Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Bổ trợ tư pháp
​DANH SACH CÔNG CHỨNG VIÊN ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TRE.docx 
 
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNGTRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE(Đến tháng 11 năm 2017)STTTên Tổ chức hành nghề công chứngTrưởng Văn phòng/Phòng công chứngCông chứng viên hợp danh/làm việc theo hợp đồngĐịa điểm đặt trụ sởĐiện Thoại01Phòng Công chứng số 1 - Sở Tư pháp Bến TreNguyễn Văn Tứ- Lê Thị Thanh Trang- Huỳnh Đoàn Ngọc Hân17 Đường CMT8, phường 3, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre0275... 
 
1. ​Quyết định số 74/QĐ-STP ngày 29/8/2017 của Sở Tư pháp về việc thu hồi thẻ công chứng viên của ông Nguyễn Văn Biên2. ​Quyết định số 75/QĐ-STP ngày 29/8/2017 của Sở Tư pháp về việc thu hồi thẻ công chứng viên của ông Huỳnh Thanh Tân 
 
​Quyết định số 62/QĐ-STP ngày 07/8/2017 của Sở Tư pháp 
 
TỔ CHỨC BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE(Tính đến tháng 6 năm 2017)TTTên Tổ chức bán đấu giá tài sảnGiám đốc Tổ chức bán đấu giá Giấy chứng nhận Địa điểm đặt trụ sởĐiện ThoạiGhi chú01Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản – Sở Tư pháp Bến TreDương Thị Nhanh Quyết định số 2021/QĐ-UB ngày 24 tháng 11 năm 1997Số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre,... 
 
​DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE (Đến tháng 6 năm 2017)STTHọ và tên Nơi hành nghềChứng chỉ hành nghềĐiện Thoại 01Dương Thị Nhanh Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre224/TP-ĐGV02/11/200602753.823.66702Nguyễn Thị Như NgọcTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre397/TP/ĐG-CCHN02753.823.66703Nguyễn Thị Bích Thủy... 
 
    DANH SÁCH NGƯỜI TẬP SỰ HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG TẠI BẾN TRE 
 
​ Thông báo về việc thu, nộp phí, lệ phí trong lĩnh vực đấu giá tài sản, trọng tài thương mại, thừa phát lại và quản lý, thanh lý tài sản (áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2017) – Kèm nội dung thông báo Công văn số 498/BTP-BTTP. 
 
Quyết định số 05/QĐ-STP và 06/QĐ-STP ngày 06/02/2017 của Sở Tư pháp 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊADANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏGhi chú
01Nghị định132/2015/NĐ-CP25/12/2015Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa01/7/2016  
16/02/2016 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 369 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình gắn liền trên đất (không thể di dời được) của và bà Nguyễn Thị Sáng, cư ngụ tại: ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thửa 1257, tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 667 m2;

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665096 do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam cấp ngày 20/02/2013, số vào sổ cấp GCN: CH00648.

2. Quyền sử dụng đất thửa 860 tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 300m2;

- Loại đất: Đất ở tại nông thôn;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665095 cấp ngày 20/02/2013 tại Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, số vào sổ CH00647.

3. Tài sản, công trình (không thể di dời được) gắn liền trên đất: nhà ở, nhà trọ cho thuê.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: Ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, nhà ở, nhà trọ cho thuê; tài sản, công trình gắn liền trên đất của và bà Nguyễn Thị Sáng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 803.700.000đ (Tám trăm lẻ ba triệu, bảy trăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 160.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 18/01/2018, tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre), (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 375 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ 04 hạng mục (nhà điều hành, hồ nước, nhà vệ sinh, hàng rào) thuộc Trạm cấp nước Tân Thạch, huyện Châu Thành, cụ thể như sau:

1. Nhà điều hành Trạm Tân Thạch: Kết cấu: móng cột pêtông cốt thép, tường gạch, nền lát gạch bông, mái tole tráng kẽm, diện tích 77,28 m2. Tỷ lệ còn lại 20 %.

2. Hồ nước: Kết cấu: thành, nắp pêtông cốt thép, thể tích 68,88 m3. Tỷ lệ còn lại 10 %.

3. Nhà vệ sinh: Kết cấu: nền láng xi măng, tường gạch, mái fbro xi măng, không có cửa ra vào, diện tích 1,8 m2. Tỷ lệ còn lại 10 %.

4. Hàng rào:

a) Cổng chính: Kết cấu: trụ sơn nước cửa cổng bằng song sắt, diện tích 5m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

b) Hàng rào chính: Kết cấu: trụ đà pêtông cốt thép, tường xây gạch, phía trên tường lắp khung thép hình, diện tích 26 m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

c) Hàng rào phụ 1: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo lưới B40, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 10%.

d) Hàng rào phụ 2: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo dây chì gai, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 0%.

- Tài sản tại: Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ cho lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre.

            - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo cho Trạm cấp nước Tân Thạch, người dân qua lại và khu làm việc xung quanh.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3+4): 49.785.000đ (Bốn mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi lăm ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 9.900.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc) Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre..

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 27/12/2017 (Thứ tư). 


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 379 (Kèm QC)

  Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp), địa chỉ tại: 393C, khu phố 6, phường  Khú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 360,0 m2, đất ở tại đô thị;

- Thuộc thửa đất số 71; tờ bản đồ số 47.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

2. Tài sản trên đất (nhà ở):

- Loại nhà: Nhà ở riêng lẻ, nhà ở cấp 3, diện tích xây dựng 91,3 m2, diện tích sàn 299,3 m2.

- Tài sản tọa lạc: Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

* Lưu ý: Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên và  Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền hoặc người mua có yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạt, trường hợp diện tích đất thực tế tăng thì người mua được hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp) do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre – Phòng Giao dịch Mỏ Cày Nam xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

            - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 4.000.000.000 đ (Bốn tỷ đồng).

   - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

- Khoản tiền đặt trước là 800.000.000đ/hồ sơ,  nộp chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

      - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc: xã Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ ngày 29/12/2017.

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 - 0275.3512081 – 0275.3512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

15/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2017. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp và các Phó Giám đốc Sở dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố, Chủ tịch Hội Công chứng, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh dự, đưa tin.

so-ket-6-thang2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe Báo cáo sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017; tham gia thảo luận, trao đổi, đề xuất các giải pháp các lĩnh vực của công tác tư pháp như: Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật; hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp...

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp biểu dương kết quả đạt được của ngành Tư pháp tỉnh trong 6 tháng đầu năm, yêu cầu những tháng còn lại trong năm 2017, toàn ngành Tư pháp Bến Tre tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật góp phần đảm bảo tính ổn định, đồng bộ, minh bạch, khả thi của pháp luật. Phát huy vai trò của ngành Tư pháp trong việc theo dõi, đôn đốc, kiểm soát chặt chẽ tình hình soạn thảo, ban hành văn bản tại địa phương.

so-ket-6-thang3.jpg

Thứ hai, đối với những luật đã được thông qua (gồm 12 luật và 12 nghị quyết), trong đó có 3 luật liên quan đến Ngành (Luật Hình sự sửa đổi; Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi và Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước sửa đổi) căn cứ hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương, các phòng, trung tâm thuộc Sở có liên quan, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố khẩn trương tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp có kế hoạch tổ chức thực hiện. Tập trung tổ chức Ngày Pháp luật định kỳ và Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017 đảm bảo thiết thực, hiệu quả. Tổ chức Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi cấp tỉnh năm 2017 đạt kết quả tốt, đúng với yêu cầu, thời gian, kế hoạch đã đề ra. Khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021 và các Đề án phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp tình hình thực tế địa phương. Kịp thời tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả nhiệm vụ được giao tại Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (ban hành kèm theo Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ) và nhiệm vụ “Đánh giá, công nhận, xây dựng xã tiếp cận pháp luật; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân” theo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020.

Thứ ba, tiếp tục triển khai thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trọng tâm năm 2017 và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp; trong đó, tập trung vào theo dõi tình hình thi hành các quy định của pháp luật về tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong việc tiếp cận, khai thác các nguồn lực về vốn, khoa học kỹ thuật, đất đai, lao động

so-ket-6-thang1.jpg            

Thứ tư, tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chủ động hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở trong quá trình đăng ký hộ tịch. Sớm khắc phục tình trạng lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực khi thực hiện thủ tục hành chính theo Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính đảm bảo giải quyết đúng quy định pháp luật.

Thứ năm, Phòng Tư pháp tiếp tục chỉ đạo Công chức Tư pháp-Hộ tịch cấp xã theo nhiệm vụ của mình, phát hiện đối tượng, giới thiệu đối tượng trợ giúp pháp lý đến với hoạt động trợ giúp pháp lý, để đảm bảo quyền lợi cho đối tượng được nhà nước bảo trợ về mặt tư pháp. Nhất là qua hoạt động hòa giải ở cơ sở và hòa giải tranh chấp đất đai ở UBND cấp xã khi phát hiện đối tượng nên giới thiệu về quyền được trợ giúp pháp lý để đối tượng biết mà yêu cầu.

Thứ sáu, trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp tập trung triển khai thi hành có hiệu quả các quy định của Luật Đấu giá tài sản; thực hiện thiết thực, đồng bộ các đề án, văn bản trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp, trong đó chú trọng công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực luật sư, công chứng, bán đấu giá tài sản.

19/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
Bến Tre nghiêm túc triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt NamBến Tre nghiêm túc triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 03 tháng 01 năm 2014 của Ban Bí thư, Kế hoạch của Ủy ban thường vụ Quốc hội và của Chính phủ về tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp; Bến Tre đã tổ chức triển khai nghiêm túc Hiến pháp năm 2013 trên địa bàn tỉnh, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kịp thời, hiệu quả và tiết kiệm.

Thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 03 tháng 01 năm 2014 của Ban Bí thư, Kế hoạch của Ủy ban thường vụ Quốc hội và của Chính phủ về tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp; Bến Tre đã tổ chức triển khai nghiêm túc Hiến pháp năm 2013 trên địa bàn tỉnh, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kịp thời, hiệu quả và tiết kiệm.

Theo đó, ngày 16 tháng 4 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp năm 2013 cho gần 600 đại biểu là cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện, cán bộ pháp chế của các sở, ngành, doanh nghiệp; báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ trì Hội nghị. Hội nghị vinh dự đón tiếp Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thế Liên, Thứ trưởng Bộ Tư pháp đến dự và giới thiệu nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp.

Sở Tư pháp đã chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức rà soát, lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với quy định của Hiến pháp do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành.


Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố cũng đã ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp trong ngành, địa phương mình. Đến nay, hầu hết các sở, ban, ngành tỉnh đã tổ chức Hội nghị giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; 7/9 huyện, thành phố, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố cũng đã tổ chức giới thiệu, phổ biến nội dung, tinh thần, ý nghĩa của Hiến pháp cho cán bộ chủ chốt cấp huyện, cấp xã. Đồng thời, các ngành, địa phương cũng đã phối hợp triển khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, để tuyên truyền rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức như: xây dựng các chuyên mục truyền hình, chương trình phát thanh tuyên truyền Hiến pháp phát trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh cấp huyện, cấp xã; đăng tải Hiến pháp và tài liệu giới thiệu về Hiến pháp trên Báo Đồng Khởi, Trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp, Bản tin của cơ quan, đơn vị; tổ chức giới thiệu, phổ biến nội dung của Hiến pháp.

Nhìn chung, kết quả triển khai thi hành Hiến pháp trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng; sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ, tập trung, thống nhất của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, các ngành, địa phương.

Trong thời gian tới, các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện thành phố sẽ tiếp tục tổ chức triển khai phổ biến sâu rộng ý nghĩa, nội dung, điểm mới của Hiến pháp đến cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người lao động và nhân dân; góp phần nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành Hiến pháp; bảo đảm Hiến pháp được tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 30/5/2014Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 30/5/2014

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 157/2014

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước. Tài sản cụ thể như sau:

1. Lô số 01: 69 chiếc xe mô tô 02 bánh các loại được phép đăng ký lại, giá khởi điểm: 69.000.000 đ (sáu mươi chín triệu đồng).

2. Lô số 02: 28 chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng phế liệu, giá khởi điểm: 14.000.000 đ (mười bốn triệu đồng).

* Tài sản bán theo từng lô (Có bảng kê chi tiết kèm theo).

- Tài sản tọa lạc tại: Kho Công an huyện Mỏ Cày Nam – thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không xác định được chủ sỡ hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp của Công an huyện Mỏ Cày Nam bán sung công quỹ nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 83.000.000 đ (tám mươi ba triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/6/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 12/6/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ (lô số 01), 50.000 đ/hồ sơ (lô số 02),

* Tiền đặt trước: 10.000.000 đ/hồ sơ (lô số 01), 2.000.000 đ (lô số 02).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 163/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá thanh lý Ponton 150 tấn của Trung tâm Quản lý phà và Bến xe tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Tên phương tiện PONTON 150 tấn; Số đăng ký: BTr-0027, công dụng: phao nổi. Năm và nơi đóng: 1989 tại Xí nghiệp cơ khí 1/5 Tiền Giang. Chiều dài 20m; chiều rộng 16m; chiều cao mạn 1,75m; mạn khô 0,83m. Bán dưới dạng phế liệu.

- Hiện trạng: Poton bị chìm.

* Lưu ý: Chỉ bán Ponton, không bán các hạn mục khác và tài sản bán đấu giá thành, khi nhận tài sản người mua sẽ kết hợp với Đoạn Quản lý giao thông để tháo dỡ cùng lúc, và chi phí tháo dỡ bên mua chịu.

- Tài sản tọa lạc tại: Bến phà Hàm Luông cũ, địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Quản lý phà và Bến xe tỉnh Bến Tre, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 45.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/6/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 12/6/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 103/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là các thửa đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

- Diện tích đất được sử dụng: 1.100,7 m2;

- Diện tích lộ giới 387,7 m2;

- Diện tích tính vào giá bán 713 m2;

- Loại đất: ONT;

-  Tài sản tọa lạc tại: xã Phước Tuy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 784.300.000đ (bảy trăm tám mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng).

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ ngày 02/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/7/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sàn từ 7 giờ 30 phút ngày 01/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 07/7/2014 tại Hội trường Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 người/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 80.000.000đ/01 người/01 hồ sơ.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 150/2014

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi gắn liền trên đất của ông Dương Văn Hy và bà Nguyễn Thị Nguyệt, cư ngụ tại: ấp Phú Hòa, xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

1) Về đất thuộc thửa số 174 và thửa số 145, tờ bản đồ số 19;

- Diện tích: 1.836,9 m2 (trong đó 300 m2 đất ONT và 1.536,9 m2 đất CLN);

- Diện tích 75,2 m2; loại đất CLN;

2) Công trình xây dựng;

a) nhà ở:

- Thời gian hoàn thành xây dựng năm 2008;

- Diện tích xây dựng: 339,1 m2;

- Diện tích sàn xây dựng: 404,52 m2;

- Số tầng: 02 tầng;

- Pháp lý: chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà

* tầng trệt:

- Số phòng; 02 phòng khách và 05 phòng ngủ;

- Kết cấu chính: khung cột bêtông cốt thép, vách tường xây gạch ống 10cm, sơn nước, tường ván gạch ceramic cao 1,6m, có ngăn phòng;

- Hệ thống cửa: cửa chính có 02 tầng cửa (cửa nhôm lắp kín và cửa nhôm kéo), cửa phụ, cửa phòng và cửa sổ là cửa nhôm lắp kính.

- Nền lát gạch bóng kính, nền các phóng lát gạch bông.

* Tầng 01:

- Số phòng: 01 phòng khách và 02 phòng ngủ;

- Kết cấu chính:

+ khung cột bêtông cốt thét;

+ Vách tường xây gạch ống, sơn nước, tường ván gạch ceramic cao 1,6m, có ngăn phòng;

+ Nến lát gạch bông;

+ Trần thạch cao;

+ Mái tole giã ngói;

+ Hệ thống cửa: cửa chính, cửa phụ và cửa phòng là cửa nhôm lắp kính;

+ Cầu thang bêtông cốt thép, lát gạch bông, tay vịn bằng inox;

+ Các tiện ích khác: điện kế riêng, hệ thống điện chiếu sáng đầu đủ;

- Hiện trạng; công trình đang sử dụng bình thường, nền bị lún, tường bị xé một vài chỗ, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

b) Tường rào:

- Kết cấu:

+ Trụ bêtông, kéo lưới B40, cao 1m, dài 31,64m;

+ Trụ bêtông, tường xây gạch < 80cm kéo lưới B40, cao 1m, dài 58,6 m;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng bình thường, lưới B40 đã bị rỉ sét, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

c) Cổng rào:

- Kết cấu:

+ Trụ xây gạch, dán gạch giã đá, cửa cổng bằng khung sắt, cao 2,5m, ngang 3,2m;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng bình thường, cửa cổng bằng khung sắt đã rỉ sét, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

d) Sân lót đan:

- Kết cấu: đan bêtông cốt thét, diện tích 139,88m2; hiện trạng công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

đ) Hồ nước:

- kết cấu: Loại hồ bêtông tròn, số lượng 02, kích thước cao 3m, đường kính 2,8m;

- Hiện trạng: công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

e) Hồ cá:

- Kết cấu: loại hồ bêtông tròn, số lượng 01 ống, kích thước cao 0,5m, đường kính 3,5m;

- Hiện trạng: công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

3) Hoa lợi trên đất; Cây măng cụt, bòn bon, bưởi da xanh, sầu riêng, cây dâu, cây dừa, cây kiểng trồng làm cảnh ngoài đất

- Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi gắn liền trên đất của ông Dương Văn Hy và bà Nguyễn Thị Nguyệt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 1.184.000.000đ (một tỷ một trăm tám mươi bốn triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 09/7/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/ 01 hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 153/2014

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Trần Ngọc Diễm và ông Ngô Văn Triệu, hiện cư ngụ tại: 276D ấp 3, xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Thửa số 249, 544, tờ bản đồ số 10;

- Diện tích: 2.559,1 m2;

- Loại đất: ONT+HNK;

2) Cây trồng trên đất:

- Cây dừa: 06 năm tuổi trở lên 29 cây, 03 năm tuổi trở lên 26 cây và 01 năm tuổi trở lên 31 cây;

- Bưởi: 07 năm tuổi trở lên 21 cây;

- Chanh: 01 năm tuổi trở lên 07 cây;

- Mít: 07 năm tuổi trở lên 01 cây;

- Chuối: 06 bụi.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Trần Ngọc Diễm và ông Ngô Văn Triệu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 825.373.000đ (tám trăm hai mươi triệu ba trăm bảy mươi ba ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 09/7/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 80.000.000đ/ 01 hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 155/2014

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là các thửa đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

- Tổng diện tích được sử dụng: 1.692 m2 (gồm 23 thửa);

- Loại đất: ONT (có bảng kê chi tiết kèm theo).

-  Tài sản tọa lạc tại: xã Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 8.180.000.000đ (tám tỷ một trăm tám mươi triệu đồng).

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/7/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sản: từ 7 giờ 30 phút ngày 01/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 07/7/2014 tại Hội trường Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 để biết thêm chi tiết.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chínhChấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính
Ngày 20 tháng 06 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Theo Chỉ thị thì&#58; ngày 18 tháng 5 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (sau đây gọi là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP). Bản sao được chứng thực từ bản chính (sau đây gọi là bản sao có chứng thực) có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính, do đó phần nào đã tạo thuận lợi cho người dân, tạo sự yên tâm cho cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính. Theo đó, tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP quy định "Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao không có chứng thực có quyền yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Người đối chiếu phải ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính".

 

Ngày 20 tháng 06 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Theo Chỉ thị thì: ngày 18 tháng 5 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (sau đây gọi là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP). Bản sao được chứng thực từ bản chính (sau đây gọi là bản sao có chứng thực) có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính, do đó phần nào đã tạo thuận lợi cho người dân, tạo sự yên tâm cho cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính. Theo đó, tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP quy định "Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao không có chứng thực có quyền yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Người đối chiếu phải ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính".

 

Thực hiện quy định này, một số cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến thủ tục hành chính đã quy định theo hướng, cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn việc nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao không có chứng thực xuất trình kèm bản chính để đối chiếu.

 

Trên thực tế, để đáp ứng yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính, đa số các cá nhân, tổ chức vẫn phải nộp bản sao có chứng thực giấy tờ, văn bản. Chính vì vậy, nhu cầu chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản của cá nhân, tổ chức ngày càng gia tăng, từ đó dẫn đến tình trạng sử dụng bản sao có chứng thực đã vượt quá sự cần thiết và trở thành hiện tượng "lạm dụng" bản sao có chứng thực.

 

Qua tổng kết công tác chứng thực từ năm 2007 đến nay cho thấy, mỗi năm, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trên toàn quốc đã thực hiện chứng thực hàng trăm triệu bản sao. Việc làm này không những gây phiền hà, tốn kém cho người dân, lãng phí cho xã hội mà còn tạo nên áp lực, quá tải đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trong công tác chứng thực.

 

Để chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản, giảm chi phí cho cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính, Thủ Tướng Chính phủ yêu cầu đối với địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các sở, ban, ngành trong địa phương:

 

Tổ chức phổ biến, tuyên truyền, quán triệt nội dung quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP theo tinh thần nêu tại điểm a, điểm b Khoản 1 của Chỉ thị này (Tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về quyền của các cá nhân, tổ chức khi trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính thì các giấy tờ trong thành phần hồ sơ có thể là bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu.

 

Chỉ đạo việc quán triệt thực hiện nghiêm túc quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính. Theo đó, khi cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực thì không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu; trường hợp nộp bản sao không có chứng thực và xuất trình kèm bản chính thì công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tự kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính mà không yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp bản sao có chứng thực).

 

Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành hoặc những văn bản do cơ quan, tổ chức trực thuộc ban hành dưới hình thức quyết định, thông báo, công văn và các hình thức văn bản khác, phát hiện những quy định về thủ tục hành chính trái với quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP để kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền cho phù hợp, hoàn thành trước ngày 31 tháng 3 năm 2015.

 

Tăng cường kiểm tra cách thức tổ chức thực hiện cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chấn chỉnh kịp thời tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực giấy tờ, văn bản trái với quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP.

 

Bố trí đủ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu sao giấy tờ, văn bản của cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính. Thường xuyên quan tâm công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, giáo dục ý thức, trách nhiệm của công chức, viên chức trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục hành chính.

 

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt nội dung của Chỉ thị này tới các cơ quan, tổ chức trực thuộc; có văn bản chỉ đạo cụ thể và thường xuyên kiểm tra các cơ quan, tổ chức trực thuộc trong việc triển khai thực hiện Chỉ thị, sớm khắc phục tình trạng lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng kết, đánh giá tình hình triển khai, báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị gửi Bộ Tư pháp trước ngày 30 tháng 4 năm 2015 để Bộ Tư pháp tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức sơ kết phong trào thi đua, khen thưởng đợt 01 năm 2014
Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm&#58; Công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật; công tác kiểm soát thủ tục hành chính; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; công tác trợ giúp pháp lý; công tác hành chính tư pháp; quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp; công tác thanh tra, kiểm tra và tổ chức xây dựng Ngành.

 

Thực hiện Kế hoạch số 188/KH-STP ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Sở Tư pháp về phát động phong trào thi đua, khen thưởng năm 2014 và Chương trình thi đua số 314/CTr-STP ngày 07 tháng 3 năm 2014; Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức phát động phong trào thi đua đợt 01 năm 2014 đến các phòng, trung tâm thuộc Sở. Việc phát động được triển khai thực hiện trên tất cả các mặt công tác của Ngành gồm: Công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật; công tác kiểm soát thủ tục hành chính; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; công tác trợ giúp pháp lý; công tác hành chính tư pháp; quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp; công tác thanh tra, kiểm tra và tổ chức xây dựng Ngành.


 

 

Qua phát động, Sở Tư pháp đã chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, chỉ tiêu đề ra trong Kế hoạch, Chương trình thi đua và một số công việc đột xuất theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhan dân tỉnh. Trên cơ sở đó, các phòng và trung tâm thuộc Sở đã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện phong trào thi đua tại đơn vị mình. Công tác thi đua đã có nhiều khởi sắc, đi vào thực chất, phát triển rộng khắp, thiết thực, hiệu quả; các hoạt động phong trào thi đua đều hướng đến thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao có trọng tâm, trọng điểm, góp phần thực hiện thành công các giải pháp chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua đợt 01/2014 đã phát huy tính thiết thực, giải quyết tốt khối lượng công việc tương đối lớn và những công việc trọng tâm, chương trình kế hoạch năm đã đề ra, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành; nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức về vị trí, vai trò, tác dụng của công tác thi đua, khen thưởng đã từng bước được nâng cao.

 

Kết thúc đợt thi đua, Giám đốc Sở Tư pháp đã ban hành quyết định tặng Giấy khen và công nhận 06 tập thể và 20 cá nhân đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc trong quá trình thực hiện phong trào thi đua đợt 1/2014. Đồng thời, tổ chức phát động và thực hiện phong trào thi đua đợt 02/2014 theo Kế hoạch và Chương trình thi đua đề ra đầu năm, kết hợp với phát động phong trào thi đua hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945-28/8/2015) và Đại hội thi đua yêu nước Ngành Tư pháp lần thứ IV theo Quyết định số 394/QĐ-BTP ngày 19 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tư pháp và Quyết định số 1346/QĐ-BTP ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tư pháp.

30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 02/7/2014Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 02/7/2014

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 203/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là một phần quyền sử dụng đất của ông Phạm Trung Kiệt và bà Nguyễn Thị Kim Cúc, hiện cư ngụ tại: ấp Tân Tây, xã Tân Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Diện tích đất: 700,8 m2;

- Loại đất: CLN

- Thuộc tờ bản đồ 16, một phần thửa số 194;

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Tân Tây, xã Tân Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là một phần quyền sử dụng đất của ông Phạm Trung Kiệt và bà Nguyễn Thị Kim Cúc, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 140.160.000đ (một trăm bốn mươi triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 04/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 08/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 204/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Tấn Hưng và bà Phùng Thị Ngọc Vân, hiện cư ngụ tại: ấp 3, xã An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất và cây trồng trên đất;

- Diện tích: 1176,6 m2;

- Loại đất: CLN

- Thuộc tờ bản đồ 11, thửa số 62;

- Giá khởi điểm: 211.788.000đ (hai trăm mười một triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn đồng);

2) Về đất và cây trồng trên đất;

- Diện tích: 3125 m2;

- Loại đất: Lúa

- Thuộc tờ bản đồ 06, thửa số 279;

- Giá khởi điểm: 718.750.000đ (bảy trăm mười tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng);

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng;

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: xã An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Tấn Hưng và bà Phùng Thị Ngọc Vân, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 930.538.000đ (chín trăm ba mươi triệu năm trăm ba mươi tám ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 04/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 08/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giátài sản 1: 200.000đ/hồ sơ

* Lệ phí tham gia đấu giátài sản 2: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trướctài sản 1: 20.000.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trướctài sản 2: 70.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 205/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Lập và bà Lý Thị Mỹ Hà, hiện cư ngụ tại: ấp Phước Hòa, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

- Diện tích: 880,6 m2 đất CLN;

- Thuộc tờ bản đồ 12, một phần thửa số 44;

b) Cây trồng trên đất: cây chôm chôm, sầu riêng, dừa, cây hạnh, cây dâu, cây chuối.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Phước Hòa, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Lập và bà Lý Thị Mỹ Hà, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 93.478.000đ (chín mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi tám ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 04/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 08/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 10.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 206/2014

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị Ngân (người có tài sản bảo lãnh thế chấp vay cho bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh), địa chỉ: ấp 1, xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm sau:

- Diện tích đất: 2.883 m2;

- Loại đất: đất lúa;

- Thuộc tờ bản đồ số 03, thửa đất số 106.

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số P454848, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 797QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri cấp ngày 17/11/2000.

- Tài sản tọa lạc tại: xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị Ngân (người có tài sản bảo lãnh thế chấp vay cho bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh) do Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 56.746.089 đ (năm mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi sáu ngàn không trăm tám mươi chín đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 04/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 08/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trước: 6.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667 để biết thêm chi tiết.

04/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 01/7/2014Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 01/7/2014

THÔNG BÁO hợp đồng 195/2014

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Của và bà Lê Thị Đèo, hiện cư ngụ tại: ấp 3, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Thửa số 283, tờ bản đồ số 27

- Diện tích: 449,5 m2 (trong đó diện tích lộ giới 20,7 m2);

- Loại đất: CLN;

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Giao Hòa A, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Của và bà Lê Thị Đèo, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 108.385.737đ (một trăm lẻ tám triệu ba trăm tám mươi lăm ngàn bảy trăm ba mươi bảy đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 10.000.000đ /01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 02/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 08/8/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre

 

THÔNG BÁO hợp đồng 198/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý thiết bị văn phòng, xe môtô, ponton và đò máy; tài sản (có bảng kê chi tiết kèm theo) cụ thể như sau:

I. Gói 1: (gồm 3 hạng mục)

1/ Hạng mục số 1: thiết bị văn phòng, xe môtô và phế liệu các loại.

2/ Hạng mục số 2: phụ tùng cũ.

3/ Hạng mục số 3: Ponton 150 tấn, Mỏ bàn phà và phao luồng.

- Giá khởi điểm tài sản (I): 598.672.000đ (năm trăm chín mươi tám triệu, sáu trăm bảy mươi hai ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản (I) bán dưới dạng phế liệu.

II. Gói 2 (đò máy). Công dụng: Tàu khách, số đăng ký: BTr-0044, đóng năm 1990; chiều dài thiết kế: 14,1m; chiều rộng thiết kế: 3,2m, chiều cao mạn 1,00m, chiều chìm: 0,7m, mạn khô: 0,3m; vật liệu vỏ bằng gỗ; tổng công suất: 45CV; Mác, số chế tạo: GM271,2A-42418; số lượng người được phép chở 30 người; lượng hàng 1,50tấn.

- Giá khởi điểm tài sản (II): 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng).

* Tài sản bán theo từng gói.

- Tài sản (I + II) tọa lạc: như trong bảng kê chi tiết;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Quản lý phà và Bến xe tỉnh Bến Tre, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (I+II): 633.672.000đ (sáu trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm bảy mươi hai ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (gói 1), 100.000 đ/01 hồ sơ (gói 2).

* Khoản tiền đặt trước: 85.000.000đ/01 hồ sơ (gói 1), 5.000.000 đ/01 hồ sơ (gói 2).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 15/7/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

BẢNG KÊ CHI TIẾT TÀI SẢN BÁN ĐẤU GIÁ

 

 

 

THÔNG BÁO hợp đồng 200/2014

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở, nhà kho) của hộ bà Võ Thị Ngọc Lan, địa chỉ tại: 605B5, khu phố 3, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất và tài sản trên đất thuộc tờ bản đồ số 14, thửa 39, 345

a. Về đất:

- Diện tích: 2.830,1 m2 ;

- Loại đất: 390 m2 đất thổ cư (T), 2.440,1 m2 đất cây lâu năm (CLN);

b. Tài sản trên đất gồm:

- Nhà ở: (nhà chính + nhà phụ + gác gỗ) có diện tích 197 m2 (dài 20 m, rộng 8,3 m) có kết cấu: cột bêtông cốt thép, tường gạch, nền gạch men, mái tol, trần nhựa.

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 309/CN-XD do Sở Xây dựng tỉnh Bến Tre cấp ngày 11/12/2002.

- Nhà: diện tích 147,5 m2, kết cấu: nền gạch men, tường bao, khung cột bêtông cốt thép, mái tole thiếc, trần nhựa (chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V745406, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 03821 QSDĐ/3274/QĐ-UB(T) do Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre cấp ngày 27/9/2002, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất AB 723867, số vào sổ PH/00597/QSDĐ/4464 QĐ-UB (TX) do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 07/4/2005 và Chứng nhận Quyền sở hữu nhà số 309/CN-XD

2. Nhà kho trên đất

a. Nhà kho 1+2: diện tích 1003,1 m2 nền ximăng, vách tường lửng + tol bao che, khung cột thép, mái tol thiếc

b. Nhà kho 3: diện tích 418,8 m2 vách tường bao che, khung cột bêtông cốt thép, mái tol thiếc, nền đất

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: khu phố 3, đường Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở, nhà xưởng, nhà kho) của bà Võ Thị Ngọc Lan do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 5.360.435.384 đ (năm tỷ ba trăm sáu mươi triệu bốn trăm ba mươi lăm ngàn ba trăm tám mươi bốn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 08/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 300.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 202/2014

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Nguyễn Thị Thanh, địa chỉ tại: ấp Thừa Thạnh, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm như sau:

1. Về đất

- Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: Diện tích: 115 m2; thửa 629, thuộc tờ bản đồ 04; Loại đất: đất thổ cư, đất hàng năm khác;

- Theo kết quả sơ đồ địa chính mới: diện tích 103,8 m2; thửa 111,thuộc tờ bản đồ 24.

2. Tài sản trên đất (nhà ở ):

- Nhà ở: có diện tích 72 m2 (dài 16 m, rộng 4,5 m) có kết cấu: nền gạch bông, vách tường, cột bê tông, mái tole

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Tài sản đất bán theo kết quả sơ đồ địa chính mới: diện tích 103,8 m2; thửa 111,thuộc tờ bản đồ 24 và theo Đơn xin xác nhận Chủ quyền nhà ở của bà Nguyễn Thị Thanh.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Nguyễn Thị Thanh do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 90.000.000 đ (Chín mươi triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/8/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 08/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667 để biết thêm chi tiết.

03/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 27/6/2014Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 27/6/2014

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 191/2014

 

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của bà Nguyễn Thị Kim Chánh, hiện cư ngụ tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

a) Thửa số 119, tờ bản đồ số 29;

- Diện tích: 130,1 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HP7/00360 do UBND thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 26/8/2005.

b) Thửa số 44b, tờ bản đồ số 29;

- Diện tích: 197,2 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00472 QSDĐ/1478/QĐ-UB do UBND thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 30/6/2003.

c) Thửa số 44c, tờ bản đồ số 29;

- Diện tích: 47,5 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00472 QSDĐ/1478/QĐ-UB do UBND thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 30/6/2003.

2) Công trình xây dựng:

- Nhà ở: diện tích 104,445 m2, móng, cột bêtông cốt thép, vách tường xây gạch ống 10cm sơn nước, mặt tiền ốp đá hoa cương, nền gạch ceramic, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn trang trí đầy đủ, cửa đi chính có 02 tầng cửa, bên ngoài là cửa sắt, bên trong là cửa kín khung bằng nhôm; cửa sổ, cửa kín, khung nhôm, 01 phòng khách, 02 phòng ngủ, 01 phòng bếp và 01 tolet; mái lợp tole tráng kẽm, trần thạch cao; các tiện nghi khác: tủ âm tường, máy lạnh, tủ kệ bếp.

- Tường rào: chiều dài 43,35 m, chiều cao 2m, kết cấu cột pêtông cốt thép, xây tường cao 0,5 m, kéo lưới B40 và lắp khung sắt.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của bà Nguyễn Thị Kim Chánh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm làm tròn của tài sản bán đấu giá (1+2): 384.750.000đ (ba trăm tám mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 30/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 30/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 01/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 192/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

1. Thửa đất số 25, tờ bản đồ số 31

- Diện tích được sử dụng 1.882,1 m2;

- Diện tích lộ giới 402,8 m2;

- Diện tích tính vào giá bán 1.479,3 m2;

- Loại đất chuyển quyền sử dụng ODT +LNQ.

- Giá khởi điểm: 1.135.530.000đ (một tỷ một trăm ba mươi lăm triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng).

- Tài sản (1) tọa lạc tại: xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;

2. Thửa số 55, tờ bản đồ số 40

- Diện tích được sử dụng 109,9 m2;

- Diện tích lộ giới 6,0 m2;

- Diện tích tính vào giá bán 103,9 m2;

- Loại đất chuyển quyền sử dụng ODT.

- Giá khởi điểm: 436.380.000đ (bốn trăm ba mươi sáu triệu, ba trăm tám mươi ngàn đồng).

- Tài sản (2) tọa lạc tại: thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng bán đấu giá nộp vào ngân sách nhà nước.

* Tài sản bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản (1+2): 1.571.910.000đ (một tỷ, năm trăm bảy mươi một triệu, chín trăm mười ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản 1: 500.000đ/01 hồ sơ;

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản 2: 200.000đ/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước tài sản 1: 100.000.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 2: 40.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 30/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 30/7/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 29/7/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 30/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 01/8/2014 tại Hội trường UBND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 197/2014

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của ông Nguyễn Thành Huấn và bà Phạm Thị Ngọc Châu, hiện cư ngụ tại: ấp Bình Huề 2, xã Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại, Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 187,4 m2 ;

- Loại đất: 116 m2 đất ở nông thôn và 71,4 m2 đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số: 17, thửa đất số 364;

2. Nhà ở trên đất: diện tích 115,2 m2, diện tích sàn 116 m2. Kết cấu: nhà bêtông cốt thép đổ tại chổ, cấp 4, một tầng.

- Tài sản tọa lạc tại: ấp Bình Huề 2, xã Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BD 177074, số vào sổ cấp giấy CH 00342 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 19/11/2010.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của ông Nguyễn Thành Huấn và bà Phạm Thị Ngọc Châu do Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 358.266.000 (Ba trăm năm mươi tám triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 30/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 30/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 01/8/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 199/2014

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản thanh lý gồm 03 (ba) cái bình hạ thế điện, công suất 25KVA, số thẻ tài sản 10000025239.

- Tài sản tọa lạc tại: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre - phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre, không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

* Lưu ý: Giá trên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT), khi bán đấu giá thành Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre có trách nhiệm xuất hóa đơn thuế VAT cho khách hàng, nếu khách hàng trúng đấu giá yêu cầu.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 4.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 30/6/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/7/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 10/7/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667 để biết thêm chi tiết.

03/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
“Giấy tay” bán đất“Giấy tay” bán đất
Thời gian gần đây, trong các giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường xảy ra tranh chấp. Tình trạng trên một phần là do nhiều người dân chưa nắm bắt được các quy định của pháp luật về đất đai, cũng như chưa nắm được nội dung và hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên nhiều hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi khởi kiện ra Tòa án có thể bị Toà tuyên vô hiệu,...

Thời gian gần đây, trong các giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường xảy ra tranh chấp. Tình trạng trên một phần là do nhiều người dân chưa nắm bắt được các quy định của pháp luật về đất đai, cũng như chưa nắm được nội dung và hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên nhiều hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi khởi kiện ra Tòa án có thể bị Toà tuyên vô hiệu, gây nhiều bất lợi cho người nhận chuyển nhượng.

Trong thực tế ở địa phương, nhiều người khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường thông qua “giấy tay”, có sự chứng kiến của người làm chứng. Tuy có người làm chứng, nhưng “giấy tay” đó chưa thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục luật định, nên “giấy tay” chưa đảm bảo được tính pháp lý. Do đó, khi phát sinh tranh chấp hình thức chuyển nhượng bằng “giấy tay” có thể bị tòa án tuyên vô hiệu. Hệ quả là các bên sẽ khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và việc chuyển nhượng không thành công. Trường hợp sau đây là một ví dụ: Ông Huỳnh Văn V bán cho ông Huỳnh Thanh H 2.500m2 đất năm 2008, vì họ hàng thân thiết với nhau nên ông V và ông H chỉ làm “giấy tay” bán đất và nhờ người làm chứng, ông H đã san lấp mặt bằng và trồng cây trên mãnh đất đó. Thời gian gần đây, giữa ông V và ông H xảy ra mâu thuẩn vì phần đất trên có người hỏi mua ông V với giá rất cao để làm kho chứa hàng, ông H phát hiện và tranh chấp được Tòa án thụ lý giải quyết và Tòa án tuyên hợp đồng trên vô hiệu và trao trả những gì cho nhau trước đó.

Để thực hiện theo đúng quy định pháp luật, tại Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hình thức chuyển quyền sử dụng đất thì việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Văn bản công chứng, văn bản chứng thực đối với hợp đồng, giao dịch có từ 02 trang trở lên, thì từng trang phải được đánh số thứ tự, có chữ ký tắt của người yêu cầu công chứng, chứng thực và người thực hiện công chứng, chứng thực, riêng trang cuối phải có chữ ký đầy đủ; số lượng trang phải được ghi vào cuối văn bản…(Điều 59 của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực). Vì vậy, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng cần tuân thủ các quy định về hình thức của hợp đồng nêu trên để bảo đảm hiệu lực của hợp đồng.

Tại điểm 2.2, mục 2, Thông tư liên tịch số 04/2006/ TTLT – BTP – BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất quy định: “Hợp đồng, văn bản về bất động sản mà bên có bất động sản là hộ gia đình, cá nhân, thì hộ gia đình, cá nhân đó được lựa chọn hình thức công chứng tại Phòng Công chứng hoặc chứng thực tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có bất động sản”.

Vì vậy, để tránh hậu quả tranh chấp đáng tiếc xảy ra, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải làm hợp đồng theo mẫu và có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền và không nên làm bằng “giấy tay”.

22/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định của pháp luật về việc niêm yết thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, khai nhận di sản thừa kếQuy định của pháp luật về việc niêm yết thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, khai nhận di sản thừa kế

Vừa qua, một số địa phương trong tỉnh phản ánh chưa có sự thống nhất về thời hạn niêm yết việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế giữa Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất.

Để giải quyết vấn đề trên, ngày 23 tháng 7 năm 2013 Sở Tư pháp có Công văn số 1211/STP-BTTP về việc hướng dẫn thời gian niêm yết việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, khai nhận di sản thừa kế.

Theo đó, căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Theo quy định này thì thời hạn niêm yết việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế tại Điểm 2.3 Khoản 2 Mục II Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT không còn phù hợp.

Như vậy, thời gian niêm yết việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 19 của Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng, cụ thể như sau:

Việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế phải được niêm yết trong thời hạn mười lăm ngày. Việc niêm yết do tổ chức hành nghề công chứng thực hiện tại trụ sở của Ủy ban nhân cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản. Trong trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng thì niêm yết tại nơi tạm trú có thời hạn cuối cùng của người đó.

Trong trường hợp di sản thừa kế ở nhiều địa phương thì việc niêm yết được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có các di sản thừa kế đó.

Trong trường hợp di sản gồm cả bất động sản và động sản hoặc di sản chỉ là bất động sản thì việc niêm yết được thực hiện theo hướng dẫn nêu trên; nếu không xác định được cả hai nơi này thì niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản.

Trong trường hợp di sản chỉ là động sản, nếu trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng và nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người để lại di sản không ở cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì tổ chức hành nghề công chứng có thể đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người để lại di sản thực hiện việc niêm yết.

Nội dung niêm yết phải nêu rõ họ, tên của người để lại di sản; họ, tên của những người thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản thừa kế; quan hệ của những người thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản thừa kế với người để lại di sản thừa kế; danh mục di sản thừa kế. Cuối bản niêm yết phải ghi rõ nếu có khiếu nại, tố cáo về việc bỏ sót, giấu giếm người được hưởng di sản thừa kế; bỏ sót di sản thừa kế; di sản thừa kế không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người để lại di sản thì khiếu nại, tố cáo đó được gửi cho tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc niêm yết.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết có trách nhiệm xác nhận việc niêm yết và bảo quản việc niêm yết trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày niêm yết.

21/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh làm việc với lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh,Ủy ban nhân dân các huyện, thành phốỦy ban nhân dân tỉnh làm việc với lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh,Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố
  Ngày 16 tháng 8 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có buổi làm việc với lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Cao Văn Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Trưởng Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhâ...

Ngày 16 tháng 8 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có buổi làm việc với lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Cao Văn Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Trưởng Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì hội nghị.

Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ báo cáo kết quả công tác cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Phó Giám đốc Sở Tư pháp báo cáo tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Đánh giá chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua – bà Nguyễn Thị Yến Nhi nêu rõ: Việc ban hành văn bản trên địa bàn tỉnh được các cấp, các ngành và địa phương quan tâm và đạt nhiều kết quả quan trọng; tuân thủ đúng quy trình, thủ tục và thể thức ban hành văn bản; bên cạnh thể chế của Trung ương thì ở địa phương cũng đã từng bước hoàn thiện; nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành đã nâng lên; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị; chất lượng của văn bản ngày càng được nâng lên rõ rệt…góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và công tác quản lý nhà nước ở địa phương.


Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác văn bản ở địa phương trong thời gian qua cũng còn một số khó khăn, hạn chế, cụ thể: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo chương trình xây dựng nghị quyết, chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị đạt tỷ lệ thấp (khoảng 50%); quá trình soạn thảo, ban hành một số văn bản không đảm bảo theo quy trình; việc tổ chức lấy ý kiến chưa đạt yêu cầu; chất lượng dự thảo một số văn bản chưa cao; còn sai nhiều về thể thức, kỹ thuật trình bày và còn lặp lại những quy định của cấp trên.

Trên cơ sở những khó khăn, hạn chế, cuộc họp đã thống nhất phân tích nguyên nhân và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. Theo đó, từng cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, đặc biệt là người đứng đầu; phải tuân thủ chặt chẽ quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn bản; bố trí kinh phí đầy đủ và kịp thời theo quy định…

Qua cuộc họp chuyên đề lần này đã thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh đối với công tác văn bản; đây là một trong những hoạt động chủ yếu của cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Từ điều này cộng với những giải pháp được đưa ra, hy vọng chất lượng công tác văn bản trên địa bàn tỉnh Bến Tre sẽ ngày được nâng lên.

22/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013Tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013
Chiều ngày 15/8/2013, Ban Chỉ đạo Chiến dịch tỉnh tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã đến dự.

Chiều ngày 15/8/2013, Ban Chỉ đạo Chiến dịch tỉnh tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã đến dự.

Chủ đề Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013 là “Chung tay xây dựng văn minh đô thị và nông thôn mới, với phương chăm “Mỗi thanh niên một việc làm tình nguyện, mỗi cơ sở Đoàn một công trình, phần việc thiết thực tham gia xây dựng văn minh đô thị và nông thôn mới”.

Ngày 05/6/2013, Ban Chỉ đạo Chiến  dịch tỉnh tổ chức lễ ra quân tại xã Phú Đức, huyện Châu Thành; với trên 1.000 lực lượng tham gia, đã trồng 3.000 cây xanh trên tuyến kinh Ba Lai nhằm hưởng ứng Ngày môi trường thế giới năm 2013, khánh thành công trình lộ giao thông nông thôn dài 1.600m.

Thời gian chiến dịch diễn ra từ ngày 01/6/2013 đến 15/8/2013; tham gia chiến dịch có 11 trường ở thành phố Hồ Chí minh với 505 chiến sĩ; trường Đại học Cần Thơ với 78 chiến sĩ; các trường trong tỉnh với 280 chiến sĩ, có 05 Đội hình: “Hành quân xanh” với 91 chiến sĩ, “Khăn hồng tình nguyện” với 101 chiến sĩ, “Luật gia trẻ” với 30 chiến sĩ, “Kỳ nghỉ hồng” với 134 chiến sĩ, “Niềm tin xanh” gồm 27 trường trung học phổ thông trong tỉnh với 245 chiến sĩ; ngoài ra có 77 sinh viên tình nguyện quốc tế của các nước Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Estonia; số đoàn viên, hội viên, thanh niên, học sinh đối ứng và tham gia chiến dịch tại địa phương hơn 10.000 lực lượng.

Về tham gia xây dựng văn minh đô thị, tổ chức tuyên truyền về nếp sống văn minh đô thị với nhiều hình thức phong phú như: treo băng rol, pano, áp phích, thông qua sinh hoạt Chi đoàn, Chi hội được 321 cuộc, với trên 9.500 lực lượng tham dự; tổ chức xây dựng nếp sống văn minh, bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quang đô thị như: vệ sinh hẻm, khu phố, các tuyến đường văn minh, trồng hoa, cây xanh, thu gom rác thải, xây dựng vỉa hè văn minh, khu chợ sạch đẹp; xây dựng “Tuyến đường thanh niên tự quản về an ninh trật tự” ở huyện Thạnh Phú, “ Tuyến đường văn minh” ở huyện Ba Tri, công trình thắp sáng tuyến đường ở huyện Mỏ Cày Nam, tặng 120 bóng đèn tiết kiện cho hộ nghèo ở huyện Châu Thành.

Về tham gia xây dựng nông thôn mới, tổ chức truyền truyền về tiêu chí nông thôn mới, các thiết chế xây dựng xã văn hóa được 544 cuộc với trên 15.000 người tham gia; phối hợp Ngày hội Internet với nội dung tập huấn kiến thức Internet, thi đánh máy, tải tài liệu nhanh, tạo email…ở các huyện Mỏ Cày bắc, Bình Đại, Giồng Trôm, Thạnh Phú, có gần 1.300 người tham gia.

Thực hiện các công trình như: đổ bê tông, đá xanh, làm mới các tuyến lộ liên tổ, liên ấp (dài trên 24 km, với trên 4.600 ngày công); tham gia phát hoang, đắp lộ (được 199 km, trên 25 nghìn ngày công), xây dựng cầu bê tông kinh phí 156 triệu đồngvới hơn 1.000 ngày công (huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú).

Xây 2 nhà nhân ái, tình thương, sữa chữa 22 căn nhà gia đình chính sách, hộ nghèo, giá trị trên 2,2 tỷ đồng, trên 24 nghìn ngày công.

Ngoài ra, các lực lượng còn tham gia đảm bảo trật tự giao thông, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, dịch bệnh; hoạt động “Tiếp sức mua thi”, “Tiếp sức đến trường”; chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng; chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hiến máu tình nguyện; tham gia phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội; hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, hỗ trợ tư vấn nghề nghiệp, việc làm cho thanh niên; các hoạt động của Đội hình: “Hành quân xanh”, “Khăn hồng tình nguyện”, “Luật gia trẻ”, “Kỳ nghỉ hồng”, “Niềm tin xanh” đạt nhiều kết quả.

Tuy nhiên, Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013 cũng còn một số hạn chế; hình thức, nội dung tuyên truyền chiến dịch chưa phong phú; chủ đề chiến dịch còn mang tính hình thức, chưa xác định công trình, phần việc cụ thể; một vài đơn vị, địa phương chưa phát huy nguồn lực tại chỗ, lực lượng tham gia đối ứng còn hạn chế; một số công trình chưa tạo được dấu ấn tình nguyện; hoạt động ra quân “Ngày thứ bảy tình nguyện”, “Ngày chủ nhật xanh” tổ chức không đều khắp các cơ sở; công tác, báo cáo chưa kịp thời.

22/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh ban hàn Kế hoạch tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013Ủy ban nhân dân tỉnh ban hàn Kế hoạch tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013
Ngày 15/8/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3835/KH-UBND về việc tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 nhằm thực hiện Quyết định số 4061/QĐ-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công ...

 

Ngày 15/8/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3835/KH-UBND về việc tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 nhằm thực hiện Quyết định số 4061/QĐ-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016” và Kế hoạch số 5403/KH-BTC ngày 16/7/2013 của Ban Tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng - Bộ Tư pháp tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Mục đích cuộc thi là một trong những hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân” từ năm 2012 đến năm 2016”. Thông qua cuộc thi nhằm đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, làm phong phú thêm nguồn tài liệu tuyên truyền, hỗ trợ thực hiện có hiệu quả công tác này, tiếp tục tạo chuyển biến tích cực trong nhận thực và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, tạo sự đồng thuận trong xã hội, góp phần đẩy lùi nạn tham nhũng.

Đối tượng dự thi là các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố.

Nội dung thi: Các tiểu phẩm dự thi có nội dung tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật phòng, chống tham nhũng; động viên cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng; biểu dương những gương người tốt, việc tốt trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; lên án, phê phán các hành vi tham nhũng.

Hình thức dự thi: Các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức xây dựng, lựa chọn và gửi 01 tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng dưới hình thức đĩa DVD để tham dự cuộc thi. Tiểu phẩm dự thi là thể loại tiểu phẩm truyền hình được thể hiện dưới dạng Video Clip (có cốt chuyện, kịch bản gắn với tình huống, xử lý tình huống, có nhân vật, bối cảnh đời thường, không phải là tiểu phẩm được biểu diễn, ghi hình trên sân khấu…). Tiểu phẩm dự thi phải là tiểu phẩm chưa gửi tham gia các cuộc thi nào khác. Thời lượng mỗi tiểu phẩm dự thi từ 07 phút đến 15 phút.

Thời gian gửi tiểu phẩm dự thi đến hết ngày 10/10/2013 (tính theo dấu bưu điện). Địa điểm tiếp nhận tiểu phẩm dự thi tại Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp. Địa chỉ: Số 17, Đường Cách Mạng Tháng 8, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Giải thưởng cuộc thi gồm: 01 giải nhất, 02 giải nhì, 03 giải ba, 09 giải khuyến khích. Dự kiến thời gian tổng kết, trao giải diễn ra vào cuối tháng 10/2013.

Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp cùng các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban Tổ chức, Ban Giám khảo; đôn đốc, theo dõi, hướng dẫn và tổ chức cuộc thi theo Kế hoạch.

21/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm “Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm “Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”

Chiều ngày 02 tháng 10 năm 2015, Đảng ủy Sở Tư pháp tổ chức buổi Tọa đàm với chủ đề "Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí". Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp dự và phát biểu chỉ đạo; tham dự buổi Tọa đàm có Ban Giám đốc Sở, đại diện Công đoàn, Chi đoàn thanh niên, cùng toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Sở Tư pháp.

toa-dam1.gif 

Tại buổi Tọa đàm, đại biểu được nghe các tham luận về: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong phòng, chống tham nhũng tại đơn vị; Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính (thực trạng và giải pháp). Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cũng đã mạnh dạn trao đổi, thảo luận, chia sẽ kinh nghiệm, tìm ra các giải pháp để công tác cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở cơ quan trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn.

toa-dam2.gif 

Buổi Tọa đàm là một trong những hoạt động của Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở Tư pháp tiếp đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự đồng thuận cao trong thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiết kiệm, chống lãng phí; nâng cao nhận thức về công tác dân vận của Đảng, tư tưởng và phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh; góp phần xây dựng cho mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng phong cách trọng dân, gần dân, học dân và có trách nhiệm với dân; tạo phong trào thi đua sâu rộng, qua đó tuyên dương và nhân rộng điển hình những tập thể, cá nhân tiêu biểu, xuất sắc. Đồng thời, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng, phấn đấu, học tập, trao dồi kiến thức, rèn luyện, trưởng thành hơn trong quá trình tiếp xúc, làm việc với tổ chức, cá nhân.

05/10/2015 11:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến Tre
15/12/2017 4:00 CHĐã ban hành
Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 25/9/2015Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 25/9/2015
30/09/2015 10:00 SAĐã ban hành
Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2015Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2015

Thực hiện Kế hoạch số 864/KH-UBND ngày 27 tháng 02 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, xây dựng và thực hiện quy ước trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2015 và Kế hoạch số 4300/KH-HĐPH ngày 24 tháng 8 năm 2015 của Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh về việc kiểm tra công tác PBGDPL và hoạt động của Hội đồng Phối hợp PBGDPL năm 2015. Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh tổ chức Đoàn kiểm tra công tác PBGDPL và hoạt động của Hội đồng Phối hợp PBGDPL năm 2015 tại Liên đoàn Lao động tỉnh (ngày 24/9); Hội đồng Phối hợp PBGDPL huyện Thạnh Phú (ngày 25/9) và Hội đồng Phối hợp PBGDPL thành phố Bến Tre (ngày 29/9).  

Mặt dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, khối lượng công tác PBGDPL rất nhiều, nhưng 3 đơn vị, địa phương được kiểm tra (Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội đồng Phối hợp PBGDPL huyện Thạnh Phú và thành phố Bến Tre) đã triển khai, thực hiện khá tốt công tác PBGDPL và hoạt động của Hội đồng PBGDPL đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết quả rất đáng trân trọng.

Đạt được kết quả nêu trên trước hết là do có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, thủ trưởng cơ quan; sự phối hợp tích cực, chặt chẽ và khá toàn diện của các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các thành viên Hội đồng trong việc triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các đề án, chương trình, kế hoạch PBGDPL.

kiem-tra-pbgdpl.gif 

Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, các thành viên Hội đồng được nâng lên; đã khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các lực lượng tham gia thực hiện công tác PBGDPL; thường xuyên rà soát, củng cố, kiện toàn Hội đồng Phối hợp PBGDPL, Ban Thư ký và đội ngũ làm công tác PBGDPL, trong đó, vai trò của cơ quan thường trực Hội đồng, Ban Thư ký được phát huy, nhất là vai trò nòng cốt tham mưu, đề xuất của Phòng Tư pháp (cơ quan Thường trực Hội đồng); thực hiện khá tốt việc sơ kết, tổng kết công tác PBGDPL; đề xuất được một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động PBGDPL trong thời gian tới.

Các cấp công đoàn thuộc Liên đoàn Lao động tỉnh thường xuyên nghiên cứu, đổi mới hình thức, nội dung PBGDPL đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động để phù hợp với đối tượng người lao động và loại hình hoạt động nên hiệu quả công tác PBGDPL từng nơi, từng lúc có nâng lên. Tổ chức công đoàn đã hình thành mạng lưới đội ngũ tuyên truyền, PBGDPL từ tỉnh đến cơ sở với văn phòng tư vấn pháp luật của Liên đoàn Lao động tỉnh, tổ tư vấn pháp luật của các Liên đoàn Lao động huyện, thành phố, Công đoàn ngành để tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý miễn phí cho cán bộ, công chức, viên chức, lao động có nhu cầu tìm hiểu về pháp luật hoặc về những chế độ, chính sách liên quan đến người lao động.

Đã tập trung tổ chức triển khai, phổ biến Hiến pháp năm 2013, các văn bản pháp luật mới với nhiều hình thức đa dạng, phong phú; tổ chức triển khai thực hiện Ngày Pháp luật định kỳ và Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 theo hướng tích cực, hiệu quả, thiết thực hơn.

Công tác hoà giải ở cơ sở đạt kết quả tốt (thành phố Bến Tre đạt tỉ lệ 87,43%, huyện Thạnh Phú đạt 90,88%)

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác PBGDPL cũng còn nhiều khó khăn, hạn chế như: Một số đơn vị, địa phương có lúc chưa thật sự quan tâm đến công tác PBGDPL, tuyên truyền chưa sâu; triển khai thực hiện đề án, chương trình PBGDPL và các văn bản mới còn chậm, chưa kịp thời. Một số tổ chức công đoàn, doanh nghiệp và người sử dụng lao động chưa thật sự quan tâm đến công tác tuyên truyền, PBGDPL. Đội ngũ làm công tác PBGDP còn hạn chế về kiến thức pháp luật, kỹ năng PBGDPL. Việc thực hiện xã hội hóa công tác PBGDPL còn gặp nhiều khó khăn, chưa huy động mạnh nguồn lực xã hội thực hiện công tác PBGDPL. Kinh phí bố trí cho công tác PBGDPL nhiều địa phương còn quá thấp, chưa đáp ứng yêu cầu.  

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác PBGDPL trong thời gian tới, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh, Trưởng Đoàn kiểm tra đề nghị lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội đồng Phối hợp PBGDPL huyện Thạnh Phú và thành phố Bến Tre cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các đề án, chương trình, kế hoạch PBGDPL.

Chỉ đạo rà soát kế hoạch công tác PBGDPL năm 2015, để tổ chức triển khai thực hiện những công việc còn lại theo Kế hoạch đề ra; cần xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác PBGDPL trong năm 2016.

Phát huy hơn nữa vai trò phối hợp, nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan thành viên Hội đồng, có sự phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị, thành viên Hội đồng; thực hiện tốt vai trò là Hội đồng tư vấn giúp Ủy ban nhân dân dân trong công tác PBGDPL, vai trò tham mưu của cơ quan thường trực Hội đồng là Phòng Tư pháp.

Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các luật, pháp lệnh mới ban hành; tổ chức tốt Ngày pháp luật nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 (9/11) đạt kết quả cao. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức PBGDPL. Quan tâm củng cố, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác PBGDPL.

Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; triển khai có hiệu quả Luật Hòa giải ở cơ sở, củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, đội ngũ hòa giải viên; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, phấn đấu đạt chỉ tiêu hòa giải thành (85%); tích cực chủ động, phối hợp  đề xuất các giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn đối với công tác PBGDPL, hỗ trợ kinh phí thực hiện công tác PBGDPL, hòa giải cơ sở, tìm các giải pháp thu hút nguồn lực xã hội hóa đối với công tác PBGDPL, huy động sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đối với công tác này. 

30/09/2015 10:00 SAĐã ban hành
Ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại ĐiềnRa mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại Điền
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) ngày càng hiệu quả cao, thiết thực, đáp ứng nhu cầu TGPL cho người dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người nghèo, đối tượng chính sách…ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) ngày càng hiệu quả cao, thiết thực, đáp ứng nhu cầu TGPL cho người dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người nghèo, đối tượng chính sách…ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/ 06/ 2013, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm TGPL) phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Ủy ban nhân dân xã Đại Điền tổ chức ra mắt thành lập “Câu lạc bộ trợ giúp lý xã Đại Điền” và tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL lần đầu tiên. Đến dự có: Ông Nguyễn Minh Khoa đại diện Trung tâm trợ giúp lý; bà Lê Thị Mộng Thùy, Tưởng Chi nhánh số 02; ông Lê Mộng Linh, Trưởng phòng Tư pháp huyện, ông Nguyễn Văn Bình, Phó Bí Thư Đảng ủy xã, cùng 44 người dân tham dự buổi lễ.

Theo Quyết Định số 75/QĐ-UBND ngày 15/05/2013, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại Điền có 14 thành viên, bà Mai Thị Hiền, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân làm Chủ nhiệm,

Đến nay, huyện Thạnh Phú có 14/18 xã được thành lập Câu lạc bộ TGPL; nâng tổng số Câu lạc bộ TGPL trong toàn tỉnh là 47Câu lạc bộ .

 

Câu lạc bộ TGPL là một hình thức hoạt động TGPL cộng đồng, tạo điều kiện cho người được TGPL ở địa phương tham gia sinh hoạt hoạt, trao đổi vướng mắc pháp luật. Thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL giúp cho thành viên của Câu lạc bộ có điều kiện gần dân nhiều hơn, qua đó hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người dân, giúp người dân giải quyết tranh chấp ở cơ sở được kịp thời.

Dự kiến đến cuối năm 2013, Trung tâm TGPL sẽ tiếp tục phối hợp với các cấp chính quyền địa phương, phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú sẽ thành lập Câu lạc bộ TGPL ở các xã còn lại trên địa bàn huyện Thạnh Phú, nhằm phục vụ tốt nhu nhu cầu TGPL cho người dân.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre
 Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đô...

Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, lãnh đạo Trung tâm TGPL nhà nước, các Trợ giúp viên pháp lý, các Cộng tác viên TGPL và đại diện 02 câu lạc bộ TGPL xã Nhơn Thạnh, Phú Nhuận thành phố Bến Tre.

Tại tọa đàm, các đại biểu đã nghe trình bày các tham luận về Thực trạng hoạt động TGPL trong hoạt động tố tụng; Vai trò TGPL với công tác hòa giải cơ sở; Vai trò của Cộng tác viên và các tổ chức hành nghề luật trong TGPL; Cơ chế phối hợp và thực tiễn triển khai Kế hoạch tăng cường TGPL cho trẻ em giai đoạn 2011- 2015; kết quả hoạt động phối hợp thực hiện Chương trình 14 phổ biến giáo dục pháp luật và TGPL cho phụ nữ; Kết quả hoạt động phối hợp TGPL lưu động; Tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc; lãnh đạo Trung tâm TGPL báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động TGPL; tình hình tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL ở địa phương.

Các tham luận và ý kiến của đại biểu đã đánh giá, phân tích khá sâu, đúng thực chất tình hình và kết quả đạt được trong hoạt động TGPL; phân tích vai trò, tác động của hoạt động TGPL đối với sự phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương; làm rõ những khó khăn, hạn chế, tìm ra nguyên nhân trong việc thực hiện TGPL, để từ đó đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn; đồng thời kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL.

Ông Phùng Ngọc Đức, Biên tập viên chính, Tạp chí Dân chủ – Pháp luật đã dành thời gian trao đổi và hướng dẫn về phương pháp, cách thức và kỹ năng viết tham luận, viết tin, bài báo chí.

Kết thúc buổi tọa đàm, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sơ Tư pháp trân trọng và cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật ; đồng chí Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó cục trưởng Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và các đồng chí cùng đi trong đoàn đã dành thời gian quý báo đến thăm và làm việc tại Bến Tre, xin trân trọng cán ơn các đồng chí lãnh đạo, đại diện các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tỉnh; các đồng chí trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên, các cộng tác viên; các đồng chí Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL đã đến dự đông đủ.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hiệu quả Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ Hiệu quả Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ
Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và đối tượng chính sách được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp cho người dân thuộc đối tượng được TGPL tiếp cận với pháp luật. Cái nghèo của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa không chỉ là nghèo vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu văn hoá mà còn nghèo vì thiếu hiểu biết pháp luật, có hiểu biết pháp luật, có văn hoá có biết...

Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và đối tượng chính sách được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp cho người dân thuộc đối tượng được TGPL tiếp cận với pháp luật. Cái nghèo của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa không chỉ là nghèo vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu văn hoá mà còn nghèo vì thiếu hiểu biết pháp luật, có hiểu biết pháp luật, có văn hoá có biết chữ, người dân mới biết tự bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình; yên tâm đầu tư phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Chính vì xác định được tầm quan trọng của công tác TGPL; trong những năm qua, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh (Trung tâm TGPL) đã đẩy mạnh hoạt động trợ giúp hướng về cơ sở, tăng cường TGPL lưu động ở các vùng xa, vùng sâu… không chỉ cho đối tượng TGPL mà còn cho các đối tượng khác. Trung tâm TGPL đã có những biện pháp trợ giúp cụ thể cho các đối tượng phụ nữ chuẩn bị kết hôn và ly hôn, đối tượng chính sách,…tham gia bảo vệ quyền lợi cho chị em khi bị xâm hại. Tuy nhiên, chị em phụ nữ thường có tâm lý e ngại khi đến các cơ quan công quyền, nhất là trong trường hợp phải đến cơ quan pháp luật để trình bày những vướng mắc khó nói của bản thân mình và gia đình. Nhiều người đành chấp nhận im lặng, chịu đựng bị đối xử tồi tệ cho đến khi được mọi người xung quanh phát hiện và các cơ quan, tổ chức can thiệp, khi đó có thể xảy ra nhiều hậu quả đáng tiếc..

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, để tạo điều kiện thuận lợi cho chị em phụ nữ được nâng cao kiến thức pháp luật để tự bảo vệ mình hoặc được bảo vệ khi cần thiết, Trung tâm TGPL đã phối hợp với Hội Liên hiện phụ nữ các cấp thành lập các Câu lạc bộ TGPL dành cho phụ nữ ở cấp huyện; bên cạnh các Câu lạc bộ TGPL được thành lập ở các xã, đã tạo ra một diễn đàn để các chị em có nơi sinh hoạt, vui chơi và tìm hiểu pháp luật. Đến nay, Trung tâm TGPL đã thành lập 46 Câu lạc bộ TGPL; trong đó có 3 Câu lạc bộ Hội liên hiệp phụ nữ cấp huyện; do Ban chấp hành Hội phụ nữ của huyện và các cán bộ tư pháp xã, Hội Phụ nữ xã trong huyện làm nòng cốt. Hướng tới Trung tâm TGPL sẽ phối hợp với lãnh đạo địa phương sẽ ra mắt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho Phụ nữ xã Khánh Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, gồm có 45 thành viên, chủ yếu là hội viên hội phụ nữ của ấp. Câu lạc bộ tổ chức sinh hoạt thường kỳ hàng quý, hàng tháng xoay vòng các xã, với nội dung rất phong phú và hình thức đa dạng, thu hút được nhiều chị em tham gia, giới thiệu những quy định mới của pháp luật, những sự kiện xảy ra trong đời sống hàng ngày, được sự hỗ trợ, hướng dẫn về chuyên môn của Trung tâm trợ giúp pháp lý và phòng Tư pháp huyện, thành phố.

Câu lạc bộ TGPL còn trực tiếp trợ giúp miễn phí cho phụ nữ là nạn nhân của nạn bạo lực gia đình một cách kịp thời nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho họ. Qua thời gian hoạt động, Câu lạc bộ TGPL được chính quyền địa phương quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ.

Trung tâm TGPL đã rà soát, hướng dẫn ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL ở địa phương. Hầu hết, tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL đều đúng theo Quyết định số 03/2008/QĐ-BTP của Bộ tư pháp.

Đối với Câu lạc bộ TGPL phụ nữ cấp huyện là mô hình hoạt động thật sự có hiệu quả cao, tiêu biểu là Câu lạc bộ TGPL của Hội Phụ nữ huyện Mỏ Cày Nam, đã tổ chức lồng ghép sinh hoạt ở chi, tổ hội, tổ chức cuộc thi về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình…. đã phát hiện và báo cáo các ngành chức năng phối hợp ngăn chặn giải quyết kịp thời 09 vụ tảo hôn, 26 vụ bạo hành phụ nữ, 04 vụ ngược đãi trẻ em. Ngoài ra, thành viên Câu lạc bộ TGPL còn phối hợp tham gia hòa giải, giải quyết đơn thư khiếu nại có liên quan đến phụ nữ, trẻ em; có 214 vụ tranh chấp liên quan đến đất đai, hôn nhân gia đình và tranh chấp khác; trong đó hòa giải thành 128 vụ.

Câu lạc bộ TGPL là diễn đàn để các chị em phụ nữ bày tỏ những tâm tư, nguyện vọng của mình, và yêu cầu bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình trong cuộc sống.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - vần đề cần quan tâm của doanh nghiệpPháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - vần đề cần quan tâm của doanh nghiệp
p style="text-align&#58; justify;"!--[if gte mso 9]xml w&#58;WordDocument w&#58;ViewNormal/w&#58;View w&#58;Zoom0/w&#58;Zoom w&#58;PunctuationKerning / w&#58;ValidateAgainstSchemas / w&#58;SaveIfXMLInvalidfalse/w&#58;SaveIfXMLInvalid w&#58;IgnoreMixedContentfalse/w&#58;IgnoreMixedContent w&#58;AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w&#58;AlwaysShowPlaceholderText w&#58;Compatibility w&#58;BreakWrappedTables / w&#58;SnapToGridInCell / w&#58;WrapTextWithPunct / w&#58;UseAsianBreakRules / w&#58;DontGrowAutofit / /w&#58;Compatibility w&#58;BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w&#58;BrowserLevel /w&#58;WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align&#58; justify;"!--[if gte mso 9]xml w&#58;LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w&#58;LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce&#58;style!&#160;&#160; /* Style Definitions */&#160; table.MsoNormalTable &#123;mso-style-name&#58;"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size&#58;0; mso-tstyle-colband-size&#58;0; mso-style-noshow&#58;yes; mso-style-parent&#58;""; mso-padding-alt&#58;0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin&#58;0cm; mso-para-margin-bottom&#58;.0001pt; mso-pagination&#58;widow-orphan; font-size&#58;10.0pt; font-family&#58;"Times New Roman"; mso-ansi-language&#58;#0400; mso-fareast-language&#58;#0400; mso-bidi-language&#58;#0400;&#125; -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align&#58; justify;"span style="font-family&#58; arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size&#58; small;"Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực trạng trên một phần là do sự thiếu thông tin của doanh nghiệp về những quy&#160;định&#160;pháp luật liên quan&#160;đến vấn&#160;đề này./span/span/p

Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực trạng trên một phần là do sự thiếu thông tin của doanh nghiệp về những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Hiện nay, đa số các doanh nghiệp ở nước ta là vừa và nhỏ, trình độ chuyên môn và thực lực kinh tế còn hạn chế. Chính vì vậy, họ chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: Làm sao để tồn tại, phát triển, có lợi nhuận,… mà ít quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đồng thời, các doanh nghiệp hiện nay không có bộ phận pháp chế hoặc có nhưng vẫn còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp, có chăng họ cũng chỉ quan tâm đến những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh để sinh lời như: Thương mại, dân sự, xây dựng,… mà ít quan tâm đến các quy định của pháp luật mang tính giải quyết hậu quả như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Đến nay, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cơ bản đã đầy đủ. Tuy nhiên, các thông tin liên quan đến pháp luật về bồi thường của Nhà nước chưa được phổ biến một cách sâu, rộng đến các doanh nghiệp thông qua các kênh truyền thông. Nguyên nhân là do cơ sở vật chất, nhân sự của các cơ quan thẩm quyền còn hạn chế nên ảnh hưởng đến việc truyền tải thông tin, kinh phí dành cho việc thực hiện các công việc nêu trên còn khiêm tốn. Thực tế cho thấy một số doanh nghiệp khi bị thiệt hại thường có tâm lý hoang mang và không có ý thức là mình sẽ được bồi thường, họ cũng chỉ thu thập các chứng cứ để minh oan, ít khi họ có động thái thu thập hoặc thu thập không đầy đủ chứng cứ để sau này làm căn cứ cho việc bồi thường thiệt hại.

Việc thương lượng giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước ít khi đi đến kết quả, do từ trước tới nay một số cơ quan nhà nước chỉ quen cầm cân nảy mực. Vì vậy, họ khó thông cảm đến thiệt hại của doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc kể từ ngày doanh nghiệp bị thiệt hại nhận được quyết định nhưng không đồng ý thì doanh nghiệp bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, khi khởi kiện đa phần doanh nghiệp có tâm lý kiện chắc gì đã thắng, một số doanh nghiệp còn theo lối tư duy cũ là khi bị thiệt hại thì hay dàn xếp hơn là tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật về bồi thường của Nhà nước để từ đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua những quy định của pháp luật hiện hành.

Do đó, tự bản thân doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói riêng. Cùng với đó, doanh nghiệp nên thay đổi lối tư duy cũ thay vào đó là cần tìm hiểu rõ những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để vận dụng vào việc bảo vệ quyền, lợi ích của mình khi có thiệt hại xảy ra.

21/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ởHỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở
Ngày 26 tháng 04 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở, Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 5 năm 2013, theo đó:

Ngày 26 tháng 04 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở, Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 5 năm 2013, theo đó:

Đối tượng và điều kiện được hỗ trợ

Là hộ gia đình có người có công với cách mạng đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận, bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Thân nhân liệt sỹ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng.

Mức hỗ trợ

Hộ đang ở nhà tạm hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng (kể cả các hộ đã được hỗ trợ theo các chính sách khác trước đây) với mức độ như sau: Phải phá dỡ để xây mới nhà ở theo quy định hỗ trợ 40 triệu đồng/hộ; phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở theo quy định hỗ trợ 20 triệu đồng/hộ.

Trong quá trình hỗ trợ phải đảm bảo nguyên tắc: Sau khi được hỗ trợ, các hộ xây dựng được nhà ở mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở đã có, đảm bảo diện tích sử dụng tối thiểu 30 m2 (đối với những hộ độc thân thì có thể xây dựng nhà ở có diện tích sử dụng nhỏ hơn nhưng không thấp hơn 24 m2); đảm bảo “3 cứng” (nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng).

Phương thức thực hiện hỗ trợ: Ủy ban nhân dân cấp xã đối chiếu, lập danh sách các hộ được hỗ trợ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện; Ủy ban nhân dân cấp huyện tổng hợp, kiểm tra và phê duyệt danh sách số hộ thuộc diện được hỗ trợ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để làm cơ sở lập và phê duyệt kế hoạch hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp xã hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các hộ dân xây dựng nhà ở đảm bảo yêu cầu về diện tích và chất lượng nhà ở theo quy định của Quyết định này và vận động các hộ tự xây dựng nhà ở. Đối với các hộ có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật...) không thể tự xây dựng nhà ở thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức xây dựng nhà ở cho các hộ này.

Ngoài ra, Quyết định cũng nêu rõ trong năm 2013, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện cơ bản xong việc hỗ trợ về nhà ở cho hộ gia đình người có công với cách mạng theo đúng quy định của Quyết định này đối với khoảng 71.000 hộ.

20/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIIINội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh khóa VIII sẽ diễn ra trong 03 ngày, trong đó 01 ngày họp Tổ đại biểu thảo luận tài liệu kỳ họp (ngày 19/11/2013) và 02 ngày họp toàn thể tại hội trường (ngày 05, 06/12/2013). Kỳ họp lần này diễn ra với các nội dung chính sau đây:

Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ thông qua các báo cáo và tờ trình:

1. Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

2. Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2013, Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2014.

3. Báo cáo quyết toán ngân sách tỉnh năm 2012.

4. Báo cáo thu, chi ngân sách năm 2013, dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh năm 2014.

5. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 33/2012/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2012 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5.

6. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 12/2013/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2013 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6.

7. Báo cáo về việc tổng kết Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND về bổ sung một số chủ trương, biện pháp tiếp tục thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn tỉnh Bến Tre đến 2020 và Nghị quyết số 06/2009/NQ-HĐND về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND.

8. Báo cáo chuyên đề về kết quả thực hiện Nghị quyết số 14/2011/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2011 về công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

9. Báo cáo chuyên đề về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại năm 2013.

10. Báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh năm 2013.

11. Báo cáo với HĐND tỉnh về các nội dung đã thoả thuận giữa Thường trực HĐND và Ủy ban nhân dân năm 2013.

12. Báo cáo tiếp thu, giải trình về các ý kiến thảo luận Tổ đại biểu, ý kiến thẩm tra của các Ban và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

13. Các tờ trình của Ủy ban nhân dân tỉnh xin thông qua dự thảo:

- Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

- Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2014.

- Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2012.

- Nghị quyết về dự toán và phương án phân bổ ngân sách nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014.

- Nghị quyết về quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre áp dụng trong năm 2014.

- Nghị quyết Quy hoạch vùng tỉnh Bến Tre.

- Nghị quyết Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

- Nghị quyết thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc.

- Nghị quyết về việc bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

- Nghị quyết về đẩy mạnh và phát triển đô thị tỉnh Bến Tre đến năm 2020.

- Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh.

Các cơ quan tư pháp báo cáo:

1. Tình hình và kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp năm 2013 ở địa phương. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

2. Tình hình và kết quả hoạt động xét xử năm 2013 trên phạm vi toàn tỉnh. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

3. Tờ trình về việc cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh: thông báo về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến, kiến nghị của cử tri. Đồng thời sẽ giới thiệu nhân sự bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016.

Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh có nội dụng báo cáo, tờ trình gồm:

1. Báo cáo tổng kết hoạt động Thường trực, các Ban HĐND tỉnh năm 2013 và chương trình công tác năm 2014.

2. Báo cáo kết quả giám sát của HĐND về cải cách thủ tục hành chính và công tác xây dựng, nâng cao chất lương đội ngủ cán bộ, công chức trong chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 của tỉnh và kết quả giám sát khai thác cát sông trái phép trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

3. Báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát của HĐND, Thường trực HĐND tỉnh năm 2013 và dự kiến nội dung chương trình giám sát năm 2014.

4. Báo cáo thực hiện kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2013 và dự toán kinh phí năm 2014.

5. Báo cáo về tình hình thực hiện chương trình xây dựng nghị quyết năm 2013.

6. Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận Tổ đại biểu và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

7. Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh về các báo cáo, tờ trình, đề án trình tại kỳ họp thứ 8.

8. Các tờ trình của Thường trực HĐND tỉnh xin thông qua:

- Nghị quyết về chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về Chất vấn và trả lời chất vấn.

- Nghị quyết về cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

- Nghị quyết về xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân.

Kỳ họp lần thứ 8 - HĐND tỉnh khoá VIII sẽ được truyền hình trực tiếp phiên khai mạc, phiên chất vấn, trả lời chất vấn và phiên bế mạc để cử tri theo dõi và giám sát.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 8Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 8
Thực hiện Kế hoạch số 824/KH-HĐND ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc tiếp xúc cử tri kỳ họp thứ 08 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Mỏ Cày Nam tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong Tổ tiếp xúc cử tri trước kỳ họp. Theo đó, việc tiế...

Thực hiện Kế hoạch số 824/KH-HĐND ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc tiếp xúc cử tri kỳ họp thứ 08 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Mỏ Cày Nam tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong Tổ tiếp xúc cử tri trước kỳ họp. Theo đó, việc tiếp xúc cử tri sẽ được tiến hành tại các địa điểm và thời gian cụ thể sau đây:

Điểm thứ nhất: Hội trường Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn Mỏ Cày (gồm cử tri thị trấn Mỏ Cày và cử tri xã Tân Hội). Thời gian: 7 giờ 30 phút ngày 14/11/2013;

Điểm thứ hai: Hội trường UBND xã An Thới (gồm cử tri xã An Thới và cử tri xã Ngãi Đăng). Thời gian: 7 giờ 30 phút ngày 15/11/2013;

Điểm thứ ba: Hội trường UBND xã Định Thủy (gồm cử tri xã Định Thủy và cử tri xã Phước Hiệp). Thời gian: 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2013;

Điểm thứ tư: Hội trường UBND xã Cẩm Sơn (gồm cử tri xã Cẩm Sơn và cử tri xã Tân Trung). Thời gian: 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2013.

Tại các cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh sẽ báo cáo với cử tri tình hình thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về kinh tế - xã hội và quốc phòng – an ninh năm 2013. Đồng thời thông báo nội dung, chương trình kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh, trên cơ sở đó tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Ngoài ra sẽ thông tin nội dung giải trình của UBND tỉnh, các sở, ngành đối với các ý kiến, kiến nghị của cử tri trước và sau kỳ họp thứ 6.

Để Hội đồng nhân dân tỉnh thực sự là cơ quan quyền lực đại diện cho nhân dân, để kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh là diễn đàn để nhân dân thể hiện ý chí, quyền làm chủ của mình; đề nghị quý cử tri tích cực tham dự các cuộc tiếp xúc cử tri để phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị của mình. Các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam sẽ tiếp thu, ghi nhận và phản ánh lại tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh lần thứ 8 sắp tới.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020

Ngày 21 tháng 6 năm 2017, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Nghị quyết 43/2017/QH14 về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020. Theo đó, trong giai đoạn 2016 - 2020, Quốc Hội giao Chính phủ tập trung thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp sau:

Khẩn trương rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm để sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan theo hướng quy định rõ các điều cấm và tăng chế tài xử lý; khắc phục tình trạng chồng chéo, không rõ trách nhiệm trong phân công quản lý an toàn thực phẩm; tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, đến hết năm 2020 cơ bản hoàn thành các quy chuẩn kỹ thuật chính về an toàn thực phẩm cho các nhóm đối tượng và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Đến hết năm 2018, kiện toàn cơ bản bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm các cấp theo hướng tập trung đầu mối, rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả. Ở cấp xã, phân công cán bộ theo dõi an toàn thực phẩm. Tăng cường năng lực, điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ quản lý an toàn thực phẩm ở các cấp, tạo sự chuyển biến rõ rệt về an toàn thực phẩm.

Phấn đấu giảm mạnh số vụ ngộ độc thực phẩm nhiều người, giảm tỷ lệ mẫu thực phẩm kiểm tra không đảm bảo an toàn, tăng tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản được kiểm tra đạt yêu cầu về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm so với giai đoạn trước. Có lộ trình và giải pháp giải quyết dứt điểm các vấn đề yếu kém: về dư lượng vượt ngưỡng cho phép của thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, kinh doanh thực phẩm; kiểm soát giết mổ nhỏ lẻ, thực phẩm có nguy cơ cao, thức ăn đường phố; ngộ độc thực phẩm cấp tính và mãn tính; kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, hàng nhập lậu và gian lận thương mại; kiểm soát môi trường đất, nước cho sản xuất thực phẩm an toàn.

Hoàn thiện chính sách về đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm đồng bộ với quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất an toàn; có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo chuỗi khép kín, áp dụng chương trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, hệ thống kiểm soát chất lượng tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ, bảo đảm an toàn thực phẩm, có lộ trình giảm tỷ trọng sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, kém chất lượng.

 Đẩy mạnh quản lý an toàn thực phẩm sang kiểm soát theo quá trình sản xuất, dựa trên phân tích nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm; tăng cường hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm; chỉ đạo các địa phương phát triển, nhân rộng chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn và kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ; tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống giám sát, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; tăng các biện pháp, chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng; tiếp tục thực hiện thí điểm thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm, đánh giá tổng kết và mở rộng mô hình khi có kết quả tích cực.

Bố trí đủ ngân sách cho công tác quản lý an toàn thực phẩm theo dự toán. Cho phép sử dụng kinh phí xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm để phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, trong đó được trích một tỷ lệ hợp lý khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích trong quản lý, tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm. Tăng cường xã hội hóa, đa dạng các nguồn lực tài chính và một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm; thực hiện tốt việc tổ chức đánh giá, công nhận các cơ sở thực hiện xã hội hóa quản lý an toàn thực phẩm và chỉ định các cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện kiểm nghiệm về an toàn thực phẩm tham gia kiểm định, giám định chất lượng thực phẩm. Phối hợp tích cực với hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp, đặc biệt là của người dân trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm.

Tăng cường công tác giáo dục truyền thông, thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm; biểu dương kịp thời những điển hình tiên tiến, công khai những tồn tại yếu kém, những hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm của tổ chức và cá nhân; tránh đưa thông tin không đúng sự thật gây hoang mang trong dư luận ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và phát triển các kỹ năng truyền thông; nâng cao số lượng, chất lượng các tài liệu và thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm. Thiết lập hệ thống thông tin hỏi đáp phục vụ người dân, cung cấp thông tin, phản ánh về an toàn thực phẩm; tiếp nhận và xử lý kịp thời các thông tin vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.

Chú trọng công tác đào tạo, tăng cường tập huấn chuyên môn nghiệp vụ; tổ chức đào tạo lại cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm tại các tuyến; từng bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tích cực vận động sự hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế cho công tác an toàn thực phẩm.

20/07/2017 3:00 CHĐã ban hành
Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bến Tre khóa VIII được tổ chức vào ngày 05 và ngày 06 tháng 12 năm 2013. Tham dự kỳ họp có: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội; các đồng chí lãnh đạo tỉnh; 48/52 đại biểu HĐND tỉnh; thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; thường trực HĐND và đại diện cử tri của các huyện, thành phố.

Kỳ họp đã nghe Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014;  Thông báo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Đại biểu HĐND tỉnh và những vấn đề cử tri quan tâm; Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh; Báo cáo tiếp thu và giải trình của UBND tỉnh về một số vấn đề nổi lên qua thảo luận ở Tổ đại biểu, ý kiến kiến nghị của cử tri và của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tại kỳ họp thứ 8. Ngoài ra, một số văn bản Thường trực HĐND tỉnh đã gửi cho đại biểu nghiên cứu, để làm cơ sở thảo luận, quyết định.

Tại kỳ họp, đại biểu HĐND tỉnh đã tập trung thảo luận vào những ý kiến còn khác nhau qua thảo luận tại tổ, xoay quanh một số nhóm vấn đề: nuôi thủy sản không theo quy hoạch; phát triển các mô hình sản xuất trong nông nghiệp; vốn đầu tư các chương trình, đề án; an ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Kỳ họp cũng đã dành ra một buổi để các đại biểu HĐND tỉnh thực hiện phiên chất vấn. Nội dung chất vấn liên quan đến việc nuôi tôm ngoài vùng quy hoạch; sử dụng đất không đúng theo hợp đồng thuê đất đối với Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre; đầu tư xây dựng và hoạt động của Cảng Giao Long; thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông thuộc Sở Thông tin và Truyền thông; tạm đình chỉ vụ án không đúng theo quy định; không đưa Đề án thành lập thị trấn Tiệm Tôm, xã An Thủy, huyện Ba Tri vào trong Nghị quyết HĐND tại kỳ họp 8; công trình kiên cố hóa Trường Trung học cơ sở Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc chưa được hoàn thành; giải quyết khiếu nại của công dân khu vực đất cù Lao Lá, huyện Ba Tri và các khiếu nại khác chậm giải quyết; cải cách hành chính (quản lý hộ tịch, hộ khẩu).

Đại diện cử tri huyện Châu Thành cũng đã có ý kiến phát biểu về việc tổ chức, điều hành, nội dung của kỳ họp thứ 8 - HĐND tỉnh Khóa VIII, đồng thời kiến nghị những vấn đề mà cử tri quan tâm.

Kỳ họp đã ban hành 17 Nghị quyết như sau:

Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2012;

Nghị quyết về dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về việc thông qua quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bến Tre đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc;

Nghị quyết về việc bãi bỏ một phần, bãi bỏ toàn bộ một số Nghị quyết của HĐND tỉnh;

Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2014 – 2016 và định hướng đến năm 2020;

Nghị quyết về Chương trình xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về Chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về dự toán kinh phí hoạt động của HĐND tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 8 – HĐND tỉnh Khóa VIII;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả cho thôi làm nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết xác nhận kết quả bầu bổ sung chức danh Phó Trưởng Ban Văn hóa Xã hội chuyên trách HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Qua đánh giá, kỳ họp đã thực hiện đúng chương trình và thành công tốt đẹp.

26/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
CUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNGCUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

CUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

Mời quý đọc giả cùng tham gia cuộc thi viết tìm hiểu pháp luật về lao động trên Bản tin Tư pháp với những nội dung cụ thể như sau:

1. Đối tượng dự thi

- Công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

- Thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo, Tổ thư ký giúp việc cho Ban Tổ chức, Ban Giám khảo của cuộc thi không được tham gia dự thi.

2. Hình thức dự thi

- Mỗi cá nhân chỉ được gửi 01 bài dự thi, bài dự thi bằng tiếng Việt, có thể viết tay hoặc đánh máy trên giấy A4, đánh số trang theo thứ tự.

- Trang bìa bài dự thi phải ghi rõ họ; tên; ngày, tháng, năm sinh, giới tính; địa chỉ (nơi ở, nơi học tập hoặc nơi làm việc) của người dự thi. Ngoài phong bì của bài dự thi ghi rõ: "Bài dự thi tìm hiểu pháp luật về lao động".

3. Nội dung thi

Mỗi thí sinh phải trả lời 05 câu hỏi sau đây:

Câu 1: Quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động được pháp luật quy định như thế nào?

Câu 2: Người lao động, người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp nào?

Câu 3: Pháp luật lao động quy định chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ như thế nào?

Câu 4: Việc sử dụng lao động dưới 15 tuổi được pháp luật quy định ra sao?

Câu 5: Giải đáp tình huống:

Chị T là công nhân, con của chị T chưa được một tuổi, nhà lại xa nơi làm việc nên chị T hay đi làm muộn, mặc dù đã được Tổ trưởng sản xuất nhắc nhở nhiều lần nhưng chị T vẫn không khắc phục được. Vừa qua, lãnh đạo Công ty đã ra quyết định xử lý kỷ luật chị T bằng hình thức khiển trách, đồng thời quyết định nếu chị T còn tiếp tục vi phạm sẽ kéo dài thời hạn nâng lương thêm 01 năm.

Hỏi: Công ty xử lý kỷ luật chị T như vậy là đúng hay sai, giải thích tại sao?

4. Thời gian và địa điểm nhận bài dự thi

- Thời gian nhận bài dự thi: Từ nay đến hết 17 giờ, ngày 05/12/2016.

- Địa điểm nhận bài thi: Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp. Địa chỉ: Số 17, đường Cách mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Bài dự thi có thể gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện. Riêng đối với bài dự thi được gửi qua đường bưu điện, Ban Tổ chức sẽ tính thời gian theo dấu bưu điện.

5. Cơ cấu giải thưởng

01 giải nhất: 2.000.000 đồng.

02 giải nhì: 1.500.000 đồng/giải

03 giải ba: 1.000.000 đồng/giải.

05 giải khuyến khích: 500.000 đồng/giải.

BAN TỔ CHỨC CUỘC THI

18/10/2016 5:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn