Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Phòng Hành chính tư pháp
​ DANH SÁCH  CÔNG CHỨNG VIÊN ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀVÀ CẤP THẺ CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI BẾN TRE NĂM 2017(Tính đến ngày 20/3/2017)STT   STTHỌ VÀ TÊNNĂM SINHQUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆMSỐ THẺ CÔNG CHỨNG VIÊNNƠI LÀM VIỆC01Huỳnh Thanh Tân01/5/19571297/QĐ-BTPngày 03/6/201403/CCVcấp ngày 13/3/2017VPCC Lê Hùng Dũngsố 49, ấp An Hòa, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre02Lê Duy Phúc Hải10/3/19763434/QĐ-B... 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 23/01/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/01/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 16/01/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 12/01/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 01/12/2016 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 28/11/2016 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 25/11/2016 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 23/11/2016 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/11/2016 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Kết quả tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ VIII của Tổ Đại biểu HĐND tỉnh đơn vị Mỏ Cày NamKết quả tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ VIII của Tổ Đại biểu HĐND tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam

Ngày 14 và 15 tháng 11 năm 2013, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ VIII tại 4 điểm gồm: xã An Thới, Định Thủy và Cẩm Sơn và thị trấn Mỏ Cày. Trên 600 cử tri các xã An Thới, Ngãi Đăng, Định Thủy, Phước Hiệp, Cẩm Sơn, Tân Trung, Tân Hội và thị trấn Mỏ Cày đã đến dự và có ý kiến phát biểu.

Qua ý kiến phản ánh của cử tri cho thấy, cử tri ngày càng quan tâm hơn đến những vấn đề chung của xã hội, của cộng đồng. Trước đây, những ý kiến đặt ra thường chỉ liên quan những vấn đề mang tính cá nhân, như là việc tranh chấp, khiếu nại của bản thân. Thì nay, cử tri đã quan tâm đóng góp cho sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước nói chung và của tỉnh nhà nói riêng.

Tại các buổi tiếp xúc cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện cùng với lãnh đạo các ngành huyện đã tiếp thu và giải trình nhiều ý kiến phản ánh của cử tri trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ. Ngoài ra, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam cũng đã ghi nhận một số ý kiến, kiến nghị của cử tri để phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền để tiếp thu, giải trình, cụ thể như sau:

Đối với cấp tỉnh:

1. Đề nghị bổ sung vấn đề “lãng phí” vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về công tác phòng, chống tham nhũng dự kiến sẽ thông qua vào kỳ họp thứ VIII sắp tới.

2. Đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh khi ra nghị quyết, các chỉ tiêu phải sát và phù hợp với thực tế để có thể đạt được.

3. Đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh có chế độ hỗ trợ kinh phí cho cán bộ cấp ấp vì hiện nay có đoàn thể có, đoàn thể không.

4. Công an tỉnh cần có giải pháp để giảm tai nạn giao thông và tình trạng thanh niên lập các băng nhóm.

5. Đối với thủ tục công nhận Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, đề nghị giảm bớt số lượng hồ sơ vì theo pháp luật quy định chỉ 3 bộ nhưng khi thực hiện lại yêu cầu đến 9 bộ hồ sơ.

6. Công trình Trạm Y tế xã Định Thủy do Sở Y tế làm chủ đầu tư, Ủy ban nhân dân xã Định Thủy đã bàn giao mặt bằng, sau 3 tháng thi công với khoảng 15% khối lượng công trình thì đơn vị thi công đã rút đi hoàn toàn, đến nay đã hơn 5 tháng nhưng đơn vị thi công vẫn không tiếp tục thực hiện theo cam kết với Ban Quản lý dự án Sở Y tế. Đề nghị Sở Y tế có biện pháp giải quyết sớm vì để bàn giao mặt bằng nên cán bộ và nhân viên Trạm phải di dời đi nơi khác đã hơn 01 năm, điều kiện khám chữa bệnh cho bà con chật hẹp, thiếu thốn.

7. Việc giải quyết chính sách theo Quyết định 62 chưa tốt, có hồ sơ trả trở lại nhưng không nói lý do.

Đối với Trung ương:

1. Cần có chế độ đối với đối tượng công an vũ trang xã (trước giải phóng) và liệt sĩ du kích.

2. Việc thu phí giao thông đường bộ đã tính trong việc đánh thuế đối với mặt hàng xăng, nay lại thu thêm phí bảo trì đường bộ, như vậy là thiệt cho người dân.

Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam sẽ thông tin, báo cáo kết quả cho cử tri theo dõi ngay sau khi nhận được ý kiến phản hồi của các cơ quan chức năng.

 

17/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 233, tờ bản đồ số 12 thửa đất số 405, tờ bản đồ số 24 tại ấp Phú Tây, xã An Định, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 233, tờ bản đồ số 12 thửa đất số 405, tờ bản đồ số 24 tại ấp Phú Tây, xã An Định, MCN, tỉnh Bến Tre
01/11/2018 11:00 SAĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

STT

Tên

văn

 bản

Số, ký hiệu

 văn bản

Ngày, tháng, năm ban hành văn bản Trích yếu/nội dung văn bản Hiệu lực văn bản Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01Pháp lệnh

09/2014/

UBTVQH13

20/1/2014Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dânCòn hiệu lực  ​
02Nghị định

111/2013/

NĐ-CP

30/9/2013Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
03Nghị định 221/2013/NĐ-CP30/12/2013Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộcCòn hiệu lực  
04Nghị định

02/2014

NĐ-CP

10/01/2014Quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực  
​05​Nghị định
26/2016/NĐ-CP​16/4/2016Quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập​Từ ngày 01/6/2016
06Thông tư 38/2014/TT-BCA12/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡngCòn hiệu lực  
07Thông tư 39/2014/TT-BCA12/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực  
08Thông tư 20/2014/TT-BTP25/9/2014Về việc ban hành các biểu mẫu để sử dụng trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp thay thế xử lý hành chính quản lý tại gia đình đối với người chưa thành niên theo quy định của Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/09/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
09Thông tư 42/2014/TT-BCA25/9/2014Quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực  
10
Thông tư 43/2014/TT-BCA08/10/2014Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử  lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộcCòn hiệu lực 
11Thông tư

48/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2013 quy định chế độ áp dụngbiện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực 
12Thông tư 193/2014/TT-BTC12/12/2014Về việc quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấnCòn hiệu lực 
13Thông tư liên tịch

17/2015/

TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA

09/7/2015Quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túyCòn hiệu lực 
14Công văn

1503/

BTP-QLXLVPHC

&TDTHPL

08/5/2015Về việc sử dụng các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BTP và Thông tư số 42/2014/TT-BCACòn hiệu lực 
​15​Thông tư
​19/2015/TT-BTP​28/12/2015

Việc kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

​Còn hiệu lực


25/09/2015 2:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 24/10/2016Kết quả lý lịch tư pháp ngày 24/10/2016
24/10/2016 9:00 SAĐã ban hành
Vai trò của đăng ký khai sinh đối với việc quản lý nhà nước và đối với công dânVai trò của đăng ký khai sinh đối với việc quản lý nhà nước và đối với công dân
Đăng ký hộ tịch theo quy định của Điều 1 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 /12/ 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước c...

Đăng ký hộ tịch theo quy định của Điều 1 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 /12/ 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi. Đăng ký hộ tịch là quyền, nghĩa vụ của mọi công dân, là một trong những nguyên tắc chung xét ở gốc độ pháp lý về mặt quyền thì đăng ký hộ tịch là việc thể hiện quyền dân sự của công dân; về mặt nghĩa vụ công dân phải có trách nhiệm thực hiện đăng ký hộ tịch. Đối với Nhà nước thông qua việc đăng ký này đảm bảo được quyền của công dân. Do vậy, đăng ký hộ tịch là quyền và nghĩa vụ của mỗi người, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định.

Đăng ký khai sinh là một loại sự kiện đăng ký hộ tịch, là sự kiện đăng ký đầu tiên có liên quan đến nhân thân của một người từ khi mới sinh ra.Từ khái niệm đăng ký hộ tịch nêu ra ở trên chúng ta suy ra khái niệm đăng ký khai sinh là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận và ghi vào Sổ đăng ký khai sinh sự kiện được sinh ra của một cá nhân. Nội dung đăng ký là việc xác định những thông tin về bản thân người được đăng ký khai sinh như họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh và thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh…Sau khi được đăng ký khai sinh cá nhân được cơ quan đăng ký cấp cho Giấy khai sinh có ghi nhận đầy đủ các thông tin liên quan đến nhân thân của cá nhân như nội dung mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ghi nhận.

Ở mỗi thời kỳ, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của đất nước, tùy thuộc vào mong muốn của nhà quản lý, việc đăng ký khai sinh có một ý nghĩa nhất định. Cùng với sự phát triển của đất nước, ngày nay việc đăng ký khai sinh được hoàn thiện dần cùng với công tác đăng ký hộ tịch qua các văn bản về hộ tịch mà Nhà nước đã ban hành. Đăng ký khai sinh là một lĩnh vực trong công tác đăng ký hộ tịch, đăng ký khai sinh có vai trò ý nghĩa rất quan trọng đối với công dân và đối với Nhà nước, đăng ký khai sinh tạo mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.

Thứ nhất, vai trò của đăng ký khai sinh đối với việc quản lý nhà nước: Nhà nước đăng ký khai sinh cho công dân là để Nhà nước quản lý về mặt pháp lý từng người dân, qua đó quản lý toàn bộ dân cư trong cả nước, nắm bắt được biến động tự nhiên về dân cư. Nhà nước quản lý con người, thống kê được dân số, tình hình tăng dân số giúp Nhà nước có cơ sở hoạch định chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Qua đó, Nhà nước có cơ sở khoa học để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Mặt khác công tác đăng ký khai sinh một yêu cầu không thể thiếu trong quản lý nhà nước về hộ tịch, là ghi nhận về mặt pháp lý sự tồn tại của một cá nhân, là cơ sở ràng buộc trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân, từ đó phát sinh trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống người dân, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Hơn thế nữa, đối với Nhà nước thông qua việc đăng ký này đảm bảo được quyền của công dân, quyền được khai sinh mà pháp luật đã quy định. Đặc biệt đối với trẻ em đối tượng Nhà nước quan tâm bảo vệ, thì đăng ký khai sinh cho trẻ em là nghĩa vụ phải làm của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ em, đối tượng được quan tâm hàng đầu trong mọi xã hội.

Khi đăng ký khai sinh Nhà nước cấp cho người dân chứng thư pháp lý là Giấy khai sinh. Giấy khai sinh góp phần hỗ trợ hoạt động các cơ quan nhà nước trong việc xác định nhân thân của một người như độ tuổi, giới tính, cha mẹ…., phục vụ cho các quan hệ khác. Ví dụ: Giấy khai sinh dùng để xác định cha và mẹ đẻ của một cá nhân, giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp người chết không để lại di chúc, phân chia tài sản theo pháp luật, hay Giấy khai sinh dùng để hỗ trợ cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tuổi của một người để áp dụng chính sách trong tố tụng cho phù hợp…

Thứ hai, vai trò của đăng ký khai sinh đối với công dân: Đăng ký khai sinh là quyền của mỗi người được pháp luật quốc tế ghi nhận, đồng thời cũng được ghi nhận trong pháp luật của quốc gia. Đăng ký khai sinh có vai trò, ý nghĩa là sự ghi nhận về mặt pháp lý tình trạng nhân thân của một người được sinh ra, thông qua đăng ký khai sinh, cá nhân được cấp Giấy khai sinh, là cơ sở xác định nguồn gốc các mối quan hệ nhân thân, quan hệ gia đình; là một trong những chứng cứ pháp lý tạo ra sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa Nhà nước và công dân và có giá trị chứng minh đối với các mối quan hệ khác trong xã hội ví dụ như truy nhận cha, mẹ con, thừa kế di sản, học tập…Đăng ký khai sinh cho một cá nhân là cơ sở đầu tiên để cá nhân đó trở thành công dân một quốc gia, làm phát sinh quyền của mình, công dân thực hiện được các quyền của mình được Nhà nước ghi nhận và là cơ sở để được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Nếu cá nhân không đăng ký khai sinh, cá nhân sẽ không hưởng được các quyền dành cho công dân mà Nhà nước quy định, cũng như công dân sẽ không được bảo vệ khi quyền và lợi ích bị xâm hại. Nếu không có khai sinh thì không có cơ sở chắc chắn để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác thông qua các yếu tố cơ bản như: họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, nơi sinh, thông tin về cha mẹ…

Trong cộc sống, Đăng ký khai sinh có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với người dân, tuy nhiên nếu không thực hiện đúng quy định pháp luật thì sẽ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đăng ký khai sinh đòi hỏi phải được đăng ký chính xác tuyệt đối các thông tin liên quan đến nhân thân của một cá nhân. Nếu trong việc đăng ký khai sinh có sự không chính xác trong việc ghi nhận các thông tin đã đăng ký thì hệ lụy này do người dân gánh chịu.

23/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quản lý, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển dừa giốngQuản lý, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển dừa giống

Ngày 05/6/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 27/2018/QĐ-UBND về việc quản lý, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển dừa giống trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quyết định này quy định về việc quản lý, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển dừa giống trên địa bàn tỉnh Bến Tre, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 6 năm 2018.

Theo đó, Quyết định quy định cây dừa mẹ phải đáp ứng đủ các tiêu chí: Tuổi cây từ 10-25 năm đối với nhóm dừa cao; từ 8 – 20 năm đối với nhóm dừa lùn. Màu sắc tán lá phải đặc trưng của giống, tán lá phân bố tròn đều, sẹo lá khích, số tàu lá trên cây lớn hơn 25 tàu. Thân cây mọc mạnh, thẳng không sâu bệnh, không có biểu hiện thiếu dinh dưỡng, không có mùa treo kéo dài từ 3 tháng trở lên. Có nhiều quày/cây, quày dài, cổ quày to, không bị lạc bẹ. Năng suất cao từ 70 – 100 trái/cây/năm đối với nhóm dừa cao và 100 – 120 trái/cây/năm đối với nhóm dừa lùn và ổn định ít nhất 03 năm liên tục. Thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của địa phương (vùng đất nhiễm phèn, mặn và có khả năng kháng sâu bệnh tốt).

Trái dừa dùng để sản xuất giống: Là vật liệu ban đầu để nhân giống được thu từ cây dừa mẹ và phải đáp ứng đủ các tiêu chí sau:

 Phải được chọn từ cây dừa mẹ trong quần thể đồng nhất về giống (không chọn trái dừa giống từ những cây dừa mẹ phát triển trong điều kiện đặc biệt như gần nhà, khu chăn nuôi), có nguồn gốc rõ ràng.

 Phải chín hoàn toàn về sinh lý (khi trái bắt đầu chuyển sang màu nâu, lắc nghe róc rách); trái phải thể hiện đặc trưng của giống về màu sắc, hình dạng; trái phát triển bình thường, kích thước trung bình so với giống đó không bị dị dạng (không quá to và quá nhỏ) không bị sâu bệnh phá hoại.

Việc công nhận cây dừa mẹ do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn và đáp ứng đầy đủ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Quyết định này.

Việc kinh doanh, vận chuyển dừa giống trên địa bàn tỉnh phải có hồ sơ, giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, chất lượng cây giống theo quy định.

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh dừa giống với mục đích thương mại phải đảm bảo điều kiện sản xuất, kinh doanh theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh số 15/2004/PL-UBTVQH11.

26/06/2018 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 04/12/2018NewThông báo bán đấu giá tài sản ngày 04/12/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 231 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô chở tiền, nhãn hiệu: Mitsubishi, màu sơn: xanh, biển số: 71T-9769, số máy: 6G72TT4012; số khung: 93W9J000348; sản xuất năm 2008, tại Nhật Bản, số chỗ ngồi: 5, loại nhiên liệu: xăng. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: đến hết ngày 04/9/2018. Xe bán dạng đăng ký lại.

* Lưu ý:

- Xe đã bao gồm thuế VAT, khách hàng trúng đấu giá phải chịu các loại thuế và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.

- Trong 30 ngày khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá 30 ngày Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre không chịu trách nhiệm giải quyết.           

 - Tài sản được quản lý tại: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre (địa chỉ: số 02 Đại lộ Đồng Khởi, phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

-  Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 346.000.000đ (Ba trăm bốn mươi sáu triệu đồng).

* Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc) tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre (địa chỉ: số 02 Đại lộ Đồng Khởi, phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre). (Liên hệ đ/c Hưng, SĐT: 0918557624 - 02753.824690).

* Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 69.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 18/12/2018 (Thứ ba) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 232 (Kèm QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là 02 (hai) tàu cá của ông Trần Chí Trung, hiện cư ngụ tại: ấp An Lợi, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Tàu cá biển số đăng ký BT-93739-TS:

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-93739-TS

- Tên tàu: CHÍ TRUNG 2

- Chủ tàu: Trần Chí Trung

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 1999, tại Trà Vinh

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 53,8tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Chiều dài thiết kế: 22,10m

- Chiều rộng thiết kế: 6,6m

- Chiều cao mạn: 2,90m

- Chiều chìm: 2,40m

- Mạn khô: 0,50m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu HINO 10V26C,

- Số máy A10713

- Tổng công suất động cơ: 450CV

- Nhiên liệu động cơ sử dụng: Diesel

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

* Về trang bị khai thác tàu:

- Trong hầm máy 12 (mười hai) bồn nhựa; sau lái tàu có 01 (một) bồn nhựa 1.000 lít.

- Có 06 (sáu) quạt mô tưa 1,5 Kw.

- Ngư cụ (dây, lưới…) đã hư hỏng.

- (01 (một) máy tơi ngang (kéo cáp, lưới).

- 01 (một) mỏ neo khoảng 150 kg.

- 01 (một) cẩu sắt ba chân.

Hiện trạng tàu ngưng hoạt động lâu.

- Giá khởi điểm tài sản (1): 2.388.528.000đ (Hai tỷ, ba trăm tám mươi tám triệu, năm trăm hai mươi tám ngàn đồng)

2. Tàu cá biển số đăng ký: BT-93639-TS

* Về đặc điểm tàu:

- Số đăng ký: BT-93639-TS

- Tên tàu: CHÍ TRUNG 1

- Chủ tàu: Trần Chí Trung

- Cơ quan đăng ký: Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre

- Loại tàu: Tàu cá

- Công dụng: Khai thác thủy sản

- Năm/Nơi đóng: 1999, tại Ba Tri

* Về đặc điểm kỹ thuật:

- Tải trọng hàng hóa: 29,4tấn

- Vật liệu vỏ: Gỗ

- Chiều dài thiết kế: 19m

- Chiều rộng thiết kế: 4,93m

- Chiều cao mạn: 2,47m

- Chiều chìm: 2,02m

- Mạn khô: 0,45m

- Nguồn động lực chính: 01 động cơ hiệu HINO V25C,

- Số máy B11138

- Tổng công suất động cơ: 450CV

- Nhiên liệu động cơ sử dụng: Diesel

- Nơi chế tạo máy: Nhật Bản

* Về trang bị khai thác tàu:

- Trong hầm máy 12 (mười hai) bồn nhựa.

- 01 (một) mô tơ đáu với máy chính phát điện (khoảng 15Kw).

- Cáp và dây dẫn cào nằm trong cabin (không rõ số lượng).

Hiện trạng tàu ngưng hoạt động lâu.

- Giá khởi điểm: 410.310.000 (Bốn trăm mười triệu, ba trăm mười ngàn đồng).

* Tài sản (1+2) đang được ông Trần Minh Trí (cha ruột của ông Trần Chí Trung) quản lý tại: thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Trần Chí Trung, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 2.798.838.000đ (Hai tỷ, bảy trăm chín mươi tám triệu, tám trăm ba mươi tám ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên được bán từng mục 1, 2 và chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ đối với tài sản 1 và 200.000đ/hồ sơ đối với tài sản 2, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 477.000.000đ/hồ sơ đối với tài sản 1 và 82.000.000đ/hồ sơ đối với tài sản 2, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 13/12/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 18/12/2018. (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 233 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà Phạm Thị Lan, hiện cư ngụ tại: 289B, đại lộ Đồng Khởi, khu phố 5, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất 

- Diện tích: trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  số BA058783 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 08/7/2010 là 3.136,5m2; diện tích thực tế theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành ngày 10/7/2018: 3.124,2m2.

- Mục đích sử dụng: 1.000m2 đất cơ sở sản xuất kinh doanh, 1.954,1m2 đất trồng cây lâu năm và 170,1m2 đất cây lâu năm thuộc lộ giới.

- Thuộc thửa đất số 167, tờ bản đồ số 10.

2. Tài sản gắn liền với đất

2.1 Nhà xưởng 1:

- Hiện trạng: Móng bê tông cốt thép, khung thép hình, mái tole, vách tole, gác gỗ, nền tráng xi măng (diện tích gác gỗ: 312m2)

- Diện tích tính giá trị: 879,8m2.

- Chất lượng còn lại khoảng 55%.

2.2 Nhà xưởng 2:

- Hiện trạng: Móng cột bê tông cốt thép, vị kèo thép, mái tole, nền lát gạch cramic, tường gạch, sơn nước hoàn thiện

- Diện tích tính giá trị: 706,8m2.

- Chất lượng còn lại khoảng 55%.

2.3 Nhà làm việc:

- Hiện trạng: Móng đà cột bê tông cốt thép, nền gạch Cramic, am1i tole, trần thạch cao, tường gạch, cửa sắt kính.

- Diện tích tính giá trị: 105,6m2.

- Chất lượng còn lại khoảng 60%

2.4 Nhà ăn:

- Hiện trạng: Tận dụng vách tường rào và nhà xưởng, mái tole, nền tráng xi măng.

- Diện tích tính giá trị: 87,9m2

- Chất lượng còn lại: 55%

2.5 Nơi rửa tay + nhà vệ sinh:

- Hiện trạng: Tận dụng vách tường rào và nhà xưởng, mái tole, vị kèo thép, nền gạch Cramic.

- Diện tích tính giá trị: 94,4m2

- Chất lượng còn lại: 45%

2.6 Nhà xe hai bánh giáp hướng tây

- Hiện trạng: Nhà tiền chế, không vách, cột thép hình, mái tole, nền tráng xi măng

- Diện tích tính giá trị: 21,8m2

- Chất lượng còn lại: 55%

2.7. Nhà xe hai bánh giám hướng đông:

- Hiện trạng: Nhà tiền chế, không vách, cột thép hình, mái tole, nền tráng xi măng

- Diện tích tính giá trị: 67,1m2

- Chất lượng còn lại: 55%

2.8 Nhà xe bốn bánh

- Hiện trạng: Nhà tiền chế cột thép hình, mái tole, nền tráng xi măng, vách + cửa thép hình + lưới B40

- Diện tích tính giá trị: 164,1m2

- Chất lượng còn lại: 55%

2.9 Nhà bảo vệ

- Hiện trạng: Móng cột đà bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền lát gạch Cramic, mái lợp tole, trần thạch cao, cửa sắt kính, sơn nước hoàn thiện.

- Diện tích tính giá trị: 13,7m2

- Chất lượng còn lại: 60%

2.10. Cổng tường rào:

- Hiện trạng: Hàng rào xây gạch cao 02m, cổng rào song sắt (sắt hình) kích thước theo chu vi đất (3 phía)

- Diện tích tính giá trị: 174,09m2

- Chất lượng còn lại: 60%

* Tài sản (1 + 2) tọa lạc tại: Xã Quới Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bà Phạm Thị Lan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. 

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2) là: 5.611.080.000đ (Năm tỷ, sáu trăm mười một triệu, không trăm ám mươi ngàn đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế. Các khoản này do người mua trúng đấu giá chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/01/2019 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Quới Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/01/2019 (trong giờ làm việc). Lệ phí hồ sơ là 500.000đ, lệ phí này không được hoàn lại.

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 07/01/2019 (trong giờ làm việc). Tiền đặt trước là 1.100.000.000đ nộp vào tài khoản trung tâm dịch vụ đấu giá số 72110000200470 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhành Bến Tre.

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 9 giờ 30 phút ngày 10/01/2019 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

. Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 , website: stp.bentre.gov.vn hoặc thads.moj.gov.vn/bentre để biết thêm chi tiết.

 

11/12/2018 9:00 SAĐã ban hành
Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Qua quá trình triển khai tổ chức thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, bên cạnh các kết quả đạt được, việc thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

a) Việc thực hiện quy định về lập đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì đối với Nghị quyết quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật cơ quan soạn thảo phải thực hiện quy trình chính sách: Thực hiện từ Điều 112 đến Điều 117 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trước khi thực thực hiện quy trình soạn thảo. Quy trình chính sách bao gồm các bước như sau:

- Xây dựng nội dung chính sách

          - Đánh giá tác động của chính sách

          - Xây dựng dự thảo Hồ sơ lập đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét thông qua đề nghị xây dựng Nghị quyết.

          - Trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét đề nghị xây dựng Nghị quyết, phân công soạn thảo và xác định thời hạn trình Hội đồng nhân dân.

Sau khi thực hiện xong các bước nêu trên, nếu đề nghị xây dựng Nghị quyết được Thường trực Hội đồng nhân dân chấp thuận thì thực hiện tiếp theo quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật từ Điều 118 đến Điều 126 của Luật.

Tuy nhiên, trên thực tế việc đánh giá tác động chính sách được các cơ quan soạn thảo thực hiện lồng ghép trong quá trình xây dựng văn bản nhưng chưa đúng quy trình, thủ tục vì những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành những chính sách đặc thù của tỉnh thường có nội dung ngắn và thực hiện theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nên việc lập đề nghị xây dựng Nghị quyết thực hiện theo ý kiến chỉ đạo và thường bỏ qua bước lập Đề nghị xây dựng Nghị quyết trong quy trình chính sách (gửi Sở Tư pháp thẩm định Đề nghị (thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định), thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh và trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét Đề nghị)

Thứ hai, theo quy định của Luật thì cần phải xây dựng nội dung chính sách sau đó đưa chính sách đó đánh giá tác động, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh rồi mới trình Thường trực HĐND chấp thuận. Nếu chính sách đó được chấp thuận thì cơ quan soạn thảo mới tiến hành xây dựng dự thảo Nghị quyết và thực hiện các quy trình tiếp theo. Tuy nhiên, trên thực tế do nội dung chính sách của địa phương thường ngắn gọn nên  cơ quan soạn thảo tiến hành xây dựng luôn dự thảo Nghị quyết, đánh giá tác động chính sách, tổ chức lấy ý kiến góp ý, thẩm định… và bỏ qua giai đoạn xây dựng chính sách như quy định của Luật.

Qua thực tế theo dõi việc ban hành và triển khai thực hiện các chính sách pháp luật tại địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất điều chỉnh quy định đánh giá tác động chính sách ở địa phương theo hướng lồng gép đánh tác động chính sách vào quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm đơn giản hóa thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tiết kiệm thời gian, công sức cho các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, không tách riêng thành 02 quy trình như quy định của Luật hiện hành.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 111 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì đối với những đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 1 Điều 27) thì không phải thực hiện quy trình chính sách theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 2 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy định về soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định "đánh giá tác động văn bản trong tất cả các trường hợp kể cả trường hợp dự thảo Quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên". Như vậy, quy trình đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và quy trình đánh giá tác động chính sách trong soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thống nhất với nhau.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị sửa đổi quy định tại điểm c khoản 3 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hướng dẫn cụ thể, làm cơ sở để địa phương áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

b) Về ban hành văn bản bãi bỏ

Theo khoản 1 Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Như vậy, theo quy định mới của Luật năm 2015 thì văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh) là văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn triển khai áp dụng quy định này gặp một số khó khăn như sau:

Một là, phần lớn văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để quy định chi tiết điều, khoản điểm được cơ quan Trung ương giao về cho địa phương ban hành, khi các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương làm căn cứ pháp lý ban hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã không còn phù hợp (bị sửa đổi, bổ sung, thay thế) thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cũng không còn phù hợp.

Trong trường hợp nếu văn bản không còn đối tượng điều chỉnh hoặc một phần đối tượng điều chỉnh không còn, hoặc một phần hoặc toàn bộ nội dung không còn phù hợp với căn cứ pháp lý hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội mà không cần thiết phải ban hành văn bản mới thay thế thì ban hành văn bản bãi bỏ (bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản). Như vậy, có thể thấy nội dung của văn bản bãi bỏ rất đơn giản, chỉ cần rà soát các quy định hiện hành của Trung ương thì có thể xác định văn bản đó có cần thiết bãi bỏ hay không bãi bỏ.

Hai là, nếu văn bản bãi bỏ là hình thức văn bản quy phạm pháp luật thì phải ban hành theo trình tự thủ tục của một văn bản quy phạm pháp luật như: Đề nghị xây dựng văn bản, soạn thảo, đăng tải, lấy ý kiến, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua. Trong khi nội dung văn bản bãi bỏ phần lớn chỉ có 2 điều: Một điều quy định về bãi bỏ văn bản nào đó, một điều quy định về tổ chức thực hiện. Đồng thời, kinh phí xây dựng cho một văn bản quy phạm pháp luật theo Thông tư liên tịch số 338/2016/TTLT-BTC-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2016 quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện VBQPPL thì mức chi cho một văn bản bãi bỏ là 10 triệu đồng gây tốn kém ngân sách nhà nước.

Từ những lý do trên, kiến nghị cơ quan Trung ương xem xét điều chỉnh lại nội dung này theo hướng văn bản chỉ có nội dung bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy trình rút gọn tại Điều 146 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đồng thời điều chỉnh lại mức chi kinh phí cho phù hợp với loại văn bản này).

c) Về thực hiện nội dung cấm quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (khoản 4 Điều 14 Luật)

Khoản 4 Điều 14 Luật quy định cấm quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật."

Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 14 thì nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân không được quy định thủ tục hành chính trừ trường hợp được giao trong luật.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật thì Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do đó, trong thực tiễn áp dụng quy định này có một số vướng mắc như sau:

Một số văn bản dưới luật giao hoặc qua thực tế tại địa phương phát sinh một số nội dung cần quy định thủ tục hành chính để triển khai thực hiện các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của địa phương (như ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, hỗ trợ xúc tiến thương mại, ban hành thủ tục xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC …). Trong trường hợp này nếu địa phương không quy định thủ tục để tổ chức, cá nhân nhận được mức hỗ trợ sẽ dẫn đến việc tùy tiện trong thực hiện, không đảm bảo tính công khai, minh bạch; đồng thời có một số cơ quan tự quy định về mẫu đơn, tờ khai và trình tự thủ tục để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân. Còn nếu quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh thì lại trái với khoản 4 Điều 14 Luật (chỉ cho phép quy định trong trường hợp được luật giao).

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị xem xét sửa đổi khoản 4 Điều 14 Luật theo hướng mở rộng thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

d) Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện và cấp xã.

Theo quy định tại Điều 30 của Luật thì Hội đồng cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp được luật giao.

Tuy nhiên, thực tiễn văn bản Luật hầu như không giao thẩm quyền một cách rõ ràng cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã. Mặt khác, trong một số trường hợp văn bản dưới Luật giao hoặc cấp huyện và cấp xã (nhất là cấp huyện) phát sinh vấn đề cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết các vấn đề phát sinh tại địa phương hoặc để thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương; trong trường hợp này nếu ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì lại trái với quy định tại Điều 30 Luật, không ban hành thì cấp huyện và cấp xã gặp khó khăn trong thực hiện chức năng quản lý của mình.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị sửa đổi Điều 30 Luật theo hướng cho phép Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã, ngoài trường hợp được Luật giao còn được phép ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một số trường hợp văn bản dưới luật giao. (Còn tiếp kỳ sau)

24/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 23/11/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 23/11/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 218 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và cây trồng trên đất của hộ bà Bùi Ngọc Diễm, hiện cư ngụ tại: số 578/3 ấp 3, xã Sơn Đông, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất

a) Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 9-4

- Diện tích: 136 m2

- Mục đích sử dụng: đất nuôi trồng thủy sản 

b) Thửa đất số 253, tờ bản đồ số 9-4 (nhập từ thửa 13,19, tờ bản đồ 9-4)

- Diện tích: 704,8 m2 (trong đó có 300m2 đất ONT, 305m2 đất CLN và 99,8m2 đất CLN thuộc lộ giới)

2. Nhà ở

a) Nhà chính

- Diện tích: 75m2

- Móng cột bê tông cốt thép, nền gạch ceramic, mái lợp tole trằng lõm

- Chất lượng còn lại 80%

b) Nhà phụ

- Diện tích: 49,82m2

- Móng cột bê tông cốt thép, nền gạch ceramic, mái lợp tole trằng lõm

- Chất lượng còn lại 80%

c) Mái che

- Diện tích 43,24m2

- Nền xi măng, mái tole

- Chất lượng còn lại 70%

d) Cổng rào

- Diện tích 18,4m2

- Chất lượng còn lại 70%

3. Cây trồng trên đất

- Nhãn đã cho trái (loại 1): 01 cây

- Xoài đã cho trái (loại 1): 01 cây

- Mận đã cho trái (loại 1): 01 cây

- Mít mới trồng: 02 cây

- Dừa mới trồng: 03 cây

- Chuối: 05 bụi

- Bưởi da xanh đang cho trái (loại 1): 14 cây

- Chanh đã cho trái (loại 1): 01 cây

- Ổi mới trồng: 10 cây

- Mai trồng ngoài đất: 04 cây

- Cây kiểng trồng làm cảnh ngoài đất: 05 cây

- Sứ: 01 cây

- Tùng: 02 cây

- Tre (loại 3): 01 bụi

*Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: ấp 3, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

*Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc là quyền sử dụng đất, nhà ở và cây trồng trên đất của hộ bà Bùi Ngọc Diễm, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (I+II+III): 3.809.108.000đ (Ba tỷ, tám trăm lẻ chín triệu, một trăm lẻ tám ngàn đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên chưa bao gồm các khoản thuế, phí, lệ phí liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản).

* Khoản tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: 760.000.000đ/01 hồ sơ (nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre).

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 16/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/12/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 16/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/12/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 17/12/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 20/12/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

  Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ông Nguyễn Văn Sang và bà Nguyễn Thị Vân, địa chỉ thường trú tại: ấp Thanh Xuân 2, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Thửa đất số 1858, tờ bản đồ số 02 của Ông Lê Văn Chốn đã chuyển quyền sở hữu theo Hợp đồng số 640/CN ngày 10/3//2009 cho ông Nguyễn Văn Sang và bà Nguyễn Thị Vân

- Diện tích: 399,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm.

- Giá khởi điểm tài sản: 53.622.000đ (Năm mươi ba triệu, sáu trăm hai mươi hai ngàn đồng).

2. Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 02

- Diện tích: 2.044,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm;

- Giá khởi điểm tài sản (2): 275.940.000đ (Hai trăm bảy mươi lăm triệu, chín trăm bốn mươi ngàn đồng).

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: ấp Thanh Xuân 2, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

* Lưu ý: Tài sản bán toàn bộ và bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 593230 do UBND huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cấp ngày 25/02/2009 và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AO 541298 do UBND huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cấp ngày 31/3/2009  không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền hoặc người mua có yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạt, trường hợp diện tích đất thực tế tăng thì người mua được hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của Nguyễn Văn Sang và bà Nguyễn Thị Vân do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

            - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 329.562.000 đ (Ba trăm hai mươi chín triệu, năm trăm sáu mươi hai ngàn đồng).

   - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là  200.000 đ/ hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

- Khoản tiền đặt trước là 65.900.000đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

      - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 26/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 10/12/2018 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc: xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 26/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 10/12/2018 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 10/12/2018 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ ngày 12/12/2018.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 228 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý bán dạng phế liệu 01 chiếc xe nâng hàng số 3, nhãn hiệu TCMFG 20N5.

- Tài sản được quản lý tại: cơ sở 2 ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

            * Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Cơ sở dạy nghề vá lưới quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

-  Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 32.327.250 đ (Ba mươi hai triệu, ba trăm hai mươi bảy ngàn, hai trăm năm mươi đồng).

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 26/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/12/2018 (trong giờ làm việc) tại trụ cơ sở 2 ấp Phú Chánh, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (Liên hệ đ/c Linh SĐT: 0907263463).

* Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 26/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/12/2018 (trong giờ làm việc). Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 04/12/2018 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 6.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 06/12/2018 (Thứ năm) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 229 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô cứu thương màu trắng, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: Hiace, thể tích làm việc của động cơ: 2438cm3; biển số  71B-0373, số máy: 2052238; số khung: RZH105-0030758; sản xuất năm 1999, tại Nhật Bản. Xe bán dạng phế liệu.

- Tài sản quản lý tại: Trung tâm Y tế huyện Mỏ Cày Nam; địa chỉ: thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Y tế huyện Mỏ Cày Nam quản lý, không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

-  Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).

* Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 26/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/12/2018 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Y tế huyện Mỏ Cày Nam; địa chỉ: thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. (Liên hệ đ/c Tân, SĐT: 0275.3843331- 0346963231).

* Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 26/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/12/2018 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 04/12/2018 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 2.400.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

* Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 06/12/2018 (Thứ năm) tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Lưu ý: Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký mua tài sản, thu tiền đặt trước, tham gia đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản: tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

30/11/2018 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 12/11/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 12/11/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 211 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Bùi Văn Mẫn và bà Lê Thị Sương, địa chỉ tại: ấp 3, xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 1002,3 m2;

- Mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước;

- Thuộc thửa đất số 340, tờ bản đồ địa chính số 12.

2. Cây trồng trên đất:

- Dừa loại 2 từ 4 đến 6 năm, đã cho trái: 24 cây;

- Tài sản (1+2) tọa lạc: Ấp Giồng Bông, xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Bùi Văn Mẫn bà Lê Thị Sương, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 65.882.500đ (Sáu mươi lăm triệu tám trăm tám mươi hai ngàn, năm trăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 150.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 13.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 14/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 14/12/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Ấp Giồng Bông, Xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 14/12/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 14/12/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 19/12/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 213 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị Phương Hà (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân Sắc Màu), địa chỉ: 463B2 khu phố 6, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 205,2 m2;

- Mục đích sử dụng: 42,0 m2 đất T và 163,2 m2 CLN;

             - Thuộc tờ bản đồ số 39, thửa đất số 41.

* Bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 02143 QSDĐ/3218 QĐ-UB thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 17/12/2003 không thực hiện việc đo đạc lại. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền hoặc người mua có yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo đạc lại có tăng hơn so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

- Tài sản tọa lạc tại: phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị Phương Hà (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân Sắc Màu) do Ngân hàng TMCP Đông Á– Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

 - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá:  945.000.000 đ (Chín trăm bốn mươi lăm triệu đồng). Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế; nếu có phát sinh các khoản trên thì người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 189.000.000 đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Bến Tre.

   - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/12/2018 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 07/12/2018.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 220 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Phan Tấn Mỹ (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình giao thông Bến Tre), địa chỉ: 10/2 ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 2.116,1  m2 (trong đó có 148,2 m2 đất nằm trong hành lang lộ giới).

- Mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước;

- Thuộc tờ bản đố 42, thửa đất số 388;

- Tài sản tọa lạc: ấp 4, xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

* Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BO 972369, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 01468 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm cấp cho ông Phan Tấn Mỹ vào ngày 25/9/2013 không thực hiện việc đo đạc lại. Trường hợp người mua có yêu cầu đo đạc lại phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất trong Giấy chứng nhận tăng thì người mua hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất ông Phan Tấn Mỹ (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình giao thông Bến Tre) do Ngân hàng TMCP Đông Á– Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 1.178.492.803 đ (Một tỷ, một trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm chín mươi hai ngàn, tám trăm lẻ ba đồng). Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế; nếu có phát sinh các khoản trên thì người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ , nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 235.600.000đ/hồ sơ, nộp chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.   

   - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/12/2018 (trong giờ làm việc) tại: ấp 4 xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/12/2018 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/12/2018 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 14/12/2018.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 219 (KÈM QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản của ông Trần Duy Khương (Doanh nghiệp tư nhân Duy Khương), địa chỉ tại: 354 ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 07, thửa đất số 689:

- Diện tích: 88,9 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AM 699416, số vào sổ cấp giấy chứng nhận HPN/01799 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 16/5/2008.

- Giá khởi điểm tài sản (1) là: 72.876.800 đ (Bảy mươi hai triệu, tám trăm bảy mươi sáu ngàn, tám trăm đồng).

- Tài sản (1) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

2. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 07, thửa đất số 512:

- Diện tích: 3.219,0 m2;

- Mục đích sử dụng: 300,0 m2 đất ONT và 2.919,0 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 489205, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPN/01440 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 10/8/2007.

- Giá khởi điểm tài sản (2) là: 801.845.600 đ (Tám trăm lẻ một triệu, tám trăm bốn mươi lăm ngàn, sáu trăm đồng).

- Tài sản (2) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

3. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa đất số 408 và thửa đất số 610:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 408

- Diện tích: 1.260,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 478003, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HNT/01835 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 16/7/2007.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 610:

- Diện tích: 1.068,0 m2

- Mục đích sử dụng: 300,0m2 đất ONT và 768,0m2 đất HNK;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 478446, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HNT/01865 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 06/8/2007.

- Giá khởi điểm tài sản (3): 610.000.000 đ (Sáu trăm mười triệu đồng).

- Tài sản (3) tọa lạc tại: xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

4. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất số 37:

- Diện tích: 111,1 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259775, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP7/02375 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 30/3/2009.

- Giá khởi điểm tài sản (4): 109.744.000đ (Một trăm lẻ chín triệu, bảy trăm bốn mươi bốn ngàn đồng).

- Tài sản (4) tọa lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

5. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa đất số 36 và thửa đất số 37:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 36

- Diện tích: 773,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất MNC;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 873795, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/04189 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 37

- Diện tích: 406,0 m2 đất ODT, HNK;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 873796, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/04190 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007

- Giá khởi điểm (5) là: 687.614.700 đ (Sáu trăm tám mươi bảy triệu, sáu trăm mười bốn ngàn, bảy trăm đồng).

- Tài sản (5) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

6. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 46, thửa đất số 133:

- Diện tích: 1.555,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AN 381153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/05967 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007.

- Giá khởi điểm tài sản (6): 352.381.100 đ (Ba trăm năm mươi hai triệu, ba trăm tám mươi mốt ngàn, một trăm đồng).

- Tài sản (6) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

7. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 46, thửa đất số 157:

- Diện tích: 432,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AM 412903, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/05218 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 24/4/2008.

- Giá khởi điểm tài sản (7): 125.176.700 đ (Một trăm hai mươi lăm triệu, một trăm bảy mươi sáu ngàn, bảy trăm đồng).

- Tài sản (7) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

8. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 47, thửa số 19:

- Diện tích: 1.009,3 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BA 170179, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00081 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre­ cấp ngày 25/01/2010.

- Giá khởi điểm (8): 282.933.700 đ (Hai trăm tám mươi hai triệu, chín trăm ba mươi ba ngàn, bảy trăm đồng).

- Tài sản (8) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

9. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 47, thửa đất số 68:

- Diện tích:  641,7 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BA 170180, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00082 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre­ cấp ngày 25/01/2010.

- Giá khởi điểm tài sản (9): 187.765.100 đ (Một trăm tám mươi bảy triệu, bảy trăm sáu mươi lăm ngàn, một trăm đồng).

- Tài sản (9) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

10. Quyền sử dụng đất thuộc 11 thửa trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

Số

TT

Giấy CN QSDĐ sốSố vào sổ cấp GCN QSDĐThửa đất số

Tờ

bản đồ

Mục đích sử dụngDiện tích (m2)
01AO259753HPH/0679113946HNK173,0
02AO259757HPH/0679414046HNK630,0
03AO259754HPH/0679214146HNK789,0
04AO259756HPH/0679314246HNK237,0
05AM729723HPH/0564214446LUA1.122,0
06AM729724HPH/0564314546LUA1.219,0
07AL953541HPH/0485115146CLN1.417,0
     08BA170308CH0008915246LUA873,3
09AM412904HPH/0521915346LUA1.691,0
10BA170310CH0009148646LUA1.785,5
11BA170307CH0008850746CLN740,7
TỔNG CỘNG10.677,5

- Giá khởi điểm tài sản (10) là: 2.553.262.700 đ (Hai tỷ, năm trăm năm mươi ba triệu, hai trăm sáu mươi hai ngàn, bảy trăm đồng).

- Tài sản (10) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

11. Quyền sử dụng đất thuộc 13 thửa trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

 

Số

TT

Giấy CN QSDĐ sốSố vào sổ cấp GCN QSDĐThửa đất số

Tờ

bản đồ

Mục đích sử dụngDiện tích (m2)
01AK998336HPH/044225146LUA2.087,0
02AN385027HPH/060645246LUA2.039,0
03

AL878509

 

HPH/04576

 

53

 

46

 

ONT300,0
HNK1.902,0

04

 

AK410769

 

HPH/03958

 

54

 

46

 

ONT300,0
CLN5.627,0

05

 

AM729966

 

HPH/05730

 

55

 

46

 

ONT300,0
HNK1.422,0
06AL879257HPH/047106246CLN1.106,0
07AN409164HPH/063176446LUA864,0
08AN409163HPH/063166546LUA1.004,0
09AK410768HPH/0395949446CLN2.050,0

10

 

AO206200

 

HPH/07114

 

587

 

46

 

ONT100,0
CLN2.401,6
11BC 159081CH0073860446ONT100,0
CLN2.135,6
12AQ224626HPH/0720519527CLN1.005,1

13

 

AM729057

 

HPH/05487

 

253

 

27

 

ONT150,0
HNK2.321,5
TỔNG CỘNG27.214,8

- Giá khởi điểm tài sản (11) là: 5.773.563.200 đ (Năm tỷ, bảy trăm bảy mươi ba triệu, năm trăm sáu mươi ba ngàn, hai trăm đồng).

- Tài sản (11) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

12. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa đất số 05 và thửa đất số 65:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 05

- Diện tích: 268,1 m2;

- Mục đích sử dụng: 100,0 m2 đất ODT và 168,1 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259652, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP6/01402 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 17/3/2009.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 65

- Diện tích: 89,4 m2;

- Mục đích sử dụng: đất ODT;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259539, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP6/01397 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 19/3/2009.

- Giá khởi điểm tài sản (12) là: 346.379.500 đ (Ba trăm bốn mươi sáu triệu, ba trăm bảy mươi chín ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (12) tọa lạc tại: phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

13. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa đất số 75 và thửa đất số 751:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 75

- Diện tích: 709,0 m2;

- Mục đích sử dụng: 200,0 m2 đất ODT và 509,0 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 206606, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HBP/03641 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 19/6/2009.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 751

- Diện tích: 200,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AQ 181073, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HBP/03761 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 14/9/2009.

- Giá khởi điểm (13) là: 505.851.200 đ (Năm trăm lẻ năm triệu, tám trăm năm mươi mốt ngàn, hai trăm đồng).

- Tài sản (13) tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Duy Khương (DNTN Duy Khương) do Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1 + 2+ 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10 + 11 + 12 + 13) là: 12.409.194.300 đ (Mười hai tỷ, bốn trăm lẻ chín triệu, một trăm chín mươi bốn ngàn, ba trăm đồng). Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế; nếu có phát sinh các khoản trên thì người mua trúng đấu giá phải chịu.

   * Lưu ý: Tài sản trên bán từng mục (1 + 2+ 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10 + 11 + 12 + 13) theo nhu cầu người sử dụng.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là: 500.000đ/hồ sơ (tài sản 2), (tài sản 3), (tài sản 5), (tài sản 10), (tài sản 11) (tài sản 13); 150.000 đ/hồ sơ (tài sản 1) và 200.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), (tài sản 6), (tài sản 07), (tài sản 8), (tài sản 9), (tài sản 12), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là: 14.500.000đ/hồ sơ (tài sản 1), 160.300.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 122.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 3), 21.900.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), 137.500.000 đ/hồ sơ (tài sản 5), 70.400.000 đ (tài sản 6), 25.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 7),  56.500.000 đ/hồ sơ (tài sản 8) 37.500.000 đ/hồ sơ (tài sản 9), 510.600.000 đ/hồ sơ (tài sản 10), 1.154.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 11), 69.200.000 đ/hồ sơ (tài sản 12), 101.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 13) nộp vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/11/2018 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận,  xã Nhơn Thạnh, xã Phú Hưng, xã Bình Phú, phường 6, phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo tài sản, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/11/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 27/11/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá tài sản vào lúc: 08 giờ ngày 29/11/2018; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 223 (KÈM QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ trụ sở Công an tỉnh cũ của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre giao Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Bến Tre quản lý, tài sản cụ thể như sau:

1. Nhà làm việc (A): diện tích xây dựng 422m2, số tầng: 3 tầng, năm xây dựng: 1991, diện tích sàn sử dụng 1.266m2

2. Nhà làm việc (B): diện tích xây dựng 672,5m2, số tầng: 3 tầng, năm xây dựng: 1977, diện tích sàn sử dụng 2.690m2

3. Nhà làm việc (C): diện tích xây dựng 280,5m2, số tầng: 4 tầng, năm xây dựng: 1998, diện tích sàn sử dụng 1.122m2

4. Nhà làm việc số 4 (D): diện tích xây dựng 143,3m2, số tầng: 3 tầng, năm xây dựng: 1975, diện tích sàn sử dụng 430m2

5. Nhà làm việc số 5 (E): diện tích xây dựng 119m2, số tầng: 1 tầng, năm xây dựng: 1987, diện tích sàn sử dụng 119m2

6. Nhà làm việc số 6 (F): diện tích xây dựng 237m2, số tầng: 2 tầng, năm xây dựng: 1987, diện tích sàn sử dụng 474m2

7. Nhà số 7 (Nhà thường trực): diện tích xây dựng 9m2, số tầng: 1 tầng, năm xây dựng: 1987, diện tích sàn sử dụng 9m2

8. Nhà số 8 (Nhà tập thể doanh trại B): diện tích xây dựng 174m2, số tầng: 1 tầng, năm xây dựng: 1995, diện tích sàn sử dụng 174m2

9. Nhà số 9 (Nhà tập thể doanh trại D): diện tích xây dựng 44m2, số tầng: 1 tầng, năm xây dựng: 1975, diện tích sàn sử dụng 44m2

10. Nhà số 10 (Nhà để xe 2 bánh): diện tích xây dựng 94m2, năm xây dựng: 1998, diện tích sàn sử dụng 94m2. Nhà khung thép tiền chế, mái tole đã bị gió thối tróc.

11. Nhà gara ôtô: diện tích xây dựng 202m2, năm xây dựng: 1992, diện tích sàn sử dụng 202m2. Nhà khung thép tiền chế

12. Vật kiến trúc (Bể nước, tường rào, sân...):

- Bể nước: (3m x 3m x 2m) x 2 bể. Bể xây dựng pêtông cốt thép, năm xây dựng: 1991

- Tường rào: 165m, cột pêtông, tường xây gạch, năm xây dựng: 1991

* Lưu ý:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá, tháo dỡ bắt buộc phải lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Bến Tre; khi thực hiện việc tháo dỡ phải bảo đảm các yêu cầu về an toàn lao động và có lưới bao để đảm bảo an toàn cho người dân qua lại và các khu vực xung quanh (thực hiện theo quy định tại Thông tư số 04/2017/TT-BXD ngày 30 tháng 3 năm 2017 của Bộ Xây dựng).

- Tài sản được quản lý tại: trụ sở Công an tỉnh cũ; địa chỉ: phường 3, thành phố Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre giao Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

 - Tổng giá khởi điểm của toàn bộ tài sản đấu giá: 754.248.000đồng (Bảy trăm năm mươi bốn triệu, hai trăm bốn mươi tám ngàn đồng).

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/11/2018 (trong giờ làm việc) tại trụ sở Công an tỉnh cũ; địa chỉ: phường 3, thành phố Bến Tre. (Liên hệ đ/c Đoàn SĐT 0944294429).

* Thời tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/11/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/11/2018 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre. Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/11/2018 (trong giờ làm việc). Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 150.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 27/11/2018 (Thứ ba).

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275-3823667 và website: stp.bentre.gov.vn hoặc thads.moj.gov.vn/bentre để biết thêm chi tiết./.

 

16/11/2018 9:00 SAĐã ban hành
Những điểm mới cơ bản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáoNhững điểm mới cơ bản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 09 Chương, 68 Điều. Luật có những điểm mới cơ bản như sau:

Mở rộng chủ thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Theo Hiến pháp năm 2013 "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào". Cụ thể hóa Hiến pháp Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào" (Khoản 1 Điều 6).  

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định này thể hiện tính nhân văn trong chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho những người bị hạn chế quyền công dân.

Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Quy định này thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người.

Bổ sung một Chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

 Để phản ánh rõ hơn phạm vi điều chỉnh của Luật cũng như thể hiện cơ bản nhất chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã bổ một Chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với 04 Điều quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung

Chủ thể thực hiện quyền này được mở rộng. Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung không xem là mốc khởi điểm để hình thành về tổ chức.

Một số nội dung theo quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ nay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở Trung ương

Theo quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, một số nội dung thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ nay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương (công nhận tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo; tiếp nhận thông báo giải thể trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo). Việc thay đổi này sẽ giảm tải công việc cho Thủ tướng Chính phủ, tăng thẩm quyền cho cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cũng như giúp cho việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo nhanh gọn, thuận lợi hơn khi các tổ chức, cá nhân liên quan có nhu cầu.

Thời gian được công nhận là tổ chức tôn giáo giảm còn 05 năm

Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 quy định tổng thời gian kể từ khi được Ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận sinh hoạt tôn giáo đến đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo là 23 năm. Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thời gian công nhận tổ chức tôn giáo được tính từ khi tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Đây là một quy định thuận lợi cho các tổ chức khi đề nghị công nhận tổ chức tôn giáo.

Vấn đề tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo

Điều 30 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Đối với tổ chức tôn giáo được công nhận trước ngày Luật có hiệu lực là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày Luật này có hiệu lực với điều kiện các tổ chức tôn giáo này có trách nhiệm điều chỉnh, đăng ký hiến chương tại đại hội gần nhất theo quy định.

Đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 21 của Luật còn phải được tổ chức tôn giáo đề nghị và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký mới trở thành pháp nhân phi thương mại.

 Tách nội dung phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc thành hai nội dung: phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc và bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tách bạch, phân định rõ chức sắc, chức việc. Trên cơ sở phân định rõ chức sắc, chức việc, Luật quy định cách thức thực hiện đối với việc phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc (Điều 33) khác với bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc (Điều 34).

Về cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo

Cơ sở đào tạo tôn giáo, trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Luật đã bổ sung làm mới các quy định liên quan đến cơ sở đào tạo tôn giáo bao gồm từ đổi tên trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo thành cơ sở đào tạo tôn giáo, điều kiện thành lập, thẩm quyền chấp thuận đến các nội dung liên quan đến hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo.

Mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định việc mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo và phân tách việc mở lớp cho hai đối tượng là người chuyên hoạt động tôn giáo đăng ký việc mở lớp với cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh và những người không chuyên hoạt động tôn giáo thì thông báo với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi mở lớp.

 Bổ sung nội dung phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Đây là một quy định hoàn toàn mới, phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo, với xu thế hội nhập quốc tế và thông lệ quốc tế. Quy định này đã tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được đề nghị phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị khi đáp ứng các điều kiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định, đó là: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; Được đào tạo tôn giáo tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam; Tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được thay đổi theo hướng chỉ đăng ký, thông báo lần đầu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những nội dung không có trong văn bản đăng ký hoặc thông báo sẽ đăng ký, thông báo bổ sung.

Bổ sung theo hướng tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 8 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, đó là được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với các quyền cụ thể như sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đối với chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.

Trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc này, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có 7 Điều quy định về hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài, trong đó tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo tập trung có thể thuê, mượn địa điểm để sinh hoạt tôn giáo; người nước ngoài có thể được tổ chức tôn giáo ở Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị; tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có quyền gia nhập, chấm dứt tham gia tổ chức tôn giáo nước ngoài;…

 Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để các cơ quan này biết, thực hiện trách nhiệm phối hợp với các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc để các hoạt động tôn giáo diễn ra đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn, bảo vệ môi trường... Các nội dung theo quy định của Luật, người đại diện cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có trách nhiệm thông báo như thông báo lễ hội định kỳ; thông báo về khoản thu, mục đích sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng; thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo; thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử; thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành; thông báo cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc; thông báo hội nghị thường niên… Đây cũng là quy định phù hợp với xu hướng hiện nay nhằm nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tôn giáo trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.

Phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, Luật cũng có các quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Đề bảo đảm có đầy đủ công cụ pháp lý nhằm thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, đồng thời bảo đảm quyền phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định về thanh tra chuyên ngành tôn giáo; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và một số biện pháp chế tài khác như đình chỉ, thu hồi, giải thể.

13/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Cần chấn chỉnh những hạn chế những hạn chế trong công tác  xử lý vi phạm hành chínhCần chấn chỉnh những hạn chế những hạn chế trong công tác  xử lý vi phạm hành chính

Qua hơn 3 năm thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản pháp luật có liên quan; các sở, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố (gọi tắt là cơ quan, đơn vị) đã triển khai, thực hiện nghiêm túc và khá đồng bộ các văn bản quy định về xử lý vi phạm hành chính;  Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác xử lý vi phạm hành chính; góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Tuy nhiên, công tác xử lý vi phạm hành chính hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót, như: Việc xác định đối tượng, hành vi vi phạm hành chính chưa được chính xác, nên khi xử lý chưa đúng theo quy định của pháp luật, còn bỏ lọt đối tượng vi phạm; việc áp dụng pháp luật vi phạm hành chính chưa thống nhất; một số trường hợp tạm giữ tang vật, phương tiện chưa đúng theo quy định; tình trạng kho bải tạm giữ tang vật, phương tiện chưa đảm bảo; công tác kiểm tra nghiệp vụ chưa được quan tâm, còn hình thức, chưa phát hiện kịp thời những thiếu sót trong việc lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính; công tác tập huấn, hướng dẫn chưa được thường xuyên.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt cán bộ và nhân dân nhận thức sâu và thực hiện tốt quy định về xử lý vi phạm hành chính; nhất là cán bộ trực tiếp và các chức danh có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm hành chính nắm vững và áp dụng chính xác các quy định về xử lý vi phạm hành chính; xác định đúng đối tượng, nhân thân và hành vi vi phạm hành chính, không bỏ lọt đối tượng vi phạm; khi tạm giữ tang vật, phương tiện phải lập hồ sơ đầy đủ, đúng quy định, nhất là trong lĩnh vực an toàn giao thông, cần thực hiện đúng Công văn số 20/UBND-NC ngày 03/01/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc xử lý phương tiện giao thông đường bộ vi phạm hành chính.

Cần tăng cường hơn nữa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực vi phạm hành chính; quan tâm hướng dẫn, tập huấn cho các cán bộ trực tiếp thực hiện và các chức danh có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Thường xuyên rà soát, phát hiện những vướng mắc, bất cập để chỉ đạo chấn chỉnh kịp thời. Tổ chức kiểm tra, phát hiện, và kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm và đúng quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Công an tỉnh phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh sửa chữa hoặc xây dựng mới kho, bãi tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (khai thác khoáng sản, giao thông, hóa chất) quản lý tốt tang vật, phương tiện tạm giữ, đảm bảo đúng pháp luật, tránh hư hỏng.

Sở Tư pháp phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu giải pháp đảm bảo việc áp dụng pháp luật đối với công tác xử lý giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (nhất là giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ đến nay chưa xử lý được) để thực hiện thống nhất trên địa bàn tỉnh; đồng thời phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền hướng dẫn xử lý.

20/09/2018 4:00 CHĐã ban hành
Danh mục thủ tục hành chính cấp xãDanh mục thủ tục hành chính cấp xã
19/06/2017 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 02/3/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 02/3/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 41 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 955,4 m2 (trong đó: 180,0 m2 đất ONT và 775,4 m2 đất trồng cây hàng năm khác);

- Thuộc thửa đất số 444, tờ bản đồ số 6.

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 439068 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00578 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 16/6/2011.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Hàng rào lưới B40. Diện tích 6.2md; trụ xi măng đúc sẳn: 41 trụ.

3. Cây trồng trên đất:

- Cây dừa loại 1: 07 cây, dừa loại 3: 23 cây;

- Cây gừa: 29 bụi

- Khế loại 2: 01 cây

- Tre loại 2: 02 bụi

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 801.810.291đ (Tám trăm lẻ một triệu, tám trăm mười ngàn, hai trăm chín mươi mốt đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 160.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ 30 phút ngày 10/4/2018  tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 42 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Phan Văn Nghĩa và bà Trần Thị Ngoan, hiện cư ngụ tại: 133G2, ấp An Thanh B, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 270 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc một phần thửa đất  số 311, tờ bản đồ số 5 (theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bến Tre thuộc thửa đất số 553, tờ bản đồ số 5).

 - Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 101032, vào sổ cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất số 01810QSDĐ/2206QĐ-UB do UBND thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 12/8/2002 cho hộ ông Phan Văn Nghĩa.

            2. Cây trồng trên đất:

- 01 cây nhãn trên 01 năm tuổi;

- 08 cây bưởi trên 2 năm tuổi;

- 02 cây dừa trên 4 năm tuổi.

- Tài sản toạ lạc tại: xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Phan Văn Nghĩa và bà Trần Thị Ngoan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 131.719.875đ (Một trăm ba mươi mốt triệu, bảy trăm mười chín ngàn, tám trăm bảy mươi lăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 26.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bđấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ 30 phút ngày 10/4/2018  (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 43 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có đặc điểm sau:

1. Quyền sử dụng đất:

a) Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 166, 167, tờ bản đồ số 6.

- Thửa đất số 166, diện tích: 740,4m2; loại đất trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số 167, diện tích: 1.345,5m2; loại đất trồng cây lâu năm;

b) Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 337, tờ bản đồ số 6.

- Diện tích: 181,7 m2; loại đất trồng cây lâu năm;

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01227 QSDĐ/2493 QĐ-UB do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 21/6/2004 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ PN/00242 QSDĐ/3891 QĐ-UB (TX) do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 24/3/2005.

- Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất thửa số 166, 167 ngày 27/4/2017 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bến Tre và phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 337 ngày 23/12/2015 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Bến Tre.

2. Công trình xây dựng gắn liền trên thửa đất số 166, 167

a) Nhà bán kiên cố: có diện tích 22,63m2. Kết cấu: Nền láng ximăng, khung, cột gỗ, kèo gỗ, vách gỗ, mái tole. Hiện trạng: nhà đã xuống cấp, cột gỗ, vách gỗ mối mọt đục khoét...

b) Hàng rào lưới B40. Kết cấu: cao khoảng 1,6m, dài 194,2md, trụ đỡ BTCT, kèo rào xung quanh các thửa đất. Hiện trạng: Lưới bị gỉ sét, hư hỏng.

3. Cây trồng trên đất:

- Dừa loại 1: 90 cây (trong đó có 03 cây trên thửa đất số 337);

- Dừa loại 3: 10 cây;

- Bưởi da xanh loại 2: 10 cây;

- Nhãn: 01 cây;

- Mận: 01 cây.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.283.019.650đ (Một tỷ, hai trăm tám mươi ba triệu, không trăm mười chín ngàn, sáu trăm năm mươi đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản).

* Khoản tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: 256.000.000đ/01 hồ sơ (nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi).

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/3/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/4/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 -0275.3512083 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

22/03/2018 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo phát hành hồ sơ lớp đào tạo nghề luật sư tại tỉnh Bến TreThông báo phát hành hồ sơ lớp đào tạo nghề luật sư tại tỉnh Bến Tre

Thực hiện Công văn số 3264/UBND-NC ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc cho chủ trương mở lớp đào tạo nghề luật sư tại Bến Tre. Sở Tư pháp phối hợp Học viện Tư pháp mở lớp đào tạo nghề luật sư tại tỉnh.

Để đảm bảo thông tin rộng rãi đến các cá nhân có nhu cầu tham gia khóa đào tạo, Sở Tư pháp trân trọng đề nghị Quý cơ quan hỗ trợ thông báo về việc phát hành hồ sơ lớp đào tạo nghề luật sư tại tỉnh Bến Tre với nội dung sau:

- Đối tượng đào tạo: Người đã tốt nghiệp Cử nhân luật (tất cả các loại hình đào tạo).

- Thời gian đào tạo: 12 tháng (học vào các ngày thứ bảy và chủ nhật).

- Địa điểm đào tạo: Tại Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

- Thời gian phát hành hồ sơ: Từ ngày thông báo đến hết ngày 30/4/2018.

- Thời gian nộp hồ sơ: Đến hết ngày 15/5/2018.

- Địa điểm mua và nhận hồ sơ: Số 17, đường Cách Mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Văn phòng Sở Tư pháp, điện thoại 02753.827.364).

Lưu ý: Lệ phí mua hồ sơ 50.000 đồng/bộ + lệ phí xét duyệt 50.000 đồng/hồ sơ.

Sở Tư pháp rất mong nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Quý cơ quan, đơn vị.

22/02/2018 9:00 SAĐã ban hành
Quyền và bổn phận của trẻ emQuyền và bổn phận của trẻ em

Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017. Luật có 07 Chương, 106 Điều, có nhiều nội dung mới, trong đó có các quy định mới về quyền và bổn phận của trẻ em.

 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung và được thể hiện cụ thể hơn như:

Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển.

Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.

Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện.

Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

 Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.

Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.

Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.

 Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

 Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

 Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.

Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

 Quyền của trẻ em khuyết tật: Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.

Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Về bổn phận của trẻ em, kế thừa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em.

Bổn phận của trẻ em đối với gia đình: Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ. Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác: Tôn trọng giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác. Thương yêu, đoàn kết, chia sẻ khó khăn, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè. Rèn luyện đạo đức, ý thức tự học, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Giữ gìn, bảo vệ tài sản và chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác.

Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội: Tôn trọng, lễ phép với người lớn tuổi; quan tâm, giúp đỡ người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người gặp hoàn cảnh khó khăn phù hợp với khả năng, sức khỏe, độ tuổi của mình. Tôn trọng quyền, danh dự, nhân phẩm của người khác; chấp hành quy định về an toàn giao thông và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ, giữ gìn, sử dụng tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng và độ tuổi của trẻ em. Phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật.

 Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước: Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước. Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em với bản thân: Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân. Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể. Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang. Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác. Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân.

15/12/2016 4:00 CHĐã ban hành
Những quy định mới về định giá lại, giảm giá, bán đấu giá tài sản trong lĩnh vực thi hành án dân sựNhững quy định mới về định giá lại, giảm giá, bán đấu giá tài sản trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Việc định giá lại, giảm giá, bán đấu giá tài sản trong lĩnh vực thi hành án dân thời gian qua đã phát sinh không ít các khó khăn, vướng mắc, thậm chí khiếu nại của các bên đương sự, do các quy định của pháp luật về vấn đề này chưa thống nhất, còn chồng chéo. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 8 vào ngày 25/11/2014, đã có hiệu lực kể từ ngày 01/ 07/ 2015, đã xác định được cách giải quyết vấn đề đó.

Về định giá lại: Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã bổ sung việc định giá lại chỉ được thực hiện một lần và quyền yêu cầu định giá lại chỉ khi đương sự có đơn yêu cầu định giá lại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Quy định này là biện pháp nhằm hạn chế tình trạng cố tình lợi dụng quyền yêu cầu định giá lại tràn lan, cơ quan thi hành án phải tổ chức bán tài sản nhiều lần làm kéo dài thời gian thi hành án, tốn kém chi phí của Nhà nước và của các đương sự; góp phần hạn chế tình trạng bức xúc khiếu nại tố cáo của người được thi hành án trong thời gian qua; đồng thời đảm bảo tốt hơn quyền lợi của các bên và hoạt động thi hành án dân sự.

Luật Thi hành án dân sự sửa đổi cũng xác định rõ giá thẩm định lại là giá khởi điểm để bán đấu giá tài sản để thi hành án theo quy định, không phụ thuộc vào việc giá thẩm định lại cao hơn hoặc thấp hơn giá đã thẩm định trước đó.

Về hủy kết quả bán đấu giá tài sản: Để phù hợp với việc hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi (Điều 102) đã bổ sung việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định chung của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này. Mặt khác, bên cạnh việc giữ nguyên quyền của Chấp hành viên, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã thay đổi quyền của đương sự trong việc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, hạn chế tình trạng lợi dụng để kéo dài việc thi hành án bằng quy định mới chỉ dành quyền này cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản.

Về bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án: Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã thay đổi tên Điều 103 từ "Giao tài sản bán đấu giá" thành "Bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án", để khẳng định rõ ràng hơn nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản của người trúng đấu giá tài sản, người nhận tài sản để thi hành án. Theo đó, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi quy định trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá nếu đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá thì mặc dù bản án, quyết định đã thi hành bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự vẫn tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác. Luật Thi hành án dân sự sửa đổi cũng quy định rõ nếu người phải thi hành án không tự nguyện giao tài sản thì sẽ bị cưỡng chế và việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án thực hiện theo quy định chung (được quy định tại các Điều 114, 115, 116 và 117 của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi).

Quy định này của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình, khuyến khích việc mua tài sản bán đấu giá để thi hành án, thúc đẩy tiến trình tổ chức thi hành án, tạo cơ sở pháp lý và hành lang an toàn cho hoạt động của Chấp hành viên. 

Về xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành:

 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi (Điều 104) đã sửa lại tên điều, từ "Xử lý tài sản bán đấu giá không thành", thành "Xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành", nhằm xác định đúng những tình huống không có người tham gia đấu giá, trả giá trong thực tiễn của việc tổ chức bán đấu giá.

Luật Thi hành án dân sự sửa đổi quy định rõ hơn về hướng xử lý trong trường hợp này, như quy định thời hạn và cách thức thực hiện quyền khi không có người tham gia đấu giá, trả giá, bán đấu giá tài sản thi hành án không thành, nhằm tránh tình trạng khiếu nại tố cáo của đương sự do không được thực hiện đầy đủ quyền của mình. Đồng thời Luật cũng quy định từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Trong trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án. Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án.

Trong trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Khi được giao lại tài sản, người phải thi hành án không được đưa tài sản này tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án. Riêng đối với tài sản bán đấu giá để thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước thì được xử lý theo cơ chế nhanh chóng hơn, đó là trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đưa ra bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên quyết định giảm giá để tiếp tục bán đấu giá tài sản,mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó.

Như vậy, với quy định này của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã hạn chế được tình trạng yêu cầu định giá lại tràn lan, giảm giá tùy tiện, tổ chức bán tài sản nhiều lần làm kéo dài thời gian thi hành án, tốn kém chi phí của nhà nước và của các đương sự; tôn trọng sự tự định đoạt, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của các bên đương sự nói chung và của người được thi hành án nói riêng; góp phần hạn chế tình trạng bức xúc khiếu nại tố cáo của các bên liên quan.

Về đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản thông qua mua trúng đấu giá hoặc nhận tài sản để thi hành án:

Điều 106 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã bổ sung các khoản 3, 4, 5 và 6 như sau: (iii) Hồ sơ đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có: văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự; bản sao bản án, quyết định; Quyết định thi hành án; Quyết định kê biên tài sản, nếu có; văn bản bán đấu giá thành hoặc quyết định giao tài sản, biên bản giao nhận tài sản để thi hành án; giấy tờ khác có liên quan đến tài sản. (iiii) Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có hoặc không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Chính phủ.(iiiii) Đối với tài sản không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này mà không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản.(iiiiii) Giấy tờ được cấp mới thay thế cho giấy tờ không thu hồi được. Giấy tờ không thu hồi được không còn giá trị.

Để phù hợp với căn cứ cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 71, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã quy định rõ hơn hồ sơ đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có quyết định kê biên tài sản; văn bản bán đấu giá thành hoặc quyết định giao tài sản, biên bản giao nhận tài sản để thi hành án. Nhằm tránh xung đột với pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi đã bổ sung quy định về trường hợp tài sản là quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có hoặc không thu hồi được giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Chính phủ. Luật Thi hành án dân sự sửa đổi cũng quy định cụ thể hơn đối với trường hợp giấy tờ liên quan không thu hồi được thì được cấp mới để thay thế cho giấy tờ cũ và xác định giấy tờ không thu hồi sẽ không còn giá trị.

 

Gia Bảo

10/09/2015 3:00 CHĐã ban hành
Chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe người lao độngChế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động

Ngày 25/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật An toàn, vệ sinh lao động (sau đây gọi là Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 gồm 7 chương, 93 điều, quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.

Tại Chương 2 của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định về các biện pháp phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại cho người lao động như: Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về an toàn, vệ sinh lao động; nội quy, quy trình và các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc; chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động và quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.

Theo đó, về chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động, các quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 hướng tới các biện pháp quản lý liên quan trực tiếp tới quyền lợi của người lao động. Các quy định được chi tiết từ Bộ luật lao động, đồng thời bổ sung thêm quy định về xây dựng danh mục nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; giới hạn thời gian tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; điều dưỡng phục hồi sức khỏe và việc quản lý sức khỏe người lao động, cụ thể như sau:

            Khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động (Điều 21)

Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần cho người lao động; đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần.

Khi khám sức khỏe theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.

Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được Hội đồng y khoa khám giám định mức suy giảm khả năng lao động.

Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm yêu cầu, điều kiện chuyên môn kỹ thuật.

Người sử dụng lao động đưa người lao động được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện chuyên môn kỹ thuật để điều trị theo phác đồ điều trị bệnh nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.

Chi phí cho hoạt động khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động do người sử dụng lao động chi trả quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hạch toán vào chi phí hoạt động thường xuyên đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp không có hoạt động dịch vụ.

          Nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (Điều 22)

Nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được phân loại căn cứ vào đặc điểm, điều kiện lao động đặc trưng của mỗi nghề, công việc.

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sau khi có ý kiến của Bộ Y tế; quy định tiêu chuẩn phân loại lao động theo điều kiện lao động.

Người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động và chăm sóc sức khỏe đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật.

Phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động (Điều 23)

Người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người sử dụng lao động trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải sử dụng trong quá trình làm việc.

Người sử dụng lao động thực hiện các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật, thiết bị để loại trừ hoặc hạn chế tối đa yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và cải thiện điều kiện lao động.

Người sử dụng lao động khi thực hiện trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây: Đúng chủng loại, đúng đối tượng, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; Không phát tiền thay cho việc trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân; không buộc người lao động tự mua hoặc thu tiền của người lao động để mua phương tiện bảo vệ cá nhân; Hướng dẫn, giám sát người lao động sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân; Tổ chức thực hiện biện pháp khử độc, khử trùng, tẩy xạ bảo đảm vệ sinh đối với phương tiện bảo vệ cá nhân đã qua sử dụng ở những nơi dễ gây nhiễm độc, nhiễm trùng, nhiễm xạ.

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về chế độ trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động.

Bồi dưỡng bằng hiện vật (Điều 24)

Người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người sử dụng lao động bồi dưỡng bằng hiện vật.

Việc bồi dưỡng bằng hiện vật theo nguyên tắc sau đây: Giúp tăng cường sức đề kháng và thải độc của cơ thể; Bảo đảm thuận tiện, an toàn, vệ sinh thực phẩm; Thực hiện trong ca, ngày làm việc, trừ trường hợp đặc biệt do tổ chức lao động không thể tổ chức bồi dưỡng tập trung tại chỗ.

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định việc bồi dưỡng bằng hiện vật.

          Thời giờ làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại (Điều 25)

Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm thời gian tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại của người lao động nằm trong giới hạn an toàn được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng và các quy định của pháp luật có liên quan.

Thời giờ làm việc đối với người lao động làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động.

Điều dưỡng phục hồi sức khỏe (Điều 26)

Hằng năm, khuyến khích người sử dụng lao động tổ chức cho người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và người lao động có sức khỏe kém được điều dưỡng phục hồi sức khỏe.

Quản lý sức khỏe người lao động (Điều 27)

 Người sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho từng loại nghề, công việc và kết quả khám sức khỏe để sắp xếp công việc phù hợp cho người lao động.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm lập và quản lý hồ sơ sức khỏe của người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp; thông báo kết quả khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp để người lao động biết; hằng năm, báo cáo về việc quản lý sức khỏe người lao động thuộc trách nhiệm quản lý cho cơ quan quản lý nhà nước về y tế có thẩm quyền.

23/02/2017 2:00 CHĐã ban hành
Một số nhiệm vụ tập trung thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường năm 2014 Một số nhiệm vụ tập trung thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường năm 2014
Ngày 16 tháng 6 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 2735/UBND-NC về việc thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường năm 2014. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp chỉ đạo các nhà trường có giải pháp cụ thể để đổi mới nội dung, hình thức, tích cực tổ chức triển khai công tác ...

Ngày 16 tháng 6 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Công văn số 2735/UBND-NC về việc thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường năm 2014. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp chỉ đạo các nhà trường có giải pháp cụ thể để đổi mới nội dung, hình thức, tích cực tổ chức triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả, trong đó tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

Phối hợp tổ chức triển khai thực hiện tốt việc phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường theo Điều 23, 24, 28, 30 và Điều 31 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và các chương trình, kế hoạch, đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm của sở, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố theo Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 9/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI); hoàn thiện và kiến nghị hoàn thiện sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu giảng dạy các môn học chuyên ngành luật hoặc môn học pháp luật trong nhà trường phù hợp với người học, cấp học và trình độ đào tạo; xây dựng, chuẩn hóa, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên giảng dạy các môn chuyên ngành luật, giáo viên dạy môn học pháp luật, môn học giáo dục công dân; tổ chức tốt việc dạy và học pháp luật trong nhà trường; tích cực, chủ động tham gia, khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ, giáo viên, giảng viên, học sinh, sinh viên của nhà trường tham gia làm báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật và tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân tại địa phương, nhất là các đối tượng đặc thù và trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của sở, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố.

Hàng năm, căn cứ vào Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Bộ, Ngành Trung ương; Ủy ban nhân dân tỉnh; Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh; các sở, ngành tỉnh liên quan; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố nơi nhà trường đặt trụ sở; nhu cầu giảng dạy của nhà trường để xác định nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, giảng viên, học sinh, sinh viên; nhất là thông qua các hoạt động ngoại khóa cho học sinh, sinh viên, gắn hoạt động giảng dạy, học tập pháp luật với rèn luyện kỹ năng cho học sinh, sinh viên nhằm củng cố kiến thức pháp luật đã học trong chương trình chính khóa.

Tiếp tục xây dựng, củng cố, nhân rộng mô hình “Câu lạc bộ pháp luật” và các loại hình Câu lạc bộ khác tại các nhà trường để tạo điều kiện cho giáo viên, giảng viên, học sinh, sinh viên tham gia sinh hoạt, phổ biến, giáo dục pháp luật.

Tiếp tục rà soát, bổ sung các đầu sách pháp luật mới cho Thư viện, Tủ sách pháp luật của nhà trường để đáp ứng đầy đủ nhu cầu dạy và học pháp luật trong nhà trường theo Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Thư viện, Tủ sách pháp luật của nhà trường trong phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, truyền bá văn hóa pháp lý, tham gia hỗ trợ hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống.

Tiếp tục triển khai thực hiện có chất lượng, hiệu quả Đề án nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường, Kế hoạch số 1364/KH-UBND ngày 01/4/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh nâng cao chất lượng công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong nhà trường giai đoạn 2014-2016 và hướng dẫn của Bộ, Ngành trung ương, cũng như hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường; phát huy vai trò của nhà trường trong công tác phổ biến pháp luật và trong tổ chức thực thi pháp luật; gắn việc triển khai thực hiện Đề án với việc triển khai thực hiện Kế hoạch số 1594/KH-UBND ngày 14/4/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện Chương trình hành động số 33-CTr/TU của Tỉnh ủy Bến Tre thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế và chương trình, đề án về đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, tài liệu (2014-2015).

Đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, cần lồng ghép việc triển khai thực hiện đề án với chương trình, kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm của địa phương và các chương trình, đề án, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật có liên quan.

Tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Đất đai năm 2013, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh; quán triệt, phổ biến nội dung cơ bản của Hiến pháp đến toàn thể cán bộ, giáo viên, giảng viên, học sinh, sinh viên của nhà trường, đồng thời khuyến khích, động viên các đối tượng này tham gia cuộc thi“Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan tổ chức.

Sở Tư pháp phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo Phòng Tư pháp phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP ngày 16/11/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc phối hợp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường, bảo đảm thực hiện có hiệu quả các nội dung phối hợp quy định trong Thông tư; định kỳ hàng năm đánh giá kết quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong trường học; kịp thời phát hiện những vướng mắc, bất cập, những vấn đề mới phát sinh để kiến nghị Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo có biện pháp tháo gỡ.

23/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bảo đảm tranh tụng trong xét xử theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015Bảo đảm tranh tụng trong xét xử theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành nhằm thể chế chiến lược cải cách tư pháp, đổi mới, cải cách thủ tục tố tụng dân sự theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, bảo đảm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn để giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng kịp thời.  Theo đó, nhằm thể chế hóa quan điểm cải cách tư pháp của Đảng về nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp, đồng thời cụ thể hóa "nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm" đã được Hiến pháp năm 2013 quy định, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nguyên tắc "Bảo đảm tranh tụng trong xét xử". Nội dung của nguyên tắc này có những điểm chủ yếu như sau:

Việc tranh tụng được bảo đảm thực hiện từ khi khởi kiện thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong vụ án; đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong các giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, đặc biệt là quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong các trường hợp xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ.

Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này. Đương sự phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nếu không thực hiện các nghĩa vụ đó thì phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên Tòa các chứng cứ của vụ án phải được công khai trừ trường hợp không được công khai định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Tòa án không công khai nội dung tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những tài liệu, chứng cứ không được công khai). Các đương sự đều có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai). Đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai). Trường hợp vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ.

 Trong quá trình, giải quyết, xét xử mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, Tòa án điều hành việc tranh tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử phải bảo đảm các đương sự thực hiện việc tranh tụng, chỉ hỏi những vấn đề mà người tham gia tố tụng trình bày chưa rõ, trong trường hợp cần thiết phải có thời gian thu thập thêm chứng cứ để đủ cơ sở giải quyết vụ án thì tạm ngừng phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.

23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn  bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01

Luật

 

 15/2012/

QH13

20/6/2012Xử lý vi phạm hành chính
Hết hiệu lực một phần: Khoản 1 Điều 122; Đoạn đầu Khoản 1 Điều 123

Đã được sửa đổi

 bởi Luật Hải quan 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014

02Nghị định

81/2013/

NĐ-CP

19/7/2013Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Còn hiệu lực

Đính chính Khoản 2 Điều 10

Đã được đính chính  bởi Công văn 1500/TTg-PL của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/9/2013
03Nghị định

112/2013/

NĐ-CP

02/10/2013Quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuấtHết hiệu lựcĐã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016
04Nghị định

115/2013/

NĐ-CP

03/10/2013Quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
05Nghị định

165/2013/

NĐ-CP

12/11/2013Quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương  tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự , an toàn giao thông và bảo vệ môi trườngCòn hiệu lực 
​Nghị định
17/2016/NĐ-CP
17/3/2016​

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Còn hiệu lực
06Thông tư

26/2013/

TT-BCT

30/10/2013Quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi mục Đ Điều 3; bổ sung Điểm c Khoản 6 Điều 5; ban hành 07 mẫu ấn thay thế các mẫu ấn quy định tại các khoản 9, 11, 13, 15, 16 và 17 mục B và khoản 2 mục C Điều 3

Đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 13/2015/TT-BCT ngày 16/6/2015
07Thông tư

153/2013/

TT-BTC

31/10/2013Về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử  phạt vi phạm hành chính

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6  Điều 4; Sửa đổi Khoản 2 Điều 5; bổ sung Khoản 2a sau Khoản 2 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Điểm a Khoản 2 Điều 11

Được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư  105/2104/TT-BTC ngày 07/8/2014
08Thông tư

173/2013/

TT-BTC

20/11/2013Về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
09Thông tư

105/2014/

TT-BTC

07/8/2014Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chínhCòn hiệu lực  
10Thông tư

34/2014/

TT-BCA

15/8/2014Quy định về các biểu mẫu đê sử  dụng khi xử  phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Công an nhân dânCòn hiệu lực 
11Thông tư

149/2014/

TT-BTC

10/10/2014Quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để bổ sung vào ngân sách Nhà nướcCòn hiệu lực 
12Thông tư

47/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
13Thông tư

13/2015/

TT-BCT

16/6/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 26/2013/TT-BCT ngày 30/10/2013 của Bộ Công Thương quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trườngCòn hiệu lực  
14Thông tư liên tịch

27/2015/TTLT-BCT-BCA-VKSNDTC-TANDTC

17/8/2015Hướng dẫn chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện để truy cứu trách nhiệm hình sựChưa có hiệu lực 

 

 

08/06/2016 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/6/2016Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/6/2016

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 145/2016 (Kèm nội quy)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là một phần quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Hoàng Minh và bà Nguyễn Thị Cúc, địa chỉ tại: ấp 4, xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

      1. Về đất:

      - Diện tích: 1500,3 m2, loại đất: lúa;

     - Thuộc một phần thửa số 26, tờ bản đồ số 19.

     * Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 926232, số vào sổ CH00354 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 22/3/2013.

      2. Cây trồng trên đất: Có 138 gốc nhãn khoảng 10 năm tuổi và 01 cây bưởi khoảng 05 năm tuổi.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Hoàng Minh và bà Nguyễn Thị Cúc, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 136.854.416 đ (Một trăm ba mươi sáu triệu, tám trăm năm mươi bốn ngàn, bốn trăm mười sáu đồng).

- Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 03/6/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/7/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 12/7/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản 72110000200470 mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 165/2016 (Kèm nội quy)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (công trình xây dựng trên đất, hoa màu) của bà Trần Thị Mỹ Nương, địa chỉ tại: ấp Thanh Sơn 3, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

1. Về đất:

a) Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1021

- Diện tích: 300,0 m2.

- Loại đất: ở nông thôn

b) Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1022

- Diện tích: 1.106,0 m2 (trừ diện tích đất mộ là 29,0 m2), diện tích còn lại là: 1.077,0 m2;

- Loại đất: cây lâu năm

c) Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1059

- Diện tích: 300,0 m2

- Loại đất: ở nông thôn

d) Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1060

- Diện tích: 285,0 m2;

- Loại đất: cây lâu năm

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận  550422-002117 do UBND huyện Mỏ Cày, ký cấp ngày 27/4/2001.

2. Về công trình xây dựng trên đất;

          a) Nhà ở 1: Diện tích: 39,96 m2; Dạng nhà cấp 4; kết cấu: Móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền đất, tường bao xây gạch dày 10,0 cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, không tô. Đòn tay gỗ, mái tole fibro xi măng.

b) Nhà ở 2: Diện tích: 58,29 m2; Kết cấu: Nền láng ximăng, vách tole, cột, kèo, đòn tay  bằng gỗ tạp, mái lá.

c) Nhà vệ sinh: Diện tích: 1,96 m2; Kết cấu: Nền lát gạch ceramic nhám (30x30)cm, tường xây gạch dày 10cm. Không mái, không cửa.

d) Hồ nước: 02 cái, hồ không có nắp đậy, dạng cống tròn, khung trụ bêtông, thành xây gạch dày 50mm

e) Chuồng heo: Diện tích: 21,02 m2. Kết cấu:  Nền láng xi măng, cột bêtông cốt thép; tường xây gạch dày 10cm, phía trong láng ximăng, phía ngoài không tô. Kèo đòn tay bằng gỗ tạp, mái lá.

3. Hoa màu trên đất:

a) Hoa màu trên thửa đất 1021,1022; tờ bản đồ số 1: Gồm dừa: 28 cây, Xoài: 6 cây, mận: 01 cây, cau: 08 cây và chuối: 15 bụi.

b) Hoa màu trên thửa đất 1059,1060; tờ bản đồ số 1: Gồm dừa: 24 cây.

- Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, tài sản trên đất và cây trồng trên đất của bà Trần Thị Mỹ Nương, bị kê biên theo quyết định Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 161.687.743 đ (Một trăm sáu mươi mốt triệu, sáu trăm tám mươi bảy ngàn, bảy trăm bốn mươi ba đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước: 10.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản 72110000200470 mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 03/6/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/7/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 12/7/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 166/2016 (Kèm nội quy)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của bà Trần Thị Chi, địa chỉ tại: ấp Thanh Sơn 3, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể nư sau:

     1. Về đất:

- Diện tích: 1.170,7 m2;

- Loại đất: CLN;

- Thuộc tờ bản đồ số 21, thửa đất 95A;

2. Tài sản gắn liền trên đất:

- Cây Dừa loại 1: 10 cây, cây trồng trên 6 năm tuổi, đã cho trái ổn định;

- Cây Dừa loại 3: 06 cây, cây trồng từ 1 đến dưới 4 năm tuổi, chưa cho trái, phát triển bình thường;

- Chuối 12 bụi: cây trồng phát triển bình thường;

- Cây Xoài mới trồng: 01 cây, cây trồng dưới 01 năm tuổi, chưa cho trái, phát triển bình thường;

- Cây Mít mới trồng: 01 cây, cây trồng dưới 1 năm tuổi, chưa cho trái, phát triển bình thường;

- Cây Mai loại 4 (hỗ trợ di dời): 02 cây, cây kiểng có đường kính gốc dưới 5 cm;

- Cây Sake loại 1: 01 cây, cây trồng trên 5 năm tuổi, cho trái ổn định;

- Cây Bàng loại 2: 01 cây, cây trồng có đường kính dưới 40 cm, phát triển bình thường;

- Lá dừa nước: 24 m2, cây phát triển bình thường.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của bà Trần Thị Chi, bị kê biên theo quyết định Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc. 

- Giá khởi điểm tính tròn của tài sản bán đấu giá (1+2): 134.300.000đ (Một trăm ba mươi bốn triệu, ba trăm ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản 72110000200470 mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 03/6/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/7/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 12/7/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 170/2016 (Kèm nội quy)

          Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là 01 (một) chiếc tàu cá của ông Mai Văn Lạc, địa chỉ tại: ấp 4, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

     * Tài sản là một (01)chiếc tàu cá: Tên tàu cá là Hậu Thành, biển số BT-95002, công dụng khai thác thủy sản, đặc điểm kỷ thuật: chiều dài: 20,9 m; chiều rộng 5,5 m; chiều cao mạn: 2,65 m; chiều chìm 2,15; mạn khô: 0,5; vật liệu vỏ: gỗ ciment;

    - Máy tàu kí hiệu Hino 10v26c, số máy 21A, công suất 450, vòng quay định mức 2500, nơi chế tạo: Nhật bản

    - Tài sản  tọa lạc: xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Mai Văn Lạc, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 1.002.510.000đ (Một tỷ, không trăm lẻ hai triệu, năm trăm mươi ngàn đồng).

- Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 03/6/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 10/6/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 15/6/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản 72110000200470 mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

03/06/2016 11:00 SAĐã ban hành
Phát huy tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật  của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ Phát huy tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật  của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ

Để học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác về tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên viên ngành Tư pháp Bến Tre phải nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện tốt các yêu cầu như:

 Thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình với tinh thần thẳng thắn, trong sinh hoạt, học tập, công tác cũng như cuộc sống đời thường. Người phê bình phải có thái độ chân thành, người được phê bình phải thực sự cầu thị trong tiếp thu phê bình để sửa chữa, tiến bộ.  

Cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp nói phải đi đôi với làm, và làm gương trong chấp hành mọi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chế độ quy định của cơ quan; kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong sinh hoạt, học tập và công tác.

Không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nhân cách của người cán bộ, đảng viên; tích cực học tập nâng cao trình độ, góp phần thực hiện có hiệu quả mọi nhiệm vụ được giao, sống chan hoà, cởi mở và lành mạnh; thực hiện tốt việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.

 Tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp trong thực hiện nhiệm vụ, còn được thể hiện ở tinh thần và hành động như:

Tính tiền phong của người cán bộ, đảng viên: Trước hết là thể hiện về tư tưởng chính trị, ý chí, nghị lực vượt khó, thể hiện ở lập trường mục tiêu kiên định, lý tưởng cách mạng; không ngại khó khăn, tính tiền phong còn được thể hiện qua mỗi hành động của mọi người cán bộ, đảng viên phải là người đi trước dám làm, dám chịu trách nhiệm, khôn khéo xử lý có hiệu quả các tình huống nảy sinh; đồng thời, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống tiêu cực, bè phái.

Sự gương mẫu của người cán bộ, đảng viên: Là biểu hiện tập trung ở lòng trung thành với Đảng, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phải tiêu biểu về "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư".

Các biểu hiện cụ thể cho các đức tính đó là sự say mê, gắn bó hết mình với công việc, chức trách, nhiệm vụ được giao; có ý thức tiết kiệm của công, không tham nhũng, lãng phí; thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, phải là tấm gương về lòng nhân ái, có tinh thần đoàn kết, độ lượng, vị tha, không đố kỵ, ganh ghét. Trong công việc phải là người tiêu biểu về phong cách, nghiêm túc,  tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng gópphải gương mẫu trong cả lời nói và việc làm, v.v..

Ý thức tổ chức kỷ luật của người cán bộ, đảng viên: Phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, trong tổ chức và hoạt động của Đảng, luôn nêu cao tinh thần, ý thức tổ chức kỷ luật, tuyệt đối chấp hành sự phân công của tổ chức, cấp ủy Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của các cấp ủy Đảng, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước và các nội quy, quy chế của cơ quan, quy định của địa phương, phải tham gia đầy đủ các lớp học tập Nghị quyết của Đảng, gương mẫu thực hiện các chế độ, sinh hoạt Đảng, sinh hoạt chính quyền.

Để rèn luyện được tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần duy trì và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo đó, trong tổ chức thực hiện nghị quyết, phải giao nhiệm vụ cho cấp ủy viên, đảng viên một cách cụ thể, rõ ràng; nhiệm vụ nào cũng phải có người chịu trách nhiệm chính; công việc nào cũng phải có người đứng đầu. Trong thực hiện nhiệm vụ, việc đề cao tinh thần trách nhiệm, tính tự giác phải đi đôi với đôn đốc, nhắc nhở, uốn nắn sai sót, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, việc rút kinh nghiệm, sơ kết, tổng kết công tác, phong trào của tổ chức đảng, chính quyền, cần được thực hiện thành nền nếp, là điều kiện để người cán bộ, đảng viên thấy được mình đã là người tiền phong, gương mẫu đến đâu, còn những gì hạn chế, yếu kém để tiếp tục phấn đấu, rèn luyện.

 Công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cần được duy trì nghiêm túc, thực chất; qua đó, kịp thời phát hiện sai sót, khuyết điểm, ngăn ngừa những cán bộ, đảng viên thiếu tính tiền phong, gương mẫu, ý thức kỷ luật trong công việc, nhiệm vụ được phân công vi phạm tư cách đảng viên, kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. Khi cán bộ, đảng viên làm sai, gây hậu quả xấu, phải kiểm điểm, quy trách nhiệm rõ ràng và có hình thức kỷ luật thích đáng; nếu vi phạm pháp luật, phải kiên quyết đưa ra để xử lý bằng luật pháp, với tinh thần thượng tôn pháp luật "phụng công thủ pháp, chí công vô tư".

Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp nghiêm túc thực hiện theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp:

"Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp khắc sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người cán bộ tư pháp, quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, phấn đấu thực hiện các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sau đây:

1. Với Tổ quốc - Trung thành, phấn đấu vì "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

2. Với nhân dân - Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân; phục vụ nhân dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân.

3. Với công tác tư pháp - Trách nhiệm, tận tụy, sáng tạo, kỷ cương, phụng công, thủ pháp, chí công vô tư.

4. Với đồng nghiệp - Đoàn kết, thân ái, hợp tác, cùng tiến bộ.

5. Với bản thân - Nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, thượng tôn pháp luật."

17/05/2017 4:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 296, 297, cùng tờ bản đồ số 03; tại ấp Hòa Hưng, xã Hòa Lộc, Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến TreNewThông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 296, 297, cùng tờ bản đồ số 03; tại ấp Hòa Hưng, xã Hòa Lộc, Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre
07/12/2018 10:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 563, tờ bản đồ số 04; tại xã Bình Thắng, Bình Đại, tỉnh Bến TreNewThông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 563, tờ bản đồ số 04; tại xã Bình Thắng, Bình Đại, tỉnh Bến Tre
07/12/2018 10:00 SAĐã ban hành
Khảo sát nhu cầu tham gia đào tạo nghề luật sư, công chứngKhảo sát nhu cầu tham gia đào tạo nghề luật sư, công chứng

Sở Tư pháp Bến Tre dự kiến phối hợp với Học viện Tư pháp để mở lớp đào tạo nghiệp vụ luật sư và công chứng tại tỉnh Bến Tre, cụ thể như sau:

1. Lớp đào tạo, đối tượng, thời gian đào tạo, học phí, hình thức tuyển sinh và địa điểm đào tạo:

- Lớp đào tạo: Luật sư và Công chứng;

- Đối tượng tham gia đào tạo: Người có Bằng cử nhân luật (không phân biệt hình thức đào tạo);

- Thời gian đào tạo: 12 tháng;

- Học phí: Khoảng 21.000.000 đồng (chưa bao gồm chi phí mở lớp tại tỉnh như: Chi phí đi lại cho giảng viên, chi phí thuê mướn hội trường và chi phí tổ chức lớp học thức tế);

- Hình thức tuyển sinh: Xét tuyển;

- Địa điểm đào tạo: Tại Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, số 17 đường Cách Mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

2. Thời gian mở lớp: Dự kiến trong năm 2017.

3. Thời gian đăng ký: Từ ngày 01/4/2017 đến ngày 30/6/2017.

Nhằm nắm bắt số lượng học viên tham gia các lớp đào tạo trên để có cơ sở phối hợp mở lớp, Sở Tư pháp đề nghị các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh có nhu cầu tham gia lớp đào tạo nghề luật sư, công chứng lập danh sách đăng ký và gửi về Sở Tư pháp thông qua đường bưu điện, mail: botrobentre@gmail.com hoặc fax: 0753.810.773.

Mọi chi tiết xin liên hệ Phòng Bổ trợ tư pháp, Sở Tư pháp Bến Tre (điện thoại: 0753.575.204 hoặc địa chỉ số 17 đường Cách Mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

04/04/2017 9:00 SAĐã ban hành
Tăng cường công tác quản lý nuôi chim yếnTăng cường công tác quản lý nuôi chim yến

Ngày 01/10/2018, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bến Tre ban hành văn bản về việc tăng cường công tác quản lý nuôi chim yến trên địa bàn tỉnh. Trong thời gian qua, trên địa bàn tỉnh phát sinh nhiều cơ sở thực hiện hoạt động dẫn dụ và gây nuôi chim yến, nhất là tại các đô thị, khu dân cư đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến đời sống và sinh hoạt của người dân khu vực nuôi chim yến. Để quản lý tốt nghề nuôi chim yến trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian chờ Trung ương hoàn thiện các văn bản quy định, hường dẫn cụ thể, UBND tỉnh cho ý kiến tạm thời ngưng phát triển mới, mở rộng nuôi chim yến tại các khu đô thị, khu dân cư tập trung và các công trình công cộng trên địa bàn tỉnh.

Yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Xây dựng và UBND các huyện, thành phố  theo chức năng, nhiệm vụ được phân công tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp xây dựng, sửa chữa nhà ở để nuôi chim yến, nhà nuôi yến không đúng quy định. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thành phố rà soát, thống kê danh sách các cơ sở, hộ dân, doanh nghiệp, cơ quan nuôi chim yến trên địa bàn tỉnh, trong đó phân ra khu vực đô thị, khu dân cư tập trung, công trình công cộng và các khu vực còn lại, báo cáo UBND tỉnh theo dõi.

 Đối với các cơ sở nuôi chim yến đã hoạt động trước ngày văn bản này ban hành, phải đảm bảo thực hiện tốt một số nội dung như: Cơ sở nuôi chim yến có sử dụng âm thanh dẫn dụ, thì thiết bị phát âm thanh dẫn dụ phải đảm bảo không vượt quá 70dBA (đề xi ben A) và không được sử dụng âm thanh trong thời gian từ 21 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau. Đối với các cơ sở nuôi chim yến gây ảnh hưởng môi trường và người dân sinh sống xung quanh thì chủ cơ sở nuôi chim yến phải có biện pháp khắc phục theo quy định. Nhà nuôi chim yến phải thường xuyên làm vệ sinh và thực hiện các biện pháp tiêu độc, khử trùng ít nhất một lần/tuần. Không sử dụng chất khử trùng ảnh hưởng đến chất lượng tổ yến. Trong trường hợp chống dịch, thực hiện vệ sinh tiêu độc, khử trùng theo hướng dẫn của cơ quan thú y. Thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh theo hướng dẫn của cơ quan thú y; theo dõi, chi chép thông tin về sử dụng hóa chất khử trùng, biện pháp vệ sinh thú y và xử lý dịch bệnh. Cơ sở nuôi chim yến phải có trang phục bảo hộ cá nhân (quần áo, ủng, khẩu trang…). Người làm việc và khách tham quan phải mặc bảo hộ cá nhân của cơ sở, rửa tay bằng xà phòng trước khi vào và sau khi ra khỏi cơ sở. Chất thải từ việc nuôi chim yến phải được thu gom, tiêu độc, khử trùng và xử lý bằng một trong các biện pháp ủ, đốt, chôn lấp hoặc phương pháp khác nhằm đảm bảo an toàn trước khi đưa ra môi trường. Phối hợp chấp hành sự kiểm tra, thanh tra điều kiện vệ sinh thú y và bảo vệ môi trường trong chăn nuôi. Khi phát hiện chim yến chết hoặc có dấu hiệu bất thường, chủ cơ sở phải kịp thời báo cáo cho nhân viên thú y xã, UBND xã, phường, thị trấn nơi đặt cơ sở hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thú y để thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh theo quy định.

23/10/2018 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 24/5/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 24/5/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 99 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Thành và bà Nguyễn Thị Kim Loan, cư ngụ tại: ấp Phủ, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 2018,6m2;

- Thửa đất số 1417, tờ bản đố số 02 (theo bản đồ đo đạc chính quy thuộc một phần thửa đất số 141, tờ bản đồ số 19 (141A);

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm.

2. Cây trồng trên đất

- Dừa loại I: 57 cây;

- Xoái loại I: 02 cây;

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp Phủ, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Thành và bà Nguyễn Thị kim Loan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 160.766.000đ (Một trăm sáu mươi triệu, bảy trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 32.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 10 giờ ngày 28/6/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 101 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm: 12 chiếc xe mô tô 02 bánh, 11 xe mô tô 03 bánh các loại, 08 điện thoại di động và các tài sản khác (khung thép mạ kẽm, trụ bằng thép, trụ nhựa đầu dãy phân cách) (có bảng kê chi tiết kèm theo).

- Tài sản được quản lý tại: kho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lưu ý: Tài sản bán chung và bán dạng phế liệu; đối với xe môtô 02 bánh, 03 bánh các loại, khi nhận tài sản người mua trúng đấu giá sẽ thực hiện cắt bỏ số khung, số máy và chịu toàn bộ chi phí cho việc cắt bỏ số khung, số máy.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản tịch thu theo Quyết định số 2485/QĐ-UBND ngày 20/10/2017 và Quyết định số 2629/QĐ-UBND ngày 01/11/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc bán tài sản  được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do Sở Tài chính Bến Tre chuyển giao, bán sung công quỹ nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 248.760.000 đ (Hai trăm bốn mươi tám triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

     * Khoản tiền đặt trước: 49.500.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 07/6/2018.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 106

Căn cứ Luật dân sự năm 2015 và Luật đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 ngày 17/11/2016, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre đã ký Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 106/HĐ-DVĐG ngày 21/5/2018 với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre về việc đấu giá tài sản.

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 955,4 m2 (trong đó: 180,0 m2 đất ONT và 775,4 m2 đất trồng cây hàng năm khác);

- Thuộc thửa đất số 444, tờ bản đồ số 6.

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 439068 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00578 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 16/6/2011.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Hàng rào lưới B40. Diện tích 6.2md; trụ xi măng đúc sẳn: 41 trụ.

3. Cây trồng trên đất:

- Cây dừa loại 1: 07 cây, dừa loại 3: 23 cây;

- Cây gừa: 29 bụi

- Khế loại 2: 01 cây

- Tre loại 2: 02 bụi

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 761.719.777đ (Bảy trăm sáu mươi mốt triệu, bảy trăm mười chín ngàn, bảy trăm bảy mươi bảy đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập cá nhân; tất cả các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 152.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ 30 phút ngày 28/6/2018  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 109 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm 39 (ba mươi chín) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng phế liệu và 45 (bốn mươi lăm) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng đăng ký lại (có danh sách kèm theo).

     * Lưu ý: Tài sản bán nguyên lô, đối với 39 xe bán dạng phế liệu, người trúng đấu giá, khi nhận bàn giao xe phải thực hiện xóa bỏ hết số khung, số máy, các khoản chi phí người mua chịu.

- Tài sản đang quản lý tại: kho Phòng Cảnh sát giao thông Đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre bán nộp vào ngân sách nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 244.500.000đ (Hai trăm bốn mươi bốn triệu, năm trăm ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

    * Khoản tiền đặt trước: 48.900.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/6/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre (địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 09 giờ 30 phút ngày 28/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/6/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/6/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 08/6/2018

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 - 0275.3512081 – 0275.3512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

 

30/05/2018 5:00 CHĐã ban hành
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREDANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

(Đến tháng 11 năm 2017)


STTTên Tổ chức hành nghề công chứngTrưởng Văn phòng/Phòng công chứngCông chứng viên hợp danh/làm việc theo hợp đồngĐịa điểm đặt trụ sởĐiện Thoại
01Phòng Công chứng số 1 - Sở Tư pháp Bến TreNguyễn Văn Tứ

- Lê Thị Thanh Trang

- Huỳnh Đoàn Ngọc Hân

17 Đường CMT8, phường 3, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre02753.810.618
02Văn phòng Công chứng Đồng KhởiVõ Văn ThanhLê Duy Phúc Hải (Công chứng viên hợp danh)Số 89A1, đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0918256585

 

03Văn Phòng Công chứng Tín HữuNguyễn Thị Kim Phượng

Ngô Xuân Hoàng

(Công chứng viên hợp danh)

số 46, đường số 3, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0983.626.700

0917.491.319

04Văn phòng Công chứng Kim CươngĐặng Thị Kim Cương

Nguyễn Thị Diễm Phương

(Công chứng viên hợp danh)

89A khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre0918.267.7570
02753.869.459
05Văn phòng Công chứng Bình ĐạiNgô Công Lợi

Nguyễn Văn Rậm

(Công chứng viên hợp danh)

08 đường Nguyễn Đình Chiểu, ấp Bình Thuận, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre0983.407.100
06Văn phòng Công chứng Ba TriPhan Văn Trung

Phạm Thị Minh Thủy

(Công chứng viên hợp danh)

27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

0918.813.969

02753.859.234

07Văn phòng Công chứng Hà Thị TiếnHà Thị Tiến 78A, quốc lộ 60, khu phố &, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

0978862448

02753.663.646

08Văn phòng Công chứng Thạnh PhúNguyễn Văn Mộng

Lê Văn Hòa

(Công chứng viên hợp danh)

ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre0753.870.771
09

Văn phòng Công chứng

Phan Đức Toàn

Phan Đức Toàn

Huỳnh Thị Kim Yến

(Công chứng viên hợp danh)

Số 50A, ấp Phước Hậu, xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre0912.223.045
10Văn phòng công chứng Nguyễn Văn MớiNguyễn Văn Mới

Nguyễn Minh Phương

(Công chứng viên hợp danh)

Số 1, ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre0918.262.633
11Văn phòng công chứng Lê Hùng DũngLê Hùng Dũng Số 59, ấp An Hòa, xã An Hiệp, Châu Thành, Bến Tre

0908.869.750

02753.626.626


09/11/2017 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 09/01/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 09/01/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 383 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Đằng và bà Nguyễn Thị Kim Thoa, địa chỉ tại: ấp Mỹ Sơn Đông, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 414,3 m2;

- Thuộc thửa đất số 237A, tờ bản đồ số 04;

- Loại đất: CLN.

2. Cây trồng trên đất 

- Măng cụt > 15 năm: 07 cây;

- Bòn bon > 10 năm: 12 cây;

- Dừa từ 3 đền 5 năm: 04 cây;

- Bưởi > 4 năm: 04 cây;

- Tắc > 3 năm: 08 cây.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: Ấp Mỹ Sơn Đông, xã Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Đằng và bà Nguyễn Thị Kim Thoa, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 50.022.410đ (Năm mươi triệu, không trăm hai mươi hai ngàn, bốn trăm mười đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 150.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 10.000.000đ/hồ sơ, chuyển vào tài khoản Trung tâm Dịch vụ đấu giá số 72910000091403 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Mỳ Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 10 giờ 30 phút ngày 22/02/2018 (Trước khi mở cuộc ấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 388 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Trang Sĩ Tri và bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền, cư ngụ tại: ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 3.359,0 m2 (trong đó 197,5 m2 đất ONT và 3.161,5 m2 đất CLN, trong 3.161,5 m2 đất CLN có 525,5 m2 thuộc HLLG và chỉ giới xây dựng).

- Thuộc thửa đất số 157, tờ bản đồ số 12.     

2. Công trình xây dựng

* Khu nhà chính (khu A)

- Diện tích xây dựng: 70,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Móng, khung, cột là bêtông cốt thép; Nền gạch ceramic + gạch tàu; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm, sơn nước; Trần nhựa; Mái lợp tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch và mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Khu nhà chính (khu B)

- Diện tích xây dựng: 33,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Móng, khung, cột là bêtông cốt thép; Nền gạch tàu; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm + lưới B40; Mái lá.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu, mái lá bị rách nát nhiều chỗ.

* Khu nhà phụ

- Diện tích xây dựng: 48,32m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền gạch ceramic; Vách tường xây gạch ống dày 100 cm, sơn nước; Trần nhựa.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, vách tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà bao che khu nhà phụ 1

- Diện tích xây dựng: 48,32m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột thép; Nền láng ximăng; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà phụ 2 (khu A, B)

- Diện tích xây dựng: 16,36m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền láng ximăng;Tường xây gạch ống dày 100 cm; Trần nhựa; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng và tường có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà bao che khu nhà phụ 2

- Diện tích xây dựng: 42,8m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông đúc sẵn + cột gỗ; Nền láng ximăng; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền ximăng có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà xấy nhãn (khu A)

- Diện tích xây dựng: 429,81m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông cốt thép; Nền đất; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Nhà xấy nhãn (khu B)

- Diện tích xây dựng: 53,5m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Khung cột bêtông cốt thép; Nền gạch tàu; Mái lá.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền gạch biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu, mái lá có nhiều chỗ bị rách nát

* Lò xấy nhãn:

* Lò 1, 2

- Diện tích xây dựng: 82,88m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Thành lò xây gạch ống dày 100cm;

* Lò 3, 4:

- Diện tích xây dựng: 78,4m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Thành lò xây gạch ống dày 100cm;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, thành lò có nhiều chỗ bị rạn nứt

* Nhà vệ sinh

- Diện tích xây dựng: 3,96m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

- Kết cấu chính: Nền gạch ceramic; Vách tường xây gạch 100 cm; Mái tole fbrôximăng.

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, nền gạch và mái tole biến dạng nhiều so với màu sắc ban đầu.

* Hồ nước

- Thể tích: 6,6 m3;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

- Kết cấu chính: Thành hồ xây gạch ống 100 cm;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, thành hồ có vài chỗ bị rạn nứt.

3. Cây trồng trên đất

- Cây Bòn bon loại 2: 06 cây, cây trồng từ 6 năm tuổi, chưa cho trái;

- Cây Nhãn loại 3: 31 cây, cây trồng 02 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Xoài loại 3: 02 cây, cây trồng 03 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Xoài loại 2: 01 cây, cây trồng 05 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dừa loại 1: 01 cây, cây trồng 10 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dừa loại 3: 03 cây, cây trồng 02 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Thanh long loại 2: 02 trụ, cây trồng 01 năm tuổi, phát triển bình thường;

- Cây Mận loại 1: 04 cây, cây trồng 05 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Dâu loại 4: 01 cây, cây trồng 03 năm tuổi, đã cho trái;

* Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Trang Sĩ Tri và bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.343.117.169đ (Một tỷ, ba trăm bốn mươi ba triệu, một trăm nười bảy ngàn, một trăm sáu mươi chín đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 268.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

 - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

 - Thời gian tham khảo hồ sơ và bán hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 22/02/2018;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 390 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Trần Duy Khương (Doanh nghiệp tư nhân Duy Khương), địa chỉ tại: 354 ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 07, thửa số 689:

- Diện tích: 88,9 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AM 699416, số vào sổ cấp giấy chứng nhận HPN/01799 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 16/5/2008.

- Giá khởi điểm (1) là: 76.712.500 đ (Bảy mươi sáu triệu, bảy trăm mười  hai ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (1) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

2. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 07, thửa số 512:

- Diện tích: 3.219,0 m2;

- Mục đích sử dụng: 300,0 m2 đất ONT và 2.919,0 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 489205, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPN/01440 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 10/8/2007.

- Giá khởi điểm (2) là: 843.837.500 đ (Tám trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm ba mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (2) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

3. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 408 và thửa số 610:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 408

- Diện tích: 1.260,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 478003, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HNT/01835 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 16/7/2007.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 610:

- Diện tích: 1.068,0 m2

- Mục đích sử dụng: 300,0m2 đất ONT và 768,0m2 đất HNK;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 478446, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HNT/01865 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 06/8/2007.

- Giá khởi điểm (3): 609.187.500 đ (Sáu trăm lẻ chín triệu, một trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm đồng)

- Tài sản (3) tọa lạc tại: xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

4. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa số 37:

- Diện tích: 111,1 m2 ;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259775, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP7/02375 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 30/3/2009.

- Giá khởi điểm tài sản (4): 115.520.000đ (Một trăm mười lăm triệu, năm trăm hai mươi ngàn đồng).

- Tài sản (4) tọa lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

5. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 36 và thửa số 37:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 36

- Diện tích: 773,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất MNC;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 873795, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/04189 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 18, thửa số 37

- Diện tích: 406,0 m2 đất ODT, HNK;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 873796, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/04190 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007

- Giá khởi điểm (5) là: 723.805.000 đ (Bảy trăm hai mươi ba triệu, tám trăm lẻ năm ngàn đồng).

- Tài sản (5) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

6. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 46, thửa số 133:

- Diện tích: 1.555,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AN 381153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/05967 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 13/11/2007.

- Giá khởi điểm (6): 370.927.500 đ (Ba trăm bảy mươi triệu, chín trăm hai mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (6) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

7. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 46, thửa số 157:

- Diện tích: 432,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AM 412903, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HPH/05218 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 24/4/2008.

- Giá khởi điểm (7): 131.765.000 đ (Một trăm ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (7) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

8. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 47, thửa số 19:

- Diện tích: 1.009,3 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BA 170179, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00081 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre­ cấp ngày 25/01/2010.

- Giá khởi điểm (8): 297.825.000 đ (Hai trăm chín mươi bảy triệu, tám trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (8) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

9. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 47, thửa số 68:

- Diện tích:  641,7 m2;

- Mục đích sử dụng: đất lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BA 170180, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00082 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre­ cấp ngày 25/01/2010.

- Giá khởi điểm (9): 197.647.500 đ (Một trăm chín mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

- Tài sản (9) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

10. Quyền sử dụng đất thuộc 11 thửa trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

Số

TT

Giấy CN QSDĐ sốSố vào sổ cấp GCN QSDĐThửa đất số

Tờ

bản đồ

Mục đích sử dụngDiện tích (m2)
01AO259753HPH/0679113946HNK173,0
02AO259757HPH/0679414046HNK630,0
03AO259754HPH/0679214146HNK789,0
04AO259756HPH/0679314246HNK237,0
05AM729723HPH/0564214446LUA1.122,0
06AM729724HPH/0564314546LUA1.219,0
07AL953541HPH/0485115146CLN1.417,0
     08BA170308CH0008915246LUA873,3
09AM412904HPH/0521915346LUA1.691,0
10BA170310CH0009148646LUA1.785,5
11BA170307CH0008850746CLN740,7
TỔNG CỘNG10.677,5

- Giá khởi điểm tài sản (10) là: 2.687.645.000 đ (Hai tỷ, sáu trăm tám mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (10) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

11. Quyền sử dụng đất thuộc 13 thửa trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

 

Số

TT

Giấy CN QSDĐ sốSố vào sổ cấp GCN QSDĐThửa đất số

Tờ

bản đồ

Mục đích sử dụngDiện tích (m2)
01AK998336HPH/044225146LUA2.087,0
02AN385027HPH/060645246LUA2.039,0
03

AL878509

 

HPH/04576

 

53

 

46

 

ONT300,0
HNK1.902,0

04

 

AK410769

 

HPH/03958

 

54

 

46

 

ONT300,0
CLN5.627,0

05

 

AM729966

 

HPH/05730

 

55

 

46

 

ONT300,0
HNK1.422,0
06AL879257HPH/047106246CLN1.106,0
07AN409164HPH/063176446LUA864,0
08AN409163HPH/063166546LUA1.004,0
09AK410768HPH/0395949446CLN2.050,0

10

 

AO206200

 

HPH/07114

 

587

 

46

 

ONT100,0
CLN2.401,6
11BC 159081CH0073860446ONT100,0
CLN2.135,6
12AQ224626HPH/0720519527CLN1.005,1

13

 

AM729057

 

HPH/05487

 

253

 

27

 

ONT150,0
HNK2.321,5
TỔNG CỘNG27.214,8

- Giá khởi điểm tài sản (11) là: 6.077.435.000 đ (Sáu tỷ, không trăm bảy mươi bảy triệu, bốn trăm ba mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (11) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

12. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 05 và thửa số 65:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 05

- Diện tích: 268,1 m2;

- Mục đích sử dụng: 100,0 m2 đất ODT và 168,1 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259652, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP6/01402 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 17/3/2009.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 65

- Diện tích: 89,4 m2;

- Mục đích sử dụng: đất ODT;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 259539, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP6/01397 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 19/3/2009.

- Giá khởi điểm (12) là: 364.610.000 đ (Ba trăm sáu mươi bốn triệu, sáu trăm mười ngàn đồng).

- Tài sản (12) tọa lạc tại: phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

13. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 75 và thửa số 751:

a) Đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 75

- Diện tích: 709,0 m2;

- Mục đích sử dụng: 200,0 m2 đất ODT và 509,0 m2 đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AO 206606, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HBP/03641 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 19/6/2009.

b) Đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 751

- Diện tích: 200,0 m2;

- Mục đích sử dụng: đất CLN;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AQ 181073, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HBP/03761 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre­) cấp ngày 14/9/2009.

- Giá khởi điểm (13) là: 532.475.000 đ (Năm trăm ba mươi hai triệu, bốn trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

- Tài sản (13) tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Duy Khương (DNTN Duy Khương) do Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

    - Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1 + 2+ 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10 + 11 + 12 + 13) là: 13.029.392.500 đ (Mười ba tỷ, không trăm hai mươi chín triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, năm trăm đồng).

   * Lưu ý: Tài sản trên bán từng mục (1 + 2+ 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10 + 11 + 12 + 13) theo nhu cầu người sử dụng.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là: 500.000đ/hồ sơ (tài sản 2), (tài sản 3), (tài sản 5), (tài sản 10), (tài sản 11) (tài sản 13); 150.000 đ/hồ sơ (tài sản 1) và 200.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), (tài sản 6), (tài sản 07), (tài sản 8), (tài sản 9), (tài sản 12), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là: 15.000.000đ/hồ sơ (tài sản 1), 168.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 121.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 3), 23.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), 164.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 5), 74.000.000 đ (tài sản 6), 26.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 7),  59.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 8) 39.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 9), 537.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 10), 1.215.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 11), 72.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 12), 106.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 13) nộp vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận,  xã Nhơn Thạnh, xã Phú Hưng, xã Bình Phú, phường 6, phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo tài sản, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá tài sản vào lúc: 09 giờ ngày 26/01/2018; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 01 (Kèm QC)

            Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất trên đất của ông Đinh Hồng Em và bà Võ Thị Kim Chi, địa chỉ tại: ấp 2, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 684,7m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 45;

       2. Công trình xây dựng đã qua sử dụng trên đất:

* Nhà chính:

- Diện tích xây dựng 4,7m x 3m = 14,1m2.

- Kết cấu: Nhà ở bán kiên cố, độc lập cấp 4 (01 trệt); móng, khung, cột bê tông cốt thép; nền lót gạch ceramic, tường xây gạch D100 + quét vôi, tường ốp gạch men cao 1,2m; cửa đi chính và cửa sổ sắt kính, trần nhựa, xà gồ gỗ; hệ thống điện nước đã hoàn chỉnh.

- Hiện trạng: đang sử dụng bình thường.

* Mái che:

- Diện tích 4,7m x 40,2m = 188,94m2.

- Kết cấu: cột bê tông cốt thép, nền láng xi măng, xà gồ gỗ, mái lợp tol.

- Hiện trạng: đang sử dụng bình thường.

* Nhà phụ (nhà sàn):

- Diện tích xây dựng: (2,4m x 4,7m) + (10,4m x 4,5m) = 58,08m2.

- Kết cấu: cột bê tông cốt thép, sàn lót gỗ tạp, tường xây gạch D100 + quét vôi, trần nhựa, xà gồ gỗ, mái lợp tole.

Hiện trạng: Đang sử dụng bình thường.

* Nhà kho:

- Diện tích xây dựng: (2,9m x 6,8m) = 19,72m2.

- Kết cấu: móng, khung cột bê tông cốt thép, vách tole, sàn lót gỗ tạp, xà gồ gỗ, mái lợp tole, không trần.

- Hiện trạng: Đã cũ, vẫn sử dụng bình thường.

* Tường rào:

- Diện tích xây dựng 26,38m x 2,9m = 76,5m2.

- Kết cấu: móng, khung, cột bê tông cốt thép, tường xây gạch cao 0,8m, phía trên lưới B40 cao 2,1m.

- Hiện trạng: Lưới B40 có dấu hiệu gỉ sét, đang sử dụng bình thường.

* Hàng rào lưới B40:

- diện tích 37,5m x 1,7m = 63,75m2

- Hiện trạng: Lưới B40 có dấu hiệu gỉ sét, đang sử dụng bình thường.

* Hồ chứa nước:

- Diện tích xây dựng: (2,6m x 10,4m x 1,6m) = 43,26) m3

- Kết cấu: Móng, khung, cột gạch, tường xây gạch + tô tường D200, nền láng xi măng.

- Hiện trạng: hồ đã cũ, đang sử dụng bình thường.

3. Cây trồng trên đất:

- Xoài loại 1 (từ 4 đến dưới 6 năm tuổi): 05 cây

- Xoài loại 2 (từ 2 đến 4 năm tuổi): 02 cây

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc: ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Đinh Hồng Em và bà Võ Thị Kim Chi, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.430.063.282đ (Một tỷ, bốn trăm ba mươi triệu, không trăm sáu mươi ba ngàn, hai trăm tám mươi hai đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 286.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 22/02/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá). 


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 02 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất của ông Trương Sơn Bồi và bà Nguyễn Thị Kim Hoa, hiện cư ngụ tại: xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất và cây trồng rên đất thửa 735, tờ bản đồ số 11:

a) Quyền sử dụng đất

- Diện tích: 902,7m2 (gồm 100m2 đất ở va 802,7m2 đất trồng cây lâu năm);

b) cây trồng trên đất: gồm 03 cây dừa lớn, 01 cây sa kê đã cho trái, 07 cây xoài và 03 cây cóc khoảng 4 năm tuổi.

* Giá khởi điểm: 711.890.000đ (Bảy trăm mười một triệu, tám trăm chín mươi ngàn đồng).

2. Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thửa 736, tờ bản đồ số 11:

a) Quyền sử dụng đất:

- Diện tích 895,8m2 (gồm 200m2 đất ở và 695,8m2 đất trồng cây lâu năm).

b) Vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất:

- Nhà chính: Diện tích 151,4m2 (15,14m x 10m). Kết cấu: Nền gạch ceramic, vách tường, khung cột bê tông, trần thạch cao, mái tole.

- Nhà phụ: Diện tích: 72,06m2 (15,14m x 4,76m ). Kết cấu: nền gạch ceramic, vách thạch cao, tường, khung cột thép, trần thạch cao, mái tole.

- Nhà tiền chế, nhà vệ sinh và hồ nước.

c) Cây trồng trên đất:

- Dừa cho trái ổn định: 12 cây;

- Xoài khoản bốn năm tuổi: 02 cây;

- Cóc khoản bốn năm tuổi: 04 cây.

* Giá khởi điểm (a+b+c): 1.087.060.000đ (Nột tỷ, không trăm tám mươi bảy ngàn, không trăm sáu mươi ngàn đồng)

* Tài sản (1 + 2) tọa lạc tại: Xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu ông Trương Sơn Bồi và bà Nguyễn Thị Kim Hoa, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. 

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2) là: 1.798.950.000đ (Một tỷ, bảy trăm chín mươi tám triệu, chín trăm năm mươi ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên được bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng và đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 10 giờ ngày 22/02/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 05 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm 02 lô xe (có Danh sách kèm theo), cụ thể như sau:

1. Lô số 01: gồm 266 (hai trăm sáu mươi sáu) chiếc xe bán dạng phế liệu (265 xe mô tô 02 bánh, trong đó có 22 xe bị tháo bỏ đầu máy, bình xăng con, pô; 01 xe đầu kéo). Giá khởi điểm: 298.000.000 đ (Hai trăm chín mươi tám triệu đồng).

2. Lô số 02: gồm 27 (hai mươi bảy chiếc) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng cho đăng ký lại. Giá khởi điểm: 49.000.000 đ (Bốn mươi chín triệu đồng).

- Tài sản đang quản lý tại: kho Công an huyện Ba Tri (địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

     * Lưu ý: Tài sản bán từng lô theo nhu cầu người sử dụng và đối với xe bán dạng phế liệu, người mua trúng đấu giá khi nhận bàn giao xe phải thực hiện cà số khung, đục số máy, các khoản chi phí liên quan người mua chịu.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính từ số 01 đến số 10/QĐ-TTTVPT ngày 03/12/2017 của Công an huyện Ba Tri bán nộp vào ngân sách nhà nước.

    - Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 347.000.000 đ (Ba trăm bốn mươi bảy triệu đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ (lô số 01) và 100.000đ/hồ sơ (lô số 02), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

  * Khoản tiền đặt trước: 59.600.000 đ/hồ sơ (lô số 01) và 9.800.000 đ/hồ sơ (lô số 02) nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Công an huyện Ba Tri (địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/01/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 22/01/2018.

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký  và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

23/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn