổ biến về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm trong công tác trợ giúp pháp lý, về pháp luật Hôn nhân và gia đình, Luật Người khuyết tật, tư vấn, giải đáp, hướng dẫn cho 20 trường hợp có vướng mắc pháp luật: về tranh chấp đất đai, chế độ, chính sách cho người có công, chia tài sản khi ly hôn….

Ngoài ra, Trung tâm còn cung cấp một số tờ gấp pháp luật, giúp người dân tiếp cận và hiểu hơn về những quy định mới của pháp luật.

27/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Một số vấn đề về nuôi con nuôi thực tếMột số vấn đề về nuôi con nuôi thực tế
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, khi mà các bên trở thành cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì giữa các bên có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối v...

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, khi mà các bên trở thành cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì giữa các bên có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con và ngược lại của con đối với cha mẹ theo quy định của pháp luật.

Trong thực tế, việc nuôi con nuôi rất phổ biến nhưng việc đăng ký nuôi con nuôi thì không phải ai cũng biết và thực hiện. Hầu hết người dân nhìn nhận vấn đề về nuôi con nuôi còn khá sơ sài, đa số đều làm theo cảm tính, chưa thấy hết các quyền, nghĩa vụ của người nhận cũng như người được nhận làm con nuôi. Một số người dân còn cho rằng việc nhận con nuôi chỉ để thể hiện tình cảm, nếu khi nào không muốn là cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì có thể tự chấm dứt hoặc có trường hợp về mặt thực tế họ có mối quan hệ là cha mẹ nuôi và con nuôi thực thụ, có công nuôi dưỡng, chăm sóc từ nhỏ đến lớn nhưng về mặt pháp lý họ không có bất cứ giấy tờ nào thể hiện là cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau.

Thực tế đã có không ít các trường hợp tranh chấp tài sản xoay quanh vấn đề về con nuôi thực tế, cụ thể về mặt thực tế các bên là cha mẹ nuôi, con nuôi của nhau nhưng không làm giấy tờ và cho rằng họ không có con ruột chỉ có con nuôi nên sau khi họ qua đời, tài sản để lại tất nhiên thuộc về người con nuôi nên cũng không làm di chúc. Khi cha mẹ nuôi qua đời, các anh, chị hoặc em của cha, mẹ nuôi với người con nuôi phát sinh tranh chấp về quyền thừa kế và cho rằng người con nuôi không có quyền thừa hưởng phần di sản đó vì chỉ là con nuôi và cũng không có giấy tờ gì chứng minh cho việc nuôi con nuôi. Thế là tranh chấp xảy ra, tình cảm gia đình rạn nứt, quyền lợi của người con nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày 01/01/2011, ngày Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi; đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

Đồng thời theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 03 năm 2011 của Chính phủ về đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế:

Việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký trước ngày 01/01/2011, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Nuôi con nuôi, thì được đăng ký kể từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2015 tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi.

Quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới nhận trẻ em của nước láng giềng cư trú ở khu vực biên giới của nước láng giềng làm con nuôi trước ngày 01/01/2011 mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Căn cứ vào những quy định nêu trên, người dân nếu muốn xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi hợp pháp cần nghiêm túc thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi để đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên cũng như tránh được những tranh chấp đáng tiếc về sau.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014 Kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014
Công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC), kiểm soát TTHC 6 tháng đầu năm 2014 được Uỷ ban nhân dân tỉnh (UBND) tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đặc biệt quan tâm chỉ đạo thường xuyên và quyết liệt, coi đây là một trong bốn nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh (Tập trung phát triển sản xuất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; và thực hiện tốt nhiệm vụ cả...

Công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC), kiểm soát TTHC 6 tháng đầu năm 2014 được Uỷ ban nhân dân tỉnh (UBND) tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đặc biệt quan tâm chỉ đạo thường xuyên và quyết liệt, coi đây là một trong bốn nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh (Tập trung phát triển sản xuất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; và thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính (TTHC), kiểm soát TTHC).

Năm 2014, tỉnh Bến Tre xác định là “Năm cải cách hành chính” trong đó trọng tâm là cải cách TTHC, đổi mới trong công tác lãnh, chỉ đạo, điều hành hoạt động cải cách TTHC, kiểm soát TTHC như: Tăng cường vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu của các cơ quan, đơn vị trong công tác quản lý, điều hành, giám sát thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC, kiểm soát TTHC; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong tham mưu, thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC và giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức. Thông qua Chỉ thị về đẩy mạnh cải cách TTHC và chế độ công vụ, công chức trên địa bản tỉnh Bến Tre, thể hiện sự quyết tâm cao của Lãnh đạo tỉnh  đối với công tác cải cách TTHC, kiểm soát TTHC năm 2014 và những năm tiếp theo; hệ thống cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh bước đầu được kiện toàn, đảm bảo thống nhất, đồng bộ; góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC, kiểm soát TTHC theo chủ trương của Chính phủ, chỉ đạo của Bộ Tư pháp và thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trong thời gian qua, các sở, ngành tỉnh, các địa phương đã có nhiều nỗ lực, tích cực trong tham mưu, triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC, kiểm soát TTHC tại cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Nhìn chung, kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC, kiểm soát TTHC tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm tương đối tốt, đảm bảo thực hiện theo kế hoạch đề ra, công tác đánh giá tác động, cho ý kiến, thẩm định quy định TTHC đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được tiếp tục quan tâm và ngày càng đi vào nền nếp; việc công bố, công khai, nhập dữ liệu TTHC vào Cơ sở dữ liệu quốc gia thực hiện theo đúng quy định và kịp thời; việc niêm yết công khai TTHC tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận và giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức thực hiện nghiêm túc; công tác rà soát đơn giản hoá TTHC tiếp tục được triển khai thực hiện, không chỉ tập trung rà soát những lĩnh vực trọng tâm như đầu tư, đất đai, xây dựng, đăng ký kinh doanh mà còn thực hiện toàn diện trên các lĩnh vực khác nhằm kịp thời phát hiện, kiến nghị đơn giản hoá, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp.

Kết quả giải quyết thủ tục hành chính trên toàn tỉnh đạt kết quả khá cao (đạt tỷ lệ 97,34%); công tác tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính được Sở Tư pháp tham mưu phối hợp các cơ quan, giải quyết kịp thời; công tác truyền thông hỗ trợ hoạt động kiểm soát TTHC được duy trì thường xuyên thông qua hình thức viết tin, bài cập nhật trên Trang thông tin điện tử của tỉnh, website Sở, ngành và thực hiện chuyên mục “Cải cách thủ tục hành chính” trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh;...

Tuy nhiên, công tác cải cách TTHC, kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh còn một số tồn tại, hạn chế như: Một số cơ quan, đơn vị chưa quan tâm kiểm tra, đôn đốc chỉ đạo thực hiện thường xuyên nên việc triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC tại cơ quan, đơn vị còn chậm so yêu cầu; việc tham mưu trình công bố ban hành mới, sửa đổi, bổ sung TTHC theo quy định của Trung ương và văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh một ít cơ quan chưa kịp thời; việc cập nhật, niêm yết công khai TTHC tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chưa đầy đủ; chưa công khai nội dung, địa chỉ tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; công tác tổng hợp báo cáo định kỳ về tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm soát tại một số địa phương chưa kịp thời; hồ sơ giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức còn tình trạng trễ hạn, nhưng chưa kịp thời phát hiện để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý; một số TTHC liên thông phối hợp giải quyết ở nhiều ngành chưa được phối hợp tốt dẫn đến kết quả giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức còn chậm so với thời gian quy định (lĩnh vực đất đai).

Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai thực hiện Thông tư số 05/2014/TT-BTP gặp một số khó khăn, vướng mắc, UBND tỉnh đã kiến nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn, tháo gỡ nhằm tiếp tục tổ chức, triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Trung ương về công tác kiểm soát TTHC, cải cách TTHC trên địa bàn tỉnh.

Để thực hiện có hiệu quả Kế hoạch của tỉnh về công tác cải cách TTHC, kiểm soát TTHC trong 6 tháng cuối năm 2014, UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, địa phương tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như: Xây dựng trình UBND tỉnh ban hành Quy chế phối hợp công bố, công khai TTHC trên địa bàn tỉnh; tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính cho cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC các sở, ban, ngành tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã; rà soát quy định TTHC và tổng hợp kết quả rà soát, đánh giá quy định TTHC trình Chủ tịch UBND tỉnh thông qua phương án đơn giản hóa TTHC năm 2014 trên địa bàn tỉnh; tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân về ý nghĩa, mục tiêu, tầm quan trọng của công tác cải cách TTHC, kiểm soát TTHC. Đồng thời, thông tin rộng rãi về kết quả hoạt động kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh đảm bảo cho cá nhân, tổ chức tham gia giám sát thực hiện TTHC; tiếp tục đẩy mạnh việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC tại các sở, ban ngành, UBND cấp huyện, UBND cấp xã (theo Kế hoạch).

12/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre tiếp tục chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứngBến Tre tiếp tục chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng
Ngày 17 tháng 9 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1660/QĐ-UBND về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre và Ủy ban nhân dân các xã, phường thuộc thành phố Bến Tre sang tổ chức hành nghề công chứng và Quyết định số 1661/QĐ-UBND về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhâ...

Ngày 17 tháng 9 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1660/QĐ-UBND về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre và Ủy ban nhân dân các xã, phường thuộc thành phố Bến Tre sang tổ chức hành nghề công chứng và Quyết định số 1661/QĐ-UBND về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, huyện Bình Đại và Ủy ban nhân dân một số xã, thị trấn thuộc huyện Châu Thành, huyện Bình Đại sang tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Theo đó, Quyết định số 1660/QĐ-UBND về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre và Ủy ban nhân dân các xã, phường thuộc thành phố Bến Tre sang tổ chức hành nghề công chứng thay thế Quyết định số 3003/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, bất động sản từ Ủy ban nhân dân các xã, phường thuộc thành phố Bến Tre sang tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Như vậy, quyết định mới này mở rộng phạm vi chuyển giao, chuyển giao tất cả các hợp đồng giao dịch trên địa bàn thành phố Bến Tre sang các tổ chức hành nghề công chứng.

Theo Quyết định số 1661/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh thì việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch sang các tổ chức hành nghề công chứng chỉ trên phạm vi Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, Bình Đại và Ủy ban nhân dân một số xã, thị trấn thuộc huyện Châu Thành, Bình Đại. Cụ thể như sau:

- Huyện Châu Thành: Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, Ủy ban nhân dân các xã An Khánh, Phú Túc, Hữu Định, Tường Đa, Phú An Hòa, Tam Phước, Tân Thạch và thị trấn Châu Thành.

- Huyện Bình Đại: Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại, Ủy ban nhân dân các xã Bình Thắng, Thạnh Phước, Đại Hòa Lộc, Thạnh Trị, Bình Thới, Thừa Đức, Thới Thuận, Phú Vang, Phú Long, Định Trung, Lộc Thuận và thị trấn Bình Đại.

Việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, Bình Đại, thành phố Bến Tre và Ủy ban nhân dân một số xã, phường, thị trấn sang các tổ chức hành nghề công chứng sẽ góp phần quan trọng để từng bước thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình công chứng các hợp đồng giao dịch, khi mà nhu cầu công chứng của người dân trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng.

30/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong 6 năm thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Bến TreCông tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong 6 năm thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là một trong những chức năng quản lý nhà nước quan trọng nhất của chính quyền các cấp. Trong nhiều năm qua, công tác ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Bến Tre luôn được sự quan tâm của các ngành, các cấp trong việc chỉ đạo thực hiện, các văn bản QPPL được ban hàn...

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là một trong những chức năng quản lý nhà nước quan trọng nhất của chính quyền các cấp. Trong nhiều năm qua, công tác ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Bến Tre luôn được sự quan tâm của các ngành, các cấp trong việc chỉ đạo thực hiện, các văn bản QPPL được ban hành đúng quy trình, đúng pháp luật và có tính khả thi cao. Sở Tư pháp đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo đối với công tác này.
Ngay từ khi có Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND, Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND tỉnh kịp thời tổ chức quán triệt các quy định của Luật, đồng thời xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện Luật có hiệu quả. Bên cạnh đó, để đảm bảo cho việc thực hiện Luật một cách thống nhất, đồng bộ, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, Sở cũng đã tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 24 tháng 4 năm 2007 ban hành Quy định về trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản QPPL của Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Chỉ thị số 07/2007/CT-UBND ngày 24 tháng 4 năm 2007 về việc tăng cường thực hiện Luật Ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP; Công văn số 838/UBND-PC ngày 07 tháng 3 năm 2008 về việc chấn chỉnh hoạt động ban hành văn bản QPPL; Công văn số 3080/UBND-PC ngày 30 tháng 7 năm 2008 về việc gửi hồ sơ dự thảo văn bản QPPL để thẩm định; Công văn số 474/UBND-PC ngày 11 tháng 02 năm 2011 về hướng dẫn xác định thẩm quyền ký ban hành văn bản và xác định hình thức văn bản, thể thức văn bản và Quyết định số 24/2011/QĐ-UBND ngày 29 tháng 8 năm 2011 về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND.
Kể từ khi Luật có hiệu lực đến nay (số liệu lấy đến ngày 31/7/2011), ở cấp tỉnh đã ban hành 470 văn bản QPPL (trong đó: 125 Nghị quyết Hội đồng nhân dân, 231 Quyết định và 114 Chỉ thị của Ủy ban nhân dân); ở cấp huyện đã ban hành 491 văn bản QPPL (trong đó:  395 Nghị quyết, 13 Kết luận của Hội đồng nhân dân và 55 Quyết định, 28 Chỉ thị của Ủy ban nhân dân) và cấp xã ban hành 2.346 văn bản QPPL, chủ yếu là Nghị quyết Hội đồng nhân dân, còn Ủy ban nhân dân cấp xã chủ yếu ban hành văn bản cá biệt.
Nhìn chung, công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL ở cả 3 cấp tỉnh, huyện và xã 6 năm qua đã có những chuyển biến tích cực và dần đi vào nề nếp. Các dự thảo văn bản QPPL ở cấp tỉnh đều được Sở Tư pháp thẩm định trước khi ban hành, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản QPPL do tỉnh ban hành với hệ thống pháp luật.
Các ý kiến thẩm định đã được cơ quan soạn thảo nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu. Văn bản QPPL do HĐND, UBND tỉnh ban hành đảm bảo chặt chẽ, chi tiết, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Do đó, văn bản QPPL khi ban hành được thực hiện ngay không cần hướng dẫn thi hành của các ngành, các huyện. Vì vậy mà cấp huyện ban hành văn bản QPPL còn rất ít.
Công tác ban hành văn bản QPPL ở cấp huyện và xã cũng được thực hiện khá tốt. Hầu hết, các dự thảo văn bản QPPL của UBND huyện đều được Phòng Tư pháp thẩm định nên chất lượng văn bản QPPL khi được ban hành đúng trình tự, thủ tục và có hiệu lực pháp lý cao.
Đối với cấp xã, về cơ bản công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp xã đã có chuyển biến tích cực. Các văn bản QPPL do cấp xã ban hành cơ bản đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục, có nội dung phù hợp với các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước trên địa bàn.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL, trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như: việc đăng ký chương trình lập quy của một số ngành còn thụ động, chưa sát với yêu cầu quản lý nhà nước, văn bản ban hành không đảm bảo tiến độ, phải chuyển sang năm sau hoặc không được ban hành; việc gửi dự thảo văn bản để thẩm định chưa tuân thủ đúng quy định về hồ sơ, thời hạn thẩm định; việc xác định đâu là văn bản quy phạm pháp luật, đâu không phải là văn bản quy phạm pháp luật chưa được quy định thống nhất, cụ thể nên việc áp dụng đôi khi còn lúng túng, dẫn đến việc áp dụng không đúng quy trình ban hành văn bản.
Chất lượng một số dự thảo văn bản QPPL chưa đảm bảo, nội dung đơn giản, sơ sài, sao chép lại hoặc biên tập lại các quy định tại các văn bản QPPL của Trung ương, chưa đảm bảo thể thức và kỹ thuật trình bày...
Từ năm 2005 đến năm 2010, qua kiểm tra cơ quan tư pháp các cấp đã tham mưu kiểm tra 3.400 lượt văn bản và kiến nghị xử lý 95 văn bản có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật. Các văn bản không phù hợp với quy định pháp luật phần lớn là về căn cứ pháp lý hoặc thể thức và kỹ thuật trình bày, số văn bản sai về nội dung hoặc thẩm quyền là không nhiều.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác văn bản cần thực hiện tốt một số nội dung sau: Các ngành, các cấp tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác này, nhất là trong việc củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác văn bản. Quan tâm đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất cho công tác này.
Đồng thời thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND, các văn bản hướng dẫn của Chính phủ để tạo sự thống nhất trong quy trình ban hành văn bản. Thường xuyên rà soát, hệ thống hoá, pháp điển hoá văn bản QPPL của các cấp ban hành để làm cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản.

 

03/10/2011 12:00 SAĐã ban hành
Vui tết an toànVui tết an toàn
Trong cái nắng hanh vàng mang theo một chút se se lạnh của những ngày cuối năm cũng là khí hậu đặc trưng báo hiệu mùa xuân đang về. Hòa vào không khí rộn ràng của ngày xuân, người người, nhà nhà đều tất bật chuẩn bị thật chu đáo để đón một mùa xuân tràn đầy hạnh phúc với ước mong năm mới với bao điều tốt lành, may mắn sẽ đến với gia đình và người thân. Với không khí của những ngày “năm hết Tết...

Trong cái nắng hanh vàng mang theo một chút se se lạnh của những ngày cuối năm cũng là khí hậu đặc trưng báo hiệu mùa xuân đang về. Hòa vào không khí rộn ràng của ngày xuân, người người, nhà nhà đều tất bật chuẩn bị thật chu đáo để đón một mùa xuân tràn đầy hạnh phúc với ước mong năm mới với bao điều tốt lành, may mắn sẽ đến với gia đình và người thân. Với không khí của những ngày “năm hết Tết đến”, anh P cũng tranh thủ những ngày nghỉ cuối tuần để lặt lá mai, nhìn những cây mai vàng nhú những chồi non với những nụ hoa đang e ấp mà thấy lòng nao nao đến lạ, chợt anh thoáng bồi hồi khi nhớ về những chuyện đã qua, một chuyện mà với anh và gia đình đúng là một kỷ niệm đáng quên.

Năm trước cũng vào dịp xuân về, anh cùng bạn bè tổ chức họp mặt ôn lại kỷ niệm thời học sinh, lâu ngày gặp lại nên tất cả mọi người đều muốn nói với nhau thật nhiều do đó tiệc tùng diễn ra khá dài. Sau khi tiệc tàn anh ra về trong cơn ngà ngà say, do trong người có hơi men anh chạy xe với tốc độ nhanh, không làm chủ được tay lái, hậu quả là anh đã lái xe đâm thẳng vào cột điện.

Anh được đưa đến bệnh viện trong tình trạng bất tĩnh và hơi rượu vẫn còn nồng nặc, lần ấy anh may mắn thoát chết nhưng anh và gia đình đã phải đón Tết trong bệnh viện với những nỗi lo lắng, sợ hãi tột cùng. Giờ mỗi khi nhớ lại anh không khỏi rùng mình, một cảm giác vừa sợ vừa hối hận như vẫn còn nguyên vẹn trong anh, cũng vì một phút ham vui mà anh đã gây ra hậu quả nặng nề cho bản thân, cho gia đình. Nhìn những vết thương vẫn còn hiện hữu trên cơ thể như nhắc nhở anh không nên đem tính mạng của mình ra đùa cợt, đồng thời cũng phải tôn trọng tính mạng của người khác khi tham gia giao thông. Nếu ngày hôm đó không may anh mất đi hoặc gây tai nạn cho một ai khác thì nỗi đau mà anh để lại chắc sẽ vô cùng to lớn và mùa xuân năm nay chắc sẽ là mùa xuân không tiếng cười của gia đình, người thân của anh, những suy nghĩ ấy một lần nữa làm anh rùng mình sợ hãi.

Sau tai nạn lần đó, dù may mắn thoát chết nhưng đã để lại cho anh P một bài học vô cùng quý giá, hơn ai hết anh hiểu rõ rượu bia có thể làm nên những cuộc vui nhưng cũng sẽ làm nên bi kịch cho chính bản thân, gia đình và cho cả người khác nếu sử dụng nó khi tham gia giao thông. Biết rằng pháp luật có quy định nghiêm cấm hành vi sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông, những quy định đó mang tính chất răn đe để hạn chế thiệt hại xảy ra đối với người dân, nhưng hơn hết chính bản thân của mỗi người chúng ta luôn nêu cao ý thức tự bảo vệ mình và tôn trọng tính mạng của người khác khi tham gia giao thông là điều hết sức quan trọng. Điều đó không chỉ bảo vệ quyền, lợi ích của bản thân mà còn cho cả mọi người xung quanh, góp phần kéo giảm tai nạn giao thông đã và đang diễn ra ngày càng nhiều, làm hạn chế đi những mất mác, thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần do tai nạn giao thông gây ra. Trong không khí vui xuân đón Tết, tất cả chúng ta đều mong muốn đón một cái Tết với bao điều tốt lành sẽ đến và cũng đừng quên nhắc nhở bản thân, những người thân và bạn bè “Hãy nói không với rượu bia khi tham gia giao thông”, đó cũng là những lời chúc mừng năm mới ý nghĩa nhất gửi đến mọi người, mọi nhà.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả công tác Trợ giúp pháp lý năm 2011Kết quả công tác Trợ giúp pháp lý năm 2011
Được sự quan tâm, tạo điều kiện từ các cấp chính quyền địa phương, người dân trong tỉnh đã không còn xa lạ với hoạt động “trợ giúp pháp lý nhà nước” như thời gian trước đây. Đáp lại sự quan tâm và tin tưởng đó, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý đã không ngừng nỗ lực trong một năm hoạt động với những kết quả đáng khích lệ.

Được sự quan tâm, tạo điều kiện từ các cấp chính quyền địa phương, người dân trong tỉnh đã không còn xa lạ với hoạt động “trợ giúp pháp lý nhà nước” như thời gian trước đây. Đáp lại sự quan tâm và tin tưởng đó, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý đã không ngừng nỗ lực trong một năm hoạt động với những kết quả đáng khích lệ.
Trong năm, tổng số vụ việc trợ giúp pháp thuộc đối tượng là 488 vụ việc, thực hiện trợ giúp pháp lý cho 492 đối tượng; trong đó, tham gia tố tụng là 134 vụ việc (Trợ giúp viên pháp lý thực hiện 60 vụ việc, Luật sư- Cộng tác viên trợ giúp pháp lý thực hiện 74 vụ việc), hòa giải 37 vụ việc, thực hiện kiến nghị 02 vụ việc, đại diện ngoài tố tụng 04 vụ việc, hình thức trợ giúp pháp lý tư vấn pháp luật là 311 vụ việc. Ngoài ra, Trung tâm còn tư vấn cho 1339 người không thuộc đối tượng. So với năm 2010 số vụ việc trợ giúp pháp lý cho người thuộc đối tượng có sự gia tăng khá nhiều (năm 2010 có 220 vụ việc, thực hiện trợ giúp pháp lý cho 225 đối tượng). Sự gia tăng về số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý cũng như số lượng người được trợ giúp pháp lý nêu trên xuất phát từ việc mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý cho phụ nữ theo Thông tư 07/2011/TT-BTP ngày 31/3/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và trong hoạt động trợ giúp pháp lý, thực hiện trợ giúp pháp lý cho phụ nữ thuộc một trong các trường hợp như phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, phụ nữ đang trong quá trình chuẩn bị kết hôn và ly hôn, bị bóc lột sức lao động hoặc bị xâm hại tình dục…Qua đó, Trung tâm vẫn luôn bảo đảm chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý đảm bảo đúng quy định của Bộ Tiêu chuẩn đánh giá vụ việc chất lượng trợ giúp pháp lý.
Trong năm 2011, Trung tâm trợ giúp pháp lý đã thực hiện 56 đợt trợ giúp pháp lý lưu động, tăng so với chỉ tiêu kế hoạch đầu năm là 16 đợt cho 2.244 người dân (nam:1120, nữ:1124). Song song thực hiện trợ giúp pháp lý trực tiếp cho người dân, Trung tâm còn kết hợp việc tuyên truyền, phổ biến đến người dân qua các chuyên đề giới thiệu một số quy định Luật Trợ giúp pháp lý, các văn bản hướng dẫn Luật Đất đai, Luật Hình sự…Trên địa bàn tỉnh, Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý đã tổ chức 28 lượt sinh hoạt cho 928 người dân và thành lập thêm 03 Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại huyện Thạnh Phú.
Chất lượng trợ giúp pháp lý luôn được lãnh đạo Trung tâm chú trọng, trong năm Trung tâm đã tổ chức 01 lớp tập huấn kiến thức pháp luật về Luật Tố tụng hành chính năm 2010, kỹ năng trợ giúp pháp lý nhằm bổ sung kiến thức pháp luật cho thành viên Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý. Đối với trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, lãnh đạo Trung tâm đã thực hiện việc kiểm tra, thẩm định đánh giá chất lượng vụ việc, hồ sơ của Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư-Cộng tác viên Trung tâm. Lãnh đạo Trung tâm trợ giúp pháp lý còn tham gia thực hiện việc giám sát các phiên tòa hình sự có Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư- Cộng tác viên tham gia nhằm đánh giá chính xác chất lượng trợ giúp pháp lý.
Trong năm, Trung tâm còn phối hợp với Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, tỉnh Đoàn, Trung tâm nuôi dạy trẻ vào đời sớm tổ chức sinh hoạt định kỳ Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; phối hợp với Tỉnh Đoàn thực hiện lồng ghép Chiến dịch Mùa hè xanh của Đoàn viên thanh niên với “Đội hình Luật gia trẻ”, thành viên của đội hình là những Đoàn viên thanh niên có kiến thức và kỹ năng về pháp luật. Qua quá trình thực hiện, mô hình lồng ghép này đã tạo được những kết quả khả quan, vừa tạo được một sân chơi, giao lưu trao đổi, học hỏi kinh nghiệm giữa các Đoàn viên thanh niên, vừa góp phần tuyên truyền nâng cao kiến thức pháp luật của người dân tại địa phương.
Thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Công tác phối hợp với cơ quan tố tụng về trợ giúp pháp lý ngày càng được thắc chặt, trong năm Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý đã tiến hành kiểm tra hoạt động phối hợp tham gia tố tụng trong công tác trợ giúp pháp lý tại huyện Mỏ Cày Nam và huyện Giồng Trôm. Trong quá trình kiểm tra, Hội đồng chú trọng việc đặt các bảng thông tin về trợ giúp pháp lý, các hộp tin trợ giúp pháp lý, công khai danh sách Luật sư-cộng tác viên trợ giúp pháp lý giúp người dân tiếp cận nắm bắt thông tin, trình tự thủ tục để được trợ giúp pháp lý dễ dàng.
Bên cạnh những kết quả đạt được trong năm, hoạt động trợ giúp pháp lý tại địa phương còn gặp những khó khăn như: Hoạt động của Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý chưa đồng đều, kinh phí còn hạn hẹp. Trang thiết bị, phương tiện làm việc và cơ sở vật chất của Trung tâm, Chi nhánh chưa đảm bảo tạo môi trường làm việc thuận lợi.
Nhìn chung, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng với sự quan tâm của cấp ủy, của chính quyền cùng với tinh thần trách nhiệm, nhiệt huyết phục vụ nhân dân của đội ngũ công chức, viên chức Trung tâm, những khó khăn tồn tại sẽ được sớm khắc phục trong thời gian tới./.

 

14/01/2012 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn