Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Một số tội phạm thường xảy ra khi xuân vềMột số tội phạm thường xảy ra khi xuân về
Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, Tết đến, trong không khí nhộn nhịp, náo nức đón chào năm mới thì tình hình tội phạm lại gia tăng. Đặc biệt, có những tội phạm chỉ xảy ra nhiều vào dịp Tết như đánh bạc, tổ chức đánh bạc (đá gà, đánh bài, lắc bầu cua...) và một hệ lụy kèm theo, nếu như thua thì nảy sinh mâu thuẫn với người thắng, xảy ra cải vã, sâu xát hoặc cố ý gây thương tích, số khác nghĩ đến việc ...

Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, Tết đến, trong không khí nhộn nhịp, náo nức đón chào năm mới thì tình hình tội phạm lại gia tăng. Đặc biệt, có những tội phạm chỉ xảy ra nhiều vào dịp Tết như đánh bạc, tổ chức đánh bạc (đá gà, đánh bài, lắc bầu cua...) và một hệ lụy kèm theo, nếu như thua thì nảy sinh mâu thuẫn với người thắng, xảy ra cải vã, sâu xát hoặc cố ý gây thương tích, số khác nghĩ đến việc đi trộm cắp, cướp giật, cướp tài sản người khác để có tiền tiếp tục cuộc đỏ đen. Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ thanh thiếu niên vui chơi quá đà, nhậu say càn quấy, gây rối trật tự công cộng hay các bạn nhậu bất đồng quan điểm, quá khích, đánh nhau gây thương tích. Có những cái chết thương tâm đã xảy ra mà trước đó vài phút thôi, kẻ sát nhân và người bị hại còn kề vai nhau tâm tình thân thiết, cùng nhau chén tạc chén thù.

Những hành vi vi phạm này, nếu nhẹ thì bị xử lý vi phạm hành chính, nặng hơn là truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc của Nhà nước tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của bản thân. Tuy nhiên, hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định Tội đánh bạc tại Điều 248: Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 (Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc) của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Căn cứ vào tính chất và mức độ vi phạm người phạm tội bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 249: Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: Có tính chất chuyên nghiệp; Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn; Tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Người đánh bạc, người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 20.000.000 đồng tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm. (Điều 23 Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội).

Cùng mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng với tính chất, hình thức, mức độ vi phạm khác nhau sẽ có các hình phạt tương xứng: Điều 138: Tội trộm cắp tài sản (có giá trị từ hai triệu đồng trở lên), Điều 136: Tội cướp giật tài sản (Không quy định giá trị tài sản cướp được) bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến hai mươi năm, tù chung thân, có thể bị phạt tiền đến năm mươi triệu đồng. Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo Nghị định 73/2010/NĐ-CP.

Điều 133: Tội cướp tài sản quy định: Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, tuỳ vào tính chất, mức độ vi phạm bị phạt tù cao nhất đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình, có thể bị phạt tiền đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 245: Tội gây rối trật tự công cộng: Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách; Có tổ chức; Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng; Xúi giục người khác gây rối;Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng; Tái phạm nguy hiểm.

Điều 104: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm: Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; Có tổ chức; Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Để ngày xuân được vui tươi, hạnh phúc, mỗi chúng ta ngoài việc vui chơi lành mạnh, còn phải tự giác chấp hành pháp luật, vận động gia đình, bạn bè, người thân chấp hành pháp luật, nâng cao ý thức đấu tranh phòng, chống mọi hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi gia đình hạnh phúc, bình yên - xóm ấp bình yên, tràn ngập niềm vui đón chào năm mới.

06/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Những bước chuyển biến trong công tác cải cách hành chính ở Bến TreNhững bước chuyển biến trong công tác cải cách hành chính ở Bến Tre
  Để đẩy mạnh việc thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, theo tinh thần Kế hoạch số 5814/KH-UBND ngày 16/12/2011 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh “về thực hiện công tác CCHC giai đoạn 2011-2015”, ngày 13/8/2013 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND về “ Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai ...

Để đẩy mạnh việc thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, theo tinh thần Kế hoạch số 5814/KH-UBND ngày 16/12/2011 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh “về thực hiện công tác CCHC giai đoạn 2011-2015”, ngày 13/8/2013 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND về “ Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020”, Sở Nội Vụ đã tích cực tham mưu cho UBND tỉnh phối hợp với các ngành chức năng trong tỉnh tăng cường thực hiện các nội dung trong công tác CCHC trên địa bàn tỉnh.

Đến nay, Đoàn kiểm tra công tác CCHC (thực hiện theo Kế hoạch số 05/KH-SNV của Sở Nội Vụ) đã tiến hành kiểm tra tại 3 huyện: huyện Ba Tri, Bình Đại, Mỏ Cày Bắc; 4 Sở gồm Sở Giao thông Vận tải, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Ngoài ra, các huyện, thành phố còn lại cũng đã xây dựng kế hoạch và tiến hành kiểm tra CCHC ở các cơ quan chuyên môn cấp huyện và UBND cấp xã. Qua đó, nghiêm túc chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, góp phần hoàn thiện công tác cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người dân. Bên cạnh đó, công tác CCHC gắn với công tác dân vận chính quyền ngày càng được lãnh đạo các địa phương, đơn vị quan tâm quán triệt trong cán bộ công chức, viên chức thực hiện, cụ thể là nội dung “ Ba không, ba nên, ba cần” được niêm yết công khai trước trụ sở các cơ quan, đơn vị thực hiện và người dân theo dõi, giám sát.

Việc công khai và hướng dẫn đầy đủ, kịp thời các loại thủ tục hành chính thông qua nhiều hình thức như niêm yết công khai, trang tin, Website, báo đài đã góp phần làm cho người dân ngày càng tiếp cận dễ dàng với các loại thủ tục hành chính cho từng lĩnh vực theo nhu cầu của người dân. Toàn tỉnh có 17/17 sở ngành; 8/9 huyện, thành phố công khai thủ tục hành chính tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (riêng Mỏ Cày Bắc mới thành lập bộ phận một cửa chưa thực hiện). Đến nay, trong toàn tỉnh có 270 thủ tục hành chính được ban hành; sửa đổi, bổ sung và bị bãi bỏ cụ thể trong đó ban hành mới là 142, sửa đổi, bổ sung 64, bãi bỏ 57, thay thế 3, điều chỉnh tên 4. Tính đến nay, đã có 17/17 sở ngành tỉnh; 9/9 huyện, thành phố; 164/164 xã, phường, thị trấn thực hiện cơ chế một cửa, 5/9 huyện, thành phố thực hiện cơ chế một cửa liên thông (Thành phố Bến tre, Ba Tri, Giồng Trôm, Chợ Lách, Bình Đại) và 4 mô hình liên thông cấp tỉnh gồm: Liên thông giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư – Công an tỉnh - Cục thuế tỉnh; Ban Quản lý các Khu công nghiệp-Sở Kế hoạch và Đầu tư -Sở Công thương; Sở Tư pháp – Văn phòng UBND tỉnh – Công an tỉnh; Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch - Sở Xây dựng - Sở Y tế - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo kế hoạch 744/KH-UBND của UBND tỉnh đến nay là 8.348 văn bản, hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và UBND các cấp ban hành từ năm 1976 đến 31/12/2012 đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, phù hợp với đặc điểm tình hình, điều kiện phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương, đảm bảo về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã quyết định cử đi học 54 người (sau đại học 10, Đại học 44); bồi dưỡng chương trình chuyên viên chính cho 100 cán bộ, chương trình chuyên viên cho 225 cán bộ; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ 2.621 người (cán bộ công chức cấp xã 1.256 người); mở 2 lớp đào tạo nguồn chức danh Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn với 86 người tham dự; mở 1 lớp tin học trình độ A, 04 lớp tin học trình độ B với 103 học viên; về Anh ngữ mở 2 lớp anh văn trình độ B1 (theo chương trình khung Châu Âu) với 59 học viên, 2 lớp Anh văn trình độ B/76 học viên; bồi dưỡng An ninh - Quốc phòng tại Sóc Trăng cho đối tượng 2 là 22 người, Hà nội 02 người; thực hiện đề án Đào tạo 50 cán bộ, khoa học kỹ thuật trình độ sau đại học ở nước ngoài UBND tỉnh đã ra quyết định cử 2 úng viên đi học thạc sĩ tại Thái Lan, chuẩn bị đưa 2 ứng viên học thạc sĩ ở Hungary; phối hợp tổ chức 2 kỳ thi nâng ngạch cho cán bộ công chức, viên chức cấp tỉnh và các huyện, thành phố. Toàn tỉnh có 11/17 cơ quan chuyên môn và UBND thành phố Bến Tre có website, 22 đơn vị đã triển khai thực hiện hệ thống quản lý văn bản và điều hành (M-office), phần lớn các sở, ban, ngành tỉnh được trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị và phương tiện làm việc như bàn ghế, máy vi tính kết nối Internet và hệ thống mạng LAN; có 17/17 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và 9/9 UBND huyện, thành phố và 14 UBND xã, phường, thị trấn đã xây dựng, áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO.

Với việc triển khai đồng bộ, toàn diện trên các nội dung về cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách hành chính công, hiện đại hoá nền hành chính Nhà nước, đặc biệt UBND tỉnh đã triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ, giờ giấc làm việc và văn hoá ứng xử nơi công sở. Từ đó xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh, làm cho công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre bước đầu đạt những kết quả quan trọng trên nhiều mặt, đồng thời thực hiện tốt công tác dân vận chính quyền theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 ( khoá XI) “về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” đã đề ra.

17/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mớiThực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới
 Đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức trên 700 buổi toạ đàm thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) trên tinh thần Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. cụ thể lĩnh vực về giao thông nông thôn có 358 buổi, lĩnh vực giảm nghèo có 150 buổi và lĩnh vực môi trường có 192 buổi. Nhìn chung các buổi toạ đàm được tổ chức chu đáo, có sự quan tâm tham dự của đông đảo quần chúng nhân dân, những công việc l...

Đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức trên 700 buổi toạ đàm thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) trên tinh thần Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. cụ thể lĩnh vực về giao thông nông thôn có 358 buổi, lĩnh vực giảm nghèo có 150 buổi và lĩnh vực môi trường có 192 buổi. Nhìn chung các buổi toạ đàm được tổ chức chu đáo, có sự quan tâm tham dự của đông đảo quần chúng nhân dân, những công việc liên quan đến quyền và lợi ích của người dân được đem ra bàn bạc, lấy ý kiến công khai, dân chủ và biểu quyết thực hiện dựa trên sự tán đồng của đa số. Từ đó, nhân dân đồng tình hưởng ứng; việc huy động công sức, tiền của từ sự đóng góp của quần chúng nhân dân ngày càng trở thành phong trào rộng khắp, nhất là ở lĩnh vực xây dựng giao thông nông thôn. Đến nay đã có 380 công trình được thực hiện với 143,9 km đường nhựa và bê tông liên tổ, liên xóm, ấp, tổng số tiền thực hiện ước tính là 155,57 tỷ đồng.

Ngoài những kết quả nêu trên, việc thực hiện QCDC ở cơ sở đảm bảo các nội dung “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vừa là động lực, vừa là mục tiêu giúp các địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác vận động quần chúng thời gian qua. Việc công khai, minh bạch các khoản thu chi trong vận động quần chúng xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn đã làm cho người dân ngày càng an tâm, tin tưởng vào hoạt động của chính quyền cơ sở. Việc lấy ý kiến nhân dân trong công tác xây dựng đảng, xây dựng chính quyền nhất là ở lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo…ngày càng thể hiện tính dân chủ trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Công tác chấn chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các quy ước, hương ước ấp, khu phố được các địa phương quan tâm thực hiện đúng quy trình, lấy ý kiến dân chủ trong nhân dân,  đến nay đã có 946/983 quy ước, hương ước được hoàn thiện và đi vào thực hiện. Toàn tỉnh có 974/983 Ban thanh tra nhân dân hoạt động khá tốt đã góp phần quan trọng trong việc cùng với nhân dân tham gia giám sát các hoạt động diễn ra trên địa bàn xã. Chất lượng sinh hoạt tổ nhân dân tự quản được nâng dần với 14.142 Tổ nhân dân tự quản hoạt động khá tốt là nền tảng vững chắc cho việc triển khai và thực hiện có hiệu quả các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến tận quần chúng nhân dân. Đồng thời, đây là nơi để người dân phát huy quyền làm chủ của mình, tham gia thực hiện nhiều phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở, hướng đến mục tiêu chung là xây dựng xã hội đồng thuận tự quản gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Niềm tin và chữ tínNiềm tin và chữ tín
 Trong kinh doanh mua bán chữ “tín” luôn đứng hàng đầu, người mua kẻ bán ngoài việc trao hàng và tiền thì họ còn dựa vào sự tin tưởng nhau để làm ăn. Ông H là người mua bán thức ăn gia súc đã gần chục năm nay, ở địa phương ai cũng biết ông làm ăn đàng hoàng và người mua thức ăn của ông cũng là những mối mua bán lâu năm. Chính vì vậy, ông bán thức ăn theo dạng gói đầu cho người mua về chăn nuôi h...

Trong kinh doanh mua bán chữ “tín” luôn đứng hàng đầu, người mua kẻ bán ngoài việc trao hàng và tiền thì họ còn dựa vào sự tin tưởng nhau để làm ăn. Ông H là người mua bán thức ăn gia súc đã gần chục năm nay, ở địa phương ai cũng biết ông làm ăn đàng hoàng và người mua thức ăn của ông cũng là những mối mua bán lâu năm. Chính vì vậy, ông bán thức ăn theo dạng gói đầu cho người mua về chăn nuôi heo, khi nào heo xuất chuồng thì người mua thức ăn sẽ đến thanh toán tiền thức ăn gia súc với ông. Mỗi lần bán thức ăn đến vài chục bao nhưng giữa ông với người mua chỉ giao dịch miệng và ông chỉ lấy cuốn sổ ghi chép của mình ghi ngày tháng năm người mua đến lấy bao nhiêu bao thức ăn rồi cất vào. Chẳng hạn như ông B mua thứa ăn của ông H đến ngày bán heo xong là cầm tiền lên thanh toán hết số tiền thức ăn đã mua cho lứa heo vừa xuất chuồng cũng như để chuẩn bị mua thức ăn gói đầu cho đợt tiếp theo. Chăn nuôi thì có lúc lời, lúc lỗ nhất là đợt dịch heo tai xanh đã làm cho người nuôi lỗ rất nhiều, heo lớp thì bệnh chết, lớp không ai mua, người nuôi xem như là mất trắng. Đó là điều mà người bán thức ăn gia súc như ông H và người chăn nuôi như ông B đều không mong muốn xảy ra.

Sau đợt dịch heo tai xanh, chuồng trại của ông B không còn con heo nào và bản thân ông B cũng không còn bao vốn liếng mà trả tiền thức ăn cho ông H. Sau nhiều lần thất hẹn với ông H, ông B đành thú thật mong ông H thương tình cho thiếu một thời gian khi nào làm ăn lại có dư sẽ trả chứ hiện tại ông B không có khả năng chi trả. Về phần mình ông H cũng khá điêu đứng trong việc làm ăn. Ông H phần nào cũng thông cảm nhưng phần nào cũng mong muốn người mua cảm thông cho ông mà cố gắng trả cho ông một phần, vì tiền mua thức ăn của mỗi người mua từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu.

Ông B cứ hẹn lần hẹn lựa buộc lòng ông H phải gửi đơn nhờ Ủy ban nhân dân xã hòa giải. Ông H viết đơn và photo cuốn sổ mà ông ghi chép sau mỗi lần mua bán, nhưng trong quyển sổ chỉ có chữ của ông. Ông H cũng tìm hiểu pháp luật dân sự theo Điều 428 Bộ luật Dân sự 2005 quy định hợp đồng mua bán tài sản như sau: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”. Bên cạnh đó giá và phương thức thanh toán ông H cũng biết được giá là do các bên thỏa thuận hoặc theo người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên; phương thức thanh toán cũng do các bên thỏa thuận.

Sau nhiều ngày suy nghĩ, trước ngày ra Ủy ban nhân dân xã hòa giải ông H đã tự tìm gặp ông B và nói rõ mục đích là muốn hai bên tự thỏa thuận với nhau. Ông H sẽ bán cho ông B một đợt thức ăn nữa để ông B có cơ hội chăn nuôi lại và sau đó ông B phải cam kết trả cho ông H số tiền còn thiếu. Ông B nghe được điều đó cảm ơn ông H rối rít, ông B cũng nói thật do khó khăn quá chứ ông không có ý nghĩ không trả.

Ông H ra về với nụ cười nở trên môi, đã gần ba mươi năm làm nghề kinh doanh ông luôn quan niệm trong mọi việc niềm tin và chữ tín là điều thiết yếu trong cuộc sống, hôm nay ông càng thấy quan niệm đó chưa sai lệch. Tuy nhiên, ông cũng đã cải thiện quyển sổ của mình lại là thêm một cột họ tên và chữ ký của người mua và người nhận hàng vì như vậy tạo cơ sở niềm tin được vững chắc hơn cho đôi bên.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Liên thông đăng ký khai sinh, thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổiLiên thông đăng ký khai sinh, thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi
Ngày 4 tháng 8 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng lý thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi”.

Ngày 4 tháng 8 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng lý thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi”.

Mục tiêu tổng quát của Đề án là cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm thực hiện cơ chế liên thông trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch, cư trú, bảo hiểm y tế, nhằm từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ công thuộc trách nhiệm của các ngành Tư pháp, Công an, Bảo hiểm xã hội, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này.

Việc liên thông các thủ tục hành chính được thực hiện đối với các trường hợp cụ thể sau:

Đăng ký khai sinh - đăng ký thường trú - cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi: Áp dụng đối với trường hợp đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trên cùng địa bàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); trẻ em dưới 6 tuổi có cha hoặc mẹ hoặc người nuôi dưỡng, chăm sóc có đăng ký thường trú trên địa bàn cấp huyện đó.

Đăng ký khai sinh - cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi: Áp dụng đối với trường hợp đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trên cùng địa bàn cấp huyện; trẻ em dưới 6 tuổi có cha hoặc mẹ hoặc người nuôi dưỡng, chăm sóc không có đăng ký thường trú mà chỉ có đăng ký tạm trú trên địa bàn cấp huyện đó.

Việc liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi được triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc.

Theo đó, người có yêu cầu thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi chỉ nộp hồ sơ một lần và nhận được nhiều kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thời hạn giải quyết liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trong thời hạn tối đa 20 (hai mươi) ngày làm việc, kể từ ngày nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định, người nộp hồ sơ đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã nộp hồ sơ để nhận kết quả.

Thời hạn giải quyết liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trong thời hạn tối đa là 15 (mười lăm) ngày làm việc kể từ ngày nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định, người nộp hồ sơ đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã nộp hồ sơ để nhận kết quả.

Trong trường hợp người dân có yêu cầu nhận kết quả từng loại thủ tục trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thì khi nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã phải yêu cầu cụ thể để ghi vào phiếu hẹn, người dân sẽ được trực tiếp nhận trả kết quả theo yêu cầu tại các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Nếu có nhu cầu nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính, người dân đăng ký với Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi nhận kết quả tại nhà, người dân có trách nhiệm nộp cước phí cho cơ quan bưu chính.

11/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hướng dẫn việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp huyện và UBND cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứngHướng dẫn việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp huyện và UBND cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng

Ngày 17 tháng 9 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 1660/QĐ-UBND về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre và Ủy ban nhân dân các xã, phường thuộc thành phố Bến Tre sang tổ chức hành nghề công chức trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 1661/QĐ-UBND về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân các huyện Châu Thành, Bình Đại và Ủy ban nhân dân một số xã, thị trấn thuộc các huyện Châu Thành, Bình Đại sang tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Để thực hiện các Quyết định nêu trên, ngày 18 tháng 10 năm 2013 Sở Tư pháp ban hành Công văn số 1790/STP-BTTP  hướng dẫn như sau:

1. Phạm vi chuyển giao

- Thành phố Bến Tre: Chuyển giao thẩm quyền chứng thực toàn bộ các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre và Ủy ban nhân dân các xã, phường trên địa bàn thành phố Bến Tre sang tổ chức hành nghề công chứng thực hiện.

- Huyện Châu Thành: Chuyển giao thẩm quyền chứng thực toàn bộ các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành và Ủy ban nhân dân 08 (tám) xã, thị trấn của huyện Châu Thành: An Khánh, Phú Túc, Hữu Định, Tường Đa, Phú An Hòa, Tam Phước, Tân Thạch và thị trấn Châu Thành sang tổ chức hành nghề công chứng.

- Huyện Bình Đại: Chuyển giao thẩm quyền chứng thực toàn bộ các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại và Ủy ban nhân dân 12 (mười hai) xã, thị trấn của huyện Bình Đại: Bình Thắng, Thạnh Phước, Đại Hòa Lộc, Thạnh Trị, Bình Thới, Thừa Đức, Thới Thuận, Phú Vang, Phú Long, Định Trung, Lộc Thuận và thị trấn Bình Đại thực hiện.

2. Nội dung chuyển giao sang tổ chức hành nghề công chứng: Hợp đồng, giao dịch liên quan động sản, bất động sản bao gồm việc bán, tặng cho xe cá nhân (Phụ lục kèm theo)

- Đối với di chúc, văn bản từ chối nhận di sản thừa kế: Tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tổ chức, cá nhân đang cư trú hoặc công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng.

- Đối với ủy quyền: Ủy quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền hoặc để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng ủy quyền và công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng. Việc ủy quyền không phải trường hợp trên thì không phải lập thành hợp đồng mà có thể lập giấy ủy quyền và chứng thực chữ ký tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

3. Các hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn tại Khoản 1 Công văn này, trường hợp có sửa đổi, bổ sung thì Ủy ban nhân dân nơi đã thực hiện chứng thực các hợp đồng, giao dịch này có trách nhiệm bàn giao hồ sơ cho tổ chức hành nghề công chứng.

4. Các hợp đồng, giao dịch phát sinh tại Ủy ban nhân dân các huyện, xã, thị trấn không có tên tại Khoản 1 Công văn này thì tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn chứng thực tại Ủy ban nhân dân nơi tổ chức, cá nhân đang cư trú hoặc công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng trong tỉnh.

PHỤ LỤC

CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH CHUYỂN GIAO CHO CÁC

TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG

(Ban hành kèm theo Công văn số: 1790 /STP-BTTP ngày 18 tháng 10 năm 2013 của Sở Tư pháp)

STT

Tên hợp đồng, giao dịch

Ghi chú

I. Cấp huyện

1

Hợp đồng, giao dịch liên quan đến động sản có giá trị dưới 50 triệu đồng

Theo Quyết định số 1397/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

II. Cấp xã

1

Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Theo Quyết định số 1453/QĐ-UBND ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

2

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

3

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

4

Hợp đồng mua bán tài tản gắn liền với đất

5

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

6

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

7

Hợp đồng tặng cho tài sản gắn liền với đất

8

Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

9

Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

10

Hợp đồng thuê tài sản gắn liền với đất

11

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

12

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

13

Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất

14

Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

15

Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất

16

Hợp đồng góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất

17

Hợp đồng mua bán căn hộ nhà chung cư

18

Hợp đồng thuê căn hộ nhà chung cư

19

Hợp đồng tặng cho căn hộ nhà chung cư

20

Hợp đồng chế chấp căn hộ nhà chung cư

21

Hợp đồng góp vốn bằng căn hộ nhà chung cư

22

Văn bản phân chia di sản thừa kế

23

Văn bản khai nhận di sản thừa kế

24

Di chúc

25

Văn bản từ chối nhận di sản

26

Ủy quyền

23/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đẩy mạnh cải cách hành chính và chế độ công vụ, công chứcĐẩy mạnh cải cách hành chính và chế độ công vụ, công chức
Thời gian qua, thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính và cải cách chế độ công vụ, công chức trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả khá toàn diện, các cơ quan hành chính thường xuyên rà soát thủ tục hành chính, kiến nghị kịp thời cấp có thẩm quyền về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính; ...

Thời gian qua, thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính và cải cách chế độ công vụ, công chức trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả khá toàn diện, các cơ quan hành chính thường xuyên rà soát thủ tục hành chính, kiến nghị kịp thời cấp có thẩm quyền về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính; tỷ lệ cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng ngày càng nhiều; đã tổ chức thực hiện thi tuyển công chức theo nguyên tắc cạnh tranh; xây dựng đề án vị trí việc làm đạt kết quả bước đầu.

Tuy nhiên, việc thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính và cải cách chế độ công vụ, công chức vẫn còn nhiều hạn chế; gây không ít phiền hà cho tổ chức và cá nhân; công tác quản lý, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyển biến còn chậm, chưa đồng bộ. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do một số thủ tục hành chính phải phối hợp thực hiện nhiều ngành, nhiều cơ quan; nên việc thực hiện chưa đồng bộ, chặt chẽ; thái độ phục vụ, tính chuyên nghiệp của một số cán bộ, công chức chưa cao; chế độ công vụ, công chức có một số nội dung mới, khó xác định vị trí việc làm.

Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác cải cách thủ tục hành chính và cải cách chế độ công vụ, công chức thời gian tới; Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 03/2014/CT-UBND, yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; các xã, phường, thị trấn tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 13 tháng 8 năm 2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.

Xác định cải cách thủ tục hành chính và cải cách chế độ công vụ, công chức là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục trong công tác chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu và quán triệt đến từng cán bộ, công chức nâng cao nhận thức và xác định rõ chức trách, nhiệm nhiệm vụ trong thực thi công vụ.

Tổ chức khảo sát chỉ số cải cách hành chính; xác định mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính để chỉ đạo khắc phục những hạn chế, tồn tại.

Bố trí công chức có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất, đạo đức tốt vào Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện trình tự, hồ sơ hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác; kiểm soát chặt chẽ việc giải quyết thủ tục hành chính tại các bộ phận tham gia giải quyết thủ tục hành chính.

Cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết và công khai tất cả các thủ tục hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan, đơn vị.

Tiếp tục tổ chức rà soát để kiến nghị đơn giản hóa, cắt giảm chi phí, tuân thủ, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, nhất là một số thủ tục hành chính có liên quan đến lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng,

Công khai số điện thoại của người đứng đầu cơ quan, đơn vị tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, trên các phương tiện thông tin đại chúng để tiếp nhận những phản ảnh, kiến nghị về quy định, thủ tục hành chính; tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia giám sát.

Thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa các cơ quan để giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân ngày càng đạt chất lượng cao hơn; đặc biệt là cơ quan chịu trách nhiệm về đầu mối tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả. Ứng dụng công nghệ thông tin và các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thực hiện thủ tục hành chính.

Tổ chức rà soát chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức để bố trí, sắp xếp lại biên chế của các bộ phận chuyên môn cho phù hợp, linh hoạt trên cơ sở tổng biên chế được giao. Xác định vị trí việc làm để bố trí người phù hợp, đảm bảo khung năng lực cần có, đánh giá đúng mức về chất lượng thực thi công vụ để làm cơ sở thực hiện công tác quy hoạch, bố trí, bổ nhiệm.

Nêu cao tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo, quản lý; đổi mới phương pháp lãnh đạo, điều hành; tăng cường mối quan hệ phối hợp trong thực thi nhiệm vụ; nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc, tiết kiệm chi phí hành chính.

Quản lý chặt chẽ quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý. Xem xét thay đổi vị trí công tác đối với những cán bộ, công chức, viên chức qua nhận xét, đánh giá cuối năm không đáp ứng được yêu cầu công vụ, nhiệm vụ theo vị trí việc làm.

Tăng cường thanh tra, giám sát kỷ cương hành chính, kiểm tra nội bộ để đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành công vụ; chấn chỉnh việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo, phản ảnh, kiến nghị về thủ tục hành chính; chấn chỉnh hoạt động công vụ và xử lý nghiêm, kiên quyết đối với những cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc gây khó khăn, nhũng nhiễu, phiền hà trong công tác giải quyết thủ tục hành chính.

Đối với cán bộ, công chức một cửa: Trường hợp có hành vi nhũng nhiễu, cố tình không nhận hồ sơ thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc nhận hồ sơ có thời hạn giải quyết nhưng không ra phiếu hẹn cho tổ chức, cá nhân; nếu phát hiện vi phạm một lần thì nhắc nhỡ, vi phạm lần sau thì chuyển đổi vị trí công tác và xét trong năm không hoàn thành nhiệm vụ.

Đối với cán bộ, công chức, viên chức giải quyết thủ tục hành chính: Cố tình không giải quyết hồ sơ đúng hẹn, đòi hỏi cá nhân, tổ chức bổ sung hồ sơ quá 2 lần; nếu phát hiện vi phạm lần đầu thì nhắc nhỡ, lần 2 phê bình, lần 3 chuyển đổi vị trí công tác và xét trong năm không hoàn thành nhiệm vụ.

Đối với hành vi khác, tùy theo mức độ sẽ bị xử lý, kỷ luật theo quy định.

06/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre chuyển giao việc xác nhận các giao dịch về bất động sản trong Khu công nghiệp sang Phòng Công chứng số 1Bến Tre chuyển giao việc xác nhận các giao dịch về bất động sản trong Khu công nghiệp sang Phòng Công chứng số 1
Thực hiện Công văn số 3576/BTP-BTTP ngày 13 tháng 5 năm 2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công chứng các giao dịch trong Khu công nghiệp, ngày 17 tháng 10 năm 2013 Sở Tư pháp tổ chức cuộc họp để thống nhất lộ trình chuyển giao việc xác nhận các giao dịch về bất động sản trong các Khu công nghiệp sang tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì cuộc họp...

Thực hiện Công văn số 3576/BTP-BTTP ngày 13 tháng 5 năm 2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công chứng các giao dịch trong Khu công nghiệp, ngày 17 tháng 10 năm 2013 Sở Tư pháp tổ chức cuộc họp để thống nhất lộ trình chuyển giao việc xác nhận các giao dịch về bất động sản trong các Khu công nghiệp sang tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì cuộc họp với thành phần tham dự gồm đại diện Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; lãnh đạo Phòng Bổ trợ tư pháp, Sở Tư pháp; lãnh đạo Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Công ty phát triển hạ tầng.

Ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã thông qua hướng dẫn của Bộ Tư pháp và dự kiến lộ trình chuyển giao, cũng như chỉ định Phòng Công chứng số 1 tiếp nhận việc công chứng và lưu trữ hồ sơ công chứng các giao dịch liên quan bất động sản trong các Khu công nghiệp của tỉnh.

Ban Quản lý các Khu công nghiệp cho biết kể từ ngày Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng có hiệu lực, Ban Quản lý các Khu công nghiệp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định bãi bỏ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban Quản lý các Khu công nghiệp. Theo đó, kể từ ngày 20 tháng 3 năm 2013 việc công chứng các giao dịch về bất động sản trong Khu công nghiệp do Phòng Công chứng số 1 thực hiện. Vấn đề còn lại là việc chuyển giao hồ sơ lưu trữ mà Ban Quản lý đã xác nhận trước đây cho Phòng Công chứng số 1 tiếp tục lưu giữ.

Như vậy, sau khi trao đổi, cuộc họp thống nhất Phòng Công chứng số 1 tiếp nhận hồ sơ và công chứng các giao dịch liên quan đến bất động sản trong các Khu công nghiệp của tỉnh; đồng thời thống nhất việc bàn giao hồ sơ do Sở Tư pháp, Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Phòng Công chứng số 1 thực hiện đúng quy định và dứt điểm trước ngày 15 tháng 11 năm 2013.

23/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòngTổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng
Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Sáng ngày 06/12/2011, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Đại tá Nguyễn Văn Thơm, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo: Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân 3 huyện Biên biển (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú), thành phố Bến Tre; lãnh đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Đồn Biên phòng Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên; các phòng, đơn vị trực thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.

Đại tá Nguyễn Thành Trí, Phó Chỉ huy trưởng – Tham mưu trưởng, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh nêu rõ: Qua 15 năm thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống tổ chức bộ máy Bộ đội Biên phòng được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả; đã chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức triển khai, quán triệt Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng và các văn bản của Đảng, Nhà nước có liên quan đến công tác biên phòng; đến quốc phòng, an ninh; phòng, chống tội phạm, ma túy, buôn bán người…; gắn với phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới biển. Đặc biệt, đã phối hợp với Sở Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức học tập trên 3.000 buổi, có gần 160 nghìn lượt người tham dự. Qua tuyên truyền, học tập, nhận thức về bảo vệ an ninh quốc gia, phòng, chống tội phạm của đa số cán bộ và nhân dân được nâng lên, đã cung cấp cho Bộ đội Biên phòng trên 2.300 tin, trong đó có gần 1.000 tin có giá trị. Ngoài ra, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Tư lệnh vùng 2 Hải quân, Cảnh sát biển vùng 3 thực hiện tốt Quy chế phối hợp, nắm chắc diễn biến tình hình, quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng, chủ động ngăn chặn, xử lý có hiệu quả mọi hoạt động của các đối tượng. Kết quả, đã phát hiện và xử lý trên 1.000 trường hợp không khai báo tạm trú, gần 300 nhóm thanh niên gây mất trật tự; trên 1.200 tụ điểm đá gà ăn thu bằng tiền; lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 130 đối tượng; ra quyết định xử phạt hành chính trên 840 trường hợp, số tiền trên 560 triệu đồng; đề xuất địa phương xử lý gần 1.400 trường hợp, số tiền trên 1 tỷ đồng; lập hồ sơ ban đầu điều tra, xác minh làm rõ và giao Công an khởi tố 297 vụ phạm pháp hình sự; phối hợp bắt 27 đối tượng có lệnh truy nã…; góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới biển, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Kết luận chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Hiếu đánh giá cao kết quả triển khai thực hiện Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng trong 15 năm qua trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đồng thời lưu ý trong thời gian tới, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các ngành, các cấp có liên quan triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, các văn bản có liên quan đến an ninh quốc gia, bảo vệ biên giới biển, phòng chống tội phạm, ma túy, trật tự xã hội…Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác biên phòng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, tập trung xây dựng các xã nông thôn mới theo kế hoạch, giải quyết các vụ việc khiếu kiện có liên quan đến đất đai, tập đoàn sản xuất, nghêu…nhằm ổn định tình hình tranh chấp khiếu kiện trong nhân dân. Bổ sung hoàn thiện Quy chế phối hợp giữa 3 lực lượng Công an, Quân sự, Biên phòng nhằm thực hiện nghiêm và có hiệu quả Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, tổ chức diễn tập, huấn luyện theo các phương án đã đề ra./.

15/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Tăng cường phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong thi hành án dân sựTăng cường phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong thi hành án dân sự
Nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của cơ quan, công chức thi hành án dân sự trong thực thi nhiệm vụ, công vụ; ngăn chặn, loại bỏ cơ hội, điều kiện phát sinh tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động thi hành án dân sự, góp phần xây dựng bộ máy các cơ quan Thi hành án dân sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức thi hành án dân sự liêm, chính, chí công, vô tư; ngày 11 th...

Nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của cơ quan, công chức thi hành án dân sự trong thực thi nhiệm vụ, công vụ; ngăn chặn, loại bỏ cơ hội, điều kiện phát sinh tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động thi hành án dân sự, góp phần xây dựng bộ máy các cơ quan Thi hành án dân sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức thi hành án dân sự liêm, chính, chí công, vô tư; ngày 11 tháng 02  năm 2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chỉ thị số 01/CT-BTP về việc tăng cường phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong thi hành án dân sự.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp yêu cầu Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Thủ trưởng các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương và các đơn vị có liên quan thuộc Bộ quán triệt nghiêm túc chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tiêu cực, tham nhũng; Chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên; Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp; những việc cán bộ, công chức không được làm; nghĩa vụ của cán bộ, công chức phải báo cáo, cũng như trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tiếp nhận, xử lý kịp thời các dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng xảy ra trong đơn vị.

Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ Tư pháp còn chỉ thị nhiều nội dung liên quan đến thể chế; tổ chức thi hành án dân sự; công tác tổ chức, cán bộ; lĩnh vực tài chính, kế toán và đầu tư xây dựng cơ bản; tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm tiêu cực, tham nhũng.

Về vấn đề tổ chức thi hành án dân sự các cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm niêm yết công khai thủ tục thi hành án tại trụ sở cơ quan, tiến tới công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị về quá trình thi hành án, kết quả thi hành án để các bên có liên quan theo dõi, giám sát. Thụ lý, ra quyết định thi hành án đúng thời hạn đối với bản án, quyết định có hiệu lực thi hành. Thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục, bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong thi hành án dân sự. Nghiêm cấm thanh toán tiền mặt cho đương sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Công bố công khai số điện thoại đường dây nóng, địa chỉ hộp thư điện tử của cơ quan để tiếp nhận, xác minh, xử lý kịp thời thông tin về tiêu cực, tham nhũng liên quan đến thi hành án dân sự. Công khai họ tên, chức vụ của người có thẩm quyền giải quyết công việc thi hành án dân sự cho tổ chức, cá nhân có liên quan biết. Tất cả công chức thi hành án khi tiếp, làm việc với tổ chức, cá nhân liên quan phải đeo thẻ công chức. Việc tiếp đương sự phải thực hiện theo quy định về tiếp công dân; chỉ tiếp tại phòng tiếp công dân, phòng khách, các địa điểm do pháp luật quy định; nghiêm cấm tiếp đương sự tại nhà riêng, phòng làm việc, những nơi khác không đúng quy định. Tập trung chỉ đạo, giải quyết những vụ án lớn, phức tạp và tồn đọng. Nghiêm cấm lợi dụng việc hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ để trì hoãn, kéo dài thi hành án dân sự.

Đặc biệt, trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo phải công khai, minh bạch quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định. Chủ động giải quyết khiếu nại, tố cáo dứt điểm ngay từ cơ sở; hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dài. Nghiêm cấm việc lợi dụng việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại để trì hoãn, kéo dài việc thi hành án dân sự.

Trong việc xử lý vi phạm tiêu cực, tham nhũng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ thị phải xử lý nghiêm những trường hợp tiêu cực, tham nhũng trong thi hành án dân sự (kể cả những trường hợp bao che hoặc phát hiện có tiêu cực, tham nhũng nhưng không báo cáo, không có biện pháp ngăn chặn, không xử lý hoặc xử lý không triệt để), bất kể người đó là ai và ở cương vị nào. Chú trọng thu hồi tài sản do tiêu cực, tham nhũng mà có. Áp dụng chính sách khoan hồng đối với những công chức tiêu cực, tham nhũng nhưng có thái độ thành khẩn, đã khắc phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ quan chức năng.  Người đứng đầu các đơn vị thuộc hệ thống Thi hành án dân sự (Tổng Cục trưởng, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tổng cục, Cục trưởng, Trưởng các Phòng chuyên môn thuộc Cục và Chi Cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự) chịu trách nhiệm khi để xảy ra tiêu cực, tham nhũng tại các đơn vị, bộ phận, lĩnh vực do mình phụ trách, liên đới trách nhiệm đối với lĩnh vực do cấp phó của mình phụ trách. Cấp phó của người đứng đầu các đơn vị thuộc hệ thống Thi hành án dân sự chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra tiêu cực, tham nhũng tại các bộ phận, lĩnh vực do mình trực tiếp phụ trách. Chấp hành viên chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra tiêu cực, tham nhũng của công chức giúp việc đối với hồ sơ vụ việc do mình phụ trách thi hành. Các đối tượng nêu trên được loại trừ trách nhiệm trong trường hợp không thể biết hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm tiêu cực, tham nhũng. Công chức có hành vi tiêu cực, tham nhũng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự; cán bộ càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải xử lý nặng; trong trường hợp bị kết án về hành vi tiêu cực, tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì bị buộc thôi việc. Công chức có hành vi tiêu cực, tham nhũng bị kỷ luật chưa đến mức buộc thôi việc thì bố trí sang làm nhiệm vụ khác trong thời hạn ít nhất 02 năm. Không xét thi đua, khen thưởng đối với các đơn vị có công chức bị xử lý vi phạm kỷ luật do tiêu cực, tham nhũng trong 01 năm.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Họp mặt giao lưu gương điển hình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013Họp mặt giao lưu gương điển hình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013
Sáng ngày 30 tháng 9 năm 2013, tại Hội trường Sở Tư pháp, Đảng uỷ Sở Tư pháp tổ chức buổi họp mặt giao lưu gương điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013. Đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; các đồng chí trong Đảng ủy, Ba...

Sáng ngày 30 tháng 9 năm 2013, tại Hội trường Sở Tư pháp, Đảng uỷ Sở Tư pháp tổ chức buổi họp mặt giao lưu gương điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013. Đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; các đồng chí trong Đảng ủy, Ban lãnh đạo Sở Tư pháp; các chi ủy chi bộ trực thuộc Đảng bộ Sở Tư pháp; các đảng viên và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thuộc Sở Tư pháp đã đến dự.

Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Đảng ủy viên, Phó Gián đốc Sở Tư pháp phụ trách công tác Tuyên giáo của Đảng ủy báo cáo kết quả triển khai học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013. Các đại biểu được xem Videoclip bài nói chuyện của giáo sư Hoàng Chí Bảo về chủ đề thực hành dân chủ; trực tiếp giao lưu với đồng chí Cao Thị Nguyên, đại diện Chi bộ số 3; đồng chí Võ Thị Mỹ Nhân, Chi bộ số 4; đồng chí Bùi Dương Phú, Chi bộ số 3; đồng chí Lê Huỳnh Nhật Thiện, Chi bộ số 2 về gương điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Nhân dịp này, Đảng uỷ Sở Tư pháp đã tặng Giấy khen cho 01 tập thể và 07 cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013.

Kết thúc buổi họp mặt, đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Giám đốc Sở Tư pháp thay mặt Đảng uỷ Sở Tư pháp ghi nhận, trân trọng và đánh giá cao sự nỗ lực của tập thể các chi bộ và các cá nhân đảng viên, quần chúng đã không ngừng phấn đấu học tập, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, nâng cao trách nhiệm; gương mẫu trong hành động, việc làm cụ thể, xây dựng được chuẩn mực trong sinh hoạt, ứng xử, giao tiếp, quan hệ, công tác với đồng chí, đồng nghiệp, nhân dân.

Tuy nhiên, qua triển khai và thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW cũng còn nhiều hạn chế, thiếu sót; nội dung đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 2013 của một số cán bộ, đảng viên chưa thật cụ thể, chưa đạt yêu cầu.

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót nêu trên, đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt đề nghị các chi bộ và cán bộ, đảng viên tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trở thành công việc hằng ngày ở chi bộ, có giải pháp cụ thể hơn, thông qua sinh hoạt chi bộ hàng tháng, các chi ủy dành thời gian để đánh giá nội dung đăng ký của các đảng viên về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; gắn với việc khắc phục những hạn chế, yếu kém qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoa XI) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, kịp thời nhắc nhỡ, phê bình những cán bộ, đảng viên không tốt, thiếu gương mẫu trong việc học tập và làm theo gương Bác; ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về đạo đức, phong cách, lối sống.

Rà soát lại tất cả các Bảng đăng ký, chỉ đạo cán bộ, đảng viên có nội dung đăng ký chưa đạt yêu cầu, hướng dẫn viết lại nội dung đăng ký, phải bám chủ đề năm 2013 về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương sát với chức trách, nhiệm vụ. Kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng những tập thể, cá nhân để đề nghị biểu dương, khen thưởng gương điển hình tiên tiến.

04/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật hình sự và Bộ luật dân sự trên địa bàn tỉnhKế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật hình sự và Bộ luật dân sự trên địa bàn tỉnh
Thực hiện Quyết định số 1236/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2012 và Quyết định số 1322/QĐ-TTg ngày 18 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 và Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật dân sự năm 2005; ngày 19 tháng 10 năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 4818/KH-UBND về tổng kết thi hành Bộ luật hình sự và Bộ ...

Thực hiện Quyết định số 1236/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2012 và Quyết định số 1322/QĐ-TTg ngày 18 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 và Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật dân sự năm 2005; ngày 19 tháng 10 năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 4818/KH-UBND về tổng kết thi hành Bộ luật hình sự và Bộ luật dân sự trên địa bàn tỉnh.

Theo Kế hoạch, việc tổng kết thi hành hai Bộ luật trên phải đánh giá được một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ về tình hình tội phạm, những kết quả đạt được qua 11 năm thi hành Bộ luật hình sự; đánh giá về tác động của Bộ luật dân sự tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; những tác động của phát triển kinh tế - xã hội đến các quan hệ dân sự và quy định của Bộ luật dân sự. Trên cơ sở đó, làm rõ về tính phù hợp, khả thi của các quy định hiện hành, nghiên cứu những vấn đề phát sinh trong thực tiễn cần pháp luật điều chỉnh; đưa ra những kiến nghị, giải pháp cụ thể để sửa đổi, bổ sung cho Bộ luật hình sự và Bộ luật dân sự nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo tính ổn định, lâu dài.

Việc tổng kết thi hành Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự tập trung vào các nội dung: Tổng kết, đánh giá kết quả thi hành Bộ luật hình sự cũng như đánh giá tình hình vi phạm pháp luật nói chung và phạm tội nói riêng trên địa bàn tỉnh. Đánh giá về sự tác động của Bộ luật dân sự với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tác động của phát triển kinh tế - xã hội đến các quan hệ dân sự và các quy định của Bộ luật dân sự. Đánh giá các quy định của Bộ luật dân sự thông qua thực tiễn giao lưu dân sự ở địa phương theo từng nội dung cụ thể về những quy định chung, tài sản và quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự và hợp đồng, thừa kế, những quy định về chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Đánh giá về mối liên hệ giữa quy định của Bộ luật dân sự với quy định của các luật, pháp lệnh khác có liên quan gắn với thực tiễn giao lưu dân sự ở địa phương. Những hạn chế, khó khăn, nguyên nhân của hạn chế, khó khăn trong quá trình áp dụng từ đó đề xuất, kiến nghị những nội dung cụ thể cần sửa đổi, bổ sung hai Bộ luật.

Về phương pháp tổng kết: Các sở, ngành tỉnh bằng hình thức thích hợp sẽ tổ chức tổng kết 11 năm thi hành Bộ luật hình sự, 07 năm thi hành Bộ luật dân sự trong phạm vi liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của ngành, đơn vị mình trước ngày 10 tháng 11 năm 2012. Đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố sẽ tổ chức tổng kết trước ngày 15 tháng 11 năm 2012. Sở Tư pháp phối hợp Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp, xây dựng dự thảo Báo cáo tổng kết hai Bộ luật này trình Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 25 tháng 11 năm 2012.

 

15/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
9 năm tù vì hiếp dâm trẻ em9 năm tù vì hiếp dâm trẻ em
Lê Hữu Ph, sinh năm 1994 và Cẩm H, sinh ngày 01/01/2002, cả 2 đăng ký thường trú cùng ở Xã B, huyện Bình Đại. Do Ph đi làm thuê gần nhà H nên cả hai quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau. Ngày 29/6/2013, H đến nhà bà ngoại của mình chơi và ở lại ngủ trong đêm. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H dùng điện thoại bàn nhà bà ngoại điện kêu Ph tối đến chở H đi chơi. Đêm đó, Ph cùng nhóm b...

Lê Hữu Ph, sinh năm 1994 và Cẩm H, sinh ngày 01/01/2002, cả 2 đăng ký thường trú cùng ở Xã B, huyện Bình Đại. Do Ph đi làm thuê gần nhà H nên cả hai quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau. Ngày 29/6/2013, H đến nhà bà ngoại của mình chơi và ở lại ngủ trong đêm. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H dùng điện thoại bàn nhà bà ngoại điện kêu Ph tối đến chở H đi chơi. Đêm đó, Ph cùng nhóm bạn đang uống cà phê tại quán thì nhớ lại lúc chiều có hứa chở H đi chơi, nên dù đêm đã khuya Ph vẫn gọi điện thoại hẹn H ra gặp nhau rồi sau đó Ph. chở H đến nhà các bạn của mình để uống mấy chập rượu, cho đến quá nửa đêm mới chịu nghỉ. H kêu Ph về, trên đường về Ph chở H và rủ H về nhà của mình ngủ, H đồng ý. Khi về đến nhà, Ph đẩy cửa vào nhà và kêu bà Trần Thị Bé T (là mẹ của Ph) nhường giường trong buồng cho Ph và H ngủ. Đêm đó tại nhà Ph cả hai đã làm chuyện người lớn.

Khoảng 11 giờ sáng ngày 30/6/2013, người nhà của H đi tìm gặp H ở nhà Ph đã đưa H về đi khám điều trị và làm đơn tố cáo Ph gửi chính quyền địa phương.

Thời điểm Ph phạm tội, H chưa đủ 13 tuổi nên Ph phải chịu trách nhiệm về tội hiếp dâm trẻ em được quy định tại khoản 4 Điều 112 BLHS. Điều luật này quy định như sau: “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.”

Trong quá trình điều tra, Ph đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân thuộc diện hộ nghèo và vận động gia đình bồi thường 2.000.000 đồng cho gia đình bị hại, nên Hội đồng xét xử TAND tỉnh Bến Tre đã tuyên phạt Lê Hữu Ph 9 năm tù giam; tiếp tục bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bị hại và gia đình bị hại số tiền là 10 tháng lương tối thiểu nhưng được khấu trừ vào 2 triệu đã khắc phục trước cho gia đình bị hại.

11/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ Báo cáo viên pháp luật lao động cấp huyện năm 2013Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ Báo cáo viên pháp luật lao động cấp huyện năm 2013
Ngày 11 tháng 10 năm 2013, tại hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức tập huấn bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ Báo cáo viên pháp luật lao động cấp huyện năm 2013. Đến tham dự Hội nghị có ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; Thạc sĩ Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm...

Ngày 11 tháng 10 năm 2013, tại hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức tập huấn bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ Báo cáo viên pháp luật lao động cấp huyện năm 2013. Đến tham dự Hội nghị có ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; Thạc sĩ Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh; Thạc sĩ Phan Thị Mỹ Trinh, Trưởng phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp; cùng 50 học viên là Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh; Báo cáo viên pháp luật các huyện, thành phố.

Thay mặt lãnh đạo Sở Tư pháp, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu khai mạc Hội nghị tập huấn. Nội dung tập huấn tập trung 2 chuyên đề: Những quy định pháp luật về lao động và kỹ năng về lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật vào hoạt động tư vấn pháp luật.

Lớp tập huấn nhằm cung cấp cho cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật những kiến thức pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng, và những kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; để tổ chức thực hiện tốt việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng là người lao động và người sử dụng lao động tại các huyện, thành phố.

Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ Báo cáo viên pháp luật lao động, đây là một trong những hoạt động nhằm thực hiện Kế hoạch số 1312/KH-UBND ngày 28/3/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tiếp tục thực hiện Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động, người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp” trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013 – 2016. Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động, người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp” được triển khai thực hiện với mục tiêu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng đối với người lao động và người sử dụng lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa tại các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động.

11/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hụi và những rủi ro về hụi cần cảnh giácHụi và những rủi ro về hụi cần cảnh giác
Hụi là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán, trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người, cùng quy định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp vốn, lĩnh hụi, quyền và nghĩa vụ các thành viên nhằm mục đích tương trợ nhau được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Thời gian gần đây, tình trạng lợi dụng chơi hụi để gật hụi, bể hụi xảy ra thường xuyên, gây mất an ninh trật tự, làm thiệt nghiêm trọng đến quyền và lợi lợi chính đáng của những người chơi hụi; có những vụ giật hụi số tiền lên đến hàng chục tỉ đồng. Mặc dù pháp luật đã có thừa nhận và bảo vệ, theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Dân sự 2005: Hụi (hay còn gọi là họ, biêu, phường) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh hụi,  quyền, nghĩa vụ của các thành viên nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật. ..

Hụi là một hình thức huy động vốn theo kiểu quan hệ vay mượn tài sản (tiền) trước rồi trả sau, giữa một nhóm người với nhau. Chơi hụi khá phổ biến trong đời sống người dân và đã từ rất lâu, không hiểu vì sao và từ bao giờ, người ta hay nói là “chơi” hụi. Khi chơi hụi tất cả những người tham gia với nhau sẽ tập hợp thành một “dây hụi”, mỗi thành viên là một “hụi viên”, người đứng ra tổ chức, điều hành, quản lý và thu tiền gọi là “chủ hụi” và tạm xem đây là một hình thức có lợi, nhưng cũng rất rủi ro qua mô hình chơi hụi, nếu nhìn theo phương diện tích cực, có thể nói về bản chất việc chơi hụi khá hay, tạo điều kiện để các cá nhân có thể có được một số tiền lớn vay từ những người cùng tham gia, thay vì phải đi vay của ngân hàng, lại không cần thủ tục phiền phức gì cả. Hình thức góp, trả cũng đơn giản, nhẹ nhàng, thuận tiện. Giao dịch này được hình thành trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện của một nhóm người tập hợp lại với nhau góp vốn thông qua chủ hụi để giao lại cho người được “hốt hụi” và đóng lại “hụi chết” theo quy định.

Bản thân tôi cũng đã từng biết một ít người chơi hụi và nhờ chơi hụi mà họ có điều kiện huy động được một số tiền kha khá, để xây nhà hoặc mua xe… Tuy nhiên, có thể khẳng định là chơi hụi có tính rủi ro cao. Thậm chí rất cao, nếu rơi vào các trường hợp như: Các thành viên cùng tham gia dây hụi hoàn toàn mang tính “tín chấp”, tin tưởng nhau là chính mà không có tài sản thế chấp, bảo đảm. Chỉ cần một người không đóng tiền hụi, thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những người chưa hốt hụi. Và tất yếu xảy ra đó là chủ hụi phải đến nhà hụi viên dùng “biện pháp mạnh” để đòi tiền hụi hoặc chính người chủ hụi phải tự bỏ tiền túi ra đóng thay cho hụi viên để duy trì dây hụi và nếu chủ hụi không có khả năng đóng thay thì “vở hụi”, chủ hụi có thể phải … bỏ trốn! Nguy hiểm hơn, trường hợp nhiều người tham gia vào dây hụi thậm chí không biết mặt nhau, không biết có bao nhiêu người chơi, thật giả lẫn lộn. Không loại trừ khả năng người chủ hụi, vì mục đích xấu, đã làm ra những dây “hụi ma” hoặc ghi khống, tăng giảm số tiền đóng hụi, thời gian đóng hụi. Chẳng hạn có 10 người chơi thì nói là 20 người, giấy tờ sổ sách không rõ ràng, sau khi thu tiền, thay vì giao cho người hốt hụi trong tháng thì thực sự … không có ai cả, sau khi gom tiền được vài tháng, chủ hụi… “hô biến”.

Ngoài ra, còn nhiều vấn đề rủi ro phát sinh khác nữa khi tham gia hụi và chính vì việc chơi hụi có tính rủi ro rất cao nên đã có biết bao nhiêu trường hợp nhà tan cửa nát từ các vụ giật hụi, bể hụi. Thế nên, trước khi quyết định có nên tham gia vào một dây hụi hay không, người chơi cần hiểu rõ quy định của pháp luật về chơi hụi, hiểu rõ bản chất của mô hình chơi hụi, cần có thông tin và lựa chọn những người chủ hụi có uy tín, có độ tin cậy cao, người chủ hụi và người chơi hụi phải có khả năng tài chính, bảo đảm tham gia lâu dài và đóng hụi đầy đủ, tránh trình trạng hốt hụi xong bỏ trốn, không đóng hụi “chết”, gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến các thành viên chơi. Cần phải có các tài liệu liên quan như: những thỏa thuận giữa chủ hụi với hụi viên và giữa các thành viên với nhau, các lần góp hụi phải được ghi chép và lưu giữ cẩn thận; sổ hụi thể hiện: Tên, địa chỉ của chủ hụi và các thành viên, phần hụi, kỳ mở, thể thức góp vốn và lĩnh hụi, số tiền hoặc tài sản khác đã góp hoặc đã lĩnh hụi, việc chuyển giao phần, việc ra khỏi và chấn dứt hụi, chữ ký (hoặc chỉ điểm) của các thành viên, các nội dung khác có liên quan đến việc chơi hụi.

Hụi là loại quan hệ dân sự rất tốt đẹp nếu như các thành viên tham gia chơi hụi tôn trọng chữ tín và tôn trọng pháp luật, nhằm mục đích tiết kiệm, tương trợ, giúp đở nhau trong mối quan hệ “tình làng, nghĩa xóm”, công khai, minh bạch, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia, thì chắc rằng sẽ không có chuyện lợi dụng lòng tin để bội tín. Do đó, những người tham gia chơi hụi cần cảnh giác đối với hành vi lợi dụng trong hoạt động chơi hụi. Đó là những bài học kinh nghiệm mà mọi người cần lưu ý./.

 

05/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2014Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2014
Chiều ngày 17 tháng 01 năm 2014, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và triển khai công tác tư pháp năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các Phó Giám đốc Sở; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, chuyên viên các phòng, trung tâm thuộc Sở; thủ trưởng Phòng T...

Chiều ngày 17 tháng 01 năm 2014, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và triển khai công tác tư pháp năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các Phó Giám đốc Sở; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, chuyên viên các phòng, trung tâm thuộc Sở; thủ trưởng Phòng Tư pháp và đại diện Công chức Tư pháp – Hộ tịch của 9 huyện, thành phố.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp báo cáo tóm tắt kết quả công tác tư pháp năm 2013; triển khai dự thảo Kế hoạch công tác tư pháp năm 2014; báo cáo tổng kết công tác thi đua, khen thưởng ngành Tư pháp năm 2013 và phát động phong trào thi đua năm 2014. Tại hội nghị các ý kiến phát biểu của đại biểu đã thẳng thắn đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại cơ bản trong các lĩnh vực công tác tư pháp năm 2013 của tỉnh, trên cơ sở đó góp ý cho phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp công tác năm 2014.


Công tác tư pháp của tỉnh năm 2013 đã triển khai đồng bộ, rộng khắp, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và cả nước; thể hiện sự chủ động, nhạy cảm với những vấn đề lớn của tỉnh và đã đạt được nhiều thành tích, có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh ở địa phương. Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác tư pháp trên địa bàn tỉnh trong năm 2013 cũng còn một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục khắc phục trong thời gian tới như: Chất lượng một số văn bản quy phạm pháp luật chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu; chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có lúc, có nơi và một số lĩnh vực chưa sâu, kinh phí cho công tác này còn hạn chế nhất là cấp huyện, cấp xã; công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp vẫn còn hạn chế, do số lượng thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp ngày càng nhiều, nhưng chưa bố trí được biên chế đáp ứng yêu cầu thực tế khối lượng công việc; công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở cấp xã vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót; việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng còn chậm so với quy hoạch; bố trí nhân sự thực hiện các nhiệm vụ công tác của Ngành còn thiếu, nhất là trong các lĩnh vực mới như: xử lý vi phạm hành chính, lý lịch tư pháp, bồi trường nhà nước, theo dõi thi hành pháp luật...


Năm 2014, tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong điều kiện ngân sách của tỉnh rất hạn hẹp. Theo phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của Ngành năm 2014 đã được thông qua tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2014 vừa qua là rất nặng nề, đòi hỏi toàn ngành Tư pháp nói chung, tư pháp tỉnh Bến Tre nói riêng phải triển khai đồng bộ, toàn diện các mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình, áp dụng đồng bộ các giải pháp, nhất là những giải pháp mang tính đột phá để tạo chuyển biến mạnh trong năm 2014, tạo đà cho các năm tiếp theo, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám Đốc Sở Tư pháp nhấn mạnh công tác tư pháp năm 2014 cần tập trung một số vấn đề như: Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật nhằm góp phần hoàn thiện thể chế phục vụ công tác chỉ đạo điều hành các mặt kinh tế - xã hội của tỉnh, cải thiện vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; triển khai thực hiện tốt công tác theo dõi thi hành pháp luật, qua đó đưa công tác tư pháp vào cuộc sâu hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý theo các chương trình, đề án đã được phê duyệt; tiếp tục tổ chức tốt Ngày pháp luật Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014; triển khai đồng bộ, quyết tâm thực hiện hiệu quả kế hoạch của Chính phủ về triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013; thực hiện các giải pháp để đưa Luật Hòa giải ở cơ sở đi vào cuộc sống; có giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng công tác trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở; tập trung triển khai có hiệu quả Chiến lược phát triển lý lịch tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030; tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước đối với công tác hộ tịch, chứng thực, nhất là ở cơ sở; tiếp tục quan tâm phát triển đội ngũ công chứng viên, đấu giá viên, giám định viên tư pháp; xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin công chứng và thông tin ngăn chặn để đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chế độ công vụ, công chức, viên chức và trách nhiệm người đứng đầu; tiếp tục quan tâm, kiện toàn tổ chức, bổ sung kịp thời biên chế để thực hiện các nhiệm vụ mới được giao thêm cho Ngành; chú trọng đào tạo nguồn Công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã; kiện toàn và nâng cao vai trò, năng lực cho công chức pháp chế sở, ngành tỉnh để phối hợp triển khai tốt công tác tư pháp trên địa bàn tỉnh; tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tư pháp các cấp trong sạch, vững mạnh.

Cũng tại hội nghị, 3 Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày Nam, Bình Đại và 9 Công chức Tư pháp – Hộ Tịch của 9 huyện, thành phố đã được Sở Tư pháp tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác tư pháp năm 2013 và nhiều tập thể Phòng, Trung tâm, cán bộ, công chức, viên chức Sở Tư pháp nhận Danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
UBND tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch thực hiện “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013UBND tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch thực hiện “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
 Ngày 16 tháng 10 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 4967/KH-UBND thực hiện “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trên địa bàn tỉnh năm 2013 với chủ đề “Toàn dân xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Ngày 16 tháng 10 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 4967/KH-UBND thực hiện “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trên địa bàn tỉnh năm 2013 với chủ đề “Toàn dân xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nội dung tổ chức Ngày Pháp luật tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm chính gồm: Tuyên truyền, phổ biến về mục đích, ý nghĩa của Ngày Pháp luật; Phổ biến, giáo dục sâu rộng về vị trí, vai trò của Hiến pháp và pháp luật trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội; về những quan điểm, nội dung cơ bản của việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và những đạo luật có liên quan đến mọi cá nhân, tổ chức được Quốc hội xem xét, thảo luận tại kỳ họp thứ 6 như Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Hôn nhân và gia đình (sửa đổi), Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi)…; Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh tập trung phổ biến, giáo dục và triển khai thi hành các văn bản pháp luật mới thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của cơ quan, đơn vị, chú trọng các văn bản liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức trong đời sống dân sự, kinh tế, trong đó có các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội vừa được Chính phủ ban hành, nhằm thi hành nghiêm chỉnh Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, tăng cường trật tự, kỷ cương pháp luật; Các nội dung để phổ biến, thông tin về pháp luật và thi hành pháp luật trong những lĩnh vực đang được nhân dân quan tâm như: Biển đảo, bảo vệ chủ quyền quốc gia; phòng, chống tham nhũng; an toàn giao thông; an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo vệ người tiêu dùng; giải quyết các tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo…; Đánh giá về công tác xây dựng pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và thi hành pháp luật năm 2013 tại từng sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã. Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức, tăng cường hiệu quả thực hiện Hiến pháp và pháp luật; Biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu, gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến trong việc góp phần xây dựng, thực thi pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật.

Ngày Pháp luật được thực hiện thông qua các hình thức như: Tăng thời lượng, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tọa đàm, phóng sự chuyên sâu, phim tài liệu, tin, bài, ảnh, các thông điệp ngắn, đối thoại, trả lời phỏng vấn và các hình thức phù hợp khác về Ngày Pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng; Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hình thức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tài liệu pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật; Lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật với các hoạt động thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng nông thôn mới”, Năm an toàn giao thông, triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở; Tổ chức kiểm tra, đánh giá, sơ kết tình hình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật và thi hành pháp luật năm 2013; Thực hiện các hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan về Ngày Pháp luật, chủ đề, khẩu hiệu Ngày Pháp luật năm 2013 qua hệ thống áp phích, panô, băng rôn, cờ trên các tuyến đường chính, phố, các khu trung tâm, các trường học, địa điểm công cộng; triển lãm tranh, hình ảnh, tài liệu về thực hiện pháp luật;

Theo Kế hoạch, thời gian triển khai Ngày pháp luật kéo dài từ ngày 04/11/2013 đến ngày 10/11/2013, trong đó tổ chức cao điểm vào ngày 09/11/2013 (Thứ bảy).

Năm 2013, là năm đầu tiên thực hiện Ngày pháp luật theo hướng dẫn chung, thống nhất trong trong phạm vi cả nước. Đây là đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý sâu, rộng nhằm quán triệt đầy đủ nội dung, mục đích, ý nghĩa, yêu cầu về Ngày Pháp luật quy định trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành giáo dục. Qua đó, vận động cán bộ, công chức, viên chức và người dân nâng cao ý thức tôn trọng và tự giác chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật.

18/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An QuyThành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy
Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.

Để đưa pháp luật đến với người dân, đặc biệt là đối tượng được trợ giúp pháp lý và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác ở địa phương, ngày 16 tháng 9 năm 2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Chi nhánh số 02, Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Uỷ ban nhân dân xã An Quy tổ chức thành lập và ra mắt Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy, huyện Thạnh Phú.Theo Quyết định số 118/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã An quy, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ gồm có 16 thành viên, Ông Lê Phúc Vinh, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm; các thành viên khác là cán bộ các ban ngành, Đoàn thể xã; cùng Trưởng ấp của 6 ấp.

Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã An Quy được thành lập sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân địa phương giao lưu, trao đổi những khó khăn, vướng mắc pháp luật trong cuộc sống. Câu lạc bộ sinh hoạt theo định kỳ hai tháng một lần với nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách của xã. Tính đến nay, huyện Thạnh Phú có 18/18 xã thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý.

26/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Sơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dânSơ kết 5 năm Ngày Biên phòng toàn dân
Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Sáng ngày 10/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị đã nghe ông Nguyễn Văn Tuân, Tỉnh ủy viên, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh trình bày báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân (03/3/2009 – 03/3/2013) của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Hội nghị đã nghe nhiều ý kiến tham luận về công tác phối hợp thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân, đã thông nhất cơ bản nội dung báo cáo; các ngành, địa phương đã phối hợp phố biến về mục đích, ý nghĩa Ngày Biên phòng toàn dân, gắn với việc triển khai Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Biên phòng, Nghị định 161/2003 về Quy chế khu vực biên giới biển… với nhiều hình thức sinh động, phối hợp thực hiện Chuyên mục “Vì chủ quyền an ninh biên giới”, Chuyên trang “Quốc phòng toàn dân”, tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về biên giới quốc gia”.


Phối hợp với ngành công an điều tra, xác minh làm rõ 96/111 vụ án hình sự, đưa ra xử lý hành chính 149 đối tượng. Phối hợp thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; tổ chức nhiều cuộc diễn tập, ứng phó tình huống có thể xảy ra; kịp thời kêu gọi, thông báo tình hình bão, áp thấp nhiệt đới; tổ chức giúp dân khắc phục hậu quả lốc xoáy, lụt bão…

Quan tâm xây dựng, củng cố các công trình phòng thủ bảo vệ biên giới sát hợp với yêu cầu, sẵn sàng chiến đấu; chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng biên phòng vững mạnh toàn diện. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân được vững chắc.

Vận động xây dựng  368 căn nhà “Đại đoàn kết”, 270 căn nhà “Tình thương”, 36 căn nhà “Tình nghĩa”, 07 căn nhà “Nhân ái”, 08 căn nhà “Đồng đội” trị giá 17 tỷ đồng; tặng hơn 2.000 phần quà cho học sinh nghèo hiếu học trị giá trên 500 triệu đồng.

Phối hợp các ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức họp mặt kỷ niệm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng gắn với Ngày Biên phòng toàn dân. Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao bước đầu tạo được sinh khí Ngày Biên phòng toàn dân, có ý nghĩa giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ biên giới biển.


Kết luận Hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Võ Thành Hạo đánh giá cao kết quả tổ chức thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân; đồng thời lưu ý trong thời gian tới Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục phối hợp các các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể liên quan tiếp tục phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Ngày Biên phòng toàn dân, thực sự trở thành ngày hội toàn dân; phát động phòng trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc; đề cao cảnh giác, phòng, chống có hiệu quả âm mưu, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các loại đối tượng ở khu vực biên giới biển; tiếp tục triển khai các dự án đầu tư phát triển kinh tế biển, xây dựng nông thôn mới, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh; chăm lo gia đình chính sách, thực hiện công tác giảm nghèo; phối hợp các ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến sâu rộng Ngày Biên phòng toàn dân; xây dựng lực lượng biên phòng vững mạnh về tư tưởng, tổ chức; không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

19/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Đại hội nhiệm kỳ VIIIĐoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Đại hội nhiệm kỳ VIII
Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉ...

Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy; ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, cùng các đại biểu Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Hội Luật gia tỉnh và đông đủ các luật sư thành viên Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre.

Nhiệm kỳ VII (2008 - 2013), về tổ chức và hoạt động của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre còn nhiều khó khăn, nhất là về cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động. Nhưng với tinh thần quyết tâm cao, Ban Chủ nhiệm cùng các thành viên Đoàn Luật sư đã xác định đúng vị trí, chức năng của Đoàn Luật sư nói riêng và sự phát triển nghề luật sư tỉnh nhà nói chung nên đã tiếp tục phát huy những thành tích, những mặt tiến bộ của các nhiệm kỳ qua, rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế khuyết điểm; tích cực, chủ động bám sát các kế hoạch Chiến lược của Đoàn luật sư Việt Nam, các chủ trương, Nghị quyết của Tỉnh ủy, kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh và các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Luật sư nhiệm kỳ VII, tổ chức triển khai thực hiện đạt kết quả trên các lĩnh vực công tác. Bến Tre hiện có 24 tổ chức hành nghề luật sư; trong đó có 01 Công ty luật hợp danh, 23 Văn phòng Luật sư.


Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Đại hội, ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam ghi nhận những kết quả đạt được của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre trong nhiệm kỳ qua, nhất là việc phát triển đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật miễn phí, hoạt động trợ giúp pháp lý, … Bên cạnh thành tích, vẫn còn một số vấn đề tồn tại như chưa phát triển mạnh đội ngũ luật sư trẻ, giỏi kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Ông Lê Thúc Anh cũng đề nghị trong nhiệm kỳ VIII, Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre cần nỗ lực nhiều hơn, phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại, tiếp tục xây dựng Đoàn Luật sư đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và nâng cao năng lực tranh tụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, Đoàn Luật sư cũng cần  tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích của luật sư thành viên, đặc biệt là quyền hành nghề.

Thay mặt Tỉnh ủy, ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy biểu dương sự cố gắng phấn đấu của Đoàn Luật sư tỉnh, đã vượt qua khó khăn để đạt được những thành tích đáng kể trong nhiệm kỳ vừa qua. Tuy nhiên, tỷ lệ luật sư của tỉnh hiện nay còn rất thấp (37/1,3 triệu dân), chất lượng hành nghề luật sư chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và yêu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng cao của công dân. Do vậy, nhiệm kỳ tới, các luật sư cần nghiên cứu, học tập nhiều hơn để tự khẳng định mình, bồi dưỡng thường xuyên về lý luận chính trị cũng như kiến thức, kỹ năng hành nghề luật sư và đạo đức nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Phấn đấu thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu đề ra trong Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020.


Đại hội đã bầu Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh nhiệm kỳ VIII với 03 thành viên là Luật sư Võ Tấn Thành, Luật sư Lê Chiến Ly và Luật sư Nguyễn Thị Kim Hạnh. Luật sư Võ Tấn Thành được bầu làm Chủ nhiệm Đoàn Luật sư; đồng thời tại Đại hội cũng đã bầu Hội đồng khen thưởng – kỷ luật gồm 03 Luật sư và Đại biểu tham dự Đại hội cấp trên.

08/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre: Ban hành Kế hoạch kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện năm 2011Bến Tre: Ban hành Kế hoạch kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện năm 2011
Nhằm kiểm tra và đánh giá chất lượng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh, từ đó giúp phát hiện và xử lý kịp thời những văn bản do cấp huyện ban hành có dấu hiệu trái pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do văn bản có nội dung trái pháp luật gây ra, ngày 02/8/2011 Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre đã ký ban hành ...

Nhằm kiểm tra và đánh giá chất lượng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh, từ đó giúp phát hiện và xử lý kịp thời những văn bản do cấp huyện ban hành có dấu hiệu trái pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do văn bản có nội dung trái pháp luật gây ra, ngày 02/8/2011 Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre đã ký ban hành Kế hoạch số 3231/KH-UBND về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện năm 2011.
Theo đó, đối tượng kiểm tra bao gồm: văn bản quy phạm pháp luật, văn bản không được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật nhưng có chứa nội dung quy phạm do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành trong năm 2010 và 06 tháng đầu năm 2011.
Việc kiểm tra sẽ được tiến hành tại địa bàn của các huyện Thạnh Phú, Giồng Trôm, Châu Thành và thành phố Bến Tre.
Theo Kế hoạch thì Giám đốc Sở Tư pháp sẽ tham mưu giúp Chủ tịch UBND tỉnh trong việc thành lập Đoàn kiểm tra, tổ chức việc kiểm tra và tổng hợp báo cáo kết quả kiểm tra.
Thời gian kiểm tra sẽ được tổ chức trong tháng 8 năm 2011.

22/08/2011 12:00 SAĐã ban hành
Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2013Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2013
Ngày 23 tháng 10 năm 2013, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 5079/KH-HĐPH về việc kiểm tra công tác PBGDPL năm 2013, với những nội dung như sau:

Ngày 23 tháng 10 năm 2013, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 5079/KH-HĐPH về việc kiểm tra công tác PBGDPL năm 2013, với những nội dung như sau:

Nội dung kiểm tra bao gồm: Việc củng cố, kiện toàn tổ chức (nhân sự) và hoạt động của các cơ quan, đơn vị và địa phương trong công tác PBGDPL; ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện về công tác PBGDPL; các nội dung, hình thức, lĩnh vực đã thực hiện PBGDPL trong thời gian qua; việc xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ làm công tác PBGDPL tại các cơ quan, đơn vị và địa phương; về kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị; những thuận lợi, khó khăn trong công tác PBGDPL.

Hội đồng PBGDPL tỉnh Bến Tre  họp định kỳ năm 2013

Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh thành lập đoàn kiểm tra gồm: Đại diện Cơ quan Thường trực Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; một số cơ quan trực thuộc các Đề án theo Quyết định số 1133/QĐ-TTG ngày 15 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt và tổ chức thực hiện các Đề án tại Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Bí thư Trung ương Đảng (Khóa XI); Đề án “Tăng cường công tác PBGDPL nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên” giai đoạn 2011-2015; Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016. Đoàn sẽ phối hợp kiểm tra trực tiếp tại Hội đồng Phối hợp PBGDPL huyện Chợ Lách, Giồng Trôm; Sở Giáo dục và Đào tạo, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh.

Riêng các sở, ngành tỉnh và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố còn lại sẽ thực hiện tự kiểm tra công tác PBGDPL tại các cơ quan, đơn vị, địa phương. Thời gian thực hiện và báo cáo kết quả tự kiểm tra tại các sở, ngành tỉnh và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố đến hết ngày 30/11/2013.

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đoàn Giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh làm việc với Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh về công tác kiểm soát thủ tục hành chính  Đoàn Giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh làm việc với Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh về công tác kiểm soát thủ tục hành chính 
Ngày 23 tháng 10 năm 2013, Đoàn Giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh đã có buổi làm việc với Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh về công tác kiểm soát thủ tục hành chính, do ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh làm Trưởng Đoàn. Tham dự buổi làm việc có đại diện lãnh đạo: Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, các Sở Nội vụ, Tư pháp và cán bộ, công chức Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính....

Ngày 23 tháng 10 năm 2013, Đoàn Giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh đã có buổi làm việc với Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh về công tác kiểm soát thủ tục hành chính, do ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh làm Trưởng Đoàn. Tham dự buổi làm việc có đại diện lãnh đạo: Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, các Sở Nội vụ, Tư pháp và cán bộ, công chức Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính.

 

Ông Nguyễn Văn Hoàng, Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh báo cáo kết quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính năm 2012 và 06 tháng đầu năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Tại buổi làm việc, Đoàn Giám sát đặt ra một số vấn đề và yêu cầu đơn vị được giám sát giải trình như: Công tác thống kê, cập nhật thủ tục hành chính và niêm yết, công khai thủ tục hành chính tại Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn; việc tuân thủ quy trình giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức; tình hình phản ánh kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính và giải quyết thủ tục hành chính; quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức…. những vấn đề Đoàn Giám sát đặt ra đã được thành viên đơn vị được giám sát giải trình làm rõ.

Kết luận buổi làm việc, ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Trưởng Đoàn Giám sát đánh giá cao kết quả thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong thời gian qua được các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã (gọi tắt là cơ quan, đơn vị) thực hiện đạt nhiều kết quả khá tốt. Đặc biệt, Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh (nay do Sở Tư pháp quản lý) đã tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành đầy đủ các văn bản để chỉ đạo, điều hành hoạt động kiểm soát trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, qua công tác kiểm tra hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại các cơ quan, đơn vi, nhất là ở cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót cần phải được chấn chỉnh, khắc phục trong thời gian tới.

Ông Nguyễn Hữu Phước lưu ý cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính các cấp (tỉnh, huyện, xã) cần nâng cao vai trò, trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính tại cơ quan, đơn vị; thường xuyên cập nhật, thống kê các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị mình; hướng dẫn, công khai đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính ban hành mới, thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung, thủ tục hành chính bị bãi bỏ hoặc huỷ bỏ. Việc công khai, minh bạch thủ tục hành chính tại các cơ quan, đơn vị đảm bảo thuận tiện cho cá nhân, tổ chức có điều kiện tra cứu, tìm hiểu; phối hợp các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện việc rà soát, đánh giá việc thực hiện thủ tục hành chính hàng năm;

Ông Nguyễn Hữu Phước đề nghị cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại các cơ quan, đơn vị phải nâng cao trách nhiệm của người cán bộ, công chức trong tiếp nhận, giải quyết các yêu cầu cá nhân, tổ chức phải kiểm tra, hướng dẫn đầy đủ, kịp thời bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong giải quyết thủ tục hành chính;

Cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính cần nghiên cứu đề xuất giải pháp để tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân tham gia phản ánh, kiến nghị về cải cách hành chính và giải quyết thủ tục hành chính; rà soát, điều chỉnh và thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa các ngành có liên quan; tiếp tục tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính của các cơ quan, đơn vị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả.

24/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sửa đổi, bổ sung một số quy định về Chứng minh nhân dânSửa đổi, bổ sung một số quy định về Chứng minh nhân dân
Ngày 17 tháng 9 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ.

Ngày 17 tháng 9 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ.

Theo Nghị định này, bổ sung cụm từ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” vào bên dưới cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại mặt trước của Chứng minh nhân dân. Bỏ cụm từ “Họ tên cha”, “Họ tên mẹ” tại mặt sau của Chứng minh nhân dân.

Cũng theo Nghị định này, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định cơ quan Công an phải làm xong Chứng minh nhân dân cho công dân trong thời gian sớm nhất, thời gian giải quyết việc cấp Chứng minh nhân dân tại thành phố, thị xã là không quá 07 ngày làm việc đối với trường hợp cấp mới, cấp đổi, 15 ngày làm việc đối với trường hợp cấp lại; tại các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết cấp Chứng minh nhân dân đối với tất cả các trường hợp là không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại thời gian giải quyết cấp Chứng minh nhân dân là không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.

Sửa đổi từ ngữ: Cụm từ  “Luật Xử lý vi phạm hành chính” thay cho cụm từ “Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính”; cụm từ “cơ sở giáo dục bắt buộc” thay cho cụm từ “cơ sở giáo dục”; cụm từ “cơ sở cai nghiện bắt buộc” thay cho cụm từ “cơ sở chữa bệnh”.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02 tháng 11 năm 2013; các Chứng minh nhân dân đã được cấp theo quy định trước đây vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định.

30/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúngCông tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúng
 Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh ...

Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh và địa phương đã làm tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, tái định cư đảm bảo tiến độ dự án, đảm bảo chính sách và quyền lợi chính đáng, cuộc sống, việc làm cho người dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, điển hình như công trình cầu Cổ Chiên, 10 cầu trên địa bàn huyện Bình Đại, Khu Công Nghiệp Giao Long, Đường từ Cảng Giao Long đến đường Nguyễn Thị Định, các cầu trên địa bàn huyện Chợ Lách, Thạnh Phú…Tuy nhiên, vẫn còn một vài công trình dự án trong quá trình thực hiện còn để xảy ra sơ sót, công tác phối hợp vận động quần chúng thiếu chặc chẽ dẫn đến người dân chưa đồng tình, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Thiết nghĩ, trong thời gian tới nhằm mở rộng dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác quy hoạch, xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, công tác đền bù giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư; tăng cường hơn nữa vai trò phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đề ra những giải pháp phù hợp nhằm tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện các dự án, nắm bắt, phản ánh và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc, khiếu nại chính đáng của người dân góp phần xây dựng xã hội đồng thuận, tự quản, các cấp chính quyền và hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thề chính trị xã hội trong tỉnh cần thực hiện các bước giải pháp đồng bộ sau :

Bước 1, Đối với công tác dân vận trong giai đoạn chuẩn bị quy hoạch, xây dựng dự án, triển khai đầu tư phát triển kinh tế xã hội: Ngay từ khi dự thảo quy hoạch, dự án, phương án thu hồi đất, giá cả đền bù và phương án tổ chức thực hiện dự án, các cấp chính quyền phải tổ chức họp dân, toạ đàm, lắng nghe, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến tham gia của nhân dân, của MTTQ và các đoàn thể liên quan đến dự án để bổ sung, hoàn thiện dự án; khi được phế duyệt chính thức và trước khi tổ chức thực hiện dự án chính quyền các cấp phải công khai với người dân về nội dung liên quan của dự án bắng nhiều hình thức linh hoạt như mời họp dân, trực tiếp phổ biến, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết văn bản...; tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương về thu hồi đất khi thực hiện dự án, để người dân hiểu đúng, đủ về mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng, quyền lợi của mình khi dự án được thực hiện.

Bước 2, Công tác dân vận trong giai đoạn thực hiện: Chính quyền thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án đảm bảo có thành phần các tổ chức trong hệ thống chính trị như: Dân vận, MTTQ và các đoàn thể; khảo sát, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư , tổ chức lấy ý kiến của người bị thu hồi đất nhằm xây dựng phương án rõ ràng, minh bạch, chính sát, chi tiết từng phương án bao gồm cả phương án kiểm đếm, thanh toán và phương án tuyên truyền vận động đến từng hộ dân có liên quan.

Xây dựng phương án đến bù cụ thể cho từng hộ, chuẩn bị các điều kiện kinh phí, tài chỉnh để thực hiện, phân công rõ từng trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuyên truyền vận động, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng, nghiên cứu tiếp thu, giải quyết ý kiến thắc mắc kiến nghị đến từng hộ dân có liên quan; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền vận động quần chúng, nêu cao quan điểm quần chúng, tôn trọng dân cho cán bộ công chức ( những người được phân công trực tiếp kiểm đếm, chi trả đền bù) và cán bộ trong hệ thống chính trị được phân công tham gia thực hiện dự án, chống hiện tượng lợi dụng bớt xén, quan liêu, hách dịch cửa quyền, mất dân chủ với nhân dân; đồng thời tuyên truyền chống biểu hiện thiếu trung thực về kê khai nhà cửa, tài sản, đất đai, lợi dụng chính sách đền bù giải toả của Nhà nước.

Phải công bố rõ chủ trương thu hồi đất cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; công khai phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, thời gian bàn giao đất, phương án, phương pháp thực hiện chi trả tiền bồi thường và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư kịp thời cho người dân.

Bước 3, Tổ chức lắng nghe tiếp thu ý kiến, đối thoại, giải quyết khiếu tố của nhân dân trong quá trình thực hiện dự án: Trong quá trình thực hiện dự án, các cơ quan chức năng phải thường xuyên theo dõi, lắng nghe tâm tư nguyện vọng chính đáng và ý kiến tham gia góp ý, thắc mắc, khiếu tố của nhân dân để kịp thời tiếp thu những ý kiến đúng đắn, tiếp tục chỉnh sửa bổ sung về cơ chế, chính sách, giá cả đền bù, hỗ trợ, phương pháp tổ chức thực hiện; giải thích rõ những ý kiến kiến nghị của nhân dân; khi có khiếu kiện đông người, phức tạp cấp uỷ, chính quyền có trách nhiệm nghe, đối thoại trực tiếp với nhân dân, nắm tình hình, bàn giải pháp và lập tổ công tác, phân công nhiệm vụ cho các tổ chức cá nhân cụ thể tuyên truyền vận động, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của người dân; công tác giải quyết khiếu nại gay gắt của người dân phải lấy tuyên truyền vận động, thuyết phục là chính, hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp cưỡng chế, bắt người; phát huy tốt vay trò của cả hệ thống chính trị, những người tích cực, có uy tín trong nhân dân; phải tổ chức lực lượng kiên trì vận động đến từng người dân và thực sự cầu thị, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân; nghiêm túc kiểm diểm rút kinh nghiệm nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục sửa chửa và xin lỗi người dân về những khuyết điểm, hạn chế của mình; tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác và cương quyết khôn khéo phát động nhân dân đấu tranh với những người cực đoan lợi dụng dân chủ để tập hợp quần chúng khiếu nại gây mất ổn định về ANCT; công tác cưỡng chế khi thật cần thiết, song phải cân nhắc kỹ, phải được đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ, không để tình hình phức tạp thêm.

Và cuối cùng sau khi dự án đã thực hiện xong, Ban Dân vận, MTTQ và các đoàn thể phải tiếp tục nắm tâm tư nguyện vọng, đời sống ăn ở, sinh hoạt, việc làm thu nhập của nhân dân, nhất là những dự án tái định cư để tiếp tục tuyên truyền, vận động tham mưu giải quyết, hỗ trợ kịp thới những khó khăn, bức xúc, sớm ổn định cuộc sống của nhân dân. Thực hiện đồng bộ các bước giải pháp trể sẽ góp phần rất quan trọng giúp các công trình dự án trọng điểm của tỉnh ta thực hiện một cách thành công, hiệu quả, nhanh chóng, tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở từng địa phương.

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre
 Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đô...

Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, lãnh đạo Trung tâm TGPL nhà nước, các Trợ giúp viên pháp lý, các Cộng tác viên TGPL và đại diện 02 câu lạc bộ TGPL xã Nhơn Thạnh, Phú Nhuận thành phố Bến Tre.

Tại tọa đàm, các đại biểu đã nghe trình bày các tham luận về Thực trạng hoạt động TGPL trong hoạt động tố tụng; Vai trò TGPL với công tác hòa giải cơ sở; Vai trò của Cộng tác viên và các tổ chức hành nghề luật trong TGPL; Cơ chế phối hợp và thực tiễn triển khai Kế hoạch tăng cường TGPL cho trẻ em giai đoạn 2011- 2015; kết quả hoạt động phối hợp thực hiện Chương trình 14 phổ biến giáo dục pháp luật và TGPL cho phụ nữ; Kết quả hoạt động phối hợp TGPL lưu động; Tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc; lãnh đạo Trung tâm TGPL báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động TGPL; tình hình tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL ở địa phương.

Các tham luận và ý kiến của đại biểu đã đánh giá, phân tích khá sâu, đúng thực chất tình hình và kết quả đạt được trong hoạt động TGPL; phân tích vai trò, tác động của hoạt động TGPL đối với sự phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương; làm rõ những khó khăn, hạn chế, tìm ra nguyên nhân trong việc thực hiện TGPL, để từ đó đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn; đồng thời kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL.

Ông Phùng Ngọc Đức, Biên tập viên chính, Tạp chí Dân chủ – Pháp luật đã dành thời gian trao đổi và hướng dẫn về phương pháp, cách thức và kỹ năng viết tham luận, viết tin, bài báo chí.

Kết thúc buổi tọa đàm, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sơ Tư pháp trân trọng và cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật ; đồng chí Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó cục trưởng Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và các đồng chí cùng đi trong đoàn đã dành thời gian quý báo đến thăm và làm việc tại Bến Tre, xin trân trọng cán ơn các đồng chí lãnh đạo, đại diện các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tỉnh; các đồng chí trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên, các cộng tác viên; các đồng chí Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL đã đến dự đông đủ.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Huyện Ba Tri: tập huấn công tác hòa giải, tuyên truyền pháp luật cho hòa giải viên cơ sở năm 2014Huyện Ba Tri: tập huấn công tác hòa giải, tuyên truyền pháp luật cho hòa giải viên cơ sở năm 2014
Ngày 03/6/2014, Phòng Tư pháp huyện Ba Tri phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện tổ chức Hội nghị tập huấn công tác hòa giải, tuyên truyền pháp luật cho Hòa giải viên của Tổ hòa giải ấp, khu phố trên địa bàn huyện. Đến dự lớp tập huấn có ông Nguyễn Văn Phúc, Huyện ủy viên, Trưởng Phòng Tư pháp huyện, chủ trì lớp tập huấn; đại diện 129 học viên là hòa giải viên của 129 ấp, khu phố trên...

Ngày 03/6/2014, Phòng Tư pháp huyện Ba Tri phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện tổ chức Hội nghị tập huấn công tác hòa giải, tuyên truyền pháp luật cho Hòa giải viên của Tổ hòa giải ấp, khu phố trên địa bàn huyện. Đến dự lớp tập huấn có ông Nguyễn Văn Phúc, Huyện ủy viên, Trưởng Phòng Tư pháp huyện, chủ trì lớp tập huấn; đại diện 129 học viên là hòa giải viên của 129 ấp, khu phố trên địa bàn huyện.

Tại lớp tập huấn, các hòa giải viên đã được giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Hòa giải ở cơ sở, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở. Bên cạnh đó, các hòa giải viên còn được hướng dẫn một số kỹ năng về tuyên truyền pháp luật qua hoạt động hòa giải, một số hình thức tuyên truyền pháp luật, kỹ năng tuyên truyền miệng pháp luật.

Lớp tập huấn đã trang bị cho các hòa giải viên những kiến thức, kỹ năng hòa giải, tuyên truyền pháp luật, giúp cho các Hòa giải viên nâng cao hiểu biết pháp luật và kỹ năng, giải quyết những khó khăn, vướng mắc, thực hiện tốt nhiệm vụ hòa giải, tuyền truyền tại cở sở.

Kết thúc lớp tập huấn, ông Nguyễn Văn Phúc, Trưởng phòng Tư pháp huyện đánh giá cao tinh thần và hiệu quả của lớp tập huấn và mong muốn với những kiến thức đã được báo cáo viên cung cấp, các hòa giải viên sẽ vận dụng hiệu quả vào trong thực tiễn hòa giải, tuyên truyền pháp luật góp phần thắt chặt tình làng nghĩa xóm và hạn chế các tranh chấp, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

13/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luậtNghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật
 Ngày 04/4/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật. Quy định hướng dẫn về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xã hội hóa và chính sách hỗ trợ đối với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được cụ thể như sau:

Ngày 04/4/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật. Quy định hướng dẫn về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xã hội hóa và chính sách hỗ trợ đối với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được cụ thể như sau:

Thứ nhất, Ngày Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngày Pháp luật) được tổ chức hằng năm vào ngày 09 tháng 11, bảo đảm thiết thực, hiệu quả với các nội dung: Khẳng định vị trí, vai trò của Hiến pháp, pháp luật trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội; Giáo dục cán bộ, công chức, viên chức và người dân ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; Tuyên truyền, phổ biến các quy định của Hiến pháp, pháp luật thiết thực với đời sống của nhân dân, gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; Vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; Biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật; Nội dung khác theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

Ngày Pháp luật có thể được tổ chức dưới các hình thức như: Mít tinh; hội thảo; tọa đàm; Thi tìm hiểu pháp luật; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật lưu động; triển lãm; Các hình thức khác theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

Nghị định đã nêu rõ hằng năm, Bộ Tư pháp hướng dẫn nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật trong phạm vi cả nước. Theo đó, trên cơ sở hướng dẫn tổ chức Ngày Pháp luật của Bộ Tư pháp, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp hướng dẫn về nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật cho các tổ chức thành viên.

Thứ hai, quy định về chính sách hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật hoặc hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật:

Đối với tổ chức, doanh nghiệp được: Cơ quan nhà nước cấp phát tài liệu pháp luật, cung cấp thông tin miễn phí về chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực pháp luật được phổ biến, giáo dục; được bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật không thu tiền trong trường hợp tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nguồn kinh phí của mình; Thực hiện hoạt động quảng cáo khi tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật miễn phí hoặc hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật về quảng cáo; Khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Đối với cá nhân, bên cạnh việc được hưởng một số chính sách hỗ trợ của tổ chức, doanh nhiệp thì người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng quy định tại Điều 17 và Điều 20 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật mà không hưởng lương từ ngân sách nhà nước; già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật được hưởng thù lao và chế độ khi tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật;  Giáo viên dạy môn giáo dục công dân cho người khuyết tật theo phương thức giáo dục hòa nhập được hưởng phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo trực tiếp giảng dạy người khuyết tật theo phương thức giáo dục hòa nhập tại Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật.

Nghị định số 28/2013/NĐ-CP cũng đã khẳng định Nhà nước khuyến khích Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các hội công chứng, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp khác về pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật, tổ chức hành nghề luật sư, công chứng tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật miễn phí cho nhân dân; tạo điều kiện cho thành viên của tổ chức mình tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật miễn phí cho nhân dân thông qua hoạt động chuyên môn hoặc theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.

Đồng thời, Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, hội công chứng, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp khác về pháp luật sẽ hướng dẫn việc tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật miễn phí hằng năm của luật gia, luật sư, công chứng viên, hội viên. Hội Luật gia các cấp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hội công chứng, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp khác về pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật, tổ chức hành nghề luật sư, công chứng và các thành viên của các tổ chức này tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật được hưởng chính sách quy định.

Nghị định số 28/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 27/5/2013.

 

17/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn