Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Mùa xuân bàn về việc cưới và lễ hộiMùa xuân bàn về việc cưới và lễ hội
Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong bốn mùa, trời trong, nắng ấm, gió se lạnh. Đây cũng là dịp tiệc cưới, lễ hội diễn ra nhiều nhất trong năm. Như chúng ta đã biết, việc cưới xưa nay, ở từng vùng miền khác nhau với nhiều phong tục, tập quán: tổ chức trong nhiều ngày, nhiều lễ, đòi hỏi nhiều lễ vật, có nơi gọi là “thách cưới” hay “nạp tài” bằng heo, bò, tiền, vàng…vừa mất nhiều thời gian, tiền của vừa...

Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong bốn mùa, trời trong, nắng ấm, gió se lạnh. Đây cũng là dịp tiệc cưới, lễ hội diễn ra nhiều nhất trong năm. Như chúng ta đã biết, việc cưới xưa nay, ở từng vùng miền khác nhau với nhiều phong tục, tập quán: tổ chức trong nhiều ngày, nhiều lễ, đòi hỏi nhiều lễ vật, có nơi gọi là “thách cưới” hay “nạp tài” bằng heo, bò, tiền, vàng…vừa mất nhiều thời gian, tiền của vừa ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc, có khi còn lâm vào cảnh túng thiếu, nợ nần.

Anh về bán đất cây da

Bán cặp trâu già mới cưới được em

Ngày xưa, để cưới được vợ nhà trai phải bán “đất cây da”, “bán cặp trâu già”, những tài sản, phương tiện sinh sống đã gắn với gia đình từ lâu, để lo sinh lễ. Ở một số địa phương, nghi lễ trong cưới hỏi phải gồm đủ sáu lễ. Đó là lễ "Nạp thái" (người mai mối đem ý định kết sui gia của nhà trai đến thưa chuyện với nhà gái); Lễ tiếp theo là "Vấn danh" (hỏi tên tuổi cô gái, cốt để nhờ thầy xem tuổi hai người xung hay hạp); Lễ "Nạp cát" (đưa tin vui, tức là tin về sự hợp tuổi, hai gia đình có thể tiến tới việc hôn nhân); "Nạp trưng" (nạp những lễ vật cần thiết đối với nhà gái); "Thỉnh kỳ" (nhà trai xin ngày cử hành hôn lễ) và lễ cuối cùng là "Thân nghinh" (đón dâu).

Ngày nay, chúng ta đã giản lược chỉ còn ba lễ chính: Chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới. Tuy nhiên, một số nơi lễ cưới vẫn còn đặt nặng việc “môn đăng hộ đối”, hay tổ chức phải linh đình với nhiều sính lễ. Một số khác lợi dụng việc cưới để phô trương thân thế, mời nhiều khách, đãi tiệc trong nhiều ngày nhằm thu lợi, mà không xem trọng tình cảm. Trước tình hình đó, cần có văn bản pháp luật quy định thống nhất về việc cưới phù hợp với điều kiện đổi mới, hiện đại của đất nước.

Cùng với Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII), Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; Kết luận số 51-KL/TW ngày 22 tháng 7 năm 2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21 tháng 01 năm 2011 quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 3 năm 2011.

Thông tư này quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội được tổ chức trong phạm vi cả nước, áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào việc cưới, việc tang và lễ hội tại Việt Nam.

Điều 3, 4 Thông tư quy định về  tổ chức việc cưới và đăng ký kết hôn. Theo đó, hôn nhân được xem là hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo vệ là việc cưới phải được tổ chức theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch và các quy định pháp luật khác có liên quan; Đôi nam nữ để trở thành vợ chồng phải đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai người theo quy định của pháp luật; Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức việc đăng ký kết hôn theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

Bên cạnh đó, việc Tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc tại địa điểm cưới: Đảm bảo trang trọng, tiết kiệm, vui tươi, lành mạnh, phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá của từng địa phương, dân tộc, tôn giáo và phù hợp với hoàn cảnh của hai gia đình; Các thủ tục chạm ngõ, ăn hỏi, rước dâu có thể được tổ chức theo phong tục, tập quán; không phô trương hình thức, rườm rà; không nặng về đòi hỏi lễ vật; Địa điểm cưới do hai gia đình lựa chọn; thời gian tổ chức tiệc cưới không làm ảnh hưởng đến thời gian lao động của Nhà nước; chỉ mời khách dự tiệc cưới trong phạm vi gia đình, họ tộc thân thích, bạn bè và đồng nghiệp thân thiết; Tổ chức tiệc cưới phù hợp với hoàn cảnh gia đình, tránh phô trương, lãng phí; Trang trí lễ cưới cần giản dị, không rườm rà, phô trương; trang phục cô dâu, chú rể đẹp và lịch sự, phù hợp với văn hoá dân tộc; Âm nhạc trong đám cưới phải lành mạnh, vui tươi; âm thanh đảm bảo không vượt quá độ ồn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam thực hiện tại bản tiêu chuẩn Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 2351/1998/QĐ-BKHCNMT ngày 5 tháng 12 năm 1998 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ); không mở nhạc trước 06 giờ sáng và sau 22 giờ đêm.

Mặt khác, Nhà nước còn khuyến khích thực hiện các hoạt động trong tổ chức việc cưới như: Dùng hình thức báo hỷ thay cho giấy mời dự lễ cưới, tiệc cưới; Hạn chế tổ chức tiệc cưới linh đình, chỉ tổ chức tiệc trà, tiệc ngọt trong lễ cưới; Không sử dụng thuốc lá trong đám cưới; Cơ quan, tổ chức, đoàn thể đứng ra tổ chức lễ cưới; Cô dâu, chú rể và gia đình đặt hoa tại đài tưởng niệm liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ, di tích lịch sử - văn hoá; trồng cây lưu niệm tại địa phương trong ngày cưới; Cô dâu, chú rể và gia đình mặc trang phục truyền thống hoặc trang phục của dân tộc mình trong ngày cưới.

Yêu nhau yên phận thì thôi

Của thì như nước khi vơi khi đầy

Hôn nhân là việc hệ trọng của đời người, do đôi bên nam nữ tự nguyện nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững và phải thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán phải phù hợp với hoàn cảnh của hai gia đình, tránh phô trương, lãng phí. Nghiêm cấm việc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.   

Mùa xuân cũng là dịp có nhiều lễ hội diễn ra như: Hội đền An Dương Vương (Hà Nội) kéo dài từ mùng 6 đến 16 tháng giêng, lễ hội tưởng nhớ vua Thục Phán có công dựng nước Âu Lạc, xây thành cổ loa; Lễ hội Lim (Bắc Ninh) từ ngày 13 đến 15 tháng giêng, dân sở tại hay du khách khắp nơi lại nô nức rủ nhau đi dự hội Lim để được say sưa trong không khí hội, để được nghe những anh, chị giao cảm đắm say trong điệu hát lời ca quan họ và xem tục kết bạn đầy tình nghĩa; Hội Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội) thường bắt đầu từ mồng 6 tháng giêng đến 12 tháng 4 âm lịch và chính hội là mồng 9 tháng giêng, diễn lại tích Thánh Gióng đánh giặc Ân, Hội Gióng được tổ chức để tưởng nhớ đến Thánh Gióng - vị anh hùng thiếu niên của dân tộc ta; Hội Linh Sơn Thánh Mẫu, còn gọi là hội xuân núi Bà Đen (Tây Ninh), thường từ ngày 10 tháng giêng, đông nhất là ngày 15 tháng giêng. Đặc trưng của hội là chơi xuân, vãn cảnh, cúng lễ cầu mong một năm thịnh vượng; hội hoa xuân ở các tỉnh… và đặc biệt là đón Tết và phong tục ngày Tết.

Tết Nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cả, là lễ hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất, tưng bừng, nhộn nhịp nhất của dân tộc. Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, mà phần “lễ” cũng như phần “hội” đều rất phong phú cả nội dung cũng như hình thức. Tết Nguyên Đán đúng vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu một năm mới theo âm lịch, chữ “Nguyên” có nghĩa là bắt đầu, chữ “Đán” có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Mâm ngũ quả, mâm cơm cúng ông bà, bánh chưng, bành tét, bao lì xì, xông đất, đi hội xuân, lễ chùa xin lộc đầu năm, cầu bình an, các trò chơi … đã rất thân quen trong ngày Tết.

Đi đâu mặc kệ đi đâu

Đến ngày giỗ chạp rủ nhau mà về

Tết là dịp để con người trở về với cội nguồn. Dù có đi đâu xa, vào ngày này, ai ai cũng cố gắng trở về quê hương để được sum vầy với người thân dưới mái ấm gia đình, thăm phần mộ tổ tiên, gặp lại họ hàng, làng xóm, thầy cô, bạn bè. Ngày Tết cũng làm cho con người trở nên vui vẻ hơn, lạc quan, yêu đời và độ lượng hơn. Tuy nhiên, một bộ phận người dân đã lợi dụng dịp Tết để hoạt động mê tín dị đoan như: bói toán, xem quẻ, lên đồng thu lợi bất chính; đá gà, đánh bài ăn thua bằng tiền; cán bộ, công chức lợi dụng việc chúc Tết, quà mừng Tết để hối lộ. Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21 tháng 01 năm 2011 của Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã đưa ra các nguyên tắc khi tổ chức lễ hội: Không trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc; không để xảy ra các hoạt động mê tín dị đoan; Không lợi dụng lễ hội để hoạt động nhằm chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết trong cộng đồng, dòng họ và gia đình; Không làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông và trật tự, an toàn công cộng; Không tổ chức hoặc tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức; Không được sử dụng thời gian làm việc và phương tiện của cơ quan đi đám cưới, lễ hội (trừ cơ quan làm nhiệm vụ).

Tổ chức, cá nhân, khi tổ chức hoặc tham gia lễ hội, phải thực hiện các quy định sau: Nghi thức lễ hội phải được tiến hành trang trọng, phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc; Trong khu vực lễ hội, cờ Tổ quốc phải được treo nơi trang trọng, cao hơn cờ hội, cờ tôn giáo; chỉ treo cờ hội, cờ tôn giáo tại địa điểm lễ hội và trong thời gian tổ chức lễ hội; Thực hiện đúng nội quy, quy định của Ban tổ chức lễ hội; Trang phục đẹp, lịch sự, phù hợp với thuần phong mỹ tục; Không nói tục, xúc phạm tâm linh và ảnh hưởng xấu tới không khí trang nghiêm của lễ hội; Bảo đảm trật tự, an ninh khi dự lễ hội; không đốt pháo, đốt và thả đèn trời; Ứng xử có văn hoá trong hoạt động lễ hội; Bỏ rác vào nơi quy định, giữ gìn vệ sinh môi trường; Không bán vé vào dự lễ hội; Nếu tổ chức các trò chơi, trò diễn, biểu diễn nghệ thuật, hội chợ, trưng bày triển lãm trong khu vực lễ hội thì được bán vé cho các hoạt động đó; giá vé thực hiện theo quy định của pháp luật về tài chính; Nghiêm cấm lợi dụng lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan như xem số, xem bói, gọi hồn, cầu cơ, sấm truyền, yểm bùa, trừ tà, phù phép chữa bệnh; Không đốt đồ mã trong khu vực lễ hội.

Bên cạnh đó, nhà nước còn khuyến khích các hoạt động sau trong tổ chức lễ hội: Tổ chức giới thiệu ý nghĩa lịch sử của lễ hội, giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước, con người Việt Nam; Tưởng nhớ công đức của ông cha, ghi nhận công lao của các bậc tiền bối trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; Tổ chức các trò chơi dân gian, trò chơi mới và các hoạt động văn hoá, thể thao có nội dung bổ ích, lành mạnh, phù hợp với quy mô, tính chất, đặc điểm của lễ hội; Thắp hương theo quy định của Ban tổ chức lễ hội.

Một năm là mấy tháng xuân

Ăn chơi cho thỏa phong trần ai ơi!

Không biết từ bao giờ, Tết cổ truyền đã trở nên rất thiêng liêng, gắn bó trong mỗi con người Việt Nam. Tuy phong tục tập quán giữa các miền có khác nhau, nhưng Tết Nguyên Đán là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà, ngày Tết là ngày đoàn tụ, mối quan hệ họ hàng, làng xóm, bạn bè càng thắt chặt hơn. Để ngày Tết thật sự trọn vẹn và ý nghĩa, mỗi chúng ta hãy cùng gia đình, người thân, bạn bè vui xuân nhưng phải tôn trọng pháp luật và chấp hành pháp luật.

21/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.Niêm yết công khai thủ tục hành chính là yêu cầu bắt buộc nghiêm túc tại các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 07 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BTP hướng dẫn công bố, niêm yết thủ tục hành chính và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính.

Thông tư quy định, công bố thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính, góp phần phòng, chống tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền.

Yêu cầu của việc niêm yết công khai thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo thủ tục hành chính được niêm yết đúng ngày Quyết định công bố có hiệu lực thi hành; không niêm yết các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành.

Việc niêm yết công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết định công bố, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước.

Trong trường hợp các thủ tục hành chính được niêm yết công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục hành chính được niêm yết công khai phải bảo đảm không bị hư hỏng, rách nát, hoen ố.

Cách thức niêm yết công khai thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu sau:

Niêm yết công khai thủ tục hành chính trên bảng theo một hoặc nhiều cách thức sau đây: Bảng gắn trên tường, bảng trụ xoay, bảng di động… phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan thực hiện niêm yết. Vị trí đặt bảng phải thích hợp, không quá cao hoặc quá thấp để cá nhân dễ đọc, dễ tiếp cận. Nơi đặt bảng phải có khoảng trống đủ rộng để người đọc có thể tìm hiểu, trao đổi, ghi chép; không sử dụng kính, màng nhựa, lưới thép hoặc cửa có khóa để che chắn bảng niêm yết thủ tục hành chính.


Bảng niêm yết thủ tục hành chính có kích thước thích hợp, đảm bảo niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính theo từng lĩnh vực và nội dung hướng dẫn về quyền phản ánh, kiến nghị và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị ( theo Mẫu số 01 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này).

Thủ tục hành chính gắn trên Bảng niêm yết được chia thành tập theo từng lĩnh vực, kết cấu như sau:

Danh mục thủ tục hành chính theo lĩnh vực được ghi rõ tên thủ tục hành chính và số thứ tự tương ứng của từng thủ tục hành chính ( theo Mẫu số 02 tại Phụ lục II kèm theoThông tư này);

Nội dung của từng thủ tục hành chính (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này) được in một mặt trên trang giấy tối thiểu là khổ A4, kèm theo mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có). Phông chữ sử dụng để trình bày là phông chữ tiếng Việt Unicode (Times New Roman), cỡ chữ tối thiểu là 14 theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6009:2001.

Ngoài cách thức công khai bắt buộc bằng hình thức niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc các cơ quan nêu trên có thể sử dụng thêm các hình thức công khai phù hợp khác, như: tập hợp các thủ tục hành chính theo lĩnh vực để đóng thành quyển đặt tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính hoặc tại nhà văn hóa cộng đồng hoặc tại nơi sinh hoạt cộng đồng của các thôn, làng, bản, ấp, khóm hoặc các địa điểm sinh hoạt công cộng khác; in tờ rơi; sử dụng máy tính có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia tại địa chỉ http://csdl.thutuchanhchinh.vn.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về chế độ báo cáo tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 03 năm 2014.

10/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về xử lý kỷ luật đối với viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lậpQuy định mới về xử lý kỷ luật đối với viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Ngày 06 tháng 4 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 27/2012/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức. Nghị định này được áp dụng đối với những đối tượng là viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật Viên chức và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 5 năm 2012.

Ngày 06 tháng 4 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 27/2012/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức. Nghị định này được áp dụng đối với những đối tượng là viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật Viên chức và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 5 năm 2012.

Theo Nghị định, viên chức sẽ bị xử lý kỷ luật khi có hành vi vi phạm pháp luật trong các trường hợp sau đây: Vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ của viên chức và những việc viên chức không được làm quy định tại Luật Viên chức; vi phạm các nghĩa vụ khác cam kết trong hợp đồng làm việc đã ký kết với đơn vị sự nghiệp công lập; vi phạm pháp luật bị tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật; vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về các hình thức, thời hiệu và thời hạn xử lý kỷ luật đối với viên chức được quy định như sau:

Hình thức kỷ luật sẽ được áp dụng tùy theo mức độ vi phạm bao gồm 04 hình thức sau đây: khiển trách, cảnh cáo, cách chức và buộc thôi việc. Riêng hình thức kỷ luật “cách chức” chỉ được áp dụng đối với viên chức giữ chức vụ quản lý.

Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm viên chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến thời điểm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật.

Về thời hạn xử lý kỷ luật tối đa là 02 tháng, kể từ ngày phát hiện viên chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến ngày người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật. Trường hợp vụ việc có liên quan đến nhiều người, có tang vật, phương tiện cần giám định hoặc những tình tiết phức tạp khác cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để làm rõ thêm thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền xử lý kỷ luật ra quyết định kéo dài thời hạn xử lý kỷ luật, nhưng không quá 04 tháng.

Ngoài ra, Nghị định này còn quy định về trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức khi có hành vi gây thiệt hại tài sản của đơn vị sự nghiệp công lập. Việc xử lý trách nhiệm bồi thường, hoàn trả phải căn cứ vào lỗi, tính chất của hành vi gây thiệt hại, mức độ thiệt hại tài sản thực tế gây ra để quyết định mức và phương thức bồi thường thiệt hại, hoàn trả cho đơn vị, bảo đảm khách quan, công bằng và công khai./.

02/05/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An QuyThành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy
Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.

Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.Theo Quyết định số 118/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã An quy, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ gồm có 16 thành viên, Ông Lê Phúc Vinh, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm; các thành viên khác là cán bộ các ban ngành, Đoàn thể xã; cùng Trưởng ấp của 6 ấp.

Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy được thành lập sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân địa phương giao lưu, trao đổi những khó khăn, vướng mắc pháp luật trong cuộc sống. Câu lạc bộ sinh hoạt theo định kỳ hai tháng một lần với nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách của xã. Tính đến nay, huyện Thạnh Phú có 18/18 xã thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý.

26/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnhỦy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh
Thực hiện Quyết định số 1934/QĐ-BTP ngày 25 tháng 7 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời đánh toàn diện kết quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2003-2013 trên địa bàn tỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến công ...

Thực hiện Quyết định số 1934/QĐ-BTP ngày 25 tháng 7 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời đánh toàn diện kết quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2003-2013 trên địa bàn tỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; ngày 09 tháng 8 năm 2013 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 3723/KH-UBND tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh. Theo kế hoạch, việc tổng kết sẽ tập trung vào 03 nội dung chính như sau:

Thứ nhất, đánh giá về những kết quả đạt được trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật từ năm 2003 đến năm 2013.

Thứ hai, đánh giá về thực trạng triển khai công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; sự quan tâm, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương; về cách thức triển khai công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; vai trò đầu mối của người làm công tác pháp chế; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị khi rà soát, hệ thống hóa; sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, với công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các công tác khác.

Thứ ba, đánh giá về những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; qua đó làm rõ nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế trên và nghiên cứu, đề xuất giải pháp hay, có hiệu quả để công tác này được hoàn thiện hơn trong thời gian tới.

Ngoài ra, theo Kế hoạch còn yêu cầu đánh giá và ghi nhận các tập thể, cá nhân đã có những thành tích trong việc triển khai toàn diện các mặt công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật để khen thưởng theo thẩm quyền và đề nghị tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức thực hiện và nghiên cứu, tổng hợp, tham mưu xây dựng Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh. Việc tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bến Tre được triển khai và hoàn thành trước ngày 03 tháng 9 năm 2013.

26/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ.Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
 Ngày 29/10/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

Ngày 29/10/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

Các điều kiện khác vẫn được giữ nguyên theo quy định của Quyết định 167 là: hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ – TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010) đang cư trú tại địa phương, do UBND cấp xã quản lý; Hộ chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện nhà ở; Hộ không thuộc diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn và theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác.

Nay theo Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg các đối tượng hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở sẽ được mở rộng đến cả các hộ đang cư trú tại các khu vực không phải đô thị trên phạm vi cả nước hoặc tại các thôn, làng, buôn, bản, ấp, phum, sóc (gọi chung là thôn, bản) trực thuộc phường, thị trấn, hoặc xã trực thuộc xã, thành phố thuộc tỉnh nhưng sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm, ngư nghiệp (Quyết định 167 chỉ qui định một trong các điều kiện được hỗ trợ là: phải đang cư trú tại khu vực không phải là đô thị trên phạm vi cả nước).

Cũng theo Quyết định mới thì chi phí quản lý được quy định như sau: các địa phương sử dụng ngân sách địa phương để bố trí kinh phí quản lý triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở với mức tối đa không quá 0,5% tổng số chi ngân sách nhà nước hỗ trợ và vay vốn Ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện chính sách theo quy định.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/10/2010.

26/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến TreChính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 11 tháng 12 năm 2012, Bộ Tài chính  ban hành Công văn số 17217/BTC-NSNN về việc bổ sung kinh phí cho các địa phương thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết về phân bổ kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Ngày 11 tháng 12 năm 2012, Bộ Tài chính  ban hành Công văn số 17217/BTC-NSNN về việc bổ sung kinh phí cho các địa phương thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết về phân bổ kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Theo Công văn này, Bến Tre được hỗ trợ 14.551 triệu đồng, trong đó, kinh phí hỗ trợ địa phương sản xuất trồng lúa là 7.275,5 triệu đồng, kinh phí hỗ trợ cho người sản xuất lúa là 7.275,5 triệu đồng.


Chính sách hỗ trợ địa phương sản xuất lúa, căn cứ vào diện tích đất trồng lúa, Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho địa phương sản xuất trồng lúa (gồm chi đầu tư và chi thường xuyên) như sau: 500.000 đồng/ha/năm đối với đất chuyên trồng lua nước; 100.000 đồng/ha/năm đối với đất lúa khác (trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa); kinh phí hỗ trợ sản xuất lúa, tập trung cho đầu tư và duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, trong đó ưu tiên đầu tư thủy lợi, giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, hạ tầng làng nghề ở nông thôn, hạ tầng nuôi thủy sản và các nội dung đầu tư khác liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; hỗ trợ các hoạt động khuyến nông giúp các hộ và tổ chức tiếp cận dịch vụ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; hỗ trợ xây dựng và phổ biến nhân rộng mô hình sản xuất mới có hiệu quả và ngành nghề nông thôn, như: Hỗ trợ giống lúa, phân bón, thuốc phòng trị sâu bệnh, máy móc thiết bị, công cụ sản xuất, vật tư khác.

Đối với chính sách hỗ trợ người trồng lúa, được hỗ trợ 500.000 đồng/na/năm cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa trên đất chuyên trồng lúa nước; 100.000 đồng/ha/năm đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa trên đất chuyên trồng lúa khác (trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa); người sản xuất sử dung kinh phí được hỗ trợ để phát triển sản xuất lúa có hiệu quả (ứng dụng khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất mới, đầu tư giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…) nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng lúa, góp phần xây dựng nông thôn mới.

27/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thành lập văn phòng công chứng tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến TreThành lập văn phòng công chứng tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
Ngày 03 tháng 6 năm 2013, Văn phòng Công chứng Kim Cương tọa lạc tại số 194A/1, ấp Phước Thành, xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã khai trương và chính thức đi vào hoạt động. Ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự.

Ngày 03 tháng 6 năm 2013, Văn phòng Công chứng Kim Cương tọa lạc tại số 194A/1, ấp Phước Thành, xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã khai trương và chính thức đi vào hoạt động. Ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự.

Văn phòng Công chứng Kim Cương do Công chứng viên Đặng Thị Kim Cương làm Trưởng văn phòng, được thành lập theo Quyết định số 411/QĐ-UBND ngày 25 tháng 3 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre. Đây là Văn phòng Công chứng đầu tiên trên địa bàn huyện Châu Thành và là Văn phòng Công chứng thứ 3 được thành lập trên địa bàn tỉnh. Bước đầu đã thực hiện xã hội hóa trên lĩnh vực hoạt động công chứng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân trên địa bàn huyện, trên cơ sở cụ thể hóa Quyết định số 240/QĐ-TTg ngày 17/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành tiêu chí quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020 và Kết luận số 4947/KL-HĐTĐ của Hội đồng thẩm định Bộ Tư pháp ngày 19 tháng 6 năm 2012 về Đề xuất “Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại tỉnh Bến Tre đến năm 2020”.

 

Dự kiến đến năm 2015, mỗi huyện trên địa bàn tỉnh sẽ thành lập 01 Văn phòng công chứng, nếu trong giai đoạn này huyện nào có hợp đồng giao dịch trên 6.000 hợp đồng sẽ thành lập thêm 01 Văn phòng công chứng.

05/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nhọc nhằn yêu cầu thi hành án cấp dưỡngNhọc nhằn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng
Một mái ấm gia đình thật sự sẽ không thể thiếu tiếng nói cười của trẻ thơ, bất cứ đôi vợ chồng nào đến với nhau, đều mong muốn có những đứa con và con trẻ sẽ là sợi dây thắt chặt hơn nữa tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, khi đời sống hôn nhân gặp mâu thuẩn và những đứa con không đủ sức mạnh để níu kéo tinh cảm vợ chồng thì con lại là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mặt vật chất lẫn tinh thần. Tro...

Một mái ấm gia đình thật sự sẽ không thể thiếu tiếng nói cười của trẻ thơ, bất cứ đôi vợ chồng nào đến với nhau, đều mong muốn có những đứa con và con trẻ sẽ là sợi dây thắt chặt hơn nữa tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, khi đời sống hôn nhân gặp mâu thuẩn và những đứa con không đủ sức mạnh để níu kéo tinh cảm vợ chồng thì con lại là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mặt vật chất lẫn tinh thần. Trong một số trường hợp, con trẻ còn là gánh nặng, là rào cản cho những cuộc ly hôn của cha mẹ chúng.

Nếu hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện thì khi đời sống vợ chồng không còn được hạnh phúc thì vợ, chồng có quyền thỏa thuận ly hôn hoặc một trong các bên vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu ly hôn. Trong quá trình chung sống nếu có con chung thì khi ly hôn, pháp luật về hôn nhân và gia đình có quy định "Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình và người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con".

Tuy nhiên, trên thực tế việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện còn nhiều khó khăn, một số trường hợp khi có bản án của Tòa án, người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, thực hiện việc cấp dưỡng trong một khoảng thời gian ngắn thì không tiếp tục thực hiện, nguyên nhân do người có nghĩa vụ cấp dưỡng không có điều kiện cấp dưỡng hoặc cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ này mà phần lớn các vụ án liên quan đến việc cấp dưỡng là do người có nghĩa vụ không tự nguyện hoặc cố tình không thực hiện.

Theo quy định của pháp luật về thi hành án thì "Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án" và " Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án". Trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.

Vấn đề đặt ra là khi người trực tiếp nuôi con yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành theo bản án, buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng thực hiện việc cấp dưỡng nhưng khi cơ quan thi hành án tiến hành thi hành án thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng cố tình né tránh bằng cách không có hoặc không đủ điều kiện để thi hành, cũng như không có hoặc không còn tài sản để cưỡng chế việc thi hành án. Trong những trường hợp đó, người trực tiếp nuôi con phải chủ động tìm cơ sở chứng minh người có nghĩa vụ cấp dưỡng có đủ điều kiện mà không tự nguyện thi hành, để tiếp tục yêu cầu thi hành án.

Vì thế việc thi hành án về cấp dưỡng chủ yếu dựa vào sự tự nguyện thi hành của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu họ cố tình né tránh trong khi việc cấp dưỡng nuôi con lại kéo dài từ lúc đứa trẻ còn nhỏ cho đến lúc trưởng thành thì việc thực hiện theo đúng bản án đã tuyên về thực tế là rất khó đảm bảo.

Thiết nghĩ khi quan hệ vợ chồng chấm dứt, trách nhiệm nuôi con cũng phải là trách nhiệm chung của cha và mẹ, một trong các bên không có lý do gì để né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm cho bên còn lại mà phần lớn sự né tránh hoặc không tự nguyện đó là của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Pháp luật bảo vệ quyền con người đặc biệt là đối với trẻ em, các bậc làm cha, làm mẹ cũng vì tương lai của các em mà cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định tương lai cho cuộc hôn nhân của mình và điều đặt biệt hơn hết là khi đã ly hôn, cũng nên đặt quyền lợi của các em lên trên để cùng nhau nuôi dạy các em, để các em không phải chịu quá nhiều thiệt thòi về vật chất lẫn tinh thần.

04/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Một số vấn đề về nuôi con nuôi thực tếMột số vấn đề về nuôi con nuôi thực tế
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, khi mà các bên trở thành cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì giữa các bên có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối v...

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, khi mà các bên trở thành cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì giữa các bên có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con và ngược lại của con đối với cha mẹ theo quy định của pháp luật.

Trong thực tế, việc nuôi con nuôi rất phổ biến nhưng việc đăng ký nuôi con nuôi thì không phải ai cũng biết và thực hiện. Hầu hết người dân nhìn nhận vấn đề về nuôi con nuôi còn khá sơ sài, đa số đều làm theo cảm tính, chưa thấy hết các quyền, nghĩa vụ của người nhận cũng như người được nhận làm con nuôi. Một số người dân còn cho rằng việc nhận con nuôi chỉ để thể hiện tình cảm, nếu khi nào không muốn là cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì có thể tự chấm dứt hoặc có trường hợp về mặt thực tế họ có mối quan hệ là cha mẹ nuôi và con nuôi thực thụ, có công nuôi dưỡng, chăm sóc từ nhỏ đến lớn nhưng về mặt pháp lý họ không có bất cứ giấy tờ nào thể hiện là cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau.

Thực tế đã có không ít các trường hợp tranh chấp tài sản xoay quanh vấn đề về con nuôi thực tế, cụ thể về mặt thực tế các bên là cha mẹ nuôi, con nuôi của nhau nhưng không làm giấy tờ và cho rằng họ không có con ruột chỉ có con nuôi nên sau khi họ qua đời, tài sản để lại tất nhiên thuộc về người con nuôi nên cũng không làm di chúc. Khi cha mẹ nuôi qua đời, các anh, chị hoặc em của cha, mẹ nuôi với người con nuôi phát sinh tranh chấp về quyền thừa kế và cho rằng người con nuôi không có quyền thừa hưởng phần di sản đó vì chỉ là con nuôi và cũng không có giấy tờ gì chứng minh cho việc nuôi con nuôi. Thế là tranh chấp xảy ra, tình cảm gia đình rạn nứt, quyền lợi của người con nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày 01/01/2011, ngày Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi; đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

Đồng thời theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 03 năm 2011 của Chính phủ về đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế:

Việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký trước ngày 01/01/2011, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Nuôi con nuôi, thì được đăng ký kể từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2015 tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi.

Quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới nhận trẻ em của nước láng giềng cư trú ở khu vực biên giới của nước láng giềng làm con nuôi trước ngày 01/01/2011 mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Căn cứ vào những quy định nêu trên, người dân nếu muốn xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi hợp pháp cần nghiêm túc thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi để đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên cũng như tránh được những tranh chấp đáng tiếc về sau.

05/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012
Sáng ngày 18 tháng 4 năm 2014, Sở Tư pháp phối hợp tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 cho Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo các Phòng Tư pháp, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thành phố. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hô...

Sáng ngày 18 tháng 4 năm 2014, Sở Tư pháp phối hợp tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 cho Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo các Phòng Tư pháp, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thành phố. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hội Luật gia tỉnh và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh. Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp dự và khai mạc Hội nghị.


Tại Hội nghị báo cáo viên đã giới thiệu hai chuyên đề: Nội dung cơ bản của Luật Hoà giải ở cơ sở, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hoà giải ở cơ sở; hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở và những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012.

Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 nhằm triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở theo Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở và thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bến Tre theo Kế hoạch số 1221/KH-UBND ngày 23 tháng 3 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh.


Phát biểu khai mạc, chỉ đạo tại Hội nghị, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị Phòng Tư pháp các huyện thành phố phối hợp với Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tham mưu Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức triển khai thi hành có hiệu quả Luật Hoà giải ở cơ sở cũng như Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hoà giải ở cơ sở tại địa phương. Các Báo cáo viên pháp luật phát huy vai trò của mình trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung, Luật Hoà giải ở cơ sở và pháp luật Phòng, chống tham nhũng nói riêng đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị và trong nhân dân.

22/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bảo vệ nguồn tài nguyên nước là bảo vệ cuộc sốngBảo vệ nguồn tài nguyên nước là bảo vệ cuộc sống
Con người chúng ta tồn tại hẳn không thể thiếu “nước”, nước gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của con người và nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng để tạo ra các nguồn năng lượng cũng hết sức quan trọng phục vụ cho đời sống con người, mà qua đó cũng đánh dấu được sự phát triển ngày một hiện đại của xã hội. Nước và năng lượng có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, các nguồn năn...

Con người chúng ta tồn tại hẳn không thể thiếu “nước”, nước gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của con người và nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng để tạo ra các nguồn năng lượng cũng hết sức quan trọng phục vụ cho đời sống con người, mà qua đó cũng đánh dấu được sự phát triển ngày một hiện đại của xã hội. Nước và năng lượng có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, các nguồn năng lượng được tạo ra và được truyền tải hầu như đều phải sử dụng đến tài nguyên nước, đặc biệt là đối với năng lượng thủy điện và nhiệt điện.

Ngày nay việc bảo vệ và sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên nước đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi nước có tầm quan trọng liên quan đến sự sinh tồn và phát triển của con người và của toàn xã hội đồng thời nước không phải là nguồn tài nguyên thiên nhiên “vô tận”, nếu không có ý thức bảo vệ và giữ gìn thì chính chúng ta đã tự hủy diệt môi trường sống của chính mình.

Có thể nói con người sẽ không thể tồn tại nếu thiếu nước nhưng dường như con người chưa đề cao vai trò của nước trong cuộc sống của mình, không ít các trường hợp những nhà máy, công ty, xí nghiệp đã xả chất thải, các chất độc hại chưa qua xử lý vào các sông, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân. Trong đời sống sinh hoạt thường ngày không ít người dân sử dụng nguồn nước và các nguồn năng lượng khác một cách lãng phí, chưa có ý thức tiết kiệm, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế mà còn ảnh hưởng nghiệm trọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Nước giữ một vai trò đặc biệt trong đời sống và sự phát triển của con người. Do đó, việc bảo vệ tài nguyên nước đang trở thành vấn đề hết sức quan trọng của cộng đồng, trong đó ý thức của mỗi người là điều mang tính chất cần thiết và quyết định trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tiết kiệm và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước không chỉ là tiết kiệm tiền mà còn bảo vệ cuộc sống của chính mình. Mỗi người cần nhận thức và có hành động tiết kiệm nước, điều đó sẽ góp phần rất lớn trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá và đang ngày càng “hữu hạn” này, góp phần bảo vệ sự sống, sự phát triển của con người và mọi sinh vật trên trái đất.

04/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên
Sáng ngày 05 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hà Nội và 62 điểm cầu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tham dự Hội nghị ...

Sáng ngày 05 tháng 4 năm 2014, Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho báo cáo viên, tuyên truyền viên. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hà Nội và 62 điểm cầu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Hà Nội có đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị; các đồng chí lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương; Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam; Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Về phía Bộ Tư pháp có đồng chí Hà Hùng Cường, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và các đồng chí Thứ trưởng Bộ Tư pháp.


Tại điểm cầu tỉnh Bến Tre, đồng chí Trần Ngọc Tam, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh dự và chủ trì Hội nghị, tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông, các Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, Báo Đồng Khởi và Đài Phát Thanh – Truyền hình tỉnh dự và đưa tin.

Hội nghị đã nghe Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Phó Giáo sư tiến sĩ Hoàng Thế Liên, Thứ trưởng Bộ Tư pháp giới thiệu về ý nghĩa, nội dung của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013.


Hội nghị này đã cung cấp cho các Báo cáo viên phát luật và Báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng về ý nghĩa, nội dung, đặc biệt là những điểm mới của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các Báo cáo viên pháp luật sau Hội nghị này sẽ phát huy vai trò của mình trong công tác tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp đến các tầng lớp nhân dân; cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn tỉnh.

07/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Giết người vì bị từ chối tình yêuGiết người vì bị từ chối tình yêu
Nguyễn Hoàng Vũ sinh năm 1991, ngụ tại xã Định Trung, huyện Bình Đại đi học đến lớp 8 thì nghỉ học, kiếm sống bằng đi làm thuê nhiều nơi. Cho đến đầu năm 2010, Vũ đến làm thuê tại khu vực thành phố Tân An, tỉnh Long An. Tại Tân An, Vũ quen biết với em Trần Thị Thanh Lan, sinh năm 1994 đang là học sinh lớp 12. Biết Lan có tình cảm với Vũ, chị H. mẹ của Lan không ngăn cản chuyện hai trẻ mà hứa hẹn ...

Nguyễn Hoàng Vũ sinh năm 1991, ngụ tại xã Định Trung, huyện Bình Đại đi học đến lớp 8 thì nghỉ học, kiếm sống bằng đi làm thuê nhiều nơi. Cho đến đầu năm 2010, Vũ đến làm thuê tại khu vực thành phố Tân An, tỉnh Long An. Tại Tân An, Vũ quen biết với em Trần Thị Thanh Lan, sinh năm 1994 đang là học sinh lớp 12. Biết Lan có tình cảm với Vũ, chị H. mẹ của Lan không ngăn cản chuyện hai trẻ mà hứa hẹn đợi sau này Lan học thành tài rồi cho hai đứa tiến tới hôn nhân.

Đầu năm 2012, trong một lần đi chơi với Vũ, do muốn chấm dứt mối tình này, nên Lan đòi chia tay với Vũ. Vũ tỏ thái độ tức giận, không đồng ý, dẫn đến hai bên cự cãi lớn tiếng với nhau. Sợ người khác nghe được và vì nóng giận, Vũ ngồi đè lên bụng Lan, dùng 2 tay bóp cổ người tình, thấy nạn nhân vẫn chưa chết, chàng trai bàn dùng gối tiếp tục đè lên mặt Lan, làm cho Lan tử vong. Sau khi biết bạn gái đã chết, Vũ bỏ khỏi hiện trường tìm mua thuốc diệt cỏ để uống, sau đó còn dùng áo thắc cổ để tự tử. Nhưng dùng cả hai cách tự tử mà thấy mình vẫn không chết được, nên Vũ bỏ trốn khỏi địa bàn Tân An. Nửa tháng sau ngày gây ra cái chết cho người yêu, Vũ biết mình khó thoát được tội nên đến công an xã Định Trung, huyện Bình Đại tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi giết người tình Trần Thị Thanh Lan tại Tân An.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “giết người”, tổ chức tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An vào ngày 30/5/2012, Hội đồng xét xử đã cho rằng hành vi trái pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng Vũ đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Chỉ vì tình yêu mù quáng, tức giận việc đòi chia tay của người yêu mà bị cáo lại có hành động phạm tội mang tính chất đê hèn, với quyết tâm cao, phạm tội đến cùng.

Xét tính chất nguy hiểm của hành vi, hậu quả và nhân thân vụ án, Hội đồng xét xử đã áp dụng khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Vũ chung thân về tội giết người, và bồi thường 71 triệu đồng tiền mai táng phí cho nạn nhân.

Chỉ vì tình yêu mù quáng, vì sự nông nổi thiếu suy nghĩ, mà Vũ đã làm cho một gia đình phải mất đi đứa con gái, còn mình thì trả giá đắc cho hành vi phạm tội bằng bản án chung thân. Đây quả là một kết cục buồn cho cả gia đình và xã hội…

 

27/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Biến tướng của bảo lãnh và những hậu họaBiến tướng của bảo lãnh và những hậu họa
Trong  hợp đồng vay tài sản, để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, người ta thường dùng những biện pháp đảm bảo như: Cầm cố, thế  chấp, bảo lãnh. Trong các biện pháp bảo đảm này thì biện pháp bảo lãnh là phức tạp  nhất vì nó liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ của người thứ ba.
Trong hợp đồng vay tài sản, để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, người ta thường dùng những biện pháp đảm bảo như: Cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Trong các biện pháp bảo đảm này thì biện pháp bảo lãnh là phức tạp nhất vì nó liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ của người thứ ba.

Bảo lãnh nợ vay hay trong dân gian thường gọi là lãnh nợ là việc người thứ ba cam kết với bên cho vay sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay nếu khi đến thời hạn mà bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đủ.

Hiện nay việc bảo lãnh nợ vay tín dụng ngân hàng bằng cách người bảo lãnh phải dùng tài sản của mình thế chấp cho Ngân hàng thì Ngân hàng mới cho người được bảo lãnh vay. Nếu bên vay không trả nợ hay trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng sẽ phát mãi tài sản để thu hồi nợ.

Người đứng ra bảo lãnh cho người khác được vay vốn thường là người tốt, với mục đích là giúp đỡ. Nhưng việc bảo lãnh cũng chứa đựng rất nhiều nguy cơ rủi ro, như người vay bội tín hoặc không có khả năng trả nợ, bỏ trốn hay bị chết... thì người bảo lãnh sẽ... lãnh đủ. Chính vì vậy mà người xưa đã đúc kết trong bốn cái ngu trên đời thì việc lãnh nợ được xếp là cái ngu thứ hai.

Không phải vì việc bảo lãnh cho người khác vay vốn có nhiều rủi ro và dễ nhận phần thiệt hại, phiền toái về mình mà chúng tôi khuyên mọi người không nên bảo lãnh cho ai. Ở đây chúng tôi muốn nói đến có một thực tế hiện nay việc bảo lãnh trong một số trường hợp đã bị biến tướng. Người bảo lãnh không phải chỉ giúp đỡ vô tư, mà vì ham lợi đã trở thành người cho vay tín dụng đen trong khi không có vốn. Còn bên vay lợi dụng lòng tin lẫn lòng tham của người bảo lãnh để chiếm đoạt tài sản.

Ảnh minh họa

Vừa qua tại xã Thanh Tân-huyện Mỏ Cày Bắc đã xảy ra vụ vỡ nợ tín dụng có bảo lãnh, trong đó hàng chục người đã đem quyền sử dụng đất thế chấp cho ngân hàng để bảo lãnh cho một người vay vốn, sau đó người này không trả nợ nên ngân hàng đã chuyển hồ sơ ủy quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đấu giá toàn bộ quyền sử dụng đất mà những người bảo lãnh đã đem thế chấp. Không biết người trong cuộc trong tình cảnh mất hết đất đai, gia sản vì tin người họ nghĩ sao, chứ chỉ đọc những hồ sơ đấu giá quyền sử dụng đất của họ, chúng tôi đã rất đau lòng, vì những người nông dân này bỗng dưng trở thành con nợ, với những khoản tiền phải trả nhiều trăm triệu đồng, khi mất đất, trắng tay cuộc sống của gia đình họ rồi đây sẽ ra sao?

Với chiêu thức là người vay dụ dỗ người có nhà, đất, đưa nhà đất thế chấp để bảo lãnh cho họ vay vốn tín dụng, ngân hàng. Sau đó hàng tháng họ sẽ trả lãi cao cho người bảo lãnh trên số vốn họ vay được. Việc trả tiền cho người bảo lãnh thường được thực hiện một thời gian ngắn để tạo lòng tin, sau đó bên vay chiếm đoạt khoản tiền vay được của ngân hàng, không chịu trả nợ, lúc đó ngân hàng sẽ đòi nợ người bảo lãnh, dĩ nhiên người bảo lãnh không thể có tiền trả nợ nên tài sản đã thế chấp bảo lãnh cho người khác vay phải bị phát mãi. Nên thực tế họ nhận được khoản tiền của bên vay rất ít ỏi so với giá trị nhà, đất họ bị mất do bị phát mãi để trả nợ thay. Dù sau đó họ vẫn có quyền kiện đòi lại khoản tiền này nhưng không phải dễ dàng khi mà họ đã mắc mưu và giúp sức cho kẻ lừa đảo.

Qua thực tế đã xảy ra, chúng tôi muốn cảnh báo đến người dân, hiện nay những kẻ lừa đảo, tham lam có rất nhiều mưu ma, chước quỉ, lợi dụng cả pháp luật để chiếm đoạt tài sản của người khác, trong đó có việc thu gom giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với chiêu bài bảo lãnh vay vốn hay góp vốn. Vì vậy mọi người phải cảnh giác, không để chúng dùng miếng mồi vật chất để nhử cho ta sập bẫy. Những cái bẫy hợp đồng vay vốn hay góp vốn là những cái bẫy rất khó gỡ vì đây là quan hệ dân sự, có sự thỏa thuận của đôi bên nên khi thiệt hại xảy ra thì mình phải lãnh đủ.

Chúng tôi cũng xin nói thêm, dù là quan hệ dân sự, khi hai bên tự do, tự nguyện thỏa thuận thì chính quyền, người có thẩm quyền xác nhận, công chứng, hay chứng thực hợp đồng. Nhưng nếu thấy có hiện tượng thu gom sổ đỏ tràn lan, không bình thường, giao dịch có nhiều rủi ro hay có dấu hiệu lừa đảo thì cơ quan và người có thẩm quyền cũng phải xác minh làm rõ để cảnh báo, ngăn chặn. Chứ không thể máy móc thuần túy là việc giao kết hợp đồng không trái luật là xác nhận, công chứng, chứng thực, còn sống chết mặc bay, thì nhiều khi chính quyền, cán bộ lại vô tình tiếp tay cho bọn lừa đảo.

21/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Hưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” (Từ ngày 19/10/2012-19/11/2012) - NỖI ĐAU KÉO DÀIHưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” (Từ ngày 19/10/2012-19/11/2012) - NỖI ĐAU KÉO DÀI
NỖI ĐAU KÉO DÀICô Năm đặt bàn tay vuốt mái tóc xanh đen của đứa con trai út. Nhưng không phải mái tóc xanh đen của một con người hiện hữu mà chỉ là vuốt và cảm nhận nỗi đau qua tấm di ảnh đặt trên bàn thờ. Cách đây một năm, cô Năm đã trãi qua cảnh “Kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh ”.Tin tức từ người quen báo đến làm gia đình cô Năm không khỏi bàng hoàng. Người con trai út của Cô đã mãi mãi ra vì...

 

 

NỖI ĐAU KÉO DÀI

Cô Năm đặt bàn tay vuốt mái tóc xanh đen của đứa con trai út. Nhưng không phải mái tóc xanh đen của một con người hiện hữu mà chỉ là vuốt và cảm nhận nỗi đau qua tấm di ảnh đặt trên bàn thờ. Cách đây một năm, cô Năm đã trãi qua cảnh “Kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh ”.

Tin tức từ người quen báo đến làm gia đình cô Năm không khỏi bàng hoàng. Người con trai út của Cô đã mãi mãi ra vì tai nạn giao thông. Lòng người mẹ như chết lặng. Có ai đó như đang bóp nát trái tim Cô. Sự việc quá bất ngờ khiến Cô không thể chấp nhận. Đau lòng hơn, khi tai nạn xảy ra không do ai khác mà chính bản thân của con Cô gây ra.

Ngày hôm ấy, con Cô đi dự tiệc cưới của người bạn. Linh tính của người mẹ mách bảo, cô Năm thấy không yên lòng nên đã dặn dò con rất nhiều điều. Nào là không được uống rượu khi lái xe. Nếu có uống rượu, thấy khả năng không thể lái xe an toàn thì kêu người nhà đến đón. Nào là không được la cà quán sá. Nhưng con cô thì không nghe lời mẹ. Khi dự xong tiệc cưới, lâu ngày gặp lại bạn cũ, mọi người rủ nhau chén chú chén anh. Đến khi tàn tiệc cũng là lúc lượng men trong người đã quá cao. Trên đường về con Cô đã không làm chủ được tốc độ nên gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả không chỉ chính bản thân con Cô thiệt mạng mà còn làm cho hai người nữa cùng chung số phận.

Nói đến hoàn cảnh của hai người mà con Cô đã gây tai nạn thì ai cũng phải bùi ngùi. Họ là vợ chồng. Cuộc sống đôi vợ chồng trẻ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn khi họ sinh đứa con đầu lòng. Mặc dù khó khăn là thế nhưng họ không hề nản lòng mà luôn tìm kế mưu sinh để chăm lo cho gia đình nhỏ. Vậy mà trên đường đi làm về họ lại bất hạnh gặp tai nạn. Họ vĩnh viễn ra đi, để lại đứa con nhỏ vừa tròn hai tuổi cho ông bà nội tuổi đã cao sức đã yếu.

Gia đình cô Năm mặc dù cũng gặp nỗi đau nhưng cũng nén đau thương để bù đắp mất mát cho gia đình nạn nhân. Biết trách ai đây khi người gây tai nạn và nạn nhân đã không còn. Đau xót nhất vẫn là đứa bé. Người lớn nhìn nhau, rồi nhìn đứa nhỏ ngây thơ. Đầu quấn khăn tan nhưng chưa hiểu chuyện gì đã, đang và sẽ xảy ra đối với mình khi không còn cha mẹ. Trong đám tang không ai cầm được nước mắt với tiếng gọi bi bô “mẹ, mẹ”.

Người ra đi đã mồ yên, mã đẹp. Chỉ có người ở lại mới nhận lấy những nỗi đau vô bờ bến. Cha mẹ già phải khóc tiễn con. Con trẻ chịu cảnh mồ coi, mất đi tình cảm, sự chăm sóc của cha mẹ khi tuổi còn quá nhỏ. Rồi tương lai của em sẽ như thế nào khi sống với ông bà đã tuổi cao sức yếu. Mặc dù gia đình cô Năm đã bồi thường thiệt hại về tính mạng, nhưng nỗi đau và hậu quả của vụ tai nạn này vẫn còn mãi. Cả hạnh phúc và một tương lai của đứa trẻ đã mất đi trong phút chốc do hậu quả của tai nạn giao thông.

Câu chuyện trên chỉ là một dẫn chứng nhỏ trong tình hình tai nạn giao thông hiện nay. Trên thực tế có biết bao gia đình phải chịu cảnh đau thương khi có người thân tử vong vì tai nạn giao thông. Tai nạn giao thông không phải là thảm họa của thiên nhiên mà do chính con người gây ra. Vì vậy, con người hoàn toàn có thể hạn chế và ngăn ngừa không cho nó xảy ra. Tất cả chúng ta “Hãy lái xe bằng cả trái tim”. Dùng tình cảm của mình để cảm nhận và phân tích những hậu quả của tai nạn giao thông. Tính mạng của mỗi người là do cha mẹ sinh ra, cực khổ nuôi lớn. Vì vậy hãy biết quý giá và bảo vệ. Phải luôn mách bảo bản thân không để tình trạng này xảy ra. Hãy luôn chấp hành tốt nguyên tắc an toàn khi tham gia giao thông. Vì tai nạn giao thông không chỉ là niềm đau hiện tại mà sẽ kéo dài, âm ỉ cho đến sau này. Mỗi người hãy bảo vệ tính mạng của người xung quanh như chính tính mạng của mình.

 

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012Hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012
Hoạt động hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012, nhằm cụ thể hóa Kế hoạch số 242/KH-UBATGTQG ngày 04/9/2012 của Ban An toàn giao thông quốc gia về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại Việt Nam, thực hiện chương trình “Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ ...

 

 

Hoạt động hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012, nhằm cụ thể hóa Kế hoạch số 242/KH-UBATGTQG ngày 04/9/2012 của Ban An toàn giao thông quốc gia về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại Việt Nam, thực hiện chương trình “Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ giai đoạn 2011-2020” theo tinh thần Nghị quyết A/64/L.44 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc. Theo dự kiến, các hoạt động hưởng ứng được phát động và tổ chức trong tỉnh với các nhóm hoạt động chủ yếu sau:

Thứ nhất, hoạt động truyền thông

Tập trung tuyên truyền trước một tháng từ ngày 19/10 đến ngày 19/11/2012 với chủ đề “An toàn mọi lúc - Hạnh phúc mọi nơi”.

Về nội nội dung: Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi mục đích, ý nghĩa cảu sự kiện tưởng niệm nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông, những đau thương, mất mát do tai nạn giao thông; những địa chỉ cần được sự giúp đỡ và chia sẽ cũa xã hội; Cảnh báo các nguy cơ, nguyên nhân gây tai nạn giao thông, cảnh báo những hậu quả nghiêm trọng của tai nạn giao thông đối với toàn xã hội từ đó nâng cao trách nhiệm, ý thức của người tham gia giao thông; Các thông điệp về an toàn giao thông từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông; Pháp luật trật tự an toàn giao thông, văn hóa giao thông.

Về hình thức: Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo viết, báo mạng) tuyên truyền về sự kiện thông qua tin, bài, phóng sự, chuyên mục, clip, phim tài liệu…; Tuyên truyền trực quan qua việc xây dựng các cụm cổ động, panô, ápphích, banroll, tờ rơi, triễn lãm, mít tinh, diễu hành; Tổ chức các buổi tọa đàm, đối thoại, các diễn đàn, các buổi nói chuyện về hậu quả do tai nạn giao thông gây ra.

Về khẩu hiệu: “Thảm hoạ tai nạn giao thông - Hãy hành động ngày”, “Tai nạn giao thông - Nỗi đau còn đó”.

Thứ hai, hoạt động thăm hỏi, động viên các gia đình nạn nhân tại nạn giao thông

Các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm tổ chức các đoàn thăm hỏi động viên và có hình thức giúp đỡ phù hợp các gia đình nạn nhân tai nạn giao thông - đặc biệt là các gia đình có nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông có hoàn cảnh khó khăn - tại các bệnh viện, gia đình của nạn nhân.

Thời gian diễn ra từ ngày 10/11 đến ngày 19/11/2012.

Thứ ba, tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông

Chương trình sẽ được tổ chức từ 7giờ 30 phút đến 09 giờ, ngày 19/11/2012 tại công viên tượng đài Đồng Khởi - thành phố Bến Tre.

Hoạt động hưởng hưởng ứng “Ngày Thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” tại tỉnh Bến Tre năm 2012 là hoạt động đầy ý nghĩa, nhằm cảnh báo cho mọi người về thảm họa tai nạn giao thông, các nguyên nhân và nguy cơ gây tai nạn giao thông tại địa phương. Qua đó, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về trật tự - an toàn giao thông, phòng tránh tai nạn giao thông, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các lực lượng làm công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, góp phần thực hiện mục tiêu của Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh là giảm 10% tai nạn giao thông năm 2012.

Ngoài ra, hoạt động này còn hướng tới mục tiêu kêu gọi sự giúp đỡ, chia sẽ từ công đồng cho những tổ thất, mất mát, khó khăn của các nạn nhân, gia đình nạn nhân không mai bị tai nạn giao thông.

 

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn pháp luật cho Hội Nông dân xã Hữu Định – Châu ThànhTập huấn pháp luật cho Hội Nông dân xã Hữu Định – Châu Thành
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơn nữa Chỉ thị 26/2001/CT-TTg ngày 9/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo của nông dân. Vừa qua, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh đề ra Kế hoạch xây dựng mô hình điểm thực hiện Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ tại xã Hữu Định huyện Châu Thành. Xã Hữu Định cũng là xã được chọn làm điểm ...

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơn nữa Chỉ thị 26/2001/CT-TTg ngày 9/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo của nông dân. Vừa qua, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh đề ra Kế hoạch xây dựng mô hình điểm thực hiện Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ tại xã Hữu Định huyện Châu Thành. Xã Hữu Định cũng là xã được chọn làm điểm để xây dựng Nông thôn mới.
Phối hợp thực hiện công việc này với Hội Nông dân tỉnh, vào tháng 7 năm 2011, Sở Tư pháp đã tham gia tập huấn kỹ năng nghiệp vụ về hoà giải, kỹ năng sinh hoạt câu lạc bộ Nông dân với pháp luật và các văn bản pháp luật có liên quan như: pháp luật về khiếu nại, tố cáo, pháp luật về đất đai, pháp luật về môi trường tại 4 lớp dành cho đối tượng là cán bộ Hội và Cộng tác viên Hội Nông dân xã./.

 

15/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Quy định chi tiết về chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệpQuy định chi tiết về chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
Ngày 23 tháng 3 năm 2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội về việc miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2011. Theo đó, thì các đối tượng được miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định trong Nghị quyết số ...

Ngày 23 tháng 3 năm 2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội về việc miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2011. Theo đó, thì các đối tượng được miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định trong Nghị quyết số 55/2010/QH12 đã được Nghị định hướng dẫn cụ thể, chi tiết như sau:
Đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp
Thứ nhất: Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm; diện tích đất làm muối.
Trong đó, diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm bao gồm diện tích đất có quy hoạch, kế hoạch trồng ít nhất một vụ lúa trong năm hoặc diện tích đất có quy hoạch, kế hoạch trồng cây hàng năm nhưng thực tế có trồng ít nhất một vụ lúa trong năm.
Thứ hai:  Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận cho hộ nghèo.
Việc xác định hộ nghèo được căn cứ vào chuẩn nghèo ban hành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Trường hợp Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy định cụ thể chuẩn hộ nghèo theo quy định của pháp luật áp dụng tại địa phương thì căn cứ chuẩn hộ nghèo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định để xác định hộ nghèo.
Thứ ba:  Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất nông nghiệp cho 4 đối tượng sau:
+  Hộ gia đình, cá nhân nông dân được Nhà nước giao hoặc công nhận đất để sản xuất nông nghiệp, bao gồm cả đất được thừa kế, cho tặng, nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Trong đó, hộ gia đình, cá nhân nông dân là những người có hộ khẩu thường trú tại địa phương; những người có nguồn sống chính bằng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là cư trú lâu dài tại địa phương nhưng chưa có hộ khẩu thường trú; những hộ gia đình, cá nhân trước đây hoạt động trong các ngành nghề phi nông nghiệp và có hộ khẩu thường trú tại địa phương nay không có việc làm; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, công nhân và bộ đội nghỉ mất sức hoặc nghỉ việc do sắp xếp lại sản xuất, tinh giảm biên chế hưởng trợ cấp một lần hoặc hưởng trợ cấp một số năm về sống thường trú tại địa phương đến tuổi lao động nhưng chưa có việc làm.
+  Hộ gia đình, cá nhân là xã viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, nông, lâm trường quốc doanh để sản xuất nông nghiệp.
Việc giao khoán đất của hợp tác xã và nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh để sản xuất nông nghiệp thực hiện theo quy định của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ.
+ Hộ gia đình, cá nhân là nông trường viên, lâm trường viên đã nhận đất giao khoán ổn định của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh để sản xuất nông nghiệp;
Nông trường viên, lâm trường viên là những cán bộ, công nhân, viên chức đang làm việc cho nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh; hộ gia đình có người làm việc cho nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động được hưởng chế độ đang cư trú trên địa bàn; hộ gia đình có nhu cầu trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đang cư trú trên địa bàn.
+ Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp có quyền sử dụng đất nông nghiệp góp đất của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã.
Đối tượng được giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
Giảm 50% số thuế sử dụng đất nông nghiệp ghi thu hàng năm cho 03 đối tượng:
Thứ nhất: Diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất nông nghiệp nhưng không quá hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 3 Điều 1 của Nghị định.
Hạn mức giao đất nông nghiệp được thực hiện theo quy định tại Điều 70 Luật Đất đai, Điều 69 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai và các mức cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định áp dụng tại địa phương. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa ban hành các mức cụ thể về hạn mức giao đất nông nghiệp thì áp dụng mức tối đa theo quy định trên.
Hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 71 Luật Đất đai, Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 21 tháng 6 năm 2007 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các mức cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định áp dụng tại địa phương. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa quy định cụ thể về hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì áp dụng mức tối đa theo quy định trên.
Thứ hai: diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp.
Thứ ba: diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho đơn vị vũ trang nhân dân quản lý sử dụng
Thời hạn miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020.

 

06/06/2011 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị tập huấn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ Báo cáo viên pháp luật lao động cấp huyện.Hội nghị tập huấn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ Báo cáo viên pháp luật lao động cấp huyện.
Nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ là Báo cáo viên pháp luật lao động cấp huyện (thực hiện theo mục tiêu Đề án 4 – Chương trình PBGDPL giai đoạn 2008 – 2012 về “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp”) từ đó để lực lượng này tổ chức thực hiện tốt việc tuyên truyền, phổ biến, gi...

Nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ là Báo cáo viên pháp luật lao động cấp huyện (thực hiện theo mục tiêu Đề án 4 – Chương trình PBGDPL giai đoạn 2008 – 2012 về “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp”) từ đó để lực lượng này tổ chức thực hiện tốt việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng là người lao động và người sử dụng lao động tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh.


Ông Huỳnh Quang Triệu - Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp - phát biểu khai mạc Hội nghị

Ngày 06 tháng 9 năm 2011, Sở Tư pháp phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Hội nghị tập huấn bồi dưỡng kỹ năng và nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật lao động cấp huyện năm 2011.
Tham dự hội nghị có đại diện Sở Tư pháp, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, cùng 50 đồng chí học viên là Báo cáo viên pháp luật lao động cấp huyện. Tại hội nghị các học viên được nghiên cứu, cung cấp thông tin, bổ sung kiến thức có liên quan đến những quy định của pháp luật về lao động; kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật.

03/10/2011 12:00 SAĐã ban hành
KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TƯ PHÁP VIỆT NAM - KHẮC GHI LỜI DẠY CỦA BÁC VỀ “CHÍ CÔNG VÔ TƯ” VỚI NGÀNH TƯ PHÁPKỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TƯ PHÁP VIỆT NAM - KHẮC GHI LỜI DẠY CỦA BÁC VỀ “CHÍ CÔNG VÔ TƯ” VỚI NGÀNH TƯ PHÁP
Từ khi Hồ Chủ tịch khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Người đã nêu đạo đức “chí công vô tư” cho cán bộ ngành Tư pháp. Sáu mươi lăm năm qua thấm nhuần đạo đức vô sản, thấm nhuần tư tưởng đạo đức đã dạy của Bác, người cán bộ Tư pháp đã làm tốt công tác xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật.

 

Theo Hồi ký của cụ Vũ Đình Hòe, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp giai đoạn 1946- 1960 có nói: Nội dung cụ thể của “chí công vô tư” thì Bác giải thích khác, đơn giản thôi, cho thích hợp với trình độ nhận thức của anh em mình (cán bộ ngành Tư pháp) hồi đó, vì nhiều người xuất thân từ chế độ cũ.

Dưới gốc độ nghiên cứu của người cán bộ ngành Tư pháp thâm niên, đi qua thực tiễn xây dựng con người pháp lý và công tác pháp lý ở nước ta, cụ Vũ Đình Hòe đã rút ra từ bài học chí công vô tư mà Bác đã dạy với ngành, như sau:

- Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta: đạo đức như là nguồn của sông, như là gốc của cây, đạo đức là gốc của con người cách mạng. Từ đó có thể hiểu thêm “đạo đức là gốc của pháp lý”. Cho nên muốn có pháp lý tốt thì phải có cán bộ tốt, cán bộ phải có lập trường vững vàng, tư tưởng thông suốt, phải “chí công vô tư”. Chúng ta đã thấy Bác quan tâm đến việc bồi dưỡng lập trường tư tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ tư pháp và pháp lý, ngược lại thì Tư pháp và pháp lý do Bác xây dựng, qua con người mà Bác bồi dưỡng, đào tạo, lại chính là để thực hiện đạo đức “chí công vô tư” của Bác. Đạo đức của Bác, pháp lý của Bác đều xuất phát từ gốc “chí công vô tư” và đều nhằm mục đích “chí công vô tư”.

- Đối với Bác, có đạo đức là để hành động. Hành động thì phải chuẩn đích rõ ràng, phải có kỷ luật thúc đẩy. Cho nên, nếu đạo đức là gốc của pháp lý, thì pháp lý là chuẩn mực của đạo đức, định ra, thích hợp với từng bước đi của cách mạng. Thực tiễn xây dựng ngành Tư pháp ở nước ta, gắn liền qua các chặng đường của cách mạng Việt Nam, nền công lý  và pháp lý luôn luôn thực hiện lý tưởng “chí công vô tư” của Bác, từ mức thấp đến mức cao.

- Để vận động thực hiện mọi chủ trương, đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước, Hồ Chủ tịch luôn luôn gắn đạo đức với pháp lý. Đạo đức là gốc của pháp lý nhưng không thể thay thế được pháp lý. Pháp lý mà tách rời đạo đức thì lung lay. Đạo đức và pháp lý là hai chân, thiếu một chân nào cũng không đi được.

- Bác thường căn dặn cán bộ khi thi hành pháp luật phải “có lý, có tình”. Bác phê phán nghiêm khắc thói quan liêu mệnh lệnh, chỉ biết đơn thuần lấy pháp luật, lấy mệnh lệnh hành chính mà đe dọa, mà ép buộc. Bác nói “Phải kiên nhẫn giáo dục quần chúng một cách có lý, có tình” (Hồ Chí Minh- “Tiến lên giành thắng lợi mới”, Học tập số 2 năm 1965). Nên chú ý Bác nói “có lý, có tình”, chứ không nói có tình, có lý như người ta thường nói, nghĩa là Bác đã ngụ ý: lý trước tình sau, tình trên cơ sở lý, lý là đạo lý, cũng là pháp lý.

Khi kết thúc phần này, cụ Vũ Đình Hòe đã tóm lại: lấy đạo đức làm gốc, pháp lý làm chuẩn, xây dựng pháp lý trên đức “chí công vô tư”, và để thực hiện lý tưởng “chí công vô tư” trong vận động cách mạng luôn luôn gắn đạo đức với pháp lý, thi hành pháp luật “có lý, có tình”: phải chăng đó là những nét độc đáo mà Hồ Chủ tịch đã góp vào lý luận Mác- Lênin về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam, thích hợp với nhận thức và tâm lý con người Việt Nam?

Từ Cách mạng Tháng tám, từ ngày thành lập ngành Tư pháp (28/8/1945), Nhà nước ta, ngành ta không ngừng kiện toàn, pháp luật được tăng cường, luôn luôn phục vụ tích cực nhiệm vụ chính trị, phục vụ nhân dân trong suốt chặng đường lịch sử. Sáu mươi lăm năm qua, các thế hệ cán bộ ngành Tư pháp luôn ghi nhớ lời căn dặn của Bác, nắm vững định hướng pháp luật, tư pháp của Đảng để đưa công tác Tư pháp phát triển không ngừng. Kỷ niệm ngày truyền thống của ngành, ôn lại tài liệu của lãnh đạo ngành thời kỳ đầu về một bài học cụ thể của Bác: “chí công vô tư” với giới pháp lý, để thấy đây là một bài học sâu sắc, có ý nghĩa vô cùng to lớn, trường tồn.

 

19/08/2010 12:00 SAĐã ban hành
Người tham gia giao thông không được thực hiện một số hành vi pháp luật  nghiêm cấmNgười tham gia giao thông không được thực hiện một số hành vi pháp luật  nghiêm cấm
Trong thời gian qua, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre diễn biến rất phức tạp, số người chết do tai nạn giao thông tăng cao, tính riêng 4 tháng đầu năm 2014, đã xảy ra 118 vụ, làm chết 75 người, bị thương 78 người (so với cùng kỳ năm 2013, tăng 36 người chết). Để hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông, người tham gia giao thông không được thực hiện một số hành...

 

 

Trong thời gian qua, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre diễn biến rất phức tạp, số người chết do tai nạn giao thông tăng cao, tính riêng 4 tháng đầu năm 2014, đã xảy ra 118 vụ, làm chết 75 người, bị thương 78 người (so với cùng kỳ năm 2013, tăng 36 người chết). Để hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông, người tham gia giao thông không được thực hiện một số hành vi pháp luật nghiêm cấm sau đây:

Khi điều khiển phương tiện giao thông không được thực hiện hành vi đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng trên đường. Vì đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tìm ẩn nguy cơ gây ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.

Hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy cũng là một trong những hành vi bị nghiêm cấm. Ma túy là một trong những chất gây nghiện, Nhà nước nghiêm cấm sử dụng trái phép, vì nếu sử dụng thì người điều khiển phương tiện tham gia giao thông không thể làm chủ được hành vi của mình, từ đó không thể điều khiển được phương tiện tham gia giao thông, nên rất dễ gây ra tai nạn giao thông cho mình và cho người khác.

Hành vi điều khiển ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn cũng là hành vi bị cấm và xử lý rất nghiêm khắc. Theo quy định, chỉ cần trong máu hoặc trong hơi thở có nồng độ cồn là bị xử phạt, bất kể nồng độ cồn là bao nhiêu. Bởi vì, rượu, bia cũng là chất gây nghiện; hơn nữa các loại xe trên là những phương tiện có nguồn nguy hiểm cao độ, nên khi gây ra tai nạn giao thông thì hậu quả rất nặng nề cho gia đình và xã hội.


Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông cũng là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi này đã gián tiếp góp phần làm cho tai nạn giao thông xảy ra. Bởi vì, mặc dù biết người thân, bạn bè của mình…không đủ điều kiện tham gia giao thông, như: không có giấy phép lái xe, không đủ tuổi điều khiển xe, không đủ sức khỏe…nhưng vẫn giao xe hoặc để cho người đó điều khiển xe, do đó tai nạn giao thông là không tránh khỏi.

Khi tham gia giao thông, người điều khiển xe cơ giới không được điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, giành đường, vượt ẩu; phải tuân thủ tốc độ tối đa cho phép ghi trên biển báo hiệu đường bộ ở tuyến đường đang lưu thông và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình để phòng ngừa tai nạn giao thông xảy ra. Bởi vì, nếu chúng ta điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định thì không thể xử lý được những tình huống đột xuất xảy ra trên đường, do đó rất dễ gây ra tai nạn giao thông. Hiệu lực của biển “Tốc độ tối đa cho phép”  bắt đầu từ vị trí đặt biển “Tốc độ tối đa cho phép” đến vị trí đặt biển “Hết hạn chế tốc độ tối đa”. Do đó, người điều khiển phương tiện giao thông trên đường phải hết sức chú ý biển báo “Tốc độ tối đa cho phép”  để chấp hành nghiêm chỉnh về tốc độ.

 

07/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về “giải trình” theo luật xử lý vi phạm hành chínhQuy định về “giải trình” theo luật xử lý vi phạm hành chính
Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013. Với mục đích, để tránh tình trạng quan liêu, áp đặt của cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt khi tiến hành xử phạt, bảo đảm việc xử phạt được thực hiện một cách khách quan, minh bạch, dân chủ, Điều 61 của Luật XLVPHC bổ sung quy định mới về quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm và trách nhiệm của cơ quan ti...

Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013. Với mục đích, để tránh tình trạng quan liêu, áp đặt của cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt khi tiến hành xử phạt, bảo đảm việc xử phạt được thực hiện một cách khách quan, minh bạch, dân chủ, Điều 61 của Luật XLVPHC bổ sung quy định mới về quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm và trách nhiệm của cơ quan tiến hành xử phạt phải xem xét ý kiến giải trình của người vi phạm, phải tiến hành xác minh hành vi vi phạm trước khi ra quyết định xử phạt.

Luật XLVPHC quy định áp dụng thủ tục giải trình đối với trường hợp bị áp dụng đối với những vi phạm có tính chất nghiêm trọng theo quy định bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vi phạm hành chính quy định áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung phạt tiền đối với hành vi vi phạm lớn, từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức.

Về các hình thức thực hiện quyền giải trình, Khoản 1 Điều 61 Luật XLVPHC quy định việc giải trình được thực hiện theo 02 hình thức, giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản. Giải trình bằng văn bản là việc cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Giải trình trực tiếp là việc cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và trực tiếp tham gia phiên giải trình do người có thẩm quyền xử phạt tổ chức để đưa ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Giải trình là quyền của cá nhân, tổ chức vi phạm, vì vậy chỉ khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu thì người có thẩm quyền xử phạt mới có trách nhiệm giải quyết. Do đó, tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 61 Luật XLVPHC quy định cá nhân, tổ chức vi phạm phải có trách nhiệm gửi văn bản giải trình hoặc yêu cầu giải trình trực tiếp cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, trong thời hạn như sau: Không quá 05 ngày đối với trường hợp giải trình bằng văn bản (Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền có thể gia hạn thêm không quá 05 ngày theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính tự mình hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản); không quá 02 ngày làm việc đối với trường hợp giải trình trực tiếp.

Để bảo đảm quyền giải trình của người vi phạm, Luật quy định cụ thể trách nhiệm, trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu giải trình trực tiếp. Theo đó, trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu giải trình trực tiếp, người có thẩm quyền xử phạt phải có trách nhiệm tổ chức phiên giải trình, thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình để họ trực tiếp tham gia. Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý và tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm. Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan và là một trong những căn cứ quan trọng để người có thẩm quyền xử phạt xem xét, ra quyết định xử phạt.

28/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sởVai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở
 Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các ...

Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.

Luật Hoà giải ở cơ sở đã khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc giới thiệu danh sách bầu làm hoà giải viên ở cơ sở; chủ trì tổ chức bầu hoà giải viên; đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận hoà giải viên sau khi bầu. Cụ thể tại Điều 8 của Luật Hoà giải ở cơ sở về bầu, công nhận hòa giải viên quy định người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật Hoà giải ở cơ sở có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức: Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình. Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý; trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp; trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng; Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

 

Đối với việc thôi làm hòa giải viên được quy định tại Điều 11 của Luật Hoà giải ở cơ sở: Trường hợp thôi làm hòa giải viên quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Trường hợp thôi làm hòa giải viên đối với tổ trưởng tổ hòa giải thì Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Quyết định thôi làm hòa giải viên được gửi Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

Bên cạnh đó vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở, còn thể hiện ở quy định tại Điều 12 của Luật Hoà giải ở cơ sở như đề nghị số lượng tổ hoà giải, số hòa giải viên trong một tổ hòa giải ở địa phương để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định; rà soát, kiến nghị kiện toàn tổ hoà giải.  Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì phối hợp với tổ trưởng tổ hòa giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải và kiến nghị Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã để đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã kiện toàn tổ hòa giải.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở còn thể hiện ở vai trò chủ trì bầu tổ trưởng tổ hoà giải theo quy định tại Điều 14 của Luật Hoà giải ở cơ sở. Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn bản và gửi chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định công nhận.

Ngoài ra, Điều 22 và Điều 26 của Luật Hoà giải ở cơ sở quy định: Trường hợp các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau thì tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố đó phối hợp thực hiện việc hòa giải và thông báo với Trưởng ban công tác Mặt trận tại nơi đó cùng phối hợp thực hiện. Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời thông báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.

Bên cạnh việc quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận nêu trên, Điều 30 của Luật Hoà giải ở cở sở còn quy định Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014
Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công ...

Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật; công tác kiểm soát thủ tục hành chính; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; công tác trợ giúp pháp lý; công tác hành chính tư pháp; quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp; công tác thanh tra, kiểm tra và tổ chức xây dựng Ngành.


Qua phát động, Sở Tư pháp đã chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, chỉ tiêu đề ra trong Kế hoạch, Chương trình thi đua và một số công việc đột xuất theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhan dân tỉnh. Trên cơ sở đó, các phòng và trung tâm thuộc Sở đã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện phong trào thi đua tại đơn vị mình. Công tác thi đua đã có nhiều khởi sắc, đi vào thực chất, phát triển rộng khắp, thiết thực, hiệu quả; các hoạt động phong trào thi đua đều hướng đến thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao có trọng tâm, trọng điểm, góp phần thực hiện thành công các giải pháp chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua đợt 01/2014 đã phát huy tính thiết thực, giải quyết tốt khối lượng công việc tương đối lớn và những công việc trọng tâm, chương trình kế hoạch năm đã đề ra, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành; nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức về vị trí, vai trò, tác dụng của công tác thi đua, khen thưởng đã từng bước được nâng cao.

Kết thúc đợt thi đua, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành quyết định tặng Giấy khen và công nhận 06 tập thể và 20 cá nhân đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc trong quá trình thực hiện phong trào thi đua đợt 1/2014. Đồng thời, tổ chức phát động và thực hiện phong trào thi đua đợt 02/2014 theo Kế hoạch và Chương trình thi đua đề ra đầu năm, kết hợp với phát động phong trào thi đua hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước Ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 394/QĐ-BTP ngày 19 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp và Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre tổ chức thành công Hội thi tìm hiểu luật bình đẳng giới năm 2012Bến Tre tổ chức thành công Hội thi tìm hiểu luật bình đẳng giới năm 2012
 Trong những năm qua công tác bình đẳng giới tại tỉnh Bến Tre được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Chương trình hành động số 601/CTr-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2011 về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015. Trên cơ sở đó, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đã chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, S...

Trong những năm qua công tác bình đẳng giới tại tỉnh Bến Tre được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Chương trình hành động số 601/CTr-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2011 về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015. Trên cơ sở đó, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đã chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu Luật Bình đẳng giới năm 2012” vào ngày 11 tháng 10 năm 2012.


Với 3 phần thi sôi nổi, thi trắc nghiệm, hái hoa dân chủ và biểu diễn tiểu phẩm đặc sắc, cuộc thi đã huy động được hơn 60 thí sinh thuộc 8 đội dự thi của các huyện, thành phố trong tỉnh về tham gia dự thi và gần 100 lực lượng công chức, viên chức và người lao động trong tỉnh đã xem, động viên, khích lệ cho các đội dự thi, hoàn thành các nội dung thi một cách tốt nhất.


Đây là dịp để các cán bộ công chức, viên chức giao lưu, giao lưu, trao dồi kiến thức về bình đẳng giới và cũng là nơi để các đội thể hiện năng khiếu vốn có của mình. Bên cạnh đó, nhằm tuyên truyền sâu rộng cho công chức, viên chức, người lao động trong tỉnh về những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về binh đẳng giới. Kết quả, Ban Tổ chức đã trao một giải nhất cho đội Thành phố Bến Tre, giải nhì thuộc về đội dự thi của huyện Giồng Trôm, giải ba thuộc về huyện Bình Đại; 02 giải khuyến khích trao cho huyện Châu Thành và huyện Mỏ Cày Bắc./.

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thành phố Bến Tre tổ chức tập huấn cho hòa giải viên cơ sởThành phố Bến Tre tổ chức tập huấn cho hòa giải viên cơ sở
Ngày 21/10/2010, UBND thành phố Bến Tre phối hợp cùng Sở tư pháp tổ chức lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ công tác hòa giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hơn 200 hòa giải viên cơ sở trên địa bàn thành phố Bến Tre. Ông Trần Khánh Dư phó chủ tịch UBND thành phố đã đến dự.

Ngày 21/10/2010, UBND thành phố Bến Tre phối hợp cùng Sở tư pháp tổ chức lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ công tác hòa giải và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hơn 200 hòa giải viên cơ sở trên địa bàn thành phố Bến Tre. Ông Trần Khánh Dư phó chủ tịch UBND thành phố đã đến dự.

Bà Nguyễn Thị Yến Nhi chánh văn phòng Sở tư pháp đã triển khai cho các hòa giải viên một số quy định của pháp luật liên quan thiết thực đến công tác hòa giải như: luật bình đẳng giới; luật phòng chống bạo lực gia đình; luật thi hành án dân sự và một số vấn đề chung trong quản lý nhà nước về công tác hòa giải cơ sở, hướng dẫn cho các hòa giải viên những kỹ năng, nghiệp vụ và những kinh nghiệm trong công tác hòa giải.

Lớp tập huấn nhằm giúp lực lượng hòa giải viên cơ sở nắm vững một số nội dung cơ bản của pháp luật và những kỹ năng hòa giải từ đó nâng cao chất lượng và tỉ lệ hòa giải thành các vụ việc tranh chấp tại địa phương, góp phần củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, hạn chế đơn thư khiếu kiện, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm ngay từ cơ sở.

QUANG KHỞI

26/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình kế toánQuy trình kế toán


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
QUY TRÌNH KẾ TOÁN

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Để thực hiện tốt việc thu chi, sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp đúng quy định của pháp luật.

2. Phạm vi áp dụng:

Tất cả các phòng thuộc Sở.

3. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

- Căn cứ vào biên chế được duyệt + định mức khoán/ đầu người.

- Lập dự toán theo từng nhóm mục, mục.

- Phân phối dự toán cho các đơn vị trực thuộc.

- Rút lương + tạm ứng chi hoạt động.

- Đối chiếu dự toán hàng tháng với kho bạc.

- Chuyển BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn.

- Đối chiếu BHXH hàng quý.

- Tập hợp chứng từ.

- Viết phiếu chi hàng ngày.

- Ghi chép vào sổ Nhật ký sổ cái, định khoản.

- Cuối tháng cộng tất cả các chứng từ phát sinh..

- Thanh toán tiền điện, nước, điện thoại bằng chuyển khoản.

- Cuối tháng lên bảng kê chứng từ, thanh toán tạm ứng với kho bạc.

- Quyết toán hàng quý với tài chính.

- Quyết toán với đơn vị trực thuộc, báo cáo tài chính hàng năm.

- Tổng hợp chứng từ ngoài khoán, theo dõi từng khoản chi.

- Lên bảng kê chứng từ, thanh toán tạm ứng với kho bạc.

- Mua biên lai thu phí và lệ phí.

- Ghi biên lai thu phí hộ tịch.

- Ghi vào sổ theo dõi thu phí hộ tịch.

- Hàng tuần cộng sổ phần trích, nộp cho kho bạc.

- Cuối tháng tổng hợp thanh toán với cục thuế.

- Nguồn thu lệ phí trích lại của đơn vị, chi và quyết toán theo mục lục ngân sách nhà nước.

- Lập danh sách cán bộ công chức đóng BHXH gửi BHXH tỉnh.

- Cuối năm lập danh sách CBCC có mặt đến 31/12 gửi Sở Nội vụ, sau khi thẩm tra xét duyệt, làm cơ sở rút lương với kho bạc.

- Thu chi kinh phí quản lý ngành, thi đua khen thưởng, cuối tháng tập hợp chứng từ theo mục lục ngân sách quyết toán với cơ quan Thi hành án tỉnh.

- Kiêm nhiệm kế toán xây dựng cơ bản, thanh toán với đơn vị thi công theo từng khối lượng hoàn thành.

- Theo dõi xuất, nhập kho sổ bộ hộ tịch cấp phát cho xã, phường.

- Phối hợp với công an tạm ứng kinh phí phòng chống tội phạm, ma tuý, theo dõi từng khoản chi và quyết toán với Hậu cần công an.

- Phối hợp với ban an toàn giao thông tạm ứng kinh phí sử dụng các cuộc thi về an toàn giao thông và quyết toán với Ban an toàn giao thông tỉnh.

- Phối hợp với Sở y tế nhận kinh phí tuyên truyền về HIV/AIDS và quyết toán chứng từ cho Sở y tế.

- Phối hợp với Uỷ ban dân số và gia đình nhận kinh phí tuyên truyền về dân số và quyết toán với Uỷ ban dân số và gia đình.

- Nhập kho tài sản cố định.

- Đến ngày 31/12 kiểm kê, đánh giá lại giá trị còn lại tài sản của cơ quan.

- Nhập kho văn phòng phẩm, theo dõi cấp phát.

Chuyên viên kế toán

Thời gian:

quý IV của năm


07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình mua sắm tài sảnQuy trình mua sắm tài sản


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Để thống nhất quá trình mua một hay nhiều tài sản, trang thiết bị phục vụ cơ quan, các chương trình phần mềm vi tính, cơ sở dữ liệu, chi phí mua hay thuê dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ sửa chữa tài sản,… phục vụ đáp ứng cho hoạt động của cơ quan. Đảm bảo cho việc mua sắm tài sản, dịch vụ sửa chữa có chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả và phù hợp đáp ứng nhu cầu sử dụng của cơ quan.

2. Phạm vi áp dụng:

  • Được áp dụng ở Văn phòng và các phòng có liên quan.
  • Phạm vi kiểm soát và theo dõi quản lý thuộc bộ phận Văn phòng phối hợp thông qua các phòng.

3. Quy trình thực hiện:

STT

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

1

- Văn phòng Sở căn cứ kinh phí mua sắm mới, sửa chữa được phân bổ cho cơ quan theo kế hoạch hàng năm.

Văn phòng

Thời gian:

đầu năm

2

- Quá trình mua sắm, sửa chữa:

+ Theo kế hoạch: lập Tờ trình xin chủ trương cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (đối với những tài sản có giá trị lớn); nếu giá trị nhỏ thì trình giám đốc phê duyệt.

+ Đột xuất: báo cáo Lãnh đạo quyết định; nếu tài sản có giá trị lớn phải xin chủ trương.

Văn phòng


3

Nghiệm thu: mời các ngành chức năng có liên quan tham gia nghiệm thu (đối với tài sản lớn); nếu giá trị nhỏ thì văn phòng và nơi có nhu cầu sử dụng tài sản xem xét.

Văn phòng + các ngành liên quan

4

- Bàn giao tài sản mới mua hoặc mới sửa chữa hoàn tất cho phòng quản lý sử dụng.

Văn phòng


4. Phụ lục:

  • Công văn 866/CV-TCVG ngày 20/10/2000 hướng dẫn thực hiện việc sửa chữa tài sản đối với cơ quan hành chính sự nghiệp.
  • Công văn số 246/TCVG – NS ngày 15/3/2001 về việc thực hiện đấu thầu mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc.
07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn