Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksHướng dẫn nghiệp vụ

 
Hướng dẫn nghiệp vụ - Văn phòng Sở
Ngày 15 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 ... 
 
Nhằm tạo khí thế sôi nổi trong toàn Ngành ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp. Vừa qua, Giám đốc Sở đã ký ban hành Kế hoạch 1062/KH-STP về phá... 
 
Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công ... 
 
Thực hiện Công văn số 1711/UBND-TH ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc báo cáo sơ kết công tác 06 tháng đầu năm, đồng thời để đánh giá những kết quả đạt được của ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện công việc sau: 
 
Ngày 14 tháng 2 năm 2014, tại tỉnh Bạc Liêu, Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long tổ chức Hội nghị phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014. Đến dự Hội nghị có ông Nguyễn Bá Yên, Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp; ông Lê Thanh Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; đại diện lãnh đạo Sở Tư ... 
 
Ngày 12/02/2014, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 188/KH-STP về phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”.  
 
Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉ... 
 
Ngày 30 tháng 9 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. 
 
Ngày 03 tháng 10 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Nghị định gồm 3 chương, 19 Điều quy định rõ chế độ quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan và người quản lý, bảo quản tang ... 
 
Nhà nước ta ghi nhận sự nỗ lực cải tạo của người phạm tội, từ đó, xóa bỏ những định kiến của xã hội đối với người phạm tội, giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, quy định về xóa án tích có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với người phạm tội mà còn giáo dục mọi người trong xã hội rộng lượng, bao dung hơn đối với những người lầm lỗi vì sự tiến bộ, văn min... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Kết quả công tác thi hành án dân sự từ năm 1993 đến nayKết quả công tác thi hành án dân sự từ năm 1993 đến nay
Qua 20 năm thực hiện công tác thi hành án dân sự và quản lý công tác thi hành án dân sự; với chủ trương không ngừng tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự; các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên; đã ban hành nhiều văn bản của cấp ủy, chính quyền; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể địa phương để phối hợp, hỗ trợ cơ quan thi hành án dân sự đ...

Qua 20 năm thực hiện công tác thi hành án dân sự và quản lý công tác thi hành án dân sự; với chủ trương không ngừng tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự; các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên; đã ban hành nhiều văn bản của cấp ủy, chính quyền; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể địa phương để phối hợp, hỗ trợ cơ quan thi hành án dân sự địa phương thực hiện công tác thi hành án dân sự đạt nhiều kết quả khá tốt.

Ngày 21/4/1993, Ủy ban Thường vu Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự, theo đó, công tác thi hành án dân sự tách ra khỏi hệ thống cơ quan Tòa án nhân dân; ngày 08/6/1993, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 52 về thành lập Phòng Thi hành án dân sự thuộc Sở Tư pháp  và 08 Đội Thi hành án dân sự cấp huyện, lúc này chỉ có 19 cán bộ.

Đến ngày 14/01/2004, Pháp lệnh Thi hành án dân sự quy định tên gọi từ Phòng Thi hành án dân sự cấp tỉnh thành Cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Đội Thi hành án dân sự cấp huyện thành Cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện thuộc Bộ Tư pháp.

Đến ngày 14/11/2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực từ 01/7/2009, trên cớ sở đó, ngày 13/7/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 58 quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án dân sự, và ngày 09/9/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 74 quy định tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Thi hành án dân sự; theo đó Cục Luật Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Chi Cục Luật Thi hành án dân sự cấp huyện được thành lập, đến nay biên chế có 127/131; trong đó có 40 Cấp hành viên, 12 thẩm tra viên, 50 cán bộ khác.


Về Kết quả thi hành án dân sự: Giai đoạn 1993 – 2003, khi mới bàn giao có 1.600 hồ sơ, 40.187.830 đồng, từ 1993 – 2003 đã thụ lý 19.853 việc án, hơn 228, 373 tỷ đồng, thi hành xong 16.124 việc, với số tiền 150,343 tỷ đồng; giai đoạn 2004-2008:Thụ lý 31.218 việc, 331,137 tỷ đồng; thi hành xong 28.669 việc, với 268,132 tỷ đồng; Giai đoạn 2009- đến nay: Thụ lý 43.975 việc, 798,392 tỷ đồng; thi hành xong 38.532 việc, 451, 645 tỷ đồng.

Tuy nhiên, qua 20 năm thực hiện công tác thi hành án dân sự cũng còn nhiều khó khăn vướng mắc; nhất là về cơ chế pháp lý, mặc dù Luật thi hành án dân sự đã được triển khai thực hiện sau gần 05 năm, nhưng đã bộc lộ, phát sinh nhiều bất cập; nhiều quy định chưa rõ ràng, cụ thể, chồng chéo giữa các ngành luật; làm cản trở trong hoạt động tác nghiệp, chậm tiến độ, người phải thi hành án lợi dụng kẻ hở của pháp luật để tẩu tán tài sản, khiếu nại để kéo dài thời gian thi hành án; số vụ việc thi hành án ngày càng tăng, tính chất phức tạp, giá trị lớn nhưng không có tài sản đảm bảo thi hành; biên chế ít so với ngành Tòa án, Viện kiểm sát (Biên chế thi hành án hiện nay là 131 người, trong khi ngành Tòa án 219 người, Viện Kiểm sát 198 người) trong khi hiện nay đang thụ lý là 13.218 vụ việc, với số tiền trên 433,07 tỷ đồng.

02/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đăng ký khai sinh cho trẻ em – quyền của con và trách nhiệm của cha mẹĐăng ký khai sinh cho trẻ em – quyền của con và trách nhiệm của cha mẹ
 “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền có họ tên, quyền có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc sau khi ra đời”. Đây là nội dung được quy định tại Điều 7 Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em, đã được thông qua và ký kết ngày 20 tháng 11 năm 1989 và có hiệu lực từ ngày 2 tháng 9 năm 1990. Như vậy, quyền được khai...

 

“Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền có họ tên, quyền có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc sau khi ra đời”. Đây là nội dung được quy định tại Điều 7 Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em, đã được thông qua và ký kết ngày 20 tháng 11 năm 1989 và có hiệu lực từ ngày 2 tháng 9 năm 1990. Như vậy, quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân thân quan trọng của trẻ em không chỉ được pháp luật quốc tế quy định và bảo vệ mà pháp luật nước ta cũng đã thể chế hóa quyền được khai sinh này. Tại Điều 11 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” và tại Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2005 về quyền được khai sinh “Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh”. Quyền khai sinh của cá nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự là việc khẳng định sự bảo vệ của Nhà nước đối với giá trị của quyền khai sinh. Quyền được khai sinh là quyền đầu tiên khẳng định trẻ em là một công dân một quốc gia, là một công dân bình đẳng như mọi công dân khác và đây là cơ sở phát sinh các quyền và nghĩa vụ của công dân, mà quyền đầu tiên ở đây của trẻ em là quyền được chăm sóc và bảo vệ.

Đăng ký khai sinh là quyền của trẻ em, thì trách nhiệm đi đăng ký khai sinh là của cha, mẹ, ông, bà hoặc những người thân thích khác của trẻ em. Tại Điều 14 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em. Trong trường hợp người có trách nhiệm phải đi đăng ký khai sinh cho trẻ em không thực hiện việc đăng ký trong thời hạn do pháp luật quy định thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng theo quy định tại Điều 10 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp.

Khi đăng ký khai sinh thì trẻ em được cấp Giấy khai sinh, nội dung Giấy khai sinh xác định những thông tin về bản thân người được đăng ký khai sinh như họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh và thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh. Giấy khai sinh được ví như “giấy thông hành” vào đời, nó gắn liền với mỗi cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết đi. Trong các loại giấy tờ hộ tịch thì Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó.

Trên thực tế, do chưa hiểu được giá trị pháp lý của Giấy khai sinh nên nhiều trường hợp trẻ em được sinh ra cha, mẹ, người thân không đi đăng ký khai sinh cho con trong thời hạn pháp luật quy định là 60 ngày, kể từ ngày sinh con. Trường hợp đã đăng ký khai sinh thì chưa có ý thức bảo quản Giấy khai sinh, có hành vi tự ý tẩy xóa Giấy khai sinh, làm cho Giấy khai sinh bị sai lệch hay có hành vi cho người khác mượn Giấy khai sinh, hay mượn Giấy khai sinh của người khác để sử dụng, những hành vi này gây ra những hệ lụy cho chính bản thân người có giấy khai sinh và người sử dụng Giấy khai sinh của người khác.

06/04/2012 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về mức thu phí công chứngQuy định mới về mức thu phí công chứng
Kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2012, mức thu phí công chứng sẽ được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 08/2011/TTLT-BTP-BTC của Liên Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính vừa mới được ban hành vào ngày 19 tháng 01 năm 2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng. Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 17 tháng 10 năm 2008 của Liên Bộ Tài chính và Bộ...

 

Kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2012, mức thu phí công chứng sẽ được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 08/2011/TTLT-BTP-BTC của Liên Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính vừa mới được ban hành vào ngày 19 tháng 01 năm 2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng. Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 17 tháng 10 năm 2008 của Liên Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng.

Theo Thông tư, mức thu phí công chứng đối với các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (tính trên giá trị quyền sử dụng đất); hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất (tính trên tổng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất); hợp đồng mua bán, tặng cho tài sản khác, góp vốn bằng tài sản khác (tính trên giá trị tài sản); công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản (tính trên giá trị di sản); hợp đồng vay tiền (tính trên giá trị khoản vay); hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản (tính trên giá trị tài sản; trường hợp trong hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản có ghi giá trị khoản vay thì tính trên giá trị khoản vay); hợp đồng kinh tế, thương mại, đầu tư, kinh doanh (tính trên giá trị hợp đồng) được tính như sau:

Số

TT

Giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch

Mức thu

(đồng/trường hợp)

1

Dưới 50 triệu đồng

50 nghìn

2

Từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng

100 nghìn

3

Từ trên 100 triệu đồng đến 01 tỷ đồng

0,1% giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch

4

Từ trên 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng

01 triệu đồng + 0,06% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 01 tỷ đồng

5

Từ trên 03 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng

2,2 triệu đồng + 0,05% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 03 tỷ đồng

6

Từ trên 05 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng

3,2 triệu đồng + 0,04% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 05 tỷ đồng

7

Trên 10 tỷ đồng

5,2 triệu đồng + 0,03% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 10 tỷ đồng (mức thu tối đa không quá 10 triệu đồng/trường hợp)

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định mức thu phí đối với công chứng hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; thuê nhà ở; thuê, thuê lại tài sản (tính trên tổng số tiền thuê) được tính như sau:

Số

TT

Giá trị hợp đồng, giao dịch (tổng số tiền thuê)

Mức thu

(đồng/trường hợp)

1

Dưới 50 triệu đồng

40 nghìn

2

Từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng

80 nghìn

3

Từ trên 100 triệu đồng đến 01 tỷ đồng

0,08% giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch

4

Từ trên 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng

800 nghìn đồng + 0,06% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 01 tỷ đồng

5

Từ trên 03 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng

02 triệu đồng + 0,05% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 03 tỷ đồng

6

Từ trên 05 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng

03 triệu đồng + 0,04% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 05 tỷ đồng

7

Từ trên 10 tỷ đồng

05 triệu đồng + 0,03% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 10 tỷ đồng (mức thu tối đa không quá 8 triệu đồng/trường hợp)

Mức thu phí công chứng quy định tại Thông tư này được áp dụng thống nhất đối với Phòng công chứng và Văn phòng công chứng. Trường hợp, đơn vị thu phí là Văn phòng công chứng thì mức thu phí quy định tại Thông tư này đã bao gồm thuế giá trị gia tăng (nếu có) theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và các văn bản hướng dẫn thi hành./.

27/02/2012 12:00 SAĐã ban hành
Ban hành Quy chế phối hợp trong quản lý luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.Ban hành Quy chế phối hợp trong quản lý luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.
Để tăng cường công tác quản lý luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh, đảm bảo việc quản lý đạt hiệu quả cũng như nâng cao tinh thần, trách nhiệm, nghĩa vụ của luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư.

Để tăng cường công tác quản lý luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh, đảm bảo việc quản lý đạt hiệu quả cũng như nâng cao tinh thần, trách nhiệm, nghĩa vụ của luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư.

Ngày 30 tháng 01 năm 2013, Sở Tư pháp và Đoàn luật sư Bến Tre đã ban hành Quy chế số 25/QC-STP-ĐLS về việc phối hợp trong quản lý luật sư và hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, Quy chế đã quy định cơ chế phối hợp trong công tác trao đổi thông tin về việc gia nhập Đoàn Luật sư; cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động cho tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; việc tạm ngừng, chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; công tác thanh tra, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như khen thưởng, xử lý kỷ luật; công tác đào tạo bồi dưỡng luật sư. Bên cạnh đó, Quy chế cũng quy định chế độ thông tin báo cáo, hội họp giữa Sở Tư pháp và Đoàn Luật sư.

Với việc ban hành quy chế phối hợp trên sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư, tạo tiền đề, đánh dấu những chuyển biến lớn không chỉ trên phương diện phối hợp trong công tác quản lý mà còn đảm bảo cho luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh thực hiện tốt cũng như tuân thủ theo đúng những quy định của pháp luật. Từ đó, góp phần nâng cao vị trí, vai trò của Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư trong việc quản lý luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.

28/02/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy trình chứng nhận hợp đồng giao dịch nhân sự năm 2008Quy trình chứng nhận hợp đồng giao dịch nhân sự năm 2008

 

PHÒNG CÔNG CHỨNG SỐ 1

TỈNH BẾN TRE

QUY TRÌNH CHỨNG NHẬN

HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH DÂN SỰ NĂM 2008

Người soạn


Bùi Trọng Tâm

Người kiểm tra


Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt


Trần Lương Phổ
  • Mục đích: Nhằm đem lại tính xác thực cho các hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác và phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật
  • Phạm vi áp dụng: Cho tất cả các đối tượng có yêu cầu giao dịch dân sự
  • Tài liệu áp dụng: Bộ Luật Dân sự, Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 12/8/2000 của Chính phủ; Thông tư số: 03/2001/TP-CC ngày 14/3/2001 của Bộ Tư pháp; Thông tư liên tịch số 04/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường; Luật Công chứng số 82/2006/QH11
  • Thuật ngữ : Phổ thông, dễ hiểu
Số TT Nội dung công việc Người thực hịên Thời gian hoàn thành
01 Tiếp nhận hồ sơ, chuyển giao Nhân viên

- Trường hợp đơn giản không quá 20 phút (theo quy định: 03 ngày/trường hợp)

- Trường hợp phức tạp không quá 05 ngày làm việc (theo quy định: 10 ngày/trường hợp)
02 Kiểm tra nội dung hồ sơ. Công chứng viên
03 Yêu cầu các đối tượng có liên quan trong hợp đồng giao dịch dân sự xem lại nội dung trước khi ký tên vào sổ lưu công chứng Công chứng viên
04 Viết lời chứng theo mẫu và ký tên Công chứng viên
05 Ghi danh mục hồ sơ lưu và cho số công chứng, vào sổ lưu Công chứng viên
06 Đóng dấu; Thu lệ phí, trả hồ sơ Nhân viên
07 Lưu hồ sơ Nhân viên
07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Mục tiêu và kế hoạch hoạt động năm 2009Mục tiêu và kế hoạch hoạt động năm 2009

 

P. CÔNG CHỨNG SỐ 1 MỤC TIÊU VÀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG

CÔNG CHỨNG NĂM 2009

Người soạn


Bùi Trọng Tâm

Người kiểm tra


Đặng Thị Kim Cương

Người duyệt


Trần Lương Phổ

 

Mục tiêu:

Giải quyết 100% hồ sơ công chứng hợp đồng giao dịch dân sự đúng theo quy định của pháp luật và cải tiến về thời gian theo quy trình của phòng Công chứng.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúngCông tác đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cần có những bước đi cơ bản trong công tác vận động quần chúng
 Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh ...

Có thể thấy, trong thời gian gần đây nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh ta đã thực sự coi trọng công tác vận động quần chúng, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân trong xây dựng, quy hoạch, triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tham gia xây dựng nông thôn mới; một số địa phương trong vùng quy hoạch, thực hiện các dự án quan trọng của tỉnh và địa phương đã làm tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, tái định cư đảm bảo tiến độ dự án, đảm bảo chính sách và quyền lợi chính đáng, cuộc sống, việc làm cho người dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, điển hình như công trình cầu Cổ Chiên, 10 cầu trên địa bàn huyện Bình Đại, Khu Công Nghiệp Giao Long, Đường từ Cảng Giao Long đến đường Nguyễn Thị Định, các cầu trên địa bàn huyện Chợ Lách, Thạnh Phú…Tuy nhiên, vẫn còn một vài công trình dự án trong quá trình thực hiện còn để xảy ra sơ sót, công tác phối hợp vận động quần chúng thiếu chặc chẽ dẫn đến người dân chưa đồng tình, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.

Thiết nghĩ, trong thời gian tới nhằm mở rộng dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác quy hoạch, xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, công tác đền bù giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư; tăng cường hơn nữa vai trò phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đề ra những giải pháp phù hợp nhằm tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện các dự án, nắm bắt, phản ánh và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc, khiếu nại chính đáng của người dân góp phần xây dựng xã hội đồng thuận, tự quản, các cấp chính quyền và hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thề chính trị xã hội trong tỉnh cần thực hiện các bước giải pháp đồng bộ sau :

Bước 1, Đối với công tác dân vận trong giai đoạn chuẩn bị quy hoạch, xây dựng dự án, triển khai đầu tư phát triển kinh tế xã hội: Ngay từ khi dự thảo quy hoạch, dự án, phương án thu hồi đất, giá cả đền bù và phương án tổ chức thực hiện dự án, các cấp chính quyền phải tổ chức họp dân, toạ đàm, lắng nghe, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến tham gia của nhân dân, của MTTQ và các đoàn thể liên quan đến dự án để bổ sung, hoàn thiện dự án; khi được phế duyệt chính thức và trước khi tổ chức thực hiện dự án chính quyền các cấp phải công khai với người dân về nội dung liên quan của dự án bắng nhiều hình thức linh hoạt như mời họp dân, trực tiếp phổ biến, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết văn bản...; tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương về thu hồi đất khi thực hiện dự án, để người dân hiểu đúng, đủ về mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng, quyền lợi của mình khi dự án được thực hiện.

Bước 2, Công tác dân vận trong giai đoạn thực hiện: Chính quyền thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án đảm bảo có thành phần các tổ chức trong hệ thống chính trị như: Dân vận, MTTQ và các đoàn thể; khảo sát, lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư , tổ chức lấy ý kiến của người bị thu hồi đất nhằm xây dựng phương án rõ ràng, minh bạch, chính sát, chi tiết từng phương án bao gồm cả phương án kiểm đếm, thanh toán và phương án tuyên truyền vận động đến từng hộ dân có liên quan.

Xây dựng phương án đến bù cụ thể cho từng hộ, chuẩn bị các điều kiện kinh phí, tài chỉnh để thực hiện, phân công rõ từng trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuyên truyền vận động, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng, nghiên cứu tiếp thu, giải quyết ý kiến thắc mắc kiến nghị đến từng hộ dân có liên quan; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền vận động quần chúng, nêu cao quan điểm quần chúng, tôn trọng dân cho cán bộ công chức ( những người được phân công trực tiếp kiểm đếm, chi trả đền bù) và cán bộ trong hệ thống chính trị được phân công tham gia thực hiện dự án, chống hiện tượng lợi dụng bớt xén, quan liêu, hách dịch cửa quyền, mất dân chủ với nhân dân; đồng thời tuyên truyền chống biểu hiện thiếu trung thực về kê khai nhà cửa, tài sản, đất đai, lợi dụng chính sách đền bù giải toả của Nhà nước.

Phải công bố rõ chủ trương thu hồi đất cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; công khai phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, thời gian bàn giao đất, phương án, phương pháp thực hiện chi trả tiền bồi thường và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư kịp thời cho người dân.

Bước 3, Tổ chức lắng nghe tiếp thu ý kiến, đối thoại, giải quyết khiếu tố của nhân dân trong quá trình thực hiện dự án: Trong quá trình thực hiện dự án, các cơ quan chức năng phải thường xuyên theo dõi, lắng nghe tâm tư nguyện vọng chính đáng và ý kiến tham gia góp ý, thắc mắc, khiếu tố của nhân dân để kịp thời tiếp thu những ý kiến đúng đắn, tiếp tục chỉnh sửa bổ sung về cơ chế, chính sách, giá cả đền bù, hỗ trợ, phương pháp tổ chức thực hiện; giải thích rõ những ý kiến kiến nghị của nhân dân; khi có khiếu kiện đông người, phức tạp cấp uỷ, chính quyền có trách nhiệm nghe, đối thoại trực tiếp với nhân dân, nắm tình hình, bàn giải pháp và lập tổ công tác, phân công nhiệm vụ cho các tổ chức cá nhân cụ thể tuyên truyền vận động, giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của người dân; công tác giải quyết khiếu nại gay gắt của người dân phải lấy tuyên truyền vận động, thuyết phục là chính, hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp cưỡng chế, bắt người; phát huy tốt vay trò của cả hệ thống chính trị, những người tích cực, có uy tín trong nhân dân; phải tổ chức lực lượng kiên trì vận động đến từng người dân và thực sự cầu thị, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân; nghiêm túc kiểm diểm rút kinh nghiệm nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục sửa chửa và xin lỗi người dân về những khuyết điểm, hạn chế của mình; tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác và cương quyết khôn khéo phát động nhân dân đấu tranh với những người cực đoan lợi dụng dân chủ để tập hợp quần chúng khiếu nại gây mất ổn định về ANCT; công tác cưỡng chế khi thật cần thiết, song phải cân nhắc kỹ, phải được đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ, không để tình hình phức tạp thêm.

Và cuối cùng sau khi dự án đã thực hiện xong, Ban Dân vận, MTTQ và các đoàn thể phải tiếp tục nắm tâm tư nguyện vọng, đời sống ăn ở, sinh hoạt, việc làm thu nhập của nhân dân, nhất là những dự án tái định cư để tiếp tục tuyên truyền, vận động tham mưu giải quyết, hỗ trợ kịp thới những khó khăn, bức xúc, sớm ổn định cuộc sống của nhân dân. Thực hiện đồng bộ các bước giải pháp trể sẽ góp phần rất quan trọng giúp các công trình dự án trọng điểm của tỉnh ta thực hiện một cách thành công, hiệu quả, nhanh chóng, tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở từng địa phương.

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hụi và những rủi ro về hụi cần cảnh giácHụi và những rủi ro về hụi cần cảnh giác
Hụi là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán, trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người, cùng quy định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp vốn, lĩnh hụi, quyền và nghĩa vụ các thành viên nhằm mục đích tương trợ nhau được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Thời gian gần đây, tình trạng lợi dụng chơi hụi để gật hụi, bể hụi xảy ra thường xuyên, gây mất an ninh trật tự, làm thiệt nghiêm trọng đến quyền và lợi lợi chính đáng của những người chơi hụi; có những vụ giật hụi số tiền lên đến hàng chục tỉ đồng. Mặc dù pháp luật đã có thừa nhận và bảo vệ, theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Dân sự 2005: Hụi (hay còn gọi là họ, biêu, phường) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh hụi,  quyền, nghĩa vụ của các thành viên nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật. ..

Hụi là một hình thức huy động vốn theo kiểu quan hệ vay mượn tài sản (tiền) trước rồi trả sau, giữa một nhóm người với nhau. Chơi hụi khá phổ biến trong đời sống người dân và đã từ rất lâu, không hiểu vì sao và từ bao giờ, người ta hay nói là “chơi” hụi. Khi chơi hụi tất cả những người tham gia với nhau sẽ tập hợp thành một “dây hụi”, mỗi thành viên là một “hụi viên”, người đứng ra tổ chức, điều hành, quản lý và thu tiền gọi là “chủ hụi” và tạm xem đây là một hình thức có lợi, nhưng cũng rất rủi ro qua mô hình chơi hụi, nếu nhìn theo phương diện tích cực, có thể nói về bản chất việc chơi hụi khá hay, tạo điều kiện để các cá nhân có thể có được một số tiền lớn vay từ những người cùng tham gia, thay vì phải đi vay của ngân hàng, lại không cần thủ tục phiền phức gì cả. Hình thức góp, trả cũng đơn giản, nhẹ nhàng, thuận tiện. Giao dịch này được hình thành trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện của một nhóm người tập hợp lại với nhau góp vốn thông qua chủ hụi để giao lại cho người được “hốt hụi” và đóng lại “hụi chết” theo quy định.

Bản thân tôi cũng đã từng biết một ít người chơi hụi và nhờ chơi hụi mà họ có điều kiện huy động được một số tiền kha khá, để xây nhà hoặc mua xe… Tuy nhiên, có thể khẳng định là chơi hụi có tính rủi ro cao. Thậm chí rất cao, nếu rơi vào các trường hợp như: Các thành viên cùng tham gia dây hụi hoàn toàn mang tính “tín chấp”, tin tưởng nhau là chính mà không có tài sản thế chấp, bảo đảm. Chỉ cần một người không đóng tiền hụi, thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những người chưa hốt hụi. Và tất yếu xảy ra đó là chủ hụi phải đến nhà hụi viên dùng “biện pháp mạnh” để đòi tiền hụi hoặc chính người chủ hụi phải tự bỏ tiền túi ra đóng thay cho hụi viên để duy trì dây hụi và nếu chủ hụi không có khả năng đóng thay thì “vở hụi”, chủ hụi có thể phải … bỏ trốn! Nguy hiểm hơn, trường hợp nhiều người tham gia vào dây hụi thậm chí không biết mặt nhau, không biết có bao nhiêu người chơi, thật giả lẫn lộn. Không loại trừ khả năng người chủ hụi, vì mục đích xấu, đã làm ra những dây “hụi ma” hoặc ghi khống, tăng giảm số tiền đóng hụi, thời gian đóng hụi. Chẳng hạn có 10 người chơi thì nói là 20 người, giấy tờ sổ sách không rõ ràng, sau khi thu tiền, thay vì giao cho người hốt hụi trong tháng thì thực sự … không có ai cả, sau khi gom tiền được vài tháng, chủ hụi… “hô biến”.

Ngoài ra, còn nhiều vấn đề rủi ro phát sinh khác nữa khi tham gia hụi và chính vì việc chơi hụi có tính rủi ro rất cao nên đã có biết bao nhiêu trường hợp nhà tan cửa nát từ các vụ giật hụi, bể hụi. Thế nên, trước khi quyết định có nên tham gia vào một dây hụi hay không, người chơi cần hiểu rõ quy định của pháp luật về chơi hụi, hiểu rõ bản chất của mô hình chơi hụi, cần có thông tin và lựa chọn những người chủ hụi có uy tín, có độ tin cậy cao, người chủ hụi và người chơi hụi phải có khả năng tài chính, bảo đảm tham gia lâu dài và đóng hụi đầy đủ, tránh trình trạng hốt hụi xong bỏ trốn, không đóng hụi “chết”, gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến các thành viên chơi. Cần phải có các tài liệu liên quan như: những thỏa thuận giữa chủ hụi với hụi viên và giữa các thành viên với nhau, các lần góp hụi phải được ghi chép và lưu giữ cẩn thận; sổ hụi thể hiện: Tên, địa chỉ của chủ hụi và các thành viên, phần hụi, kỳ mở, thể thức góp vốn và lĩnh hụi, số tiền hoặc tài sản khác đã góp hoặc đã lĩnh hụi, việc chuyển giao phần, việc ra khỏi và chấn dứt hụi, chữ ký (hoặc chỉ điểm) của các thành viên, các nội dung khác có liên quan đến việc chơi hụi.

Hụi là loại quan hệ dân sự rất tốt đẹp nếu như các thành viên tham gia chơi hụi tôn trọng chữ tín và tôn trọng pháp luật, nhằm mục đích tiết kiệm, tương trợ, giúp đở nhau trong mối quan hệ “tình làng, nghĩa xóm”, công khai, minh bạch, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia, thì chắc rằng sẽ không có chuyện lợi dụng lòng tin để bội tín. Do đó, những người tham gia chơi hụi cần cảnh giác đối với hành vi lợi dụng trong hoạt động chơi hụi. Đó là những bài học kinh nghiệm mà mọi người cần lưu ý./.

 

05/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Công tác thẩm định văn bản trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Bến TreCông tác thẩm định văn bản trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trước khi trình Hội đồng nhân dân thông qua hay Ủy ban nhân dân ký ban hành (đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và dự thảo văn bản QPPL Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện) thì dự thảo văn bản QPPL phải được chuyển đến cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định.

Trước khi trình Hội đồng nhân dân thông qua hay Ủy ban nhân dân ký ban hành (đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và dự thảo văn bản QPPL Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện) thì dự thảo văn bản QPPL phải được chuyển đến cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định. 
Như vậy, thẩm định là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND tỉnh, UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Vì vậy, công tác thẩm định có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL nói chung.
Trước đây, công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL chưa có quy định cụ thể. Tuy vậy, từ năm 1996, Sở Tư pháp Bến Tre đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản QPPL của UBND tỉnh trước khi ban hành. Kể từ khi có Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND được ban hành ngày 3 tháng 12 năm 2004, thì thẩm định là một khâu bắt buộc trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND. Trách nhiệm thẩm định được giao cho cơ quan tư pháp thực hiện. Phạm vi thẩm định thường xem xét những nội dung của dự thảo về sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh, tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo; ngôn ngữ kỹ thuật trình bày văn bản. Trong một số trường hợp cần thiết cơ quan thẩm định đánh giá thêm về tính khả thi của dự thảo văn bản.
Theo quy định của Luật thì Sở Tư pháp chỉ có chức năng thẩm định dự thảo Nghị quyết QPPL của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình và dự thảo Quyết định, Chỉ thị QPPL của UBND cấp tỉnh. Phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm thẩm định đối với dự thảo Quyết định, Chỉ thị QPPL của UBND cùng cấp. Đối với văn bản QPPL của HĐND tỉnh không do UBND tỉnh trình, dự thảo văn bản QPPL của HĐND cấp huyện, dự thảo văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp xã thì Luật không quy định việc thẩm định văn bản.
Các dự thảo văn bản QPPL ở cấp tỉnh đều được Sở Tư pháp thẩm định trước khi ban hành, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản QPPL do tỉnh ban hành với hệ thống pháp luật. Trung bình hàng năm, Sở Tư pháp thẩm định khoảng 90 dự thảo văn bản (năm 2010: thẩm định 82 văn bản, năm 2011: thẩm định 77 văn bản). Chất lượng thẩm định ngày càng được nâng lên, góp phần nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện thể chế cấp tỉnh. Qua kiểm tra công tác văn bản hàng năm, đối với cấp huyện, sau những lúng túng ban đầu, những năm gần đây, công tác thẩm định dự thảo văn bản QPPL của UBND các huyện, thành phố cũng đã phần nào đi vào nề nếp, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Nhận thức rõ được vai trò và tầm quan trọng không thể thiếu của công tác văn bản trong việc chỉ đạo và điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội theo hướng đổi mới, thống nhất có trọng tâm, trọng điểm; tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn về chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan trong cùng một văn bản do địa phương ban hành. Từng bước đưa công tác ban hành văn bản QPPL đi vào nề nếp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý và chỉ đạo điều hành để thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao. Góp phần không nhỏ trong những thành công đó là công tác thẩm định VBQPPL; một trong những công tác có tính quyết định tới chất lượng và hiệu quả của các văn bản QPPL sau khi được ban hành và đây được xem là công tác “tiền kiểm” có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng.
Để chất lượng ban hành văn bản QPPL ngày càng được nâng cao, trong thời gian tới, cần có sự quan tâm hơn nữa của cấp uỷ và chính quyền địa phương đối với công tác văn bản nói chung và công tác thẩm định nói riêng; chắc chắn sẽ đi vào nề nếp, tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của pháp luật góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, việc nâng cao nhận thức và tinh thần phối hợp giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định cũng có ý nghĩa quan trọng. Bởi lẽ, thẩm định là công đoạn nằm trong quy trình xây dựng văn bản QPPL và có mối quan hệ mật thiết với giai đoạn soạn thảo văn bản QPPL. Sự phối hợp này góp phần phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động soạn thảo, thẩm định văn bản QPPL cũng như giúp cho cơ quan thẩm định hiểu rõ hơn ý đồ quản lý của cơ quan soạn thảo. Bên cạnh đó, cơ quan, đơn vị khi gửi dự thảo yêu cầu thẩm định cần phải đảm bảo về mặt hồ sơ và thời gian theo quy định. Vấn đề nâng cao hơn nữa trình độ và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định văn bản cũng là một nhu cầu rất cần thiết./.

 

06/01/2012 12:00 SAĐã ban hành
Công khai địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chínhCông khai địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính
Thực hiện Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 785/STP-KSTT, đề nghị các cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành c...

 

 

Thực hiện Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 785/STP-KSTT, đề nghị các cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức công khai nội dung hướng dẫn, địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị về quy định hành chính tại nơi tiếp nhận và trả kết quả, để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền phản ánh, kiến nghị liên quan đến quy định hành chính.

Sở Tư pháp đã công khai nội dung, địa chỉ tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị trên website của Sở, tại địa chỉ http://www.sotuphap.bentre.gov.vn. Rất mong nhận được phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.

Phản ánh, kiến nghị được gửi hoặc liên hệ theo địa chỉ sau:

- Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;

- Địa chỉ: Số 17, đường Cách mạng tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Số điện thoại: 0753.822303;

- Địa chỉ thư điện tử: phongkstthc@bentre.gov.vn

 

30/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngXử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hòa với không khí rộn ràng của những ngày sắp tết, hoạt động mua bán trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết, hầu hết các dịch vụ, hàng hóa đều khá đa dạng và phong phú điều đó tạo điều kiện cho người dân có nhiều sự lựa chọn. Hàng hóa được mua bán rộng rãi thì các vấn đề về hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng cũng được bày bán với việc giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa rất tinh vi nên người ...

Hòa với không khí rộn ràng của những ngày sắp tết, hoạt động mua bán trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết, hầu hết các dịch vụ, hàng hóa đều khá đa dạng và phong phú điều đó tạo điều kiện cho người dân có nhiều sự lựa chọn. Hàng hóa được mua bán rộng rãi thì các vấn đề về hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng cũng được bày bán với việc giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa rất tinh vi nên người dân khó có thể phát hiện đồng thời phần lớn người dân khi đi mua sắm vẫn còn tâm lý chủ quan không để ý đến nhãn hàng hoá cũng như hạng sử dụng của sản phẩm.

Liên quan đến các vấn đề về buôn bán hàng giả, ngày 15 tháng 11 năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 185/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nghị định quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo đó, hàng giả được quy định là những hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc trong các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác; hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; tem, nhãn, bao bì giả.

Hành vi buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa Điều 13 của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định đối với hành vi buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa quy định tại điểm đ và e khoản 8 Điều 3 Nghị định này, mức phạt tiền như sau: Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị dưới 1.000.000 đồng; Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 1.000.000 đồng đến dưới 3.000.000 đồng; Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng; Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng; Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng; Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng; Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phạt tiền gấp hai lần các mức tiền phạt quy định nêu trên đối với hành vi nhập khẩu hàng giả hoặc hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây: Là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh cho người mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; là phụ gia thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, chất tẩy rửa, diệt côn trùng, trang thiết bị y tế, xi măng, sắt thép xây dựng, mũ bảo hiểm.

Ngoài ra còn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung như: Tịch thu tang vật vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm.

Về biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng giả đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa giả mạo đối với hành vi nhập khẩu hàng giả quy định tại Điều này; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này; buộc thu hồi loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn, bao bì hàng giả đang lưu thông trên thị trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

26/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Báo cáo kết quả công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2014Báo cáo kết quả công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2014
Thực hiện Công văn số 1711/UBND-TH ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc báo cáo sơ kết công tác 06 tháng đầu năm, đồng thời để đánh giá những kết quả đạt được của ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện công việc sau:

Thực hiện Công văn số 1711/UBND-TH ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc báo cáo sơ kết công tác 06 tháng đầu năm, đồng thời để đánh giá những kết quả đạt được của ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu Trưởng phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện công việc sau:

1. Xây dựng Báo cáo sơ kết tình hình thực hiện nhiệm vụ tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2014; từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong 06 tháng cuối năm 2014. Nội dung báo cáo cần đánh giá khái quát về đặc điểm tình hình chính trị, kinh tế - xã hội tác động đến việc thực hiện công tác tư pháp tại địa phương mình.

Đối với từng lĩnh vực công tác, cần đánh giá chung về những kết quả đạt được, đồng thời đánh giá sâu những kết quả nổi bật, mô hình hiệu quả, có tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; những mặt còn hạn chế, nguyên nhân và hướng khắc phục hạn chế, tồn tại đó trong thời gian tới, cụ thể:

- Đánh giá những kết quả công việc đã hoàn thành, có so sánh với 06 tháng đầu năm 2013 (kèm theo số liệu, dẫn chứng cụ thể).

- Những cách làm mới, hiệu quả.

- Những hạn chế, vướng mắc, những “điểm nghẽn” trong việc thực hiện nhiệm vụ; phân tích sâu nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó như: Do cơ chế, chính sách, công tác chỉ đạo, điều hành của địa phương mình, tổ chức bộ máy, con người, quan hệ phối hợp trong công tác, cơ sở vật chất... đồng thời nêu rõ giải pháp đã chủ động áp dụng nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc đó.

- Đề xuất nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá thực hiện công tác tư pháp trong 06 tháng cuối năm 2014 ở từng lĩnh vực công tác của địa phương mình; giải quyết những “điểm nghẽn” để thực hiện hoàn thành kế hoạch năm 2014.

2. Báo cáo sơ kết tình hình thực hiện công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2014 của đơn vị, yêu cầu gửi về Văn phòng Sở bằng văn bản giấy và file điện tử (theo địa chỉ: stpbentre@moj.gov.vn) trước 11 giờ ngày 26 tháng 4 năm 2014.

Công văn số 624/STP-VP v/v báo cáo công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2014


23/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Gia đình – nơi ươm mầm cuộc sốngGia đình – nơi ươm mầm cuộc sống
“Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”

 

 

“Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”

Gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng trong xã hội và là điều không thể thiếu đối với mỗi cá nhân chúng ta, mỗi người chúng ta sẽ không thể sống hạnh phúc nếu thiếu đi hơi ấm của gia đình. Gia đình mang đến cho ta sự ấm áp, yêu thương và là động lực để mỗi người phấn đấu, chăm lo giữ gìn mái ấm của riêng mình và đó cũng là nơi ươm mầm cho các thế hệ tương lai. Gia đình có sức ảnh hưởng rất lớn đối với tất cả các thành viên trong gia đình và đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em vì gia đình không chỉ là nơi các em sinh ra và lớn lên mà còn là nơi giúp các em hình thành nhân cách và phát triển tư duy, các em sống có hạnh phúc, phát triển về mặt nhân cách có lành mạnh không là phụ thuộc vào gia đình.

Gia đình hạnh phúc, các em được sống trong tình yêu thương, sự chăm sóc, giáo dục của ông bà, cha mẹ, giúp các em có một môi trường phát triển lành mạnh. Nhưng nếu chính từ tổ ấm ấy các em phải thường xuyên đối mặt với những mâu thuẩn, cãi vả hoặc những hành vi mang tính chất bạo lực, những lời nói, những hình ảnh đó sẽ dần ăn sâu vào tâm trí và ngày từng ngày làm tổn thương về mặt tâm lý của các em hoặc từ các hành vi đó làm cho các em trở nên thô bạo trong suy nghĩ và hành động và là nguyên nhân dẫn đến những mối nguy hại trong tương lai.

Gia đình hạnh phúc sẽ thấp lên ngọn lửa yêu thương, là sợi dây kết chặt các thành viên trong gia đình với nhau, là nơi ươm mầm hạnh phúc cho các thế hệ tương lai. Ở nơi đó ta cảm nhận được tình yêu thương, sự che chở, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau đồng thời gia đình hạnh phúc góp phần kéo giảm, ngăn ngừa tội phạm đặc biệt đối với tình trạng người chưa thành niên phạm tội, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng xã hội lành mạnh với các thế hệ tương lai nhiều triển vọng.

Chính từ đó mới thấy được vai trò quan trọng của gia đình đối với con người nói chung, đối với từng thành viên trong mỗi gia đình nói riêng. Gia đình hạnh phúc không chỉ là mong ước của mỗi người mà còn là sự mong muốn của xã hội, của các cấp chính quyền và là mục tiêu phấn đấu của tất cả mọi người trên toàn thế giới. Khẳng định được vai trò của hạnh phúc gia đình nên hằng năm thế giới lấy ngày 20 tháng 3 là ngày “Quốc tế hạnh phúc” và lý do chọn ngày 20/3 là ngày “Quốc tế hạnh phúc” vì đây là ngày đặc biệt trong năm khi mặt trời nằm ngang đường xích đạo nên trong ngày này, ngày và đêm có độ dài bằng nhau, ngày này còn là biểu tượng của sự hài hòa, cân bằng của vũ trụ. Hưởng ứng ngày “Quốc tế hạnh phúc” 20/3, tất cả chúng ta cùng hành động vì gia đình yêu thương của mình, hãy mang đến niềm vui, niềm hạnh phúc vun đấp cho tổ ấm theo cách riêng của mỗi người cũng như cùng truyền tải thông điệp “Cân bằng, hài hoà là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc” đến với mọi người.

21/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nhìn lại một năm hoạt động Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lýNhìn lại một năm hoạt động Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý
  Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, được tổ chức lễ ra mắt vào ngày 10/8/2011. Đến nay vừa tròn một năm, với số lượng Ban Chủ nhiệm gồm có 06 thành viên được phối hợp tổ chức từ các ngành đoàn thể xã. Do ông Võ Văn Lâm công chức Tư pháp-Hộ tịch xã làm Chủ nhiệm, đã đi vào hoạt động ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao. 

 

Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, được tổ chức lễ ra mắt vào ngày 10/8/2011. Đến nay vừa tròn một năm, với số lượng Ban Chủ nhiệm gồm có 06 thành viên được phối hợp tổ chức từ các ngành đoàn thể xã. Do ông Võ Văn Lâm công chức Tư pháp-Hộ tịch xã làm Chủ nhiệm, đã đi vào hoạt động ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao. Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý là một hình thức hoạt động  trợ giúp pháp lý cộng đồng, tạo điều kiện cho người dân ở địa phương trực tiếp tham gia sinh hoạt, trao đổi những vướng mắc về pháp luật, đây là một sân chơi lành mạnh được các chi tổ, hội, đoàn thể hội viên và nhân dân trong toàn xã hưởng ứng. Từ khi thành lập đến nay Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý đã sinh hoạt khắp nhiều điểm trên toàn xã với số lượng 01 kỳ/tháng. Hình thức sinh hoạt khá phong phú, Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý sinh hoạt chuyên đề về pháp luật và đặt câu hỏi giao lưu, mổi câu trả lời đúng được Ban chủ nhiệm tặng một phần quà lưu niệm, đồng thời Ban chủ nhiệm lắng nghe ý kiến trao đổi của nhân dân.


Trong quí IV năm 2012, Câu lạc bộ sẽ phối hợp với ngành văn hóa thông tin xã lồng ghép những tiểu phẩm, kịch, nhằm để nâng chất lượng, sinh động trong các lần sinh hoạt, giúp cho người dân hiểu được thực tế hơn. Kế hoạch này sẽ được thực hiện đến khắp các cấp trường trong xã với chuyên đề “Tuổi trẻ trong học đường” đến giai đoạn 2013./.

 

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật cho thành viên ban chủ nhiệm câu lạc bộ trợ giúp pháp lý năm 2012Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật cho thành viên ban chủ nhiệm câu lạc bộ trợ giúp pháp lý năm 2012
 Với mục đích giúp người dân nghèo được nâng cao kiến thức, ý thức pháp luật, biết vận dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình; Giúp người nghèo ở nông thôn giảm nghèo một cách bền vững và đảm bảo công bằng xã hội; thực hiện theo Kế hoạch số 06/ KH-TGPL ngày 06/11/2011 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre về công tác trợ giúp pháp lý năm ...

Với mục đích giúp người dân nghèo được nâng cao kiến thức, ý thức pháp luật, biết vận dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình; Giúp người nghèo ở nông thôn giảm nghèo một cách bền vững và đảm bảo công bằng xã hội; thực hiện theo Kế hoạch số 06/ KH-TGPL ngày 06/11/2011 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre về công tác trợ giúp pháp lý năm 2012 và  Kế hoạch số 284 /KH-TGPL ngày 7  tháng  8 năm 2012 về việc Phối hợp thực hiện Dự án Phát triển Kinh doanh với Người nghèo Nông thôn (DBRP Bến Tre) trên lĩnh vực trợ giúp pháp lý; ngày 31 tháng 8 năm 2012 Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật cho thành viên Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý.


Đến dự khai mạc Hội nghị có bà Nguyễn Thị Yến Nhi – Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, ông Nguyễn Trúc Sơn - Giám đốc Trung tâm xúc tiến đầu tư tỉnh Bến Tre, Giám đốc dự án DBRB Bến Tre; lãnh đạo Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh, đại biểu Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và 122 đại biểu đại diện cho Ban Chủ nhiệm các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý trên toàn tỉnh.

Các học viên đã được nghe các Báo cáo viên trình bày các chuyên đề: Một số nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý và văn bản hướng dẫn thi hành; Kỹ năng tổ chức và điều hành sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý; Quy trình giải quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai; Chế định ly hôn trong Luật Hôn nhân và Gia đình.

Phương pháp tập huấn được đổi mới, kết hợp thuyết giảng với việc trao đổi, thảo luận, giải quyết tình huống và giải đáp khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Sử dụng công cụ hỗ trợ như máy chiếu, hình ảnh minh họa để phục vụ cho việc thuyết giảng được tốt hơn, giúp người nghe nắm bắt cơ bản những nội dung chính.


Tại Hội nghị, Ban chủ nhiệm các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý tích cực tham gia góp ý thảo luận từ đó làm sáng tỏ nhiều vấn đề đang vướng mắc trong thực tiễn hoạt động nhằm góp phần đưa hình thức sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý ở địa phương  ngày càng hiệu quả hơn ./.

 

31/10/2012 12:00 SAĐã ban hành
Bảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầngBảo trì máy móc, thiết bị và cơ sơ hạ tầng


VĂN PHÒNG SỞ TƯ PHÁP
BẢO TRÌ MÁY MÓC, THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG

Người soạn thảo:


Bùi Quang Đạt

Người kiểm tra:



Người duyệt:


Trần Lương Phổ

1. Mục đích:

Kéo dài tuổi thọ, thời gian hoạt động và gia tăng được mức độ sẵn sàng phục vụ máy móc thiết bị. Sử dụng tối đa công suất theo thiết kế, đồng thời giảm chi phí cho việc sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phạm vi áp dụng:

Áp dụng cho tất cả máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng đang được quản lý và sử dụng tại phòng trực thuộc Sở Tư pháp.

3. Định nghĩa:

- Bảo trì máy móc thiết bị: là công viêc bảo dưỡng máy móc thường xuyên và phải thỏa mãn những yêu cầu về thông số kỹ thuật của nhà sản xuất quy định.

- Bảo trì đột xuất: thiết bị vận hành bị sự cố, trục trặc do không lường trước được, cần phải bảo trì sửa chữa ngay.

- Bảo trì định kỳ: bảo trì theo yêu cầu của nhà chế tạo hoặc để đảm bảo tuổi thọ cho thiết bị.

4. Quy trình thực hiện:

Bước

Tiến trình thực hiện

Trách nhiệm

A. Bảo trì máy móc thiết bị:

I. Bảo trì đột xuất:

1

- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của các thiết bị, nếu thấy khác thường hoặc có sự cố hư hỏng phải kịp thời báo cáo.

- Đề xuất phương án xử lý.

-Chuyên viên phụ trách thiết bị, sử dụng thiết bị

-Trưởng phòng

2

- Lập biên bản nếu sự cố hư hỏng nghiêm trọng.

-Trưởng các phòng

-Chánh VP Sở

Thời gian: sửa chữa ngay.

3

- Khắc phục sự cố.

- Đề nghị cho thay mới hoặc thuê ngoài nếu trình trạng không thể khắc phục.

-Chánh VP Sở

4

- Tiến hành sửa chữa và kiểm tra kết quả sửa chữa.

-Chuyên viên kỹ thuật

-Chuyên viên phụ trách

5

- Lập biên bản nghiệm thu và bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP Sở

II. Bảo trì định kỳ:

1

- Dựa vào danh mục và kế hoạch bảo trì thiết bị định kỳ để tổ chức bảo trì thiết bị

-Văn phòng Sở

Thời gian:

cuối năm

2

- Đánh giá các bộ phận hư hỏng cần thay thế sửa chữa (nếu có).

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh Văn phòng

3

- Tiến hành sửa chữa .

- Kiểm tra kết quả bảo trì, sửa chữa .

-Cán bộ phụ trách quản trị hoặc chuyên viên kỹ thuật

4

- Lập biên bản nghiệm thu.

- Bàn giao cho phòng sử dụng.

-Trưởng phòng sử dụng

-Chánh VP

III. Bảo trì, sửa chữa thuê ngoài:

1

- Khi xảy ra sự cố hư hỏng ảnh hưởng đến những thiết bị mà các nhân viên của Văn phòng Sở không đủ khả năng và điều kiện để tiến hành bảo trì sửa chữa, Văn phòng đề nghị Lãnh đạo Sở cho thuê sửa chữa bên ngoài.

-Chánh VP

2

- Khi đề nghị đã được chấp thuận, liên hệ với các dịch vụ sửa chữa bên ngoài, yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và thông báo dự toán chi phí sửa chữa.

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa bảo trì.

-Chánh VP

-Kế toán VP

3

- Lập bảng đề nghị sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

4

- Thực hiện việc bảo trì, sửa chữa.

- Giám sát, kiểm tra chất lượng

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-Văn phòng Sở

5

- Lập biên bản nghiệm thu, bàn giao cho phòng sử dụng.

-Chánh VP

-Kế toán VP

B. Bảo trì cơ sở hạ tầng:

1

- Dựa vào kế hoạch sửa chữa hàng năm đã được duyệt.

- Liên hệ với các dịch vụ sửa chữa yêu cầu đến xem xét trình trạng hư hỏng và dự toán kinh phí sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

2

- Đánh giá năng lực và giá cả để chọn nơi sửa chữa.

-Chánh VP

-Kế toán VP

(Phụ lục 1)

3

- Thực hiện việc sửa chữa các hạng mục công trình.

- Giám sát, kiểm tra việc sửa chữa.

-Dịch vụ sửa chữa bên ngoài

-VP Sở

4

- Lập biên bản nghiệm thu

-Hội đồng nghiệm thu tài sản cơ quan

5. Phụ lục:

Thực hiện theo tinh thần công văn số 866 Cv/TCVG, ngày 12/10/2000 và công văn số : 246/TCVG-NS, ngày 15/3/2001 củaSở Tài chính.

07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Hưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” (Từ ngày 19/10/2012-19/11/2012) - NỖI ĐAU KÉO DÀIHưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” (Từ ngày 19/10/2012-19/11/2012) - NỖI ĐAU KÉO DÀI
NỖI ĐAU KÉO DÀICô Năm đặt bàn tay vuốt mái tóc xanh đen của đứa con trai út. Nhưng không phải mái tóc xanh đen của một con người hiện hữu mà chỉ là vuốt và cảm nhận nỗi đau qua tấm di ảnh đặt trên bàn thờ. Cách đây một năm, cô Năm đã trãi qua cảnh “Kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh ”.Tin tức từ người quen báo đến làm gia đình cô Năm không khỏi bàng hoàng. Người con trai út của Cô đã mãi mãi ra vì...

 

 

NỖI ĐAU KÉO DÀI

Cô Năm đặt bàn tay vuốt mái tóc xanh đen của đứa con trai út. Nhưng không phải mái tóc xanh đen của một con người hiện hữu mà chỉ là vuốt và cảm nhận nỗi đau qua tấm di ảnh đặt trên bàn thờ. Cách đây một năm, cô Năm đã trãi qua cảnh “Kẻ đầu bạc tiễn người đầu xanh ”.

Tin tức từ người quen báo đến làm gia đình cô Năm không khỏi bàng hoàng. Người con trai út của Cô đã mãi mãi ra vì tai nạn giao thông. Lòng người mẹ như chết lặng. Có ai đó như đang bóp nát trái tim Cô. Sự việc quá bất ngờ khiến Cô không thể chấp nhận. Đau lòng hơn, khi tai nạn xảy ra không do ai khác mà chính bản thân của con Cô gây ra.

Ngày hôm ấy, con Cô đi dự tiệc cưới của người bạn. Linh tính của người mẹ mách bảo, cô Năm thấy không yên lòng nên đã dặn dò con rất nhiều điều. Nào là không được uống rượu khi lái xe. Nếu có uống rượu, thấy khả năng không thể lái xe an toàn thì kêu người nhà đến đón. Nào là không được la cà quán sá. Nhưng con cô thì không nghe lời mẹ. Khi dự xong tiệc cưới, lâu ngày gặp lại bạn cũ, mọi người rủ nhau chén chú chén anh. Đến khi tàn tiệc cũng là lúc lượng men trong người đã quá cao. Trên đường về con Cô đã không làm chủ được tốc độ nên gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả không chỉ chính bản thân con Cô thiệt mạng mà còn làm cho hai người nữa cùng chung số phận.

Nói đến hoàn cảnh của hai người mà con Cô đã gây tai nạn thì ai cũng phải bùi ngùi. Họ là vợ chồng. Cuộc sống đôi vợ chồng trẻ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn khi họ sinh đứa con đầu lòng. Mặc dù khó khăn là thế nhưng họ không hề nản lòng mà luôn tìm kế mưu sinh để chăm lo cho gia đình nhỏ. Vậy mà trên đường đi làm về họ lại bất hạnh gặp tai nạn. Họ vĩnh viễn ra đi, để lại đứa con nhỏ vừa tròn hai tuổi cho ông bà nội tuổi đã cao sức đã yếu.

Gia đình cô Năm mặc dù cũng gặp nỗi đau nhưng cũng nén đau thương để bù đắp mất mát cho gia đình nạn nhân. Biết trách ai đây khi người gây tai nạn và nạn nhân đã không còn. Đau xót nhất vẫn là đứa bé. Người lớn nhìn nhau, rồi nhìn đứa nhỏ ngây thơ. Đầu quấn khăn tan nhưng chưa hiểu chuyện gì đã, đang và sẽ xảy ra đối với mình khi không còn cha mẹ. Trong đám tang không ai cầm được nước mắt với tiếng gọi bi bô “mẹ, mẹ”.

Người ra đi đã mồ yên, mã đẹp. Chỉ có người ở lại mới nhận lấy những nỗi đau vô bờ bến. Cha mẹ già phải khóc tiễn con. Con trẻ chịu cảnh mồ coi, mất đi tình cảm, sự chăm sóc của cha mẹ khi tuổi còn quá nhỏ. Rồi tương lai của em sẽ như thế nào khi sống với ông bà đã tuổi cao sức yếu. Mặc dù gia đình cô Năm đã bồi thường thiệt hại về tính mạng, nhưng nỗi đau và hậu quả của vụ tai nạn này vẫn còn mãi. Cả hạnh phúc và một tương lai của đứa trẻ đã mất đi trong phút chốc do hậu quả của tai nạn giao thông.

Câu chuyện trên chỉ là một dẫn chứng nhỏ trong tình hình tai nạn giao thông hiện nay. Trên thực tế có biết bao gia đình phải chịu cảnh đau thương khi có người thân tử vong vì tai nạn giao thông. Tai nạn giao thông không phải là thảm họa của thiên nhiên mà do chính con người gây ra. Vì vậy, con người hoàn toàn có thể hạn chế và ngăn ngừa không cho nó xảy ra. Tất cả chúng ta “Hãy lái xe bằng cả trái tim”. Dùng tình cảm của mình để cảm nhận và phân tích những hậu quả của tai nạn giao thông. Tính mạng của mỗi người là do cha mẹ sinh ra, cực khổ nuôi lớn. Vì vậy hãy biết quý giá và bảo vệ. Phải luôn mách bảo bản thân không để tình trạng này xảy ra. Hãy luôn chấp hành tốt nguyên tắc an toàn khi tham gia giao thông. Vì tai nạn giao thông không chỉ là niềm đau hiện tại mà sẽ kéo dài, âm ỉ cho đến sau này. Mỗi người hãy bảo vệ tính mạng của người xung quanh như chính tính mạng của mình.

 

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014
Ngày 14 tháng 2 năm 2014, tại tỉnh Bạc Liêu, Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long tổ chức Hội nghị phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014. Đến dự Hội nghị có ông Nguyễn Bá Yên, Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp; ông Lê Thanh Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; đại diện lãnh đạo Sở Tư ...

Ngày 14 tháng 2 năm 2014, tại tỉnh Bạc Liêu, Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long tổ chức Hội nghị phát động và ký kết giao ước thi đua năm 2014. Đến dự Hội nghị có ông Nguyễn Bá Yên, Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp; ông Lê Thanh Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp của 13 tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long; đơn vị Bến Tre có ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp.


Hội nghị đã thông qua Kế hoạch phát động phong trào thi đua và ký kết giao ước thi đua năm 2014 với các nội dung nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo 100% các văn bản quy pham pháp luật được xây dựng, thẩm định, kiểm tra đúng tiến độ;

Tập trung theo dõi thi hành pháp luật ở các lĩnh vực thuộc các nhiệm vụ, giải pháp ở địa phương về lĩnh vực kinh tế, xã hội có nhiều bức xúc như đầu tư, đất đai, xây dựng, xử phạt vi phạm hành chính….;

Triển khai và thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính; rà soát công bố kịp thời 100% thủ tục hành chính mới hoặc đã được sửa đổi, bổ sung, bảo đảm sự thống nhất áp dụng thủ tục hành chính trong toàn quốc;

Tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tập trung triển khai có hiệu quả 100% các luật đã được ban hành như: Hiến pháp năm 2013, Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Đất đai năm 2013;

Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động Trợ giúp pháp lý, đảm bảo thực hiện có hiệu quả các chương trình về hỗ trợ pháp lý cho 100% đối tượng chính sách, cho người nghèo, đảm bảo 100% xã xây dựng Nông thôn mới đều xây dựng Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý;


Nâng cao chất lượng hoạt động hành chính tư pháp, lý lịch tư pháp; tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động bổ trợ tư pháp; kiện toàn công tác tổ chức, cán bộ, phấn đấu đến cuối năm 2014, có trên 70% Ủy ban nhân dân cấp xã có 02 công chức Tư pháp - Hộ tịch và 90% công chức này có trình độ từ trung cấp luật trở lên;

Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành; đổi mới công tác thi đua, khen thưởng và tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 69 năm ngày truyền thống Ngành Tư pháp.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Bá Yên, Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, Bộ Tư pháp ghi nhận những thành tích mà Khối các cơ quan Tư pháp khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long đã đạt được trong thời gian qua và đề nghị các đơn vị cần tiếp tục tuyên truyền phổ biến, quán triệt các chủ trương về thi đua khen thưởng trong toàn Ngành; căn cứ theo từng chỉ tiêu, nội dung thi đua và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương mà cụ thể hóa và triển khai thực hiện; tiếp tục nhân rộng các điển hình tiên tiến nhằm tạo động lực thúc đẩy công chức, viên chức và người lao động trong toàn Ngành hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2014.

21/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre tổ chức thành công Hội thi tìm hiểu luật bình đẳng giới năm 2012Bến Tre tổ chức thành công Hội thi tìm hiểu luật bình đẳng giới năm 2012
 Trong những năm qua công tác bình đẳng giới tại tỉnh Bến Tre được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Chương trình hành động số 601/CTr-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2011 về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015. Trên cơ sở đó, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đã chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, S...

Trong những năm qua công tác bình đẳng giới tại tỉnh Bến Tre được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc. Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Chương trình hành động số 601/CTr-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2011 về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015. Trên cơ sở đó, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đã chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu Luật Bình đẳng giới năm 2012” vào ngày 11 tháng 10 năm 2012.


Với 3 phần thi sôi nổi, thi trắc nghiệm, hái hoa dân chủ và biểu diễn tiểu phẩm đặc sắc, cuộc thi đã huy động được hơn 60 thí sinh thuộc 8 đội dự thi của các huyện, thành phố trong tỉnh về tham gia dự thi và gần 100 lực lượng công chức, viên chức và người lao động trong tỉnh đã xem, động viên, khích lệ cho các đội dự thi, hoàn thành các nội dung thi một cách tốt nhất.


Đây là dịp để các cán bộ công chức, viên chức giao lưu, giao lưu, trao dồi kiến thức về bình đẳng giới và cũng là nơi để các đội thể hiện năng khiếu vốn có của mình. Bên cạnh đó, nhằm tuyên truyền sâu rộng cho công chức, viên chức, người lao động trong tỉnh về những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về binh đẳng giới. Kết quả, Ban Tổ chức đã trao một giải nhất cho đội Thành phố Bến Tre, giải nhì thuộc về đội dự thi của huyện Giồng Trôm, giải ba thuộc về huyện Bình Đại; 02 giải khuyến khích trao cho huyện Châu Thành và huyện Mỏ Cày Bắc./.

01/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động năm 2012  Kết quả hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động năm 2012 
Trợ giúp pháp lý (TGPL) lưu động được đánh giá là hình thức TGPL đạt hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người dân tại cơ sở. Hoạt động này thu hút được nhiều đối tượng tham gia, tại một địa điểm nhất định. Chính vì vậy, bên cạnh việc tư vấn, giải đáp thắc mắc cho từng đối tượng thông qua các vụ việc cụ thể, Trung tâm TGPL đã linh hoạt kết hợp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp l...

Trợ giúp pháp lý (TGPL) lưu động được đánh giá là hình thức TGPL đạt hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người dân tại cơ sở. Hoạt động này thu hút được nhiều đối tượng tham gia, tại một địa điểm nhất định. Chính vì vậy, bên cạnh việc tư vấn, giải đáp thắc mắc cho từng đối tượng thông qua các vụ việc cụ thể, Trung tâm TGPL đã linh hoạt kết hợp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho tất cả các đối tượng tham dự qua hình thức báo cáo chuyên đề pháp luật, phát tờ gấp pháp luật. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các quy định pháp luật về: Luật TGPL; Luật Dân sự, Bồi thường và tái định cư khi bị thu hồi đất; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân - Gia đình, Luật Giao thông đường bộ; Luật Đất đai; tội phạm vị thành niên; bạo lực học đường; phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện…. Đặc biệt, tại những địa bàn có “điểm nóng” về khiếu kiện, tranh chấp thì việc tư vấn, hướng dẫn, giải đáp pháp luật đã góp phần không nhỏ trong việc “làm dịu” tình hình, giải tỏa vướng mắc pháp luật của người dân, góp phần giữ gìn ổn định an ninh chính trị, trật tự tại địa phương.

Trong năm 2012, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh đã thực hiện 54 đợt TGPL lưu động với 2.484 lượt người dân tham gia, cấp phát 15.320 tờ gấp pháp luật, tư vấn cho 241 người (vượt 35% chỉ tiêu theo kế hoạch).


Đạt được kết quả trên là nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp; sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các ban, ngành, đoàn thể. Đặc biệt là sự phối hợp của Phòng Tư pháp các huyện, thành phố trong việc tổ chức, tập trung lực lượng tham gia trực tiếp tại các buổi TGPL lưu động, sự hỗ trợ của Hội luật gia trong việc cử Cộng tác viên nhiệt tình tham gia mà không đề nghị thù lao hay bồi dưỡng.

Tuy nhiên, bên cạnh đó TGPL lưu động gặp nhiều khó khăn, như: Kinh phí thực hiện TGPL lưu động chưa đáp ứng yêu cầu, chế độ hỗ trợ về công tác TGPL lưu động còn thấp, phương tiện đi lại còn gặp nhiều khó khăn. Một số địa phương nhận thức chưa đúng về vị trí, vai trò của hoạt động TGPL lưu động trong việc cung cấp thông tin, giải đáp thắc mắc cho người dân tại cơ sở, kịp thời giải quyết mâu thuẫn, tránh khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp... nên chưa tích cực phối hợp hoặc phối hợp chưa chặt chẽ, đồng bộ; còn có tâm lý “ngại giải trình” với người dân khi tham gia TGPL lưu động. Cá biệt, ở một số địa phương, đối tượng tham gia TGPL lưu động là cán bộ chính quyền, đoàn thể, trưởng ấp, tổ dân phố tham gia... nên chưa đạt yêu cầu đặt ra về đối tượng trợ giúp.

Phát huy những mặt tích cực, khắc phục hạn chế, năm 2013, Trung tâm TGPL tiếp tục hướng dẫn các xã, phường, thị trấn và Phòng Tư pháp các huyện, thành phố thực hiện việc đăng ký việc TGPL cho cơ sở ngay từ những tháng đầu năm. Xây dựng cơ chế phố hợp thường xuyên, hiệu quả giữa Trung tâm TGPL, các Chi nhánh tạo sự quan hệ gắn kết chặt chẽ, với chính quyền, các ban, ngành đoàn thể (Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội Luật gia…) và đội ngũ cộng tác viên để hoạt động TGPL thật sự đến với người dân./.

 

08/11/2012 12:00 SAĐã ban hành
Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai  thủ tục hành chínhQuy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai  thủ tục hành chính
Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của các cấ...

Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh.

Về trách nhiệm phối hợp công bố TTHC:

Các sở, ban, ngành tỉnh: Là cơ quan đầu mối giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh trong việc công bố, niêm yết công khai TTHC thuộc lĩnh vực phụ trách ở các cấp trên địa bàn tỉnh; phải cập nhật kịp thời các văn bản của Trung ương và địa phương có quy định về TTHC, xây dựng dự thảo Quyết định công bố TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý ngành, lĩnh vực theo đúng quy định tại Điều 7 Thông tư số 05/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công bố, niêm yết TTHC và báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát TTHC, gửi Sở Tư pháp kiểm soát chất lượng trước khi trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành. Trong hồ sơ trình Chủ tịch UBND tỉnh phải có văn bản góp ý của Sở Tư pháp; đồng thời, tờ trình ban hành Quyết định công bố phải có phần giải trình nội dung tiếp thu và không tiếp thu ý kiến của Sở Tư pháp; sau khi Quyết định được ban hành, chịu trách nhiệm gửi quyết định công bố TTHC cho Cục Kiểm soát TTHC, Sở Tư pháp (kèm tập tin điện tử), các sở, ban, ngành tỉnh, UBND cấp huyện và các cơ quan có liên quan.


Sở Tư pháp: Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm soát về hình thức, nội dung dự thảo Quyết định công bố theo đúng quy định; nhập và gửi dữ liệu, hồ sơ đề nghị công khai về các TTHC và văn bản quy định về TTHC đã được công bố lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

UBND cấp huyện: Trường hợp phát hiện TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện, cấp xã chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố hoặc công bố chưa đúng quy định, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo về UBND tỉnh (thông qua Sở Tư pháp) để chỉ đạo cơ quan chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực kiểm tra, rà soát, công bố đầy đủ, chính xác theo quy định; chịu trách nhiệm sao gửi Quyết định công bố, tổ chức việc công khai tại địa phương và các cơ quan chuyên môn cấp huyện, UBND cấp xã đối với TTHC chung áp dụng tại cấp huyện, cấp xã đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

UBND cấp xã: Đề xuất với UBND cấp huyện kiến nghị với các sở, ban, ngành liên quan trong việc rà soát, cập nhật, công bố TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp xã; thực hiện công khai TTHC theo quy định và tổ chức thực hiện nghiêm túc trình tự, TTHC đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố.

Về trách nhiệm phối hợp niêm yết công khai TTHC:

Việc niêm yết công khai TTHC và nội dung hướng dẫn thực hiện phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thực hiện theo Điều 10, Điều 11, Điều 12 Thông tư số 05/2014/TT-BTP.

Các cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ trực tiếp tiếp nhận, giải quyết TTHC phải thực hiện niêm yết công khai, kịp thời, đầy đủ TTHC thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tại trụ sở cơ quan, đơn vị.

Cơ quan, tổ chức được cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền ủy quyền thực hiện dịch vụ công niêm yết đầy đủ các TTHC được ủy quyền.

Các sở, ban, ngành tỉnh chịu trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn việc niêm yết công khai TTHC thuộc lĩnh vực quản lý trên địa bàn tỉnh. Tạo lập, duy trì đường kết nối giữa Cổng thông tin điện tử cơ quan, đơn vị (nếu có) với các TTHC thuộc lĩnh vực quản lý trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm tạo lập Mục TTHC trên Trang thông tin điện tử của tỉnh, kết nối Mục này với các TTHC thực hiện tại địa bàn tỉnh Bến Tre trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

Sở Tư pháp: Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện niêm yết công khai TTHC tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; thường xuyên theo dõi các TTHC thực hiện tại tỉnh Bến Tre được công bố trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, đảm bảo các TTHC này luôn được cập nhật kịp thời.

Đồng thời, UBND tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì theo dõi việc phối hợp thực hiện Quy chế công bố và niêm yết công khai TTHC trên địa bàn tỉnh.

31/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về hình thức xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranhQuy định về hình thức xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh
Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2014. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định này thì đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền...

Ngày 21 tháng 7 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2014. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định này thì đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung: Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh bao gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

Ngoài các hình thức xử phạt trên, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả sau: Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại phần doanh nghiệp đã mua; buộc cải chính công khai; buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh; buộc sử dụng hoặc bán lại các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp đã mua nhưng không sử dụng; buộc loại bỏ những biện pháp ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; buộc khôi phục các điều kiện phát triển kỹ thuật, công nghệ mà doanh nghiệp đã cản trở; buộc loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt cho khách hàng; buộc khôi phục lại các điều khoản hợp đồng đã thay đổi mà không có lý do chính đáng; buộc khôi phục lại hợp đồng đã hủy bỏ mà không có lý do chính đáng.

05/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014Tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014
Nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trong cán bộ, nhân dân và người Việt Nam ở nước ngoài; tạo sự thống nhất, đồng thuận xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; ngày 30 tháng 7 năm ...

Nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trong cán bộ, nhân dân và người Việt Nam ở nước ngoài; tạo sự thống nhất, đồng thuận xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; ngày 30 tháng 7 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3525/KH-UBND tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển cần được tổ chức sâu rộng, bảm bảo tính chủ động, nhạy bén, chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, trên cơ sở đó khẳng định rõ quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam theo quy định của luật pháp quốc tế. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị trong phổ biến, giáo dục pháp luật về biển; gắn nội dung phổ biến pháp luật về biển với việc tuyên truyền, phổ biến về vị trí, vai trò, tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuyên truyền những cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và thực tiễn khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông; tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ, đoàn kết quốc tế trong việc giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia có biển, lên án các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế về biển; phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Nội dung phổ biến gồm những nội dung cơ bản của các văn bản pháp luật sau: Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982; Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); Luật Biển Việt Nam; Luật Biên giới quốc gia; Luật An ninh quốc gia; Bộ luật Hàng hải Việt Nam; Luật Thủy sản; Luật Dầu khí.

Hình thức và biện pháp phổ biến: Tăng thời lượng, tin, bài tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến trên Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, các báo điện tử, cổng thông tin, trang thông tin điện tử, bản tin chuyên ngành, hệ thống truyền thanh cơ sở, truyền thanh lưu động, tuyên truyền thông qua các chương trình phát thanh. Tổ chức tọa đàm, trao đổi, sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề về các vấn đề pháp lý liên quan đến biển tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường học, ấp, khu phố, tổ nhân dân tự quản, cụm dân cư. Tổ chức hội diễn văn nghệ, thông tin lưu động có lồng ghép tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển, tổ chức hội thi tìm hiểu pháp luật về biển, chú trọng tổ chức thi dưới hình thức sân khấu hóa tại các xã biển, hoặc tổ chức kết hợp với  hoạt động đoàn, hội, đội, hoạt động tình nguyện của thanh thiếu niên. Xây dựng pano, áp phích, phát các tài liệu, tờ gấp, tờ rơi, chú trọng tổ chức thực hiện tại các xã biển, tại các điểm du lịch biển, các địa điểm công cộng. Kết hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển thông qua các cuộc giao lưu, kết nghĩa, tặng quà cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên các vùng biển, ven biển.

Thời gian thực hiện: đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển được thực hiện từ ngày 01 tháng 8 đến ngày 15 tháng 10 năm 2014.

Theo Kế hoạch Uỷ ban nhân dân tỉnh đã phân công trách nhiệm cụ thể cho Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình hướng dẫn các tổ chức thành viên, nhất là đối với các tổ chức chính trị-xã hội, Hội Luật gia tỉnh, Đoàn Luật sư tỉnh; đồng thời quan tâm chỉ đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp huyện và cấp xã tổ chức thực hiện và phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng, các văn bản pháp luật về biển đến đoàn viên, hội viên và nhân dân.

04/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sởHội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở
Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hà...

Thực hiện Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở; qua trao đổi thống nhất với Hội Luật gia tỉnh Bến Tre về cử hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; ngày 28 tháng 7 năm 2014, Sở Tư pháp ban hành Công văn số 1322/STP-PB đề nghị Phòng Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Luật gia cùng cấp triển khai thực hiện một số nội dung sau:

Triển khai quán triệt Công văn số 06/CV-MTTQ-BTT ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc yêu cầu Hội Luật gia tham gia hoà giải ở cơ sở, Công văn số 22/CV-MTTQ-BTT ngày 22 tháng 7 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre về việc Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở và Công văn số 23/CV-HLG ngày 17 tháng 7 năm 2014 của Hội Luật gia tỉnh về việc tham gia hòa giải ở cơ sở đến cán bộ, công chức Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch, các tổ hòa giải ở cơ sở về mời hội viên Hội Luật gia tham gia hòa giải ở cơ sở.

Tổ chức trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp giữa Phòng Tư pháp với Hội Luật gia các huyện, thành phố về mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở.

Tham mưu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố có công văn chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn triển khai đến tổ hoà giải, khi tổ chức hoà giải mời hội viên Hội Luật gia tham gia hoà giải (theo đúng quy định Điều 19 Luật Hoà giải ở cơ sở).

Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ thông báo đến Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn có liên quan về địa chỉ của huyện, thành hội, chi hội, hội viên; trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường, thị trấn thông báo đến tổ hòa giải để tổ hòa giải chủ động liên hệ trước với chi hội, hội viên Hội Luật gia để trao đổi, thống nhất biện pháp phối hợp.

Bên cạnh đó, Thường trực Hội Luật gia các huyện, thành phố sẽ tiếp nhận và tư vấn miễn phí cho đương sự đối với những vụ việc tổ hòa giải đang thụ lý để chuẩn bị hòa giải, nếu đương sự có yêu cầu và được tổ hòa giải giới thiệu đến.

Thời gian bắt đầu triển khai mời hội viên Hội Luật gia tham gia công tác hoà giải ở cơ sở: tháng 9/2014.

Hàng năm, phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho hội viên Hội Luật gia, có thể lồng ghép với tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải cho Hòa giải viên.

Định kỳ 6 tháng và hàng năm phối hợp Hội Luật gia các huyện, thành phố tổ chức sơ kết, đánh giá những mặt làm được, những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân để rút kinh nghiệm; qua đó đề xuất những giải pháp để hoạt động phối hợp công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian tới đạt kết quả cao hơn và báo cáo kết quả công tác phối hợp về Sở Tư pháp (có thể lồng ghép trong báo cáo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng và hàng năm).

04/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre triển khai thực hiện Quyết định số 312/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạmBến Tre triển khai thực hiện Quyết định số 312/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm
Để tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm; tập trung nâng cao hiệu quả các mặt công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm tham nhũng; làm giảm các loại tội phạm đang gia tăng như tội giết người, cố ý gây thương tích do mâu thuẫn cá nhân, tội có liên quan đến chiếm đoạt tài sản, tội phạm ma túy; không để xảy ra tình trạng tội phạm lộng...

Để tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm; tập trung nâng cao hiệu quả các mặt công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm tham nhũng; làm giảm các loại tội phạm đang gia tăng như tội giết người, cố ý gây thương tích do mâu thuẫn cá nhân, tội có liên quan đến chiếm đoạt tài sản, tội phạm ma túy; không để xảy ra tình trạng tội phạm lộng hành, các trường hợp bao che tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”; không để hình thành các tụ điểm cờ bạc, ma túy, mại dâm gây bức xúc trong nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hình sự, nhất là chất lượng công tác quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân, công tác hòa nhập cộng đồng, giảm tỷ lệ tái nghiện; tạo chuyển biến rõ rệt trong việc đảm bảo an ninh, trật tự.

Để xác định rõ giải pháp, phân công trách nhiệm cụ thể và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành, đoàn thể, địa phương; Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 2956/KH-UBND thực hiện Quyết định số 312/QĐ-TTg ngày 28 tháng 02 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình thực hiện Nghị quyết số 63 của Quốc hội khóa XIII về “Tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm” trên địa bàn tỉnh Bến Tre; nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, tăng cường các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ kết hợp chặt chẽ với phòng ngừa xã hội; đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; chú trọng giáo dục đạo đức trong nhà trường, gia đình và xã hội; tăng cường giáo dục đạo đức công vụ gắn với công tác đào tạo cán bộ, công chức, viên chức.

Ảnh minh họa

Triển khai thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản theo Chỉ thị số 33-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai, kiểm soát việc kê khai tài sản và Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2013 về minh bạch tài sản thu nhập.

Nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tại cơ sở, địa bàn dân cư, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, tập trung phát hiện, triệt phá các tổ chức, băng, nhóm tội phạm; truy bắt, vận động đối tượng truy nã ra đầu thú; xóa các tụ điểm phức tạp về trật tự, an toàn xã hội.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm về kinh tế, tham nhũng, thu hồi tiền và tài sản bị chiếm đoạt.

Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, bảo đảm mọi tố giác và tin báo về tội phạm của công dân, cơ quan, tổ chức đều được tiếp nhận và xử lý kịp thời, đúng quy định pháp luật. Thực hiện có hiệu quả các biện pháp khuyến khích và bảo vệ người tố giác tội phạm, tố cáo tham nhũng; xử lý nghiêm các hành vi trả thù người tố giác tội phạm, tố cáo tham nhũng hoặc lợi dụng khiếu nại, tố cáo để kích động gây rối an ninh, trật tự.

Ảnh: Hội đồng xét xử

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, tập trung vào tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, tham nhũng, ma túy, môi trường, sử dụng công nghệ cao, các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Cơ quan điều tra và điều tra viên phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều tra tội phạm, không để xảy ra việc bức cung, nhục hình; thu thập đầy đủ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội.

Phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra với thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, giám định tài chính, kế toán…; tập trung phát hiện điều tra, xử lý tội phạm, bảo đảm thời hạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật, nhất là các vụ án lớn về kinh tế, chức vụ và tham nhũng; kịp thời xác minh, truy tìm và thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt.

Chấp hành nghiêm pháp luật trong công tác bắt, giam giữ. Bảo đảm việc lập hồ sơ vụ án hình sự phải khách quan, toàn diện theo đúng quy định của pháp luật.

Nâng cao chất lượng quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân, gắn với định hướng nghề, dạy nghề để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi  cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Phối hợp chặt chẽ Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, bảo đảm các trường hợp được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, đặc xá đúng mục đích, yêu cầu, đúng đối tượng theo quy định của pháp luật. Ngăn chặn, xử lý nghiêm việc thẩm lậu ma túy, vật cấm đối với bị can, bị cáo, phạm nhân vào các cơ sở giam, giữ.

Tăng cường và mở rộng phối hợp phòng, chống tội phạm với các tỉnh lân cận và trong khu vực; tích cực phối hợp đấu tranh với các tổ chức, đường dây tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm quốc tế có liên quan đến địa bàn tỉnh Bến Tre.

31/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn để bảo vệ chính mìnhĐội mũ bảo hiểm đạt chuẩn để bảo vệ chính mình
Mũ bảo hiểm như thế nào là đạt chuẩn? Đây là vấn đề mà người dân đang quan tâm và các ngành chức năng đang vào cuộc. Hiện nay trên thị trường, mũ bảo hiểm được bày bán ở rất nhiều nơi, từ những quầy hàng hay trên các lề đường, với nhiều kiểu dáng đa dạng, màu sắc đủ loại để cho người sử dụng có thể lựa chọn. Nhưng thực tế hiện nay, đa số người dân còn ít hiểu biết mũ bảo hiểm như thế nào là đạt...

Mũ bảo hiểm như thế nào là đạt chuẩn? Đây là vấn đề mà người dân đang quan tâm và các ngành chức năng đang vào cuộc. Hiện nay trên thị trường, mũ bảo hiểm được bày bán ở rất nhiều nơi, từ những quầy hàng hay trên các lề đường, với nhiều kiểu dáng đa dạng, màu sắc đủ loại để cho người sử dụng có thể lựa chọn. Nhưng thực tế hiện nay, đa số người dân còn ít hiểu biết mũ bảo hiểm như thế nào là đạt chuẩn và có chất lượng. Theo tâm lý của một số người thì việc đội mũ bảo hiểm sao cho đẹp và hợp thời trang là được, chưa quan tâm đến chất lượng mũ bảo hiểm mình đang sử dụng, hay không ít trường hợp người tham gia giao thông buộc phải đội mũ bảo hiểm là để đối phó với cơ quan chức năng mà không nghĩ là đội mũ bảo hiểm là để đảm bảo an toàn, bảo vệ chính mình và tránh được những hậu quả nghiêm trọng do tai nạn giao thông gây ra.

Mũ bảo hiểm đạt chuẩn phải có đủ các tính năng sau: Về cấu tạo mũ bảo hiểm phải có đủ 3 bộ phận gồm vỏ mũ, lớp đệm hấp thụ xung động bên trong vỏ mũ và quai đeo; mũ phải có chứng nhận hợp quy, được gắn dấu hợp quy CR, ghi nhãn hàng hoá theo quy định của pháp luật. Với những tiêu chuẩn cơ bản như trên thì đó mới có thể được xem là mũ bảo hiểm đạt chuẩn, và mới có thể bảo vệ được người đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, số lượng người đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy hiện nay đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn thì không được nhiều, còn một phần đông người tham gia giao thông còn thờ ơ, không quan tâm đến chất lượng mũ bảo hiểm mình đang sử dụng, chính vì  sự thờ ơ, không quan tâm đó đã dẫn đến không ít những hậu quả nghiêm trọng khi xảy ra tai nạn giao thông.

Theo qui định tại Khoản 3, Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, thì phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với  hành vi người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe máy hoặc đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe máy không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ. Đối với hành vi đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn chưa bị xử phạt, nhưng trước tình hình trật tự an toàn giao thông diễn ra phức tạp, những mối nguy hiểm, những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra do tai nạn giao thông, người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe đạp máy khi tham gia giao thông hãy đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn, đừng để những đau thương, mất mát xảy ra do đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn.

30/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật Tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật
Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 thá...

Ngày 27 tháng 6 năm 2014, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 4793/VPCP-PL về việc tạm dừng đánh giá tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg. Theo Công văn này, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến tạm dừng triển khai việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (các nội dung khác của Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg vẫn tiếp tục triển khai thi hành).

Bộ Tư pháp tổ chức triển khai làm thử việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng ở 3 cấp đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg trong 2 năm, từ năm 2014 đến năm 2015, tại các tỉnh: Quảng Bình, Thái Bình, Điện Biên, Cà Mau và thành phố Hồ Chí Minh để Bộ có điều kiện tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quyết định này. Căn cứ vào kết quả làm thử, trong quý II năm 2016, Bộ Tư pháp tổng kết, đánh giá, báo cáo, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg cho phù hợp.

Đồng thời, để Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ được triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả nước, ngày 15 tháng 7 năm 2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 3120/BTP-PBGDPL về việc hướng dẫn thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tiếp cận pháp luật. Theo đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao liên quan đến xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6 Điều 12 của Quy định và hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn số 7730/BTP-PBGDPL ngày 18/11/2013 về việc triển khai Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (trừ điểm 4 và điểm 5); đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở năm 2015 ở địa phương theo điểm 1 Công văn số 2961/BTP-PBGDPL ngày 03/7/2014 của Bộ Tư pháp về xây dựng dự toán ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở và hòa giải ở cơ sở năm 2015.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trừ 5 tỉnh, thành phố được lựa chọn làm thử) báo cáo kết quả thực hiện Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg năm 2014 cùng với báo cáo chung về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm và gửi về Bộ Tư pháp (qua Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật). Nội dung báo cáo cần nêu rõ các hoạt động đã được thực hiện để triển khai thi hành Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg và kiến nghị, đề xuất cụ thể các giải pháp để triển khai thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Báo cáo của địa phương cần nêu rõ những khó khăn, vướng mắc, bất cập, những vấn đề mới phát sinh, nhất là tính khả thi của các chỉ tiêu, tiêu chí; các giải pháp cải thiện điều kiện tiếp cận pháp luật tại địa phương; sáng kiến, kinh nghiệm trong xây dựng địa phương tiếp cận pháp luật.

29/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre
   Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, t...
Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo văn bản; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Hoạt động thẩm định VBQPPL được thực hiện theo Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND; Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND và các văn bản có liên quan. Qua thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thẩm định VBQPPL của tỉnh còn một số khó khăn, vướng mắc.

1. Quy định của pháp luật về công tác thẩm định – Thực tiễn áp dụng

Về đối tượng thẩm định

Theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND thì Sở Tư pháp có chức năng thẩm định dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình và VBQPPL của UBND tỉnh. Tại Nghị định số 91/2006/NĐ-CP đã hướng dẫn các yếu tố để xác định một VBQPPL đồng thời liệt kê một số văn bản không phải là VBQPPL. Tuy nhiên, trên thực tế để xác định đâu là VBQPPL, đâu không phải là VBQPPL vẫn chưa được thống nhất, còn nhiều ý kiến khác nhau bởi chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là “quy tắc xử sự chung”. Điều đó dẫn đến việc nhận thức để phân định văn bản có phải là VBQPPL hay không; trong nhiều trường hợp, không có sự thống nhất giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định. Ví dụ: Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước, Nghị quyết thông qua quy hoạch … là VBQPPL hay không phải là VBQPPL … Như vậy, do chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là VBQPPPL, đâu không phải là VBQPPL nên đối tượng thẩm định trong một số trường hợp là không xác định được.

Về thời hạn thẩm định

Theo quy định của Luật thì chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan tư pháp để thẩm định. Đồng thời, chậm nhất là bảy ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan soạn thảo. Luật quy định ở đây chậm nhất 15 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp đây là thời gian tối thiểu để gửi văn bản đến cơ quan thẩm định. Trường hợp, cơ quan soạn thảo gửi sớm hơn thời gian này, cơ quan thẩm định sẽ có thêm thời gian để thu thập, nghiên cứu thêm các tài liệu liên quan đến dự thảo thẩm định, trường hợp gửi muộn hơn thì cơ quan thẩm định không đủ thời gian để nghiên cứu làm ảnh hưởng đến chất lượng văn bản. Như vậy, Luật chưa quy định cụ thể thời hạn thẩm định mà chỉ quy định thời hạn ít nhất được quy định trong Luật là 08 ngày. Thực tế, áp dụng quy định của Luật hầu hết việc gửi dự thảo văn bản muộn hơn so với quy định (có trường hợp yêu cầu thẩm định trong một buổi), gây không ít khó khăn cho cơ quan tư pháp trong quá trình thẩm định đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng văn bản sau khi ban hành của tỉnh.

Về giá trị pháp lý của văn bản thẩm định

Luật và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP quy định thẩm định là một khâu bắt buộc trong quy trình soạn thảo và ban hành VBQPPL của tỉnh, không có văn bản thẩm định thì HĐND, UBND sẽ không xem xét đối với dự thảo văn bản đó. Tuy nhiên, quy định của pháp luật cũng chỉ dừng ở đó mà không có quy định cụ thể giá trị pháp lý của văn bản thẩm định. Văn bản thẩm định chỉ được coi như một kênh thông tin, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định, chỉnh lý dự thảo văn bản, trường hợp không tiếp thu thì phải giải trình. Vì vậy, đối với văn bản thẩm định cơ quan soạn thảo có thể tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc không tiếp thu ý kiến thẩm định.

Về việc thực hiện thẩm định

Luật chỉ quy định cơ quan tư pháp cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh. Thực tế, việc thẩm định VBQPPL sẽ được phân công cho một công chức để thực hiện thẩm định, công chức làm việc độc lập, nghiên cứu và dự thảo Báo cáo thẩm định trình lãnh đạo Phòng Xây dựng văn bản xem xét. Sau khi lãnh đạo Phòng duyệt, trình lãnh đạo Sở xem xét và ký ban hành. Thiết nghĩ công tác thẩm định có vai trò quan trọng, đảm bảo văn bản VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh sau khi ban hành phù hợp với quy định của pháp luật; nhưng việc thực hiện văn bản thẩm định lại do một cá nhân nghiên cứu, khó tránh khỏi những sai sót do trình độ năng lực còn hạn chế. Mặt khác, hoạt động thẩm định VBQPPL có liên quan đến nhiều lĩnh vực như: đất đai, xây dựng, phí, lệ phí, …trong khi đó công chức thực hiện chức năng thẩm định chỉ học cử nhân luật. Do đó, đối với việc thẩm định những văn bản chuyên ngành cũng khó có thể thực hiện tốt.

2. Hoàn thiện pháp luật về công tác thẩm định

Để nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của tỉnh, nhất là để hoàn thiện công tác thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh trong thời gian tới cần:

Thứ nhất, quy định cụ thể đối tượng thẩm định văn bản là QPPL. Trên cơ sở đó có tiêu chí để phân biệt đâu là VBQPPL đâu không phải là VBQPPL.

Thứ hai, quy định giá trị pháp lý của văn bản thẩm định, có giá trị bắt buộc trong văn bản Luật. Cơ quan yêu cầu thẩm định có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định.

Thứ ba, quy định bắt buộc về việc thành lập Tổ thẩm định khi thẩm định đối với những VBQPPL phức tạp, có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực trong văn bản Luật hoặc dưới luật. Như vậy, mới có thể hạn chế thấp nhất việc bỏ sót những nội dung không phù hợp với quy định trong dự thảo văn bản, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng văn bản thẩm định.

Thứ tư, quy định thời hạn thẩm định theo hướng gia tăng thời gian thẩm định. Thời hạn thẩm định sẽ được tính kể từ ngày cơ quan tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.


04/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Văn phòng công chứng Nguyễn Rậm khai trương và đi vào hoạt độngVăn phòng công chứng Nguyễn Rậm khai trương và đi vào hoạt động
Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của ...

Sáng ngày 07 tháng 7 năm 2014, Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm đã tổ chức Lễ khai trương và đi vào hoạt động tại số 13, tỉnh lộ 885, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đến tham dự Lễ khai trương có lãnh đạo Sở Tư pháp, đại diện các Phòng chuyên môn của Sở Tư pháp; lãnh đạo Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri; đại diện các phòng, ban chuyên môn của huyện Ba Tri và các đại biểu đại diện Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn huyện.

Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm thành lập và đi vào hoạt động theo Quyết định số 1115/QĐ-UBND ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc cho phép thành lập Văn phòng công chứng Nguyễn Rậm và Sở Tư pháp đã cấp Giấy đăng ký hoạt động số 10/TP-ĐKHĐ ngày 18 tháng 6 năm 2014. Bước đầu đi vào hoạt động Văn phòng Công chứng Nguyễn Rậm có 04 nhân viên và công chứng viên.

Đây là Văn phòng công chứng thứ 02 (hai) trên địa bàn huyện Ba Tri đi vào hoạt động và huyện Ba Tri là huyện thứ hai sau thành phố Bến Tre hoàn thành xong giai đoạn II (2015-2020) của Quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

16/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn