Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Phòng Hành chính tư pháp
​ DANH SÁCH  CÔNG CHỨNG VIÊN ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀVÀ CẤP THẺ CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI BẾN TRE NĂM 2017(Tính đến ngày 20/3/2017)STT   STTHỌ VÀ TÊNNĂM SINHQUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆMSỐ THẺ CÔNG CHỨNG VIÊNNƠI LÀM VIỆC01Huỳnh Thanh Tân01/5/19571297/QĐ-BTPngày 03/6/201403/CCVcấp ngày 13/3/2017VPCC Lê Hùng Dũngsố 49, ấp An Hòa, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre02Lê Duy Phúc Hải10/3/19763434/QĐ-B... 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 23/01/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/01/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 16/01/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 12/01/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 01/12/2016 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 28/11/2016 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 25/11/2016 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 23/11/2016 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/11/2016 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Kết quả tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ VIII của Tổ Đại biểu HĐND tỉnh đơn vị Mỏ Cày NamKết quả tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ VIII của Tổ Đại biểu HĐND tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam

Ngày 14 và 15 tháng 11 năm 2013, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ VIII tại 4 điểm gồm: xã An Thới, Định Thủy và Cẩm Sơn và thị trấn Mỏ Cày. Trên 600 cử tri các xã An Thới, Ngãi Đăng, Định Thủy, Phước Hiệp, Cẩm Sơn, Tân Trung, Tân Hội và thị trấn Mỏ Cày đã đến dự và có ý kiến phát biểu.

Qua ý kiến phản ánh của cử tri cho thấy, cử tri ngày càng quan tâm hơn đến những vấn đề chung của xã hội, của cộng đồng. Trước đây, những ý kiến đặt ra thường chỉ liên quan những vấn đề mang tính cá nhân, như là việc tranh chấp, khiếu nại của bản thân. Thì nay, cử tri đã quan tâm đóng góp cho sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước nói chung và của tỉnh nhà nói riêng.

Tại các buổi tiếp xúc cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện cùng với lãnh đạo các ngành huyện đã tiếp thu và giải trình nhiều ý kiến phản ánh của cử tri trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ. Ngoài ra, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam cũng đã ghi nhận một số ý kiến, kiến nghị của cử tri để phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền để tiếp thu, giải trình, cụ thể như sau:

Đối với cấp tỉnh:

1. Đề nghị bổ sung vấn đề “lãng phí” vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về công tác phòng, chống tham nhũng dự kiến sẽ thông qua vào kỳ họp thứ VIII sắp tới.

2. Đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh khi ra nghị quyết, các chỉ tiêu phải sát và phù hợp với thực tế để có thể đạt được.

3. Đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh có chế độ hỗ trợ kinh phí cho cán bộ cấp ấp vì hiện nay có đoàn thể có, đoàn thể không.

4. Công an tỉnh cần có giải pháp để giảm tai nạn giao thông và tình trạng thanh niên lập các băng nhóm.

5. Đối với thủ tục công nhận Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, đề nghị giảm bớt số lượng hồ sơ vì theo pháp luật quy định chỉ 3 bộ nhưng khi thực hiện lại yêu cầu đến 9 bộ hồ sơ.

6. Công trình Trạm Y tế xã Định Thủy do Sở Y tế làm chủ đầu tư, Ủy ban nhân dân xã Định Thủy đã bàn giao mặt bằng, sau 3 tháng thi công với khoảng 15% khối lượng công trình thì đơn vị thi công đã rút đi hoàn toàn, đến nay đã hơn 5 tháng nhưng đơn vị thi công vẫn không tiếp tục thực hiện theo cam kết với Ban Quản lý dự án Sở Y tế. Đề nghị Sở Y tế có biện pháp giải quyết sớm vì để bàn giao mặt bằng nên cán bộ và nhân viên Trạm phải di dời đi nơi khác đã hơn 01 năm, điều kiện khám chữa bệnh cho bà con chật hẹp, thiếu thốn.

7. Việc giải quyết chính sách theo Quyết định 62 chưa tốt, có hồ sơ trả trở lại nhưng không nói lý do.

Đối với Trung ương:

1. Cần có chế độ đối với đối tượng công an vũ trang xã (trước giải phóng) và liệt sĩ du kích.

2. Việc thu phí giao thông đường bộ đã tính trong việc đánh thuế đối với mặt hàng xăng, nay lại thu thêm phí bảo trì đường bộ, như vậy là thiệt cho người dân.

Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam sẽ thông tin, báo cáo kết quả cho cử tri theo dõi ngay sau khi nhận được ý kiến phản hồi của các cơ quan chức năng.

 

17/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Điều kiện công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mớiĐiều kiện công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới
Ngày 14 tháng 03 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 372/QĐ-TTg về việc xét công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, theo đó quy định về điều kiện công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới:

Ngày 14 tháng 03 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 372/QĐ-TTg về việc xét công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, theo đó quy định về điều kiện công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới:

Xã đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo các điều kiện: Có đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới và được Ủy ban nhân dân cấp huyện xác nhận; có 100% tiêu chí thực hiện trên địa bàn xã đạt chuẩn theo quy định.

Huyện đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo các điều kiện: Có đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận; có 75% số xã trên địa bàn huyện đạt chuẩn theo quy định; 25% số xã trên địa bàn huyện chưa đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo có ít nhất 14 tiêu chí trở lên đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 02 tiêu chí chủ yếu là hộ nghèo và thu nhập, các tiêu chí còn lại phải đạt từ 70% trở lên so với quy định.

Tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo các điều kiện: Có đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác nhận; có 80% số huyện trên địa bàn tỉnh đạt chuẩn theo quy định; 20% số huyện trên địa bàn tỉnh chưa đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo các điều kiện: Có ít nhất 50% số xã trên địa bàn huyện đạt chuẩn nông thôn mới; các xã còn lại chưa đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn huyện phải đạt từ 14 tiêu chí trở lên, trong đó có 02 tiêu chí chủ yếu là hộ nghèo và thu nhập; các tiêu chí còn lại phải đạt từ 70% trở lên so với quy định.

Ngoài ra, Quyết định số 372/QĐ-TTg cũng quy định về thẩm quyền xét công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận và công bố xã đạt chuẩn nông thôn mới; Thủ tướng Chính phủ công nhận và công bố huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới.

07/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) và nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC, ngày 08/6/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2524/KH-UBND về tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC năm 2017. Thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 11/7/2017, Sở Tư pháp tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC cho gần 250 cán bộ, công chức đầu mối các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. Ông Nguyễn Đăng Minh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

kstthc2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên của Sở Tư pháp triển khai một số văn bản liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC, các nội dung cơ bản của công tác kiểm soát TTHC, kỹ năng dự thảo Quyết định công bố TTHC, công tác rà soát, kiến nghị đơn giản hóa TTHC.      

kstthc1.jpg

Thông qua Hội nghị, cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã được trang bị kỹ năng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ kiểm soát TTHC, góp phần thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh.

14/07/2017 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 15/10/2013Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 15/10/2013

THÔNG BÁO Số 826(15/10/2013), HĐ333

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà ở) của ông Long Văn Tòng và bà Nguyễn Thị Thanh Lan, hiện cư ngụ tại: ấp Long Hội, xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

- Diện tích: 527,3 m2 (gồm 300m2 đất ONT và 227,3 m2 đất CLN)

- Thuộc tờ bản đồ 06, thửa 216 (thửa 846 + 331 + 332, tờ bản đồ số 3 cũ).

b) Nhà ở: tổng diện tích 114,1 m2 và gác lững diện tích 21,6 m2, nền lát gạch men, vách tường kiên cố, mái tole thiếc, cửa sắt gắn kính, không trần.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Long Hội, xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà ở) của ông Long Văn Tòng và bà Nguyễn Thị Thanh Lan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 285.000.000đ (hai trăm tám mươi lăm triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 16/10/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/11/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 22/11/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 25.000.000đ/hồ sơ;

THÔNG BÁO Số 831(15/10/2013), HĐ 323

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của hộ ông Trần Văn Chính, địa chỉ: ấp An Thuận, xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm sau:

1) Về đất và tài sản trên đất thuộc tờ bản đồ số 21, thửa đất 740

a) Về đất

- Diện tích đất: 50,4 m2 đất thổ cư;

b) Tài sản gắn liền trên đất:

- Nhà ở và cơ sở sản xuất kinh doanh: diện tích 45 m2 (ngang 03 m, dài 15m) nhà 01 trệt 01 lầu bê tông cốt thép

- Giá khởi điểm (1): 500.000.000 đ (Năm trăm triệu đồng)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 693797 do UBND huyện Ba Tri cấp ngày 10/12/2001

2) Về đất và tài sản trên đất thuộc tờ bản đồ số 21, thửa đất 661

a) Về đất

- Diện tích đất: 55,6 m2 đất thổ cư;

b) Tài sản gắn liền trên đất:

- Nhà ở cấp 4 và cơ sở sản xuất kinh doanh: diện tích 50 m2 (ngang 3,33 m, dài 15m) , tường gạch, máy tole, cột bêtông

- Giá khởi điểm (2): 500.000.000 đ (Năm trăm triệu đồng)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số L 581240 do UBND huyện Ba Tri cấp ngày 29/9/1995

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của hộ ông Trần Văn Chính do Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long – Chi nhánh Bến Tre – Phòng Giao dịch Ba Tri xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.000.000.000 đ (Một tỷ đồng chẳn)

* Lưu ý: tài sản bán toàn bộ và bán theo diện tích đo đạc thực tế

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 16/10/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 31/10/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 05/11/2013 (thứ ba); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000 đ/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/01 hồ sơ;


THÔNG BÁO Số 832 (15/10/2013), HĐ336

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của hộ ông Hà Văn Nhiên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp cho bà Hà Thị Út Chính), địa chỉ: ấp Bình Lộc, xã Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

1. Về đất:

a. Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 154

- Diện tích: 300 m2

- Loại đất: đất thổ cư.

- Giá khởi điểm: 26.572.050 đ (Hai mươi sáu triệu năm trăm bảy mươi hai ngàn không trăm năm mươi đồng).

b.Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 657

- Diện tích: 1.108 m2

- Loại đất: đất trồng cây lâu năm.

- Giá khởi điểm: 20.936.324 đ (hai mươi triệu chín trăm ba mươi sáu ngàn ba trăm hai mươi bốn đồng).

c. Về đất thuộc tờ bản đồ số 3, thửa đất số 905

- Diện tích: 7.669 m2

- Loại đất: đất trồng lúa.

- Giá khởi điểm: 90.569.356 đ (Chín mươi triệu năm trăm sáu mươi chín ngàn ba trăm năm mươi sáu đồng).

d. Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 87

- Diện tích: 1.450 m2

- Loại đất: đất trồng lúa.

- Giá khởi điểm: 17.124.210 đ (mười bảy triệu một trăm hai mươi bốn ngàn hai trăm mười đồng).

e. Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 155

- Diện tích: 3.230 m2

- Loại đất: đất trồng lúa.

- Giá khởi điểm: 38.145.654 đ (Ba mươi tám triệu một trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi bốn đồng).

g. Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 1523

- Diện tích: 4.230 m2

- Loại đất: đất trồng lúa.

- Giá khởi điểm: 49.955.454 đ (Bốn mươi chín triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn bốn trăm năm mươi bốn đồng).

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất N 025311, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 550617-001390 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 03/11/1999.

2. Về nhà:

- Diện tích: 166,25 m2

- Hiện trạng: Khung cột bêtông cốt thép, tường xây gạch ống, mái lợp tole, nền lát gạch ceramic +láng ximăng.

- Giá khởi điểm nhà: 71.449.290 đ (bảy mươi mốt triệu bốn trăm bốn mươi chín ngàn hai trăm năm mươi đồng).

- Tài sản tọa lạc tại: xã Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của hộ ông Hà Văn Nhiên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp cho bà Hà Thị Út Chính), do Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Tài sản bán theo nhu cầu người sử dụng

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 314.752.338 đ (Ba trăm mười bốn triệu bảy trăm năm mươi hai ngàn ba trăm ba mươi támđồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 16/10/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/11/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 22/11/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ (tài sản 1a+2), (tài sản 1c) , 100.000 đ/hs(tài sản g), (tài sản 1b), (tài sản e), 50.000 đ/hs (tài sản 1d)

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ (tài sản 1a+2), (tài sản c), 2.000.000 đ/hs (tài sản b), (tài sản d) (tài sản e), 3.000.000 đ/hs (tài sản g)

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667, fax số : 075-3512080 để biết thêm chi tiết.

 

24/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”Phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”
Ngày 12/02/2014, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 188/KH-STP về phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”.

 

 

Ngày 12/02/2014, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 188/KH-STP về phát động phong trào thi đua năm 2014 với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao”.

Kế hoạch nêu rõ những vấn đề cần tập trung: Phổ biến, quán triệt thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng. Trong đó, trọng tâm năm 2014 là tổ chức triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, phát huy mọi nguồn lực, vượt qua khó khăn, thách thức; phấn đấu 100% hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch công tác tư pháp năm 2014; đồng thời, tiếp tục thực hiện sâu rộng, thiết thực, hiệu quả phong trào thi đua “Cán bộ Tư pháp tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tập trung quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp. Chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, không để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại đơn vị; tiếp tục thực hiện thiết thực, có hiệu quả các hoạt động của Ngành phục vụ tích cực sự nghiệp xây dựng nông thôn mới; theo đó, năm 2014 chọn ít nhất 03 điểm cấp xã trên địa bàn tỉnh để triển khai phát động phong trào thi đua.

Ngoài ra, theo Kế hoạch thì Thủ trưởng các phòng, trung tâm thuộc Sở và Phòng Tư pháp các huyện, thành phố tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thuộc phạm vi được giao gắn với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trong các lĩnh vực về: Xây dựng, thi hành pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải cơ sở; hành chính tư pháp; bổ trợ tư pháp; lý lịch tư pháp; trợ giúp pháp lý… tập trung khắc phục những hạn chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng nông thôn mới.

 

21/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre: Tai nạn giao thông năm 2015 được kéo giảm cả 3 mặtBến Tre: Tai nạn giao thông năm 2015 được kéo giảm cả 3 mặt

Năm 2015, với sự tập trung chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh; sự phối hợp tích cực của Ban An toàn giao thông tỉnh, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tỉnh; Ủy ban nhân dân, Ban an toàn giao thông các huyện, thành phố; vai trò nòng cốt và nỗ lực của lực lượng Công an nhân dân các cấp, nên tình hình tai nạn giao thông đường thủy, đường bộ (cả tai nạn và va chạm) trên địa bàn tỉnh Bến Tre được kéo giảm cả 3 mặt: Xảy ra 312/437 vụ (giảm 124 vụ=28,64%), chết 197/207 người (giảm 10 người chết=4,84%), bị thương 220/402 người (giảm 185 người bị thương=45,68%). Trong đó, tai nạn giao thông đường bộ: xảy ra 187/191 vụ (giảm 04 vụ=2,09%), chết 192/204 người (giảm 12 người chết=5,88%), bị thương 69/52 người (tăng 17 người bị thương=32,69%).

Tuy nhiên, tình hình an toàn giao thông vẫn còn diễn biến phức tạp; số vụ, số người chết, người bị thương vẫn còn cao; trong đó, người ngoài tỉnh gây tai nạn giao thông còn nhiều (xảy ra 51 vụ, chết 32 người, bị thương 34 người). Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông có mặt còn hạn chế, nhất là hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông chưa cao, chưa tác động đến ý thức tự giác tôn trọng và chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông, nhất là đối tượng thanh, thiếu niên có nguy cơ cao vi phạm cao nhưng ít hoặc không tham gia sinh hoạt Tổ nhân dân tự quản, Tổ dân phố; một số người tham gia giao thông biết luật nhưng vẫn vi phạm như: Vượt đèn đỏ, uống rượu, bia vượt quá nồng độ cồn quy định, chạy quá tốc độ, không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, đua xe trái phép, không giấy phép lái xe….Công tác phối hợp tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm an toàn giao thông ở một số nơi, địa bàn, tuyến đường chưa thường xuyên, liên tục, nhất là các tuyến đường nông thôn, liên xã, ấp. Kinh phí, phương tiện không đảm bảo thực hiện công tác tuần tra, kiểm soát, nhất là hỗ trợ cho lực lượng cấp xã.

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác đảm bảo an toàn giao thông trong năm 2016, với chủ đề: "Xây dựng văn hóa giao thông gắn với nâng cao trách nhiệm, siết chặt kỷ cương của người thực thi công vụ" với mục tiêu "Tính mạng con người là trên hết"; Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành tỉnh, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp; Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phối hợp thường xuyên, thực hiện đồng bộ các giải pháp đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh; trong đó, tập trung các giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông từ 5%-10% số vụ, số người chết, số người bị thương so với năm 2015; giảm tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng; không để xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông ở các địa bàn trọng điểm, nhất là trong dịp lễ, tết.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phố biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông cho tất cả mọi người khi tham gia giao thông; trong đó, đặc biệt chú ý: các phương tiện tham gia giao thông bằng xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện; tập trung tuyên truyền các đối tượng có nguy cơ vi phạm trật tự an toàn giao thông; thông qua các hình thức, mô hình, loại hình; đưa tin cảnh báo tình hình tai nạn giao thông hàng tháng trên Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh-Truyền hình, Đài Truyền thanh huyện, xã; tổ chức "Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông", triển khai Chương trình  hoạt động "chia sẻ nỗi đau" cho các gia đình có người thân bị tai nạn giao thông do người do người khác gây ra, nhằm tuyên truyền giáo dục người tham gia giao thông nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về an toàn giao thông; nâng cao trách nhiệm, đạo đức, lương tâm và nghề nghiệp của người lái xe.

Công an tỉnh, Sở Giao thông-Vận tải; Ban an toàn giao thông tỉnh, Ủy ban nhân dân, Ban an toàn giao thông các huyện, thành phố phối hợp chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, sử dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật, nghiệp vụ, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông, nhất là hành vi đua xe trái phép, vi phạm về tốc độ, nồng độ cồn, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe, xe quá khổ, qua tải; kiên quyết xử lý việc tái lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường thủy, lấn chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè gây ảnh hưởng an toàn giao thông trên các tuyến QL 57, QL 60, đường Cảng Giao Long-Nguyễn Thị Định; Ngã tư An Thiện, thuộc các địa bàn Châu Thành, thành phố Bến Tre, huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam.

Tiếp tục nghiên cứu, xử lý các điểm có nguy cơ tìm ẩn gây tai nạn giao thông như: Hệ thống chiếu sáng, các điểm giao nhau giữa đường nông thôn, đường hẻm với quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện; các đường cong nguy hiểm.

Các ngành liên quan và các địa phương phối hợp Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh chỉ đạo chọn án điểm để đưa ra xét xử lưu động nhằm giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Các cơ quan chức năng phối hợp với Sở Y tế tổ chức thông tin kịp thời đường dây nóng cấp cứu tai nạn giao thông kịp thời góp phần hạn chế tử vong trong tai nạn giao thông; phối hợp với Sở Y tế, Hội Chữ thập đỏ, Công an tỉnh, Ban An toàn giao thông các huyện, thành phố tổ chức tập huấn sơ cấp cứu tai nạn giao thông.

05/01/2016 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 13/9/2016Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 13/9/2016

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 293/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản thanh lý, bán đấu giá nhà cũ cơ sở làm việc Công an phường 1 cụ thể như sau:

   1. Nhà làm việc chính: Kết cấu: 01 trệt, 01 lững, 03 lầu; móng, cột, khung pêtông cốt thép, tường xây gạch, sàn pêtông cốt thép, diện tích 209 m2. Gồm có các loại cửa như sau: Cửa đi loại 02 cánh bằng sắt khung kiếng: 03 bộ, Cửa sổ loại 02 cánh bằng sắt khung kiếng: 11 bộ, Cửa đi loại 01 cánh bằng sắt khung kiếng: 08 cái, Cửa đi loại 01 cánh bằng cây: 01 cái.

 2. Nhà phụ: Kết cấu: móng, cột, khung pêtông cốt thép, tường xây gạch, mái lợp tole, trần nhựa, diện tích 38 m2. Gồm có các loại cửa như sau: Cửa đi loại 01 cánh bằng sắt khung kiếng: 01 cái, Cửa đi loại 01 cánh bằng nhôm khung kiếng: 01 cái và 01 cái cửa đi nhà vệ sinh loại 01 cánh bằng nhôm khung kiếng.

- Tài sản tọa lạc: tại trụ sở làm việc cũ của Công an phường 1; phường 1, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Phòng Hậu cần - Kỹ thuật - Công an tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý: Khi bán đấu giá thành:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ bắt buộc phải lấy móng, đà và cả picton trả lại mặt bằng sạch cho Công an phường 1, thành phố Bến Tre.

            - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo cho người dân qua lại và khu làm việc xung quanh.

            - Khách hàng trúng đấu giá khoản tiền đặt trước sẽ tạm giữ khi nào tháo dỡ xong trả lại mặt bằng sạch cho Công an phường 1 và được sự chấp thuận của Phòng Hậu cần - Kỹ thuật thì số tiền tạm giữ Trung tâm đấu giá sẽ trả lại cho khách hàng. 

            - Tổng giá khởi điểm tính tròn của tài sản bán đấu giá (1+2): 57.815.000đ (Năm mươi bảy triệu, tám trăm mười lăm ngàn đồng).

            * Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt cho Trung tâm.

            * Khoản tiền đặt trước: 8.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 15/9/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/9/2016 (trong giờ làm việc).

   Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 27/9/2016 (Thứ ba) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 290/2016 (Kèm nội quy)

    Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà xưởng, hàng rào, hồ nước) của ông Nguyễn Văn Bé và bà Hồ Kim Hoàng, hiện cư ngụ tại: 101/3B ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh An, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về quyền sử dụng đất:

a) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ HMTA/03180 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 05/12/2007.

- Thuộc thửa đất số  01, tờ bản đồ số 13 ( theo kết quả đo đạc địa chính tạm gọi là thửa đất số 811, tờ bản đồ số 13);

- Diện tích 737,6 m2; trong đó 70 m2 đất ở tại nông thôn và 667,6m2 đất trồng cây lâu năm).

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ HMTA do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 05/12/2007.

- Thuộc thửa đất số  01, tờ bản đồ số 13 ( theo kết quả đo đạc địa chính tạm gọi là thửa đất số 810, tờ bản đồ số 13);

- Diện tích 164,3 m2; trong đó 70 m2 đất ở tại nông thôn và 94,3m2 đất trồng cây lâu năm).

2. Công trình xây dựng trên đất:

a) Nhà xưởng 1: Kích thước (DxR): (19,25 x 12,6)m, diện tích 242,55m2, dạng nhà tiền chế, nền lát gạch ceramic (40 x 40)cm; móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép tròn; tường bao lửng, xây gạch dày 10cm, cao 2,2m + vách tole; khung kèo, đòn tay  thép; mái lợp tole sóng vuông. Cửa bằng khung sắt + vách tole;

b) Nhà xưởng 2: diện tích 142,04m2, dạng nhà tiền chế, nền lát gạch ceramic (40 x 40)cm + ximăng; móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép tròn; không vách; khung kèo, đòn tay  thép; mái lợp tole sóng vuông.

c) Hàng rào: Diện tích 94,7m2.

- Cổng rào: Trụ cổng (02 trụ) bêtông cốt thép (40x40)cm, cao 2,2m, ốp gạch thẻ; Cánh cổng chính (02 cánh) khung bằng thép tròn hình tổ hợp lại với nhau.

- Tường rào: Móng cột, đà kiềng, trụ cột bêtông cốt thép, khoảng cột 2,8m; tường xây gạch dày 10cm, cao dưới 0,8m, trên lắp lưới B40.

d) Hồ nước:

- Hồ nước tròn 02 cái: đường kính 1,6m, cao 2,6m, dạng cống nước tròn, không có nắp đậy.

- Hồ nước 1: 01 cái, kích thước ( DxRxC): (8x4x1)m, dạng hình chữ nhật, có vách ngăn, thành hồ xây gạch dày 20cm, xung quanh ốp gạch ceramic (40x40)cm.

- Hồ nước 2: 01 cái, kích thước ( DxRxC): (2x2x1)m, dạng hình chữ nhật, có vách ngăn, thành hồ xây gạch dày 20cm, xung quanh ốp gạch ceramic (40x40)cm.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Bé và bà Hồ Kim Hoàng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 895.899.538đ (tám trăm chín mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi chín ngàn, năm trăm ba mươi tám đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ.

  * Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/01 hồ sơ.

  Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 15/9/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 (trong giờ làm việc).

  Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 25/10/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

                           THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 292/2016 (Kèm nội quy)

       Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Huỳnh Ngọc Trung và bà Phạm Thị Hồng, địa chỉ tại: ấp 4, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

       1. Về đất:

  - Thửa số 13, tờ bản đồ số 9

  - Diện tích đất: 335,8 m2;

       2. Công trình xây dựng trên đất:

* Nhà trước:

- Diện tích xây dựng: 70,8 m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

- Kết cấu chính:

  + Cột kèo gỗ;

  + Vách tường xây gạch dày 10 cm, sơn nước;

  + Nền ximăng;

  + Mái tole firôximăng;

- Hiện trang: Công trình ngưng sử dụng đã xuống cấp trầm trọng, tường nhà bị nứt, nền có dấu hiệu bị lún, mái tole có một số tấm bị bể, cột kèo bị mối mọt trầm trọng.

* Nhà trước:

- Diện tích xây dựng: 122 m2;

- Pháp lý: Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

- Kết cấu chính:

  + Cột bêtông, kèo gỗ;

  + Vách tường xây gạch dày 10 cm, sơn nước;

  + Nền gạch bông;

  + Mái tole tráng kẽm;

  + Trần nhựa;

  + Cửa phòng bằng nhôm gắn kính.

- Hiện trang: Tường nhà phía trước bị nứt, mái tole bị hư hỏng biến dạng vài chỗ, trần nhựa bị hư hỏng.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Huỳnh Ngọc Trung và bà Phạm Thị Hồng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. 

       * Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 923.900.000đ (Chín trăm hai mươi ba triệu, chín trăm ngàn đồng).

       * Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 15/9/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 8 giờ 30 phút, ngày 25/10/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

                           THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 294/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Võ Phúc Sơn và bà Huỳnh Thị Thủy; hiện cư ngụ tại: 284B, khu phố 1, phường 8, thành phố Bến Tre tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

* Thửa số 520, tờ bản đồ số 45;

- Diện tích:  1.681,3 m2;

- Loại đất: CLN;

* Thửa số 225, tờ bản đồ số 45;

Diện tích:  2.914,6 m2 (trong đó có 300 m2 đất ONT và 2.614,6 m2 đất CLN);

* Thửa số 231, tờ bản đồ số 45;

Diện tích:  249,0 m2 (trong đó có 100 m2 đất ONT và 149 m2 đất CLN);

2) Công trình xây dựng:

2.1. Nhà ở:

* Cấu trúc

- Năm xây dựng 2000;

- Dạng nhà: cấp IV;

- Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, mái lợp tole sóng vuông. Hệ thống điện đi ngoài, hệ thống nước âm tường.

* Kết cấu:

- Phòng khách: Nền lát gạch ceramic (30x30)cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, quét vôi. Đòn tay thép, mái tole sóng vuông. Cửa đi chính bằng sắt + kính, 04 cánh, cửa sổ bằng khung sắt + kính, 04 cánh, bên hông có 01 cánh cửa bằng gỗ; Phòng ngủ có kết cấu tương tự như phòng khách, cửa sổ bằng khung sắt + gỗ (gỗ tạp); khu nhà bếp có kết cấu tương tự như phòng khách, cửa sau khung sắt + vách tole.

- Hiện trạng: Nhà ở đã hư hỏng nhiều.

2.2. Hàng rào (lưới B40):

- Kích thước: 30,58 md;

- Kết cấu: trụ, đà kiềng bêtông cốt thép, tường xây gạch dày 10 cm, cao < 0,8 m, khoảng cột 2,8 m, trên lắp lưới B40, cao 2 m, cánh cổng khung sắt + lưới B40.

- Hiện trạng: Hàng rào đang sử dụng bình thường.

2.3. Hàng rào (kéo dây chì gai):

- Kích thước 200 md;

- Kết cấu: trụ bêtông cốt thép, cột chôn, khoảng cột 2,8 m, kéo dây kẽm gai, cao 2 m.

- Hiện trạng: hàng rào đang sử dụng bình thường.

3) Cây trồng trên đất:

- Cây dừa: Loại 1 từ 6 năm tuổi trở lên, có trái ổn định 44 cây; Loại 2 từ 4 năm đến dưới 6 năm tuổi đã cho trái 20 cây; Loại 3 từ 1 năm đến dưới 4 năm tuổi 36 cây.

- Cây nhãn: Loại 2 từ 4 năm đến dưới 8 năm tuổi 12 cây.

- Cây xoài: Loại 2 từ 4 năm đến dưới 7 năm tuổi 17 cây.

- Cây cam: Loại 1 từ 3 năm tuổi trở lên, có trái ổn định 05 cây.

- Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Võ Phúc Sơn và bà Huỳnh Thị Thủy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 952.127.385đ (Chín trăm năm mươi hai triệu, một trăm hai mươi bảy ngàn, ba trăm tám mươi lăm đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 50.000.000 đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 15/9/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 25/10/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

                         THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 295/2016 (Kèm nội quy)

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, địa chỉ tại: ấp An Vĩnh 1, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Thửa số 2784, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 957 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AN 550468 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 30/9/2008.

- Chuồng heo có diện tích 356,3 m2 cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

- Tường rào có diện tích 257,3 m2.

- Cây trồng: 02 cây dừa trên 5 năm tuổi, 02 cây dừa khoảng 01 năm tuổi và 02 cây nhãn trên 5 năm tuổi.

* Tài sản tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

 * Tổng giá khởi điểm tính tròn của tài sản bán đấu giá: 122.372.846đ (một trăm hai mươi hai triệu, ba trăm bảy mươi hai ngàn, tám trăm sáu mươi bốn đồng).

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/ 01 hồ sơ/01 tài sản.

 * Khoản tiền đặt trước tài sản: 8.000.000 đ/ 01hồ sơ.

 Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 15/9/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút, ngày 25/10/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 296/2016 (Kèm nội quy)

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Đặng Thanh Phong và bà Nguyễn Thị Thu Hồng; hiện cư ngụ tại: ấp Tân Phước, xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre;

* Thửa số 217, tờ bản đồ số 27;

- Diện tích:  870,5 m2;

- Loại đất: CLN;

- Cây trồng trên đất có 34 cây dừa từ 01 đến 10 năm;

- Tài sản tọa lạc tại: ấp Tân Phước, xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Đặng Thanh Phong và bà Nguyễn Thị Thu Hồng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 32.617.418đ (ba mươi hai triệu, sáu trăm mười bảy ngàn, bốn trăm mười tám đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 3.000.000 đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 15/9/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 (trong giờ làm viêc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 25/10/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 299/2016 (Kèm nội quy)

          Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, nhà ở và công trình xây dựng trên đất của ông Trần Vũ Ân (DNTN Công Tạo), địa chỉ tại: ấp 3, xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm sau:

          A. Về đất:

            1) Thuộc thửa số 09, tờ bản đồ số 29 (theo số cũ thửa 187, tờ bản đồ số 03): Diện tích: 1.701,6 m2 ( trong đó: đất ONT là 851,0 m2 và đất CLN là    850,6 m2).    

            2) Thuộc thửa số 43, tờ bản đồ số 13 (theo số cũ thửa 199, tờ bản đồ số 03): Diện tích: 5.625,3 m2; Loại đất: NTS.

           B. Công trình xây dựng trên đất:

             1) Nhà để xe: Diện tích: 135,53m2.Kết cấu: Móng cột bêtông cốt thép; mái lợp tole fbrôximăng; nền đất, không vách.

             2) Nhà để phụ tùng: Diện tích: 28,08m2.Kết cấu: Móng cột bêtông cốt thép; tường xây gạch cao 0,8m, phía trên lắp khung sắt B40; mái lợp tole fbrôximăng; nền tráng ximăng.

             3) Nhà chính: Diện tích: 253,81m2. Có 03 phòng ngủ, 01 phòng thờ, 01 phòng khách, 01 phòng ăn và 02 phòng vệ sinh. Kết cấu: Móng cột bêtông cốt thép; tường xây gạch dày 10c, sơn nước; mái lợp tole giả ngói; nền lát gạch ceramic; hệ thống cửa chính, cửa phụ bằng nhôm lắp kín; tầng thạch cao.

   4) Nhà phụ phía sau: Diện tích xây dựng 20,69 m2. Kết cấu: móng, cột bêtông cốt thép; tường xây gạch; mái lợp tole fbrôximăng; nền lát gạch ceramic.

    5) Chuồng trại cá sấu 1: Diện tích xây dựng 427,18 m2. Kết cấu: tường xây gạch bao quanh, phía trên lắp lưới B40 cao 1,85m; nền tráng ximăng.

    6) Chuồng trại cá sấu 2: Diện tích xây dựng 450,18 m2. Kết cấu: tường xây gạch bao quanh, phía trên lắp lưới B40 cao 1,85m; nền tráng ximăng.

    7) Chuồng trại cá sấu 3: Diện tích xây dựng 366,56 m2. Kết cấu: tường xây gạch bao quanh, phía trên lắp lưới B40 cao 1,85m; nền tráng ximăng.

    8) Quán ăn: Diện tích xây dựng 130,27 m2. Kết cấu: móng, cột bêtông cốt thép; mái lợp tole fbrôximăng; nền tráng ximăng, không vách.

    9) Nhà bếp của quán ăn: Diện tích xây dựng 45,4 m2. Kết cấu: móng, cột bêtông cốt thép; tường xây gạch dày 10cm, sơn nước; tường ốp gạch ceramic cao 1,2m; nền lát gạch bông, trần nhựa.

   10) Nhà ở công nhân: Diện tích xây dựng 37,1 m2. Kết cấu: móng, cột bêtông cốt thép; tường xây gạch dày 10cm, sơn nước; mái lợp tole fbrôximăng; trần thạch cao; nền lát gạch bông.

   11) Nhà vệ sinh 1: Diện tích xây dựng 21,6 m2. Kết cấu: móng, cột bêtông cốt thép; tường ốp gạch ceramic cao 1,2m; mái lợp tole fbrôximăng; trần thạch cao; nền lát gạch bông.

   12) Nhà vệ sinh 2: Diện tích xây dựng 13,05 m2. Kết cấu: móng, cột bêtông cốt thép; tường ốp gạch ceramic cao 1,2m; mái lợp tole fbrôximăng; trần thạch cao; nền lát gạch bông.

   13) Khu karaoke: Diện tích xây dựng 67 m2. Kết cấu: móng, cột bêtông cốt thép; tường ốp gạch ceramic cao 1,2m; mái lợp tole fbrôximăng; trần thạch cao; nền lát gạch bông.

   14) Nhà ở công nhân nuôi cá sấu: Diện tích xây dựng 72,98 m2. Kết cấu: móng, cột bêtông cốt thép; tường xây dày 10cm, chưa tô trát; mái lợp lá; trần thạch cao; nền tráng ximăng.

   15) Chòi cây xanh lớn: Diện tích xây dựng 62,48 m2. Kết cấu: tường xây gạch thẻ cao 1m bao quanh; nền tráng ximăng.

   16) Chòi cây xanh nhỏ: Diện tích xây dựng 84 m2. Kết cấu: trụ xây gạch thẻ cao 1m, đường kính 0,6m; nền tráng ximăng.

   17) Chòi nhỏ dưới ao: Diện tích xây dựng 27 m2. Kết cấu: mái lá; nền bêtông.

   18) Chòi lớn dưới ao: Diện tích xây dựng 18 m2. Kết cấu: mái lá; nền bêtông.

  19) Cầu qua ao lớn: Diện tích xây dựng 19,25 m2. Kết cấu: Trụ bêtông, mặt cầu bêtông ngang 1,75m, dài 11m, cao 0,7m. Tay vịnh bằng bêtông.

  20) Cầu qua chòi: Diện tích xây dựng 16 m2. Kết cấu: Trụ bêtông, mặt cầu bêtông ngang 1m, dài 4m, cao 0,7m. Tay vịnh bằng bêtông.

 21) Hồ nước 26 cái:

- Loại cao 1,08m, đường kính 1,45m là 03 cái. Kết cấu: Loại hồ bêtông tròn, không nắp.

- Loại cao 1,4m, đường kính 1,7m là 11 cái. Kết cấu: Loại hồ bêtông tròn, có nắp.

- Loại cao 1,3m, đường kính 1,7m là 06 cái. Kết cấu: Loại hồ bêtông tròn, có nắp.

- Loại cao 1,2m, đường kính 1,1m là 05 cái. Kết cấu: Loại hồ bêtông tròn, không nắp.

- Loại cao 1,1m, đường kính 1,5m là 01 cái. Kết cấu: Loại hồ bêtông tròn, có nắp.

22) Cổng rào:  Khung sắt hình dài 18,4m, cao 2,5m. Trụ cổng ốp gạch trang trí cao 2,6m.

23) Hàng rào: Tường xây gạch ốp dày 10cm, dài 600m.

C. Hoa lợi trên đất:

- Cây Dừa xiêm mới trồng: 120 cây; Cây Xoài khoảng 5 năm tuổi: 110 cây.

- Cây kiểng trồng làm cảnh ngoài trời loại 1: 60 cây. Chi phí hỗ trợ di dời là 2.400.000đ (Hai triệu bốn gtrăm ngàn đồng).

- Tài sản (A+B+C) tọa lạc: xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, nhà ở, các công trình xây dựng và hoa lợi trên đất của ông Trần Vũ Ân, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (A+B+C): 3.668.710.780đ (Ba tỷ, sáu trăm sáu mươi tám triệu, bảy trăm mười ngàn, bảy trăm tám mươi đồng).

       Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 15/9/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/10/2016 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 25/10/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 300.000.000đ/ 01 hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667, 075-3512081 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

14/09/2016 5:00 CHĐã ban hành
Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh năm 2013Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh năm 2013
p style="text-align&#58; justify;"!--[if gte mso 9]xml w&#58;WordDocument w&#58;ViewNormal/w&#58;View w&#58;Zoom0/w&#58;Zoom w&#58;PunctuationKerning / w&#58;ValidateAgainstSchemas / w&#58;SaveIfXMLInvalidfalse/w&#58;SaveIfXMLInvalid w&#58;IgnoreMixedContentfalse/w&#58;IgnoreMixedContent w&#58;AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w&#58;AlwaysShowPlaceholderText w&#58;Compatibility w&#58;BreakWrappedTables / w&#58;SnapToGridInCell / w&#58;WrapTextWithPunct / w&#58;UseAsianBreakRules / w&#58;DontGrowAutofit / /w&#58;Compatibility w&#58;BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w&#58;BrowserLevel /w&#58;WordDocument /xml![endif]--/p
pspan style="font-size&#58; small;" /span/p
p style="text-align&#58; justify;"!--[if gte mso 9]xml w&#58;LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w&#58;LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w&#58;LatentStyles /xml![endif]--!--[if !mso] span class="mceItemObject"&#160;&#160; classid="clsid&#58;38481807-CA0E-42D2-BF39-B33AF135CC4D" id=ieooui /span mce&#58;style!&#160; st1\&#58;*&#123;behavior&#58;url(#ieooui) &#125; --span style="font-size&#58; small;" /span!--[endif] --!--[if gte mso 10] mce&#58;style!&#160;&#160; /* Style Definitions */&#160; table.MsoNormalTable &#123;mso-style-name&#58;"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size&#58;0; mso-tstyle-colband-size&#58;0; mso-style-noshow&#58;yes; mso-style-parent&#58;""; mso-padding-alt&#58;0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin&#58;0cm; mso-para-margin-bottom&#58;.0001pt; mso-pagination&#58;widow-orphan; font-size&#58;10.0pt; font-family&#58;"Times New Roman"; mso-ansi-language&#58;#0400; mso-fareast-language&#58;#0400; mso-bidi-language&#58;#0400;&#125; --!--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align&#58; justify;"span style="font-size&#58; small;"Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hoá của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta, là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo.
Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hoá của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta, là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo.

Chính vì vậy, ngày 07 tháng 11 năm 2006, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Và cuộc vận động này được thực hiện từ ngày kỷ niệm 77 năm thành lập Đảng (03-02-2007) tới hết nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng. Với mục đích là làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh... nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Hơn 4 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 06-CT/TW, với sự chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ của các cấp ủy và tổ chức đảng; sự tham gia tích cực của cán bộ, đảng viên và nhân dân, cuộc vận động đã đạt được kết quả bước đầu, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Kết quả triển khai cuộc vận động đã khẳng định việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Để tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14/5/2011 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Với mục đích là phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện cuộc vận động trong thời gian qua, tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Các nội dung chủ yếu cần thực hiện:

- Tiếp tục tổ chức học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bao gồm cả việc học tập và làm theo tác phong, phong cách của Bác, thể hiện cụ thể trong công việc thường ngày, trong quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp... Đặc biệt nhấn mạnh việc làm theo qua những hành vi thiết thực, cụ thể.

- Tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

- Quy định rõ trách nhiệm tự giác đi đầu, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp, của cán bộ, đảng viên. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên.

- Đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chương trình hành động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; chương trình tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Lấy kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm.

- Tiếp tục chỉ đạo việc biên soạn chương trình, giáo trình về đạo đức Hồ Chí Minh để giảng dạy ở các cấp học, bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp.

- Coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp có biện pháp cụ thể để tổ chức, chỉ đạo thực hiện hiện tốt việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.

- Định kỳ tổ chức kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, phát hiện và biểu dương các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phê bình, uốn nắn các nhận thức lệch lạc, các việc làm thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm. Đấu tranh với các quan điểm sai trái, các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

- Tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, về các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ bằng nhiều hình thức phong phú và sinh động.

Gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, tiếp tục tổ chức học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác, cùng với chuyên đề năm 2011, 2012 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị”, năm 2013, chúng ta có thêm chuyên đề: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

Phong cách quần chúng, phong cách dân chủ và phong cách nêu gương trong tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện xuyên suốt mọi hành động trong cả cuộc đời cách mạng, phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân của vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của cách mạng và của dân tộc Việt Nam.

*Phong cách quần chúng

Phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghía Mác - Lênin: quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Hồ Chí Minh luôn có lòng tin vô tận đối với quần chúng. Người luôn luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ với quần chúng, coi đó là nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện bằng phong cách sâu sát quần chúng, vì lợi ích của quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, của những người chiến sĩ cộng sản suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Trước hết, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và bản thân Người luôn là tấm gương sáng về phong cách gần dân. Sự gần gũi đó được thể hiện ngay từ phút đầu tiên Người ra mắt quốc dân. Khi vừa đọc một đoạn Tuyên ngôn Độc lập, Người đã dừng lại hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Chỉ là một câu hỏi thôi, một câu hỏi bình dị, tự nhiên mà thực sự đã làm xúc động trái tim hàng chục triệu đồng bào toàn quốc! “Cả muôn triệu một lời đáp: Có! Như Trường Sơn say gió Biển Đông”. Đó là một điển hình mẫu mực về mối quan hệ gần gũi, thân thiết hiếm có giữa lãnh tụ với quần chúng, ngay ở những giây phút lịch sử trang trọng nhất.

Năm 1957, Bác Hồ về thăm Quảng Bình. Cuộc mít tinh quần chúng đón Bác được tổ chức tại sân vận động thị xã Đồng Hới. Nói chuyện với đồng bào, Người nhắc nhở nhiều điều, trong đó có việc phải chú ý chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình đồng bào miền Nam tập kết,... rồi Người đọc chậm rãi câu ca dao:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Bác đọc đến đâu, đồng bào đọc theo đến đó. Một âm thanh hòa quyện vang lên thân thiết giữa lãnh tụ và quần chúng. Các thành viên Tổ cổ động của Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế đóng tại Đồng Hới, có mặt tại cuộc mít tinh, đã hết sức ngạc nhiên. Họ nói với cán bộ ta: “Trong đời chúng tôi chưa bao giờ được thấy một thủ lĩnh quốc gia nào gần gũi, thân thiết với nhân dân như Bác Hồ của Việt Nam. Ở nước chúng tôi, Tổng thống cũng đọc diễn văn rất hay. Rất tiếc cái hay đó chỉ có một số ít người trong dân chúng hiểu. Còn ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn thì hàng vạn người đều hiểu được và đọc theo, như cha đọc cho con nghe, thầy đọc cho trò nghe..., thật là gần gũi và thân thiết!”.

Trong đời sống hằng ngày, Người thường tranh thủ đi thăm, chuyện trò thân tình với các cụ già, gặp gỡ chiến sĩ và đồng bào các địa phương, để nắm tình hình và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Điều đó đã trở thành một nhu cầu, một nếp sống, thành điều tâm niệm suốt đời của Người, từ buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước đến khi trở thành Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, từ việc lớn đến việc nhỏ của Người đều thể hiện sự quán triệt tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc”, “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Ta hiểu vì sao Người thưòng nhắc đến câu ca truyền miệng của nhân dân Quảng Bình “Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Giữ được chân lý quý báu này thì sự nghiệp dù khó mấy cũng thành công. Xa rời chân lý này thì cơ đồ cha ông để lại có đồ sộ mấy rồi cũng sẽ ngả nghiêng, sụp đổ.

Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tác phong sâu sát. Theo một thống kê chưa thật đầy đủ, chỉ tính trong vòng 10 năm xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955-1965), không quản tuổi cao, công việc bề bộn, Bác Hồ đã thực hiện trên dưới 700 lượt đi thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội,... từ miền núi đến hải đảo, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Tính ra mỗi năm có hơn 60 lượt Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng 6 lần Người gặp gỡ quần chúng. Đó là một kỷ lục khó ai có thể vượt qua, nhất là đối với một lãnh tụ ở tuổi 70.

Hồ Chí Minh yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải đi đúng đường lối quần chúng, đồng thời bản thân Người nêu cao tấm gương về lòng yêu mến và tin tưởng rất mực vào khả năng và sức mạnh của nhân dân. Bác nói: “Nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Bác thường xuyên căn dặn các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải coi trọng mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng, và phải thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân.

Chính phong cách đi đúng đường lối quần chúng của Người có sức hút kỳ lạ, làm cho quần chúng đến với Người không chút e ngại, bình dị, tự nhiên. Tác phong ấy làm cho lãnh tụ và quần chúng dễ dàng hoà nhập với nhau trong sự đồng cảm sâu sắc nhất. Nhờ vậy, mọi người có thể nói hết những suy nghĩ, trăn trở của mình, còn Người thì lắng nghe để có thể hiểu được nhịp đập của cuộc sống chung quanh.

Phong cách quần chúng không chỉ là phong cách cần thiết của cán bộ, đảng viên trong quan hệ với dân, mà còn cần thiết trong quan hệ của cấp trên với cấp dưới, của cán bộ lãnh đạo với cán bộ, đảng viên bình thường. Đối với người lãnh đạo cấp trên, hiểu dân và hiểu cấp dưới đều có tầm quan trọng đặc biệt. Hiểu dân là để hiểu cấp dưới được chính xác hơn, hiểu cấp dưới là để hiểu dân được đầy đủ hơn. Càng hiểu dân và càng hiểu cấp dưới, người lãnh đạo càng hiểu chính mình và càng rút ra được những điều bổ ích để bổ sung cho chủ trương, chính sách đã được đề ra.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời, không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Vì vậy, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, kính dân, phải thân dân, gần dân để hiểu dân.

Cán bộ, đảng viên phải biết phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của tập thể, lợi ích của nhân dân. Bác nói: “Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng... Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại...”.

Hồ Chí Minh thường yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”. Người đã nhiều lần phê phán tệ xa rời quần chúng, lên mặt “làm quan cách mạng”, “quan nhân dân”, không thấy mình là đày tớ, người học trò của nhân dân. Bác đã nêu ra một quan điểm rất rõ: Không phải cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” thì đương nhiên sẽ được mọi người quý trọng. Quần chúng nhân dân chỉ quý trọng những người có đức, có tài, hết lòng phụng sự nhân dân. Phải yêu dân, kính dân thì dân mới dành sự yêu kính cho mình.

Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Làm cho dân kính, dân yêu, dân tin, dân phục là vấn đề thuộc về lòng người. Nếu cứ ỷ vào quyền lực chỉ có thể làm cho người ta sợ, ngại, xa lánh và khinh ghét chứ không thể giành được sự tin yêu, kính phục của người khác. Nhân dân từ già đến trẻ thuộc mọi tầng lớp, dân tộc, mọi thế hệ đều gọi Hồ Chí Minh bằng hai tiếng: Bác Hồ. Bác đến với mọi người một cách rất tự nhiên và bình dị. Mọi nghi thức đối với Người đều trở thành không cần thiết.

Yêu nước, thương dân, suốt đời vì dân, vì nước là suy nghĩ nhất quán, thường trực trong con người của Người. Chính tư tưởng đạo đức của nhân cách bên trong con người Hồ Chí Minh đã thể hiện, bộc lộ ra bên ngoài bằng phong cách quần chúng ở Người.

* Phong cách dân chủ

Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Trước hết theo Hồ Chí Minh, mọi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời tinh thần ấy cũng thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của Người. Hồ Chí Minh không bao giờ đặt mình cao hơn tổ chức, ở ngoài sự kiểm tra, giám sát của tổ chức, mà luôn luôn tranh thủ bàn bạc với tập thể Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội, khi cần thiết, triệu tập cả Hội nghị chính trị đặc biệt - một hình thức Diên Hồng của thời đại mới - để xin ý kiến các đại biểu quốc dân.

Khi bàn về cách làm và xuất bản loại sách Người tốt, việc tốt với một số cán bộ, Người nói: “Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được. Không nên: “Bác nói gì, các chú cứ ghi vào sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua loa”.

Người yêu cầu lắng nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”. Muốn thế, người lãnh đạo phải đề cao, mở rộng dân chủ, từ dân chủ trong Đảng đến dân chủ trong các cơ quan đại biểu của dân. Người năng đi xuống cơ sở, để lắng nghe ý kiến của cấp dưới và của quần chúng, chứ không phải để huấn thị. “Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Do đó, theo Người, phải biết động viên, khuyến khích “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, tức là phải làm cho cấp dưới không sợ nói sự thật và cấp trên không sợ nghe sự thật. Người lãnh đạo có phẩm chất đương nhiên không nói dối ai, nhưng muốn để không ai nói dối mình thì phải có phương pháp lãnh đạo tốt, có phong cách gần gũi quần chúng, đi sát cơ sở.

Người lãnh đạo muốn biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của mình, muốn biết công tác của mình tốt hay xấu không gì bằng khuyên cán bộ của mình mạnh bạo đề ra ý kiến và phê bình. Như thế chẳng những không phạm gì đến uy tín của người lãnh đạo, mà lại thể hiện dân chủ thật sự trong Đảng.

Phải mở rộng dân chủ đề phát huy sức mạnh của tập thể. Người thường nói: Đề ra công việc, đẻ ra nghị quyết, không khó, vấn đề là thực hiện nó. Ai thực hiện? - Tập thể, quần chúng. Vì vậy, có dân chủ, bàn bạc tập thể mới cùng thông suốt, nhất trí, mới cùng quyết tâm thực hiện, tránh được “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Sở dĩ xảy ra mất đoàn kết vì người đứng đầu ở nơi đó còn chuyên quyền, độc đoán, áp đặt chủ quan, trong hội nghị thì mọi người miễn cưỡng đồng tình, sau hội nghị, nếu đã không thông thì sẽ không quyết tâm thực hiện. Vì vậy, Người yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”. “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”; “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Bản thân Người là tấm gương mẫu mực về thực hành dân chủ.

Trong công tác lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Người luôn có ý thức sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức, sức mạnh tập thể và sức mạnh tổng hợp của quần chúng, nhân dân. Trước khi quyết định một công việc hệ trọng, Người đều hỏi lại cẩn thận và chu đáo những người đã giúp mình. Tất cả những ai đã được Bác giao việc đều cảm nhận sâu sắc điều đó.

Phong cách dân chủ Hồ Chí Minh được thể hiện từ việc lớn cho đến việc nhỏ: Chuẩn bị ra một nghị quyết hay dự thảo một văn kiện, viết một bài báo,... Người đều đưa ra thảo luận trong tập thể Bộ Chính trị, tham khảo ý kiến những người xung quanh. Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định: Mọi vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật,... Người đều huy động sự tham gia của đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, yêu cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều được cân nhắc kỹ, lựa chọn thận trọng, để sau khi ban hành, ít phải thay đổi, bổ sung.

Nhận trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, nhưng Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Người giải thích: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách, tức là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung.

Tác phong tập thể - dân chủ của Bác luôn luôn tạo ra được không khí làm việc hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo. Cương vị lãnh đạo càng cao, thì càng đòi hỏi phải có tác phong tập thể - dân chủ thật sự, chứ không phải hình thức. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể. Mọi thói hình thức chủ nghĩa, sớm muộn, sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ. Nhiều lần, Người đã phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, do đó mà người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phê bình, làm cho cấp trên, cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau không còn hăng hái, không còn sáng kiến trong khi làm việc.

Hồ Chí Minh là người đã hóa thân một cách toàn vẹn và trọn vẹn vào trong nhân dân. Hồ Chí Minh là người thấu hiểu dân tình, chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí để không ngừng thực hành dân chủ cho dân. Trong chế độ mới, giá trị cao nhất của độc lập dân tộc là đem lại quyền làm chủ thực sự cho dân, phải trao lại cho dân mọi quyền hành. Dân là chủ, nghĩa là trong xã hội Việt Nam, nhân dân là người chủ của nước, nước là nước của dân. Các cơ quan đảng và nhà nước là tổ chức được dân ủy thác làm công vụ cho dân. Từ thực hành dân chủ cho nhân dân đến thực hành dân chủ trong Đảng, trong cơ quan, tổ chức, phong cách dân chủ của Bác Hồ là sự thể hiện nhất quán của tư tưởng đạo đức vì dân, vì nước, như Người từng khẳng định 5 điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

- Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

- Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.

- Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.

- Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.

- Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

* Phong cách nêu gương

Theo Hồ Chí Minh, nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm.

Trước hết cần nêu gương trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối với việc. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng; đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (để việc công lên trên, lên trước việc tư).

Sinh thời, khi nước nhà vừa giành được độc lập năm 1945, đứng trước nạn đói đang đến gần, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân diệt “giặc đói” bằng một hành động cụ thể, mười ngày nhịn ăn một bữa để lấy số gạo đó cứu những người bị đói và chính Người đã làm gương thực hiện trước. Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống “thương người như thể thương thân” của dân tộc, nâng lên thành triết lý hành động cách mạng vì dân, vì nước trong mỗi con người.

Muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi với làm và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương đạo đức mẫu mực cho mọi người học tập và noi theo, ở Người đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức, đạt tới sự nhất quán giữa công việc và đời tư, giữa đạo đức vĩ nhân và đạo đức đời thường.

Hồ Chí Minh từng dạy: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương cả về ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: quyết tâm, trí tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công”. Hồ Chí Minh cho rằng, con người nói chung, đặc biệt là người phương Đông, coi trọng thực tiễn hơn lý thuyết. Chính vì thế, Người nhắc nhở đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Tự mình phải chính trước, mới giúp người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

Để giáo dục bằng nêu gương đạt kết quả cao, Người chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Trong gia đình, cha mẹ có thể là tấm gương cho các con, anh chị là tấm gương đối với các em; trong nhà trường, thầy giáo, cô giáo là tấm gương cho học trò; trong cơ quan, tổ chức thì cán bộ lãnh đạo là tấm gương cho cấp dưới, người này có thể nêu gương cho người khác. Trong cuộc sống hằng ngày, người cán bộ, đảng viên chẳng những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà còn phải là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó làm những điều đúng, điều thiện, chống lại thói hư, tật xấu.

Hồ Chí Minh thấy được một triết lý sâu xa rằng, cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc đều do mồ hôi, nước mắt của dân mà ra, nên chúng ta phải đền bù xứng đáng cho dân. Cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưỏng đạo đức ấy đã tạo nên một phong cách nêu gương, tự giác gương mẫu của Hồ Chí Minh, người lãnh tụ kính yêu của cách mạng Việt Nam, người suốt đời phấn đấu, hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị, người mà cả cuộc đời là một tấm gương lớn cho các thế hệ con cháu mãi mãi noi theo.

05/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Triển khai thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt NamTriển khai thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam

​Công văn số 3126/BTP-BTTP ngày 22/8/2018 của Bộ Tư pháp về việc triển khai thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam

CV3126-BTP.pdf

07/09/2018 4:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối với tài sản thửa đất 98, 109, tờ bản đồ số 13, tại ấp Tân Lộc, xã Tân Hội, MCN, Bến TreThông tin ngăn chặn đối với tài sản thửa đất 98, 109, tờ bản đồ số 13, tại ấp Tân Lộc, xã Tân Hội, MCN, Bến Tre
29/08/2017 2:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 05/5/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 05/5/2017
08/05/2017 5:00 CHĐã ban hành
Tăng cường công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Bến TreTăng cường công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre
  Thời gian qua, công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính thực hiện theo cơ chế một cửa được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế, nhất là thời gian giải quyết chưa được cải tiến, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ của ...

Thời gian qua, công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính thực hiện theo cơ chế một cửa được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế, nhất là thời gian giải quyết chưa được cải tiến, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ của một số cán bộ, công chức chưa tốt; công tác phối hợp, linh động trong việc xử lý những nhu cầu bức xúc của các cá nhân có liên quan đến thủ tục hành chính ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức.

Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 04 tháng 9 năm 2013, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Công văn số 4215/UBND-TH về việc tăng cường công tác cải cách hành chính. Theo đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn thực hiện một số công việc như sau:

Thường xuyên chỉ đạo rà soát các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị để đề xuất cắt giảm, bãi bỏ những thành phần hồ sơ, những quy định hành chính không cần thiết, rườm rà… đặc biệt là rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính.

Củng cố, nâng cao chất lượng thực thi công vụ trong cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Bố trí cán bộ, công chức có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt phụ trách công tác tiếp nhận và giao trả kết quả; niêm yết công khai đầy đủ, rõ ràng các thủ tục hành chính tại nơi thuận tiện nhất ở bộ phận một cửa của cơ quan, đơn vị.

Cán bộ, công chức phụ trách công tác tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa phải kiểm tra hồ sơ ngay khi tiếp nhận. Nếu thấy thiếu thành phần hồ sơ nào thì hướng dẫn cặn kẽ cho người nộp hồ sơ để bổ sung một lần, không để xảy ra tình trạng đã thụ lý, giải quyết, sau đó lại yêu cầu bổ sung hồ sơ. Khi hết thời hạn quy định trả kết quả mà chưa thực hiện xong, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải có văn bản xin lỗi các tổ chức, cá nhân liên quan nêu rõ lý do trễ hẹn và chỉ đạo xử lý giải quyết hồ sơ xong trong 03 ngày làm việc. Nếu quá thời hạn 03 ngày mà chưa giao trả kết quả thì tổ chức, cá nhân có liên quan có quyền phản ánh đến Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh sẽ cử cán bộ đến kiểm tra, báo cáo đề xuất Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo xử lý.

Trong việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông, các cơ quan có liên quan trong giải quyết thủ tục hành chính phải phối hợp chặt chẽ, không đùn đẩy trách nhiệm làm chậm thời gian giải quyết thủ tục hành chính.

Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn thường xuyên theo dõi, giám sát chế độ thực thi công vụ, công chức theo tinh thần trên; tính điểm thi đua cho từng người, kịp thời thay thế vị trí việc làm đối với những người không đáp ứng được yêu cầu công vụ sau 02 lần nhắc nhở, phê bình mà không khắc phục được, nhất là đối với bộ phận trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính và bộ phận phụ trách một cửa, một cửa liên thông.

23/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo triển khai Luật Đất đai năm 2013 Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo triển khai Luật Đất đai năm 2013
Thực hiện Chỉ thị số 01/2014/CT-TTg ngày 22/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013; ngày 05/3/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Công văn số 869/UBND-KTN chỉ đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố khẩn trương tổ chức triển khai Luật Đất đai năm 2013;

Thực hiện Chỉ thị số 01/2014/CT-TTg ngày 22/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013; ngày 05/3/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Công văn số 869/UBND-KTN chỉ đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố khẩn trương tổ chức triển khai Luật Đất đai năm 2013; theo đó yêu cầu:

Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp xây dựng và triển khai chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao nhận thức chính sách, pháp luật về đất đai cho các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư;

Sở Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Luật Đất đai năm 2013 đến từng người dân thường xuyên, liên tục với nội dung thiết thực, hình thức phù hợp với từng đối tượng;

Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên tỉnh và các tổ chức đoàn thể khác phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai cho các hội viên, đoàn viên.


Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai phù hợp với Luật Đất đai năm 2013;

Sở Nội vụ chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh kiện toàn bộ máy, lựa chọn cán bộ làm công tác quản lý đất đai phải có năng lực chuyên môn, phẩm chất, đạo đức, chính trị đáp ứng yêu cầu;

Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố rà soát, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp với Luật Đất đai năm 2013, làm căn cứ cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất;

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp huyện phù hợp với Luật Đất đai 2013; chấn chỉnh công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; kiểm soát chặt chẽ việc thu hồi đất, đảm bảo công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng, kịp thời trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đẩy nhanh việc điều tra cơ bản về đất đai, đo đạc bản đồ địa chính, đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; tập trung xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về đất đai; hệ thống hồ sơ địa chính hiện đại, theo mô hình tập trung, thống nhất.

Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp các ngành liên quan điều tra, khảo sát, xây dựng bảng giá phù hợp với giá thị trường; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai; phối hợp các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tập trung giải quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo về quản lý, sử dụng đất đai còn tồn đọng từ năm 2013 trở về trước; trước hết là khiếu nại về giải phóng mặt bằng.

25/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 15/4/2014Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 15/4/2014

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 108/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất và hoa màu trên đất của bà Trần Thị Mỹ Nương, địa chỉ tại: ấp Thanh Sơn 3, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

1) Về đất:

a. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1021

- Diện tích: 300m2.

- Loại đất: ở nông thôn

b. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1022

- Diện tích: 1.106 m2  (trừ diện tích đất mộ là 29m2), diện tích còn lại là: 1.077m2;

- Loại đất: cây lâu năm

c. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1059

- Diện tích: 300 m2

- Loại đất: ở nông thôn

d. Quyền sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 01, thửa đất 1060

- Diện tích: 285 m2;

- Loại đất: cây lâu năm

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận  550422-002117 do UBND huyện Mỏ Cày, ký cấp ngày 27/4/2001.

2) Về công trình xây dựng trên đất;

a. Nhà ở 1: Diện tích: 39,96 m2; Dạng nhà cấp 4; kết cấu: Móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền đất, tường bao xây gạch dày 10cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, không tô. Đòn tay gỗ, mái tole fibro xi măng.

b. Nhà ở 2: Diện tích: 58,29 m2; Kết cấu: Nền láng ximăng, vách tole, cột, kèo, đòn tay  bằng gỗ tạp, mái lá.

c. Nhà vệ sinh: Diện tích: 1,96 m2; Kết cấu: Nền lát gạch ceramic nhám (30x30)cm, tường xây gạch dày 10cm. Không mái, không cửa.

d. Hồ nước: 02 cái, hồ không có nắp đậy, dạng cống tròn, khung trụ bêtông, thành xây gạch dày 50mm

e. Chuồng heo: Diện tích: 21,02 m2. Kết cấu:  Nền láng xi măng, cột bêtông cốt thép; tường xây gạch dày 10cm, phía trong láng ximăng, phía ngoài không tô. Kèo đòn tay bằng gỗ tạp, mái lá.

3) Hoa màu trên đất:

a. Hoa màu trên thửa đất 1021,1022; tờ bản đồ số 1: Gồm dừa: 28 cây, Xoài: 6 cây, mận: 01 cây, cau: 08 cây và chuối: 15 bụi.

b. Hoa màu trên thửa đất 1059,1060; tờ bản đồ số 1: Gồm dừa: 24 cây.

- Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, tài sản trên đất và cây trồng trên đất của bà Trần Thị Mỹ Nương, bị kê biên theo quyết định Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 227.686.950đ (hai trăm hai mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi sáu ngàn chín trăm năm mươi đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 16/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 21/5/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 112

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Đinh Văn Chịa (đã chuyển giao nghĩa vụ phải thi hành án cho ông Đinh Thành Đông, Đinh Văn Thuận, Đinh Tuấn Kiệt, Đinh Thành Vinh, bà Đinh Thị Thanh Thùy, Đinh Thị Thanh Thúy), hiện cư ngụ tại: ấp 2, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất có tổng diện tích: 2.776,5 m2

- Loại đất: LNC;

- Thuộc tờ bản đồ số 8-4, thuộc các thửa  5+6+9+10 và 12+13+14;

- Tài sản toạ lạc tại: ấp 2, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Đinh Văn Chịa (đã chuyển giao nghĩa vụ phải thi hành án cho ông Đinh Thành Đông, Đinh Văn Thuận, Đinh Tuấn Kiệt, Đinh Thành Vinh, bà Đinh Thị Thanh Thùy, Đinh Thị Thanh Thúy), bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 3.482.145.000đ (ba tỷ bốn trăm tám mươi hai triệu một trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 300.000.000 đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 16/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 21/5/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 114/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Đoàn Thị Kim Anh và ông Phùng Minh Hoàng; hiện cư ngụ tại: 170A Đoàn Hoàng Minh, phường 5, thành phố Bến Tre, Bến Tre;

1) Về đất:

- Diện tích: 6.695,7 m2; thuộc các thửa đất số 174, 175, 1107; tờ bản đồ số 3 (theo hồ sơ địa chính cũ). Hồ sơ địa chính mới thuộc thửa 118a; tờ bản đồ số 05.

- Loại đất: ONT+CLN.

2) Cây trồng trên đất (chủ yếu chôm chôm, bòn bon).

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: ấp Chánh, xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Đoàn Thị Kim Anh và ông Phùng Minh Hoàng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 4.198.123.016đ (bốn tỷ một trăm chín mươi tám triệu một trăm hai mươi ba ngàn không trăm mười sáu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 16/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 21/5/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 400.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 121/2014

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Nguyễn Thị Thanh, địa chỉ tại: ấp Thừa Thạnh, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm như sau:

1. Về đất

- Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: Diện tích: 115 m2; thửa 629, thuộc tờ bản đồ 04; Loại đất: đất thổ cư, đất hàng năm khác;

- Theo kết quả sơ đồ địa chính mới: diện tích 103,8 m2; thửa 111,thuộc tờ bản đồ 24.

2. Tài sản trên đất  (nhà ở ):

- Nhà ở: có diện tích 72 m2 (dài 16 m, rộng 4,5 m) có kết cấu: nền gạch bông, vách tường, cột bê tông, mái tole

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Tài sản đất bán theo kết quả sơ đồ địa chính mới: diện tích 103,8 m2; thửa 111,thuộc tờ bản đồ 24 và theo Đơn xin xác nhận Chủ quyền nhà ở của bà Nguyễn Thị Thanh.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Nguyễn Thị Thanh do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 90.000.000 đ (Chín mươi triệu đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 16/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 21/5/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  150.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667 để biết thêm chi tiết.

28/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013
Ngày 28/10/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Ban Tổ chức Cuộc thi đến dự và phát biểu khai mạc; cùng quý đại biểu thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo; đại biểu đại diện Công an tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát tri...

Ngày 28/10/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Ban Tổ chức Cuộc thi đến dự và phát biểu khai mạc; cùng quý đại biểu thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo; đại biểu đại diện Công an tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bến Tre; lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

Sau hơn hai tháng phát động, Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 có 12 đơn vị dự thi với 14 tiểu phẩm, gồm 8/9 huyện, thành phố và 04 sở, ngành tỉnh gồm: Công an tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tư pháp, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bến Tre. Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 đã phát động sự tham gia của tất cả các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Tuy nhiên, do thời gian phát động ngắn, hình thức dự thi đòi hỏi phải đầu tư cả về nội dung và hình thức thể hiện, kinh phí thực hiện còn hạn chế nên Cuộc thi chưa huy động đầy đủ các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh tham gia.


Về nội dung tiểu phẩm, đa số các đơn vị dự thi đã bám sát chủ đề, nội dung do Ban Tổ chức quy định; nội dung kiến thức pháp luật chính xác, có ý nghĩa giáo dục cao. Về hình thức, nhiều tiểu phẩm thể hiện khá hấp dẫn, bố cục chặt chẽ; bối cảnh, trang phục, đạo cụ, âm thanh phù hợp với nội dung tiểu phẩm; diễn viên thể hiện khá tròn các vai diễn. Về kỹ thuật, chất lượng hình ảnh, âm thanh, ánh sáng được đảm bảo và đúng thời gian quy định. Tuy nhiên, đại đa số các đơn vị dự thi lần này là những đơn vị không chuyên, lần đầu xây dựng tiểu phẩm truyền hình dự thi nên cũng còn những hạn chế về yếu tố kỹ thuật, chất lượng hình, âm thanh chưa tốt, có tạp âm; nội dung xâu chuỗi các vấn đề, xây dựng tình huống còn rời rạc, chưa tạo được cao trào, mâu thuẫn trong câu chuyện.

Ban Tổ chức, Ban giám khảo chọn được 01 tiểu phẩm đạt giải nhất, tiểu phẩm “Cần có một tấm lòng” của đơn vị Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp; 02 tiểu phẩm đạt giải nhì là: Tiểu phẩm “Quà sinh nhật” của đơn vị Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm; tiểu phẩm “Chết chùm” của đơn vị Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam; 03 tiểu phẩm đạt giải ba và 08 tiểu phẩm đạt giải khuyến khích.

Ban Tổ chức đã thống nhất chọn 2 tiểu phẩm đạt giải cao: Tiểu phẩm “Cần có một tấm lòng” của Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp và tiểu phẩm “Quà sinh nhật” của Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm dự thi vòng toàn quốc do Bộ Tư pháp tổ chức.


Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 là một trong những hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016” tại địa phương. Thông qua cuộc thi này, nhằm đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, làm phong phú thêm nguồn tài liệu tuyên truyền, tiếp tục tạo chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, góp phần đẩy lùi tham nhũng.

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/12/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/12/2015

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 462/2015

Tài sản thanh lý vật tư thu hồi sắt, thép công trình: Nâng cấp, sữa chữa cầu Bình Nguyên với khối lượng ước tính sắt tròn xây dựng phi 6->14, (chiều dài bất kỳ) là 1.710,6kg; khối lượng ước tính thép [480, dày 1,5mm, dài 1,51->1,62m là 1.491kg.

* Lưu ý: bán đấu giá thành khi bàn giao sẽ tiến hành cân thực tế nếu tài sản tăng hơn 1.710,6kg đối với sắt và 1.491kg đối với thép thì người mua sẽ nộp thêm tiền cho Trung tâm tính trên tổng giá trị tài sản bán đấu giá thành, nếu giảm hơn 1.710,6kg đối với sắt và 1.491kg đối với thép thì Trung tâm sẽ hoàn trả lại số tiền cho khách hàng.

 - Tài sản tọa lạc: tại cầu Bình Nguyên; phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ban Quản lý các dự án đầu tư thành phố Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

        - Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 12.000.000đồng (Mười hai triệu đồng).

        * Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ.

        * Khoản tiền đặt trước: 1.800.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 04/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/12/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 16/12/2015 (Thứ tư) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 469/2015

Tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô tải, nhãn hiệu: HYUNDAI; biển số  71M-001.03, số máy: D6BJP 094252; số khung: KMFLA 17 JPP 010623; sản xuất vào năm: 1993, tại Hàn Quốc. Năm hết niên hạn sử dụng: 2018; tỷ lệ còn lại: 35%. Xe bán dưới dạng đăng ký lại.

- Tài sản tọa lạc: tại Đoàn nghệ thuật Cải lương Bến Tre; phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Đoàn nghệ thuật Cải lương Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

        - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng).

        * Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/01 hồ sơ.

        * Khoản tiền đặt trước: 9.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 04/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 11/12/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 16/12/2015 (Thứ tư) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 475/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy, hiện cư ngụ tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

1. Về đất:

           - Diện tích: 500,1 m2 đất CLN; Thuộc tờ bản đồ 5, một phần thửa số 182;

2. Cây trồng trên đất: cây dừa, sakê, cây cau, cây chuối.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 56.511.947 đ (Năm mươi sáu triệu, năm trăm mười một ngàn, chín trăm bốn mươi bảy đồng).

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 04/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/01/2016 (Trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 08/01/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 461/2015

tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Tình, địa chỉ tại: số 1C2 khóm 3, phường 7, thành phố Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

          - Diện tích: 260,3 m2, loại đất: trồng cây lâu năm;

          - Thuộc thửa đất số 845; tờ bản đồ số 08.

- Tài sản tọa lạc: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

* Lưu ý: Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 253481, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01002 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 17/8/2012 cho ông Nguyễn Văn Tình không thực hiện việc đo đạc lại, nếu người mua có yêu cầu đo đạc lại phải chịu chi phí đo đạc, trường hợp đo lại diện tích đất thực tế có tăng hơn diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, và ngược lại nếu diện tích đất có giảm người mua phải chịu không được khiếu nại.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Tình do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

  - Giá khởi điểm tài sản bán đấu giá là: 338.000.000 đ (Ba trăm ba mươi tám triệu đồng).

     Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 04/12/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2015 (trong giờ làm việc).

        Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 22/12/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667; 075-3512081; 075-3512083.

03/12/2015 5:00 CHĐã ban hành
Tình hình tiến độ rà soát quy định, thủ tục hành chính năm 2013  Tình hình tiến độ rà soát quy định, thủ tục hành chính năm 2013 
Ngày 17 tháng 10 năm 2013, Sở Tư pháp (Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính) tổ chức cuộc họp trao đổi thống nhất về tiến độ thực hiện nhiệm vụ rà soát quy định, thủ tục hành chính (TTHC) năm 2013 của các Sở, ban, ngành tỉnh. Đến dự, có đại diện Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; cán bộ, công chức đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính của các Sở, ban, ngành tỉnh; đại diện lãnh đạo cùng cán bộ, công c...

Ngày 17 tháng 10 năm 2013, Sở Tư pháp (Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính) tổ chức cuộc họp trao đổi thống nhất về tiến độ thực hiện nhiệm vụ rà soát quy định, thủ tục hành chính (TTHC) năm 2013 của các Sở, ban, ngành tỉnh. Đến dự, có đại diện Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; cán bộ, công chức đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính của các Sở, ban, ngành tỉnh; đại diện lãnh đạo cùng cán bộ, công chức đầu mối của Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố: Bến Tre, Giồng Trôm và Châu Thành.

Tại cuộc họp, đại diện các Sở, ban, ngành; các huyện, thành phố báo cáo và trao đổi về tiến độ thực hiện của đơn vị mình. Qua báo cáo, đến thời điểm này, các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Tài nguyên và Môi trường; Tư pháp; Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Công Thương đang trong giai đoạn hoàn thiện phương án, sáng kiến đơn giản hóa TTHC. Bên cạnh đó, các Sở, ngành còn lại: Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư; Ban Quản lý các Khu công nghiệp; Xây dựng; Lao động - Thương binh và Xã hội; Giáo dục và Đào tạo; Y tế; Khoa học và Công nghệ; Sở Nội vụ; Tài chính;… vẫn chưa có phương án, sáng kiến đơn giản hóa TTHC.

Để đảm bảo tiến độ rà soát theo Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 31 tháng 01 năm 2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre về ban hành Kế hoạch rà soát, đánh giá quy định, thủ tục hành chính năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp đề nghị các Sở, ban, ngành tiếp tục tập trung đẩy nhanh tiến độ rà soát, phối hợp với Phòng Kiểm soát TTHC thuộc Sở Tư pháp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đảm bảo gửi báo cáo rà soát về Sở Tư pháp trước ngày 25 tháng 10 năm 2013.

Việc rà soát này là nhiệm vụ thường xuyên của tỉnh, mục tiêu rà soát nhằm kịp thời để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc hủy bỏ quy định hành chính không cần thiết, không phù hợp, không đáp ứng được các nguyên tắc về quy định và thực hiện thủ tục hành chính, nhằm cắt giảm chi phí về thời gian và tài chính của người dân, tổ chức và doanh nghiệp, giảm phiền hà trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.

23/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREDANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

(Đến tháng 11 năm 2017)


STTTên Tổ chức hành nghề công chứngTrưởng Văn phòng/Phòng công chứngCông chứng viên hợp danh/làm việc theo hợp đồngĐịa điểm đặt trụ sởĐiện Thoại
01Phòng Công chứng số 1 - Sở Tư pháp Bến TreNguyễn Văn Tứ

- Lê Thị Thanh Trang

- Huỳnh Đoàn Ngọc Hân

17 Đường CMT8, phường 3, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre02753.810.618
02Văn phòng Công chứng Đồng KhởiVõ Văn ThanhLê Duy Phúc Hải (Công chứng viên hợp danh)Số 89A1, đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0918256585

 

03Văn Phòng Công chứng Tín HữuNguyễn Thị Kim Phượng

Ngô Xuân Hoàng

(Công chứng viên hợp danh)

số 46, đường số 3, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0983.626.700

0917.491.319

04Văn phòng Công chứng Kim CươngĐặng Thị Kim Cương

Nguyễn Thị Diễm Phương

(Công chứng viên hợp danh)

89A khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre0918.267.7570
02753.869.459
05Văn phòng Công chứng Bình ĐạiNgô Công Lợi

Nguyễn Văn Rậm

(Công chứng viên hợp danh)

08 đường Nguyễn Đình Chiểu, ấp Bình Thuận, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre0983.407.100
06Văn phòng Công chứng Ba TriPhan Văn Trung

Phạm Thị Minh Thủy

(Công chứng viên hợp danh)

27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

0918.813.969

02753.859.234

07Văn phòng Công chứng Hà Thị TiếnHà Thị Tiến 78A, quốc lộ 60, khu phố &, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

0978862448

02753.663.646

08Văn phòng Công chứng Thạnh PhúNguyễn Văn Mộng

Lê Văn Hòa

(Công chứng viên hợp danh)

ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre0753.870.771
09

Văn phòng Công chứng

Phan Đức Toàn

Phan Đức Toàn

Huỳnh Thị Kim Yến

(Công chứng viên hợp danh)

Số 50A, ấp Phước Hậu, xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre0912.223.045
10Văn phòng công chứng Nguyễn Văn MớiNguyễn Văn Mới

Nguyễn Minh Phương

(Công chứng viên hợp danh)

Số 1, ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre0918.262.633
11Văn phòng công chứng Lê Hùng DũngLê Hùng Dũng Số 59, ấp An Hòa, xã An Hiệp, Châu Thành, Bến Tre

0908.869.750

02753.626.626


09/11/2017 4:00 CHĐã ban hành
Tăng cường phối hợp công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thôngTăng cường phối hợp công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông
Trong 4 tháng đầu năm 2014, tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh diễn biến rất phức tạp, đã xảy ra 118 vụ, làm chết 75 người, bị thương 78 người; so với cùng kỳ năm 2013, tăng 36 người chết, cao nhất là địa bàn huyện Giồng Trôm (+11 người), Bình Đại (+6 người), Chợ Lách (+ 5 người).

Trong 4 tháng đầu năm 2014, tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh diễn biến rất phức tạp, đã xảy ra 118 vụ, làm chết 75 người, bị thương 78 người; so với cùng kỳ năm 2013, tăng 36 người chết, cao nhất là địa bàn huyện Giồng Trôm (+11 người), Bình Đại (+6 người), Chợ Lách (+ 5 người).

Tuyến đường xảy ra tai nạn: Quốc lộ 28 vụ, tỉnh lộ 41vụ, huyện lộ 38 vụ, nội ô 09 vụ; đa số các vụ tai nạn giao thông là do phương tiện mô tô gây ra; thời điểm xảy ra nhiều nhất từ sau 6 giờ đến 14 giờ 20 vụ, sau 12 giờ đến 18 giờ 38 vụ, sau 18 giờ đến 24 giờ 49 vụ.

Nguyên nhân, do đi không đúng phần đường quy định 38 vụ, thiếu chú ý quan sát 24 vụ, vượt tránh không đảm bảo an toàn 16 vụ, có sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông 22 vụ.

Trước tình hình đó, ngày 22/4/2014, Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Công văn số 72-CV/BCS về việc phối hợp trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Theo đó, Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị các Đảng Đoàn: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh; Ban Thường vụ Tỉnh đoàn tích cực phối hợp trong công tác cảnh báo nguy cơ, thực trạng về tai nạn giao thông trong tỉnh; qua đó tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên, học sinh, sinh viên gương mẫu chấp hành và vận động người thân tự giác chấp hành pháp luật về an toàn giao thông nhằm thực hiện kéo giảm tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh.

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIIIKết quả kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 6 – Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bến Tre khóa VIII được tổ chức trong 3 ngày, trong đó có 01 ngày họp Tổ đại biểu thảo luận tài liệu kỳ họp và 02 ngày (ngày 10 và ngày 11 tháng 7 năm 2013) họp toàn thể tại hội trường. Tại kỳ họp, các đại biểu đã nghe Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh báo cáo việc thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về kinh tế - xã hội 6 tháng đấu năm 2013 và bổ sung biện pháp để thực hiện nghị quyết HĐND tỉnh 6 tháng cuối năm; báo cáo giải trình về các ý kiến, kiến nghị của cử tri; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh thông báo về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với HĐND tỉnh, UBND tỉnh, đại biểu HĐND tỉnh và những vấn đề cử tri quan tâm; các Ban HĐND tỉnh; các Ban HĐND tỉnh báo cáo thẩm tra.

Đại biểu đã thảo luận tập trung vào một số ý kiến còn khác nhau qua thảo luận tại Tổ xoay quanh một số nhóm vấn đề: kinh tế, sản xuất nông nghiệp, khai thác cát lòng sông, nuôi heo trên đệm sinh học, vấn đề ô nhiễm môi trường, chính sách an sinh xã hội và một số vấn đề về trật tự an toàn, xã hội.

Cũng tại kỳ họp này, Thường trực HĐND tỉnh trình bày đơn và tờ trình của Thường trực HĐND tỉnh về việc ông Nguyễn Văn Hiếu xin thôi làm nhiệm vụ Đại biểu HĐND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh, lý do Thủ tướng Chính phủ điều động về giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đồng thời, các đại biểu tiến hành bầu bổ sung các chức danh chủ chốt HĐND, UBND với kết quả như sau: Ông Nguyễn Thành Phong, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; Ông Võ Thành Hạo, giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; thông qua đơn xin thôi chức danh Ủy viên UBND tỉnh đối với ông Lê Vĩnh Bình do chuyển về Ban Tổ chức Tỉnh ủy và bầu bổ sung Ủy viên UBND tỉnh đối với ông Nguyễn Hữu Lập, Giám đốc Sở Nội vụ.

Kỳ họp tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với 12 chức danh do HĐND tỉnh bầu theo Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.

Phiên chất vấn và trả lời chất vấn có 9 vấn đề được đặt ra của 05 đại biểu HĐND tỉnh, nội dung chất vấn về: Tiến độ thực hiện quyết toán các công trình xây dựng cơ bản thuộc vốn Ngân sách Nhà nước hoàn thành trên địa bàn tỉnh; chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo; thanh toán dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; xây dựng hệ thống hạ tầng các khu tái định cư; thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đối với người nuôi tôm; giải pháp để duy trì tăng trưởng và phát huy các thế mạnh của khu vực nông nghiệp thủy sản; giải pháp cho đầu ra ngành chăn nuôi (heo); an toàn vệ sinh thực phẩm. Các nội dung trên đã được UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương và Sở Y tế giải trình tiếp thu, trả lời nghiêm túc, thẳng thắn, cầu thị.

Kỳ họp đã ban hành 13 Nghị quyết về kinh tế xã hội, 01 Nghị quyết về xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm và 06 Nghị quyết về việc cho thôi giữ chức vụ và bầu các chức danh HĐND, UBND như sau:

1. Nghị quyết về bổ sung một số giải pháp tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 6 tháng cuối năm 2013.

2. Nghị quyết về điều chỉnh, bổ sung Kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước năm 2013.

3. Nghị quyết về kế hoạch biên chế công chức, viên chức năm 2013.

4. Nghị quyết về việc thông qua Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2012-2020.

5. Nghị quyết về định mức phân bổ mức kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật có nội dung phức tạp của của HĐND, UBND.

6. Nghị quyết về việc bãi bỏ Điều 1 Nghị quyết số 01/2008/NQ-HĐND ngày 11 tháng 4 năm 2008 của HĐND tỉnh Bến Tre về việc quy định một số loại phí, lệ phí áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

7. Nghị quyết về việc quy định mức thu, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện đối với xe mô tô trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

8. Nghị quyết Quy định mức chi hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

9. Nghị quyết về việc quy định mức thu phí qua đò trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

10. Nghị quyết về quy định mức chi đảm bảo công tác cải cách hành chính và công tác kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

11. Nghị quyết về phân bổ kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa theo Nghị định số 42/2012/NĐ-CP.

12. Nghị quyết về việc điều chỉnh Nghị quyết số 20/2012/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2012 của HĐND tỉnh Bến Tre về dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2013.

13. Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn.

14. Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.

15. Nghị quyết cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu HĐND tỉnh và thôi giữ chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre (khoá VIII), nhiệm kỳ 2011-2016 đối với ông Nguyễn Văn Hiếu do chuyển công tác về Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

16. Nghị quyết về việc xác nhận kết quả cho thôi chức vụ Chủ tịch HĐND tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011-2016 đối với ông Võ Thành Hạo.

17.  Nghị quyết xác nhận kết quả bầu bổ sung chức vụ Chủ tịch HĐND tỉnh Bến Tre (khoá VIII), nhiệm kỳ 2011-2016 đối với ông Nguyễn Thành Phong.

18.  Nghị quyết xác nhận kết quả bầu bổ sung Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011-2016 đối với ông Võ Thành Hạo.

19.  Nghị quyết xác nhận kết quả cho thôi làm nhiệm vụ Uỷ viên UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 đối với ông Lê Vĩnh Bình (nguyên Giám đốc Sở Nội vụ) do chuyển công tác về Ban Tổ chức Tỉnh ủy.

20.  Nghị quyết xác nhận kết quả bầu bổ sung Uỷ viên UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 đối với ông Nguyễn Hữu Lập - Giám đốc Sở Nội vụ.

Kỳ họp đã thực hiện đúng chương trình và thành công tốt đẹp.

20/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phát huy tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật  của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ Phát huy tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật  của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ

Để học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác về tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên viên ngành Tư pháp Bến Tre phải nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện tốt các yêu cầu như:

 Thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình với tinh thần thẳng thắn, trong sinh hoạt, học tập, công tác cũng như cuộc sống đời thường. Người phê bình phải có thái độ chân thành, người được phê bình phải thực sự cầu thị trong tiếp thu phê bình để sửa chữa, tiến bộ.  

Cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp nói phải đi đôi với làm, và làm gương trong chấp hành mọi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chế độ quy định của cơ quan; kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong sinh hoạt, học tập và công tác.

Không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nhân cách của người cán bộ, đảng viên; tích cực học tập nâng cao trình độ, góp phần thực hiện có hiệu quả mọi nhiệm vụ được giao, sống chan hoà, cởi mở và lành mạnh; thực hiện tốt việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.

 Tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp trong thực hiện nhiệm vụ, còn được thể hiện ở tinh thần và hành động như:

Tính tiền phong của người cán bộ, đảng viên: Trước hết là thể hiện về tư tưởng chính trị, ý chí, nghị lực vượt khó, thể hiện ở lập trường mục tiêu kiên định, lý tưởng cách mạng; không ngại khó khăn, tính tiền phong còn được thể hiện qua mỗi hành động của mọi người cán bộ, đảng viên phải là người đi trước dám làm, dám chịu trách nhiệm, khôn khéo xử lý có hiệu quả các tình huống nảy sinh; đồng thời, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống tiêu cực, bè phái.

Sự gương mẫu của người cán bộ, đảng viên: Là biểu hiện tập trung ở lòng trung thành với Đảng, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phải tiêu biểu về "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư".

Các biểu hiện cụ thể cho các đức tính đó là sự say mê, gắn bó hết mình với công việc, chức trách, nhiệm vụ được giao; có ý thức tiết kiệm của công, không tham nhũng, lãng phí; thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, phải là tấm gương về lòng nhân ái, có tinh thần đoàn kết, độ lượng, vị tha, không đố kỵ, ganh ghét. Trong công việc phải là người tiêu biểu về phong cách, nghiêm túc,  tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng gópphải gương mẫu trong cả lời nói và việc làm, v.v..

Ý thức tổ chức kỷ luật của người cán bộ, đảng viên: Phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, trong tổ chức và hoạt động của Đảng, luôn nêu cao tinh thần, ý thức tổ chức kỷ luật, tuyệt đối chấp hành sự phân công của tổ chức, cấp ủy Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của các cấp ủy Đảng, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước và các nội quy, quy chế của cơ quan, quy định của địa phương, phải tham gia đầy đủ các lớp học tập Nghị quyết của Đảng, gương mẫu thực hiện các chế độ, sinh hoạt Đảng, sinh hoạt chính quyền.

Để rèn luyện được tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần duy trì và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo đó, trong tổ chức thực hiện nghị quyết, phải giao nhiệm vụ cho cấp ủy viên, đảng viên một cách cụ thể, rõ ràng; nhiệm vụ nào cũng phải có người chịu trách nhiệm chính; công việc nào cũng phải có người đứng đầu. Trong thực hiện nhiệm vụ, việc đề cao tinh thần trách nhiệm, tính tự giác phải đi đôi với đôn đốc, nhắc nhở, uốn nắn sai sót, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, việc rút kinh nghiệm, sơ kết, tổng kết công tác, phong trào của tổ chức đảng, chính quyền, cần được thực hiện thành nền nếp, là điều kiện để người cán bộ, đảng viên thấy được mình đã là người tiền phong, gương mẫu đến đâu, còn những gì hạn chế, yếu kém để tiếp tục phấn đấu, rèn luyện.

 Công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cần được duy trì nghiêm túc, thực chất; qua đó, kịp thời phát hiện sai sót, khuyết điểm, ngăn ngừa những cán bộ, đảng viên thiếu tính tiền phong, gương mẫu, ý thức kỷ luật trong công việc, nhiệm vụ được phân công vi phạm tư cách đảng viên, kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. Khi cán bộ, đảng viên làm sai, gây hậu quả xấu, phải kiểm điểm, quy trách nhiệm rõ ràng và có hình thức kỷ luật thích đáng; nếu vi phạm pháp luật, phải kiên quyết đưa ra để xử lý bằng luật pháp, với tinh thần thượng tôn pháp luật "phụng công thủ pháp, chí công vô tư".

Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp nghiêm túc thực hiện theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp:

"Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp khắc sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người cán bộ tư pháp, quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, phấn đấu thực hiện các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sau đây:

1. Với Tổ quốc - Trung thành, phấn đấu vì "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

2. Với nhân dân - Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân; phục vụ nhân dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân.

3. Với công tác tư pháp - Trách nhiệm, tận tụy, sáng tạo, kỷ cương, phụng công, thủ pháp, chí công vô tư.

4. Với đồng nghiệp - Đoàn kết, thân ái, hợp tác, cùng tiến bộ.

5. Với bản thân - Nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, thượng tôn pháp luật."

17/05/2017 4:00 CHĐã ban hành
Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Qua quá trình triển khai tổ chức thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, bên cạnh các kết quả đạt được, việc thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

a) Việc thực hiện quy định về lập đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì đối với Nghị quyết quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật cơ quan soạn thảo phải thực hiện quy trình chính sách: Thực hiện từ Điều 112 đến Điều 117 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trước khi thực thực hiện quy trình soạn thảo. Quy trình chính sách bao gồm các bước như sau:

- Xây dựng nội dung chính sách

          - Đánh giá tác động của chính sách

          - Xây dựng dự thảo Hồ sơ lập đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét thông qua đề nghị xây dựng Nghị quyết.

          - Trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét đề nghị xây dựng Nghị quyết, phân công soạn thảo và xác định thời hạn trình Hội đồng nhân dân.

Sau khi thực hiện xong các bước nêu trên, nếu đề nghị xây dựng Nghị quyết được Thường trực Hội đồng nhân dân chấp thuận thì thực hiện tiếp theo quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật từ Điều 118 đến Điều 126 của Luật.

Tuy nhiên, trên thực tế việc đánh giá tác động chính sách được các cơ quan soạn thảo thực hiện lồng ghép trong quá trình xây dựng văn bản nhưng chưa đúng quy trình, thủ tục vì những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành những chính sách đặc thù của tỉnh thường có nội dung ngắn và thực hiện theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nên việc lập đề nghị xây dựng Nghị quyết thực hiện theo ý kiến chỉ đạo và thường bỏ qua bước lập Đề nghị xây dựng Nghị quyết trong quy trình chính sách (gửi Sở Tư pháp thẩm định Đề nghị (thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định), thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh và trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét Đề nghị)

Thứ hai, theo quy định của Luật thì cần phải xây dựng nội dung chính sách sau đó đưa chính sách đó đánh giá tác động, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh rồi mới trình Thường trực HĐND chấp thuận. Nếu chính sách đó được chấp thuận thì cơ quan soạn thảo mới tiến hành xây dựng dự thảo Nghị quyết và thực hiện các quy trình tiếp theo. Tuy nhiên, trên thực tế do nội dung chính sách của địa phương thường ngắn gọn nên  cơ quan soạn thảo tiến hành xây dựng luôn dự thảo Nghị quyết, đánh giá tác động chính sách, tổ chức lấy ý kiến góp ý, thẩm định… và bỏ qua giai đoạn xây dựng chính sách như quy định của Luật.

Qua thực tế theo dõi việc ban hành và triển khai thực hiện các chính sách pháp luật tại địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất điều chỉnh quy định đánh giá tác động chính sách ở địa phương theo hướng lồng gép đánh tác động chính sách vào quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm đơn giản hóa thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tiết kiệm thời gian, công sức cho các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, không tách riêng thành 02 quy trình như quy định của Luật hiện hành.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 111 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì đối với những đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 1 Điều 27) thì không phải thực hiện quy trình chính sách theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 2 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy định về soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định "đánh giá tác động văn bản trong tất cả các trường hợp kể cả trường hợp dự thảo Quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên". Như vậy, quy trình đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và quy trình đánh giá tác động chính sách trong soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thống nhất với nhau.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị sửa đổi quy định tại điểm c khoản 3 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hướng dẫn cụ thể, làm cơ sở để địa phương áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

b) Về ban hành văn bản bãi bỏ

Theo khoản 1 Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Như vậy, theo quy định mới của Luật năm 2015 thì văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh) là văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn triển khai áp dụng quy định này gặp một số khó khăn như sau:

Một là, phần lớn văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để quy định chi tiết điều, khoản điểm được cơ quan Trung ương giao về cho địa phương ban hành, khi các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương làm căn cứ pháp lý ban hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã không còn phù hợp (bị sửa đổi, bổ sung, thay thế) thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cũng không còn phù hợp.

Trong trường hợp nếu văn bản không còn đối tượng điều chỉnh hoặc một phần đối tượng điều chỉnh không còn, hoặc một phần hoặc toàn bộ nội dung không còn phù hợp với căn cứ pháp lý hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội mà không cần thiết phải ban hành văn bản mới thay thế thì ban hành văn bản bãi bỏ (bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản). Như vậy, có thể thấy nội dung của văn bản bãi bỏ rất đơn giản, chỉ cần rà soát các quy định hiện hành của Trung ương thì có thể xác định văn bản đó có cần thiết bãi bỏ hay không bãi bỏ.

Hai là, nếu văn bản bãi bỏ là hình thức văn bản quy phạm pháp luật thì phải ban hành theo trình tự thủ tục của một văn bản quy phạm pháp luật như: Đề nghị xây dựng văn bản, soạn thảo, đăng tải, lấy ý kiến, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua. Trong khi nội dung văn bản bãi bỏ phần lớn chỉ có 2 điều: Một điều quy định về bãi bỏ văn bản nào đó, một điều quy định về tổ chức thực hiện. Đồng thời, kinh phí xây dựng cho một văn bản quy phạm pháp luật theo Thông tư liên tịch số 338/2016/TTLT-BTC-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2016 quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện VBQPPL thì mức chi cho một văn bản bãi bỏ là 10 triệu đồng gây tốn kém ngân sách nhà nước.

Từ những lý do trên, kiến nghị cơ quan Trung ương xem xét điều chỉnh lại nội dung này theo hướng văn bản chỉ có nội dung bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy trình rút gọn tại Điều 146 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đồng thời điều chỉnh lại mức chi kinh phí cho phù hợp với loại văn bản này).

c) Về thực hiện nội dung cấm quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (khoản 4 Điều 14 Luật)

Khoản 4 Điều 14 Luật quy định cấm quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật."

Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 14 thì nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân không được quy định thủ tục hành chính trừ trường hợp được giao trong luật.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật thì Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do đó, trong thực tiễn áp dụng quy định này có một số vướng mắc như sau:

Một số văn bản dưới luật giao hoặc qua thực tế tại địa phương phát sinh một số nội dung cần quy định thủ tục hành chính để triển khai thực hiện các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của địa phương (như ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, hỗ trợ xúc tiến thương mại, ban hành thủ tục xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC …). Trong trường hợp này nếu địa phương không quy định thủ tục để tổ chức, cá nhân nhận được mức hỗ trợ sẽ dẫn đến việc tùy tiện trong thực hiện, không đảm bảo tính công khai, minh bạch; đồng thời có một số cơ quan tự quy định về mẫu đơn, tờ khai và trình tự thủ tục để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân. Còn nếu quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh thì lại trái với khoản 4 Điều 14 Luật (chỉ cho phép quy định trong trường hợp được luật giao).

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị xem xét sửa đổi khoản 4 Điều 14 Luật theo hướng mở rộng thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

d) Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện và cấp xã.

Theo quy định tại Điều 30 của Luật thì Hội đồng cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp được luật giao.

Tuy nhiên, thực tiễn văn bản Luật hầu như không giao thẩm quyền một cách rõ ràng cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã. Mặt khác, trong một số trường hợp văn bản dưới Luật giao hoặc cấp huyện và cấp xã (nhất là cấp huyện) phát sinh vấn đề cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết các vấn đề phát sinh tại địa phương hoặc để thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương; trong trường hợp này nếu ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì lại trái với quy định tại Điều 30 Luật, không ban hành thì cấp huyện và cấp xã gặp khó khăn trong thực hiện chức năng quản lý của mình.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị sửa đổi Điều 30 Luật theo hướng cho phép Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã, ngoài trường hợp được Luật giao còn được phép ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một số trường hợp văn bản dưới luật giao. (Còn tiếp kỳ sau)

24/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 16/12/2011Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 16/12/2011

THÔNG BÁO SỐ 942


- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của ông Võ Công Nhân và bà Trương Thị Hồng Cúc, hiện cư trú tại: số 51, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;
a) Về đất:
- Diện tích đất:  61,9 m2;
- Loại đất: ODT (đất ở đô thị);
- Thuộc tờ bản đồ số 11, thửa 182;
- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1636 QĐ-UB(TX) do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 28/02/2005.
b) Về nhà (nằm trên diện tích đất trên). Gồm nhà chính và nhà phụ:
- Diện tích 51,52 m2 ; số tầng: tầng lững + tầng 2 +tầng 3 diện tích: 117,4 m2.
- Nhà chính: diện tích 51,52 m2 (dài 16,1 m x rộng 3,2 m). Nền gạch ceramic, vách gạch, cột pê tông cốt thép, mái tol.
- Theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 119/CN-XD ngày 16/6/2005 do Sở Xây dựng tỉnh Bến Tre cấp.
- Tài sản tọa lạc tại: số 51, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của ông Võ Công Nhân và bà Trương Thị Hồng Cúc, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 2.136.000.000đ (hai tỷ một trăm ba mươi sáu triệu đồng).
* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ (năm trăm ngàn đồng)/ 01 hồ sơ.
* Khoản tiền đặt trước: 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng)/ 01hồ sơ.
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 19/12/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/01/2012.
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 31/01/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

 


THÔNG BÁO SỐ 945


- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Dương Chiêu Nguyệt và ông Lê Nghĩa Tâm; hiện cư ngụ tại: ấp Chợ Mới, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;
1) Về đất và cây trồng trên đất (mía và dừa ):
- Diện tích: 3.342 m2 ; thuộc tờ bản đồ số 01, thửa số 1179;
- Loại đất: CLN;    
2) Về đất và cây trồng trên đất (mía và dừa):
- Diện tích: 1.300 m2, đất vị trí 02 thuộc một phần thửa 1180, tờ bản đồ số 01;
- Loại đất: CLN;
- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;
- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Dương Chiêu Nguyệt và ông Lê Nghĩa Tâm, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 310.981.000đ (ba trăm mười triệu chín trăm tám mươi mốt ngàn đồng).
* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)/hồ sơ.
* Khoản tiền đặt trước: 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng)/hồ sơ.
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 19/12/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/01/2012.
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 14 giờ ngày 31/01/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

 


THÔNG BÁO SỐ 946


- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Huỳnh Thị Ty Ri, hiện cư ngụ tại: 259B ấp 2, xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
a) Về đất:
- Diện tích: 187 m2 ( trong đó 184 m2 đất ở nông thôn và 3 m2 đất trồng cây lâu năm);
- Thuộc thửa số 575; tờ bản đồ số 03;
- Giá khởi điểm: 312.420.000đ (ba trăm mười hai triệu bốn trăm hai mươi ngàn đồng).
b) Công trình xây dựng trên đất:
- Một nhà tường chữ L, diện tích 86,308 m2 nền gạch men, cột bê tông cốt thét, vách tường, mái tole, trần nhựa. Giá khởi điểm: 139.387.420đ (một trăm ba mươi chín triệu ba trăm tám mươi bảy ngàn bốn trăm hai mươi đồng).
- Tường rào lưới B40, cao 1,85m, tường xây gạch cao 0,5m. Giá khởi điểm: 10.065.600đ (mười triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn sáu trăm đồng).
* Tài sản (a+b) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Huỳnh Thị Ty Ri, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 461.873.000đ (bốn trăm sáu mươi mốt triệu tám trăm bảy mươi ba ngàn đồng).
* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)/hồ sơ.
* Khoản tiền đặt trước: 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng)/hồ sơ.
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 19/12/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/01/2012.
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 31/01/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO SỐ 947


- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn Kiệt; ông Phạm Tấn Lực; bà Nguyễn Thị Tích và bà Nguyễn Thị Kim Dũng, hiện cư ngụ tại: ấp 2, xã Phú Long, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
* Về đất: tổng diện tích 13.230,5 m2;
- Thửa số 31 có diện tích 4.678,2 m2  và thửa số 100 có diện tích 8.552,3 m2 (thuộc tờ bản đồ số 20).
- Loại đất: trồng lúa;
* Tài sản tọa lạc tại: ấp 2 xã Phú Long, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn Kiệt; ông Phạm Tấn Lực; bà Nguyễn Thị Tích và bà Nguyễn Thị Kim Dũng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 285.779.000đ (hai trăm tám mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi chín ngàn đồng).
* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)/hồ sơ.
* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng)/hồ sơ.
Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 19/12/2011 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/01/2012.
Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 31/01/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

26/12/2011 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/4/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/4/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 50 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản và cây trồng trên đất của ông Bùi Công Trí, bà Đoàn Thị Mạnh, bà Bùi Thị Kim Châu, hiện cư ngụ tại: 25B2 Khu phố Bình Nghĩa, phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

a) Thửa đất số 35, tờ bản đồ 5

- Diện tích: 1111,1 m2;

- Loại đất: đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm.

b) Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 5;

- Diện tích 200m2;

- Loại đất: đất ở tại nông thôn.

2. Tài sản trên đất:

- Nhà ở: diện tích 60,03m2 (8,88m x 6,76m). Nền láng xi măng, cột bê tông cốt thép, vách xây tường, mai tole xi măng, không trần.

3. Cây trồng trên đất: có 22 cây dừa đang cho trái và 28 cây dừa chưa cho trái.

- Tài sản toạ lạc tại: xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Bùi Công Trí, bà Đoàn Thị Mạnh và bà Bùi Thị Kim Châu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 342.874.805đ (Ba trăm bốn mươi hai triệu, tám trăm bảy mươi bốn ngàn, tám trăm lẻ năm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 68.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/5/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/5/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 07/5/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 10/5/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 64 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Dân và bà Nguyễn Thị Sương, cư ngụ tại: ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 1.872,5m2;

- Thuộc một phần thửa đất số 252B, tờ bản đồ số 02 (thửa mới 452, tờ bản đồ số 4);

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm.

2. Cây trồng trên đất

- Dừa loại I (6 năm tuổi trở lên): 77 cây

- Dừa loại II (từ 4 đến 6 năm tuổi): 03 cây;

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Dân và bà Nguyễn Thị Sương, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 228.070.182đ (Hai trăm hai mươi tám triệu, không trăm bảy mươi ngàn, một trăm tám mươi hai đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

* Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 45.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/5/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/5/2018 (trong giờ làm việc).

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 07/5/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 10/5/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 65 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ nhà Đội thuế và trụ sở ấp cũ của Ủy ban nhân dân xã Tân Thạch, tài sản cụ thể như sau:

1. Nhà đội thuế: Kết cấu: khung cột pêtông cốt thép, tường xây tô sơn nước, nền tráng ximăng, mái tole tráng kẽm, đòn tay sắt (08 cây), cửa sổ bằng sắt (03 cái), 01 cửa đi bằng sắt, diện tích 69 m2.

2. Trụ sở ấp cũ của Ủy ban nhân dân xã Tân Thạch: Kết cấu: khung cột gỗ, vách gỗ + mặt trước xây tường, nền gạch tàu, hiện bị sụp lúng, đòn tay gỗ (3x4), mái tole fbrôximăng (30 tấm), đòn tay, cột bằng cây gỗ chò, diện tích 68 m2.

* Lưu ý:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ chỉ được lấy từ mặt đất trở lên không cho lấy móng, đà.

            - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo an toàn cho người dân qua lại và các khu vực xung quanh.

 

            - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 14.300.000 đồng (Mười bốn triệu, ba trăm ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre hoặc chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 2.800.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/4/2018 (trong giờ làm việc) tại Nhà đội thuế và Trụ sở ấp cũ của Ủy ban nhân dân xã Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, Bến Tre.

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 05/4/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/4/2018 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 13/4/2018 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 18/4/2018 (Thứ tư).

  * Lưu ý: Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký mua tài sản, tham gia đấu giá và tổ chức cuộc đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667 - 02753512081 – 0275.3512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết./.

16/04/2018 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 24/5/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 24/5/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 99 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Thành và bà Nguyễn Thị Kim Loan, cư ngụ tại: ấp Phủ, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 2018,6m2;

- Thửa đất số 1417, tờ bản đố số 02 (theo bản đồ đo đạc chính quy thuộc một phần thửa đất số 141, tờ bản đồ số 19 (141A);

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm.

2. Cây trồng trên đất

- Dừa loại I: 57 cây;

- Xoái loại I: 02 cây;

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp Phủ, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Thành và bà Nguyễn Thị kim Loan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 160.766.000đ (Một trăm sáu mươi triệu, bảy trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 32.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 10 giờ ngày 28/6/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 101 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm: 12 chiếc xe mô tô 02 bánh, 11 xe mô tô 03 bánh các loại, 08 điện thoại di động và các tài sản khác (khung thép mạ kẽm, trụ bằng thép, trụ nhựa đầu dãy phân cách) (có bảng kê chi tiết kèm theo).

- Tài sản được quản lý tại: kho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lưu ý: Tài sản bán chung và bán dạng phế liệu; đối với xe môtô 02 bánh, 03 bánh các loại, khi nhận tài sản người mua trúng đấu giá sẽ thực hiện cắt bỏ số khung, số máy và chịu toàn bộ chi phí cho việc cắt bỏ số khung, số máy.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản tịch thu theo Quyết định số 2485/QĐ-UBND ngày 20/10/2017 và Quyết định số 2629/QĐ-UBND ngày 01/11/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc bán tài sản  được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do Sở Tài chính Bến Tre chuyển giao, bán sung công quỹ nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 248.760.000 đ (Hai trăm bốn mươi tám triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

     * Khoản tiền đặt trước: 49.500.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (địa chỉ: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 07/6/2018.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 106

Căn cứ Luật dân sự năm 2015 và Luật đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 ngày 17/11/2016, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre đã ký Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 106/HĐ-DVĐG ngày 21/5/2018 với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre về việc đấu giá tài sản.

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374D, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 955,4 m2 (trong đó: 180,0 m2 đất ONT và 775,4 m2 đất trồng cây hàng năm khác);

- Thuộc thửa đất số 444, tờ bản đồ số 6.

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 439068 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00578 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 16/6/2011.

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Hàng rào lưới B40. Diện tích 6.2md; trụ xi măng đúc sẳn: 41 trụ.

3. Cây trồng trên đất:

- Cây dừa loại 1: 07 cây, dừa loại 3: 23 cây;

- Cây gừa: 29 bụi

- Khế loại 2: 01 cây

- Tre loại 2: 02 bụi

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 761.719.777đ (Bảy trăm sáu mươi mốt triệu, bảy trăm mười chín ngàn, bảy trăm bảy mươi bảy đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập cá nhân; tất cả các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước là 152.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 24/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ 30 phút ngày 28/6/2018  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 109 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm 39 (ba mươi chín) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng phế liệu và 45 (bốn mươi lăm) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng đăng ký lại (có danh sách kèm theo).

     * Lưu ý: Tài sản bán nguyên lô, đối với 39 xe bán dạng phế liệu, người trúng đấu giá, khi nhận bàn giao xe phải thực hiện xóa bỏ hết số khung, số máy, các khoản chi phí người mua chịu.

- Tài sản đang quản lý tại: kho Phòng Cảnh sát giao thông Đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre bán nộp vào ngân sách nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 244.500.000đ (Hai trăm bốn mươi bốn triệu, năm trăm ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

    * Khoản tiền đặt trước: 48.900.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/6/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - Công an tỉnh Bến Tre (địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 09 giờ 30 phút ngày 28/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 05/6/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 05/6/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 08/6/2018

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 - 0275.3512081 – 0275.3512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

 

30/05/2018 5:00 CHĐã ban hành
Tăng cường công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh Bến TreTăng cường công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trong thời gian qua, việc triển khai, thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng7 năm 2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế và Đề án số 1685/ĐA-UBND ngày 17 tháng 4 năm  2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về thành lập tổ chức pháp chế và nâng cao chất lượng hoạt động pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre đạt được một số kết quả nhất định, nhất là trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng và kiểm tra văn bản, tư vấn pháp luật.

Tuy nhiên, công tác pháp chế ở các sở, ngành tỉnh, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh còn nhiều bất cập, hạn chế về tổ chức và hoạt động. Nguyên nhân là do một số sở, doanh nghiệp chưa thành lập Phòng Pháp chế, chưa bố trí đủ biên chế; chưa xác định đúng vị trí và tầm quan trọng của công tác pháp chế; chưa quan tâm đầu tư, tạo điều kiện về phương tiện làm việc, chưa bố trí công chức pháp chế chuyên trách, người làm công tác pháp chế thiếu ổn định do điều động, luân chuyển công tác; cán bộ làm công tác pháp chế chưa được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ.

Để khắc phục những hạn chế, khó khăn nêu trên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tiếp tục phổ biến, quán triệt Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng7 năm 2011 của Chính phủ quy định và Đề án số 1685/ĐA-UBND ngày 17 tháng 4 năm  2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh đến từng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động để nhận thức đầy đủ, thống nhất về công tác pháp chế; quan tâm và tạo điều kiện cần thiết để đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung của Nghị định và Đề án.

Trên cơ sở biên chế hiện có, Giám đốc các sở, ngành tỉnh phân công ít nhất một công chức làm công tác pháp chế chuyên trách, có thể bố trí làm việc tại bộ phận Thanh tra hoặc Văn phòng sở. Tùy tình hình thực tế tại cơ quan, đơn vị mà bố trí công chức ở các bộ phận khác kiêm nhiệm công tác pháp chế để hỗ trợ công chức làm pháp chế chuyên trách. Giám đốc doanh nghiệp nhà nước căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị bố trí ít nhất một nhân viên pháp chế chuyên trách làm tại Phòng Hành chính –Tổng hợp hoặc Phòng Tổ chức cán bộ của đơn vị.

Công chức, viên chức làm công tác pháp chế chuyên trách  tại các sở, ngành tỉnh, doanh nghiệp nhà nước tỉnh phải có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 12 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Trường hợp các sở, doanh nghiệp nhà nước bố trí công chức hoặc nhân viên làm công tác pháp chế chưa có trình độ cử nhân luật thì phải cử tham gia chương trình đào tạo về pháp luật và bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế theo quy định.​​

28/10/2014 5:00 CHĐã ban hành
Đi bộ phải đúng luậtĐi bộ phải đúng luật

Luật Giao thông đường bộ quy định quy tắc chung của người tham gia giao thông và quy tắc giao thông đường bộ đối với người đi bộ. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít người đi bộ chưa có thói quen chấp hành pháp luật giao thông, ý thức của người đi bộ chưa cao, sẵn sàng đi xuống lòng đường nếu thông thoáng, chủ quan khi qua đường mà không quan sát các xe đang đi tới, qua đường không đúng nơi quy định, không đi trên vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, đi không đúng phần đường dành cho người đi bộ. Không ít vụ tai nạn giao thông đã xảy ra do người đi bộ vi phạm quy tắc giao thông đường bộ. Chấp hành pháp luật giao thông là trách nhiệm của mỗi người khi tham gia giao thông, trong đó có người đi bộ. Việc chấp hành nghiêm các quy định an toàn giao thông đường bộ để bảo vệ tính mạng và tài sản của bản thân và của những người tham gia giao thông đường bộ.

Luật Giao thông đường bộ quy định người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ. Bên cạnh đó, Điều 32 Luật Giao thông đường bộ quy định quy tắc giao thông đường bộ đối với người đi bộ như sau:

Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường.

Người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn.

Trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường.

Người đi bộ không được vượt qua dải phân cách, không đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy; khi mang vác vật cồng kềnh phải bảo đảm an toàn và không gây trở ngại cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn dắt; mọi người có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường.

 Người đi bộ vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 9 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định về việc xử phạt người đi bộ vi phạm quy tắc giao thông đường bộ như sau:

"1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không đi đúng phần đường quy định, trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này;

b) Không chấp hành hiệu lệnh hoặc chỉ dẫn của đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường;

c) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, người kiểm soát giao thông.

2. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Mang, vác vật cồng kềnh gây cản trở giao thông;

b) Vượt qua dải phân cách; đi qua đường không đúng nơi quy định hoặc không bảo đảm an toàn;

c) Đu, bám vào phương tiện giao thông đang chạy.

3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người đi bộ đi vào đường cao tốc, trừ người phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc".

Bộ luật Hình sự  năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định người tham gia giao thông vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ sẽ bị xử lý hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260).

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

19/06/2018 5:00 CHĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013Sở Tư pháp Bến Tre: Đơn vị đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước khối nội chính năm 2013
Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổ...

Năm 2013, toàn tỉnh đã tập trung tổ chức triển khai, thực hiện tốt nhiều phong trào thi đua đúng theo chỉ đạo của Ban Bí thư, của Chính phủ. Mặc dù, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, của tỉnh nhà nói riêng còn nhiều khó khăn, nhưng các cấp các ngành đã đề ra được mục tiêu thi đua cụ thể vào việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; an ninh, quốc phòng ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống kinh - xã hội.


Tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước được phát động của ngành Tư pháp, của tỉnh và của cụm thi đua Khối Nội chính. Năm 2013, Sở Tư pháp đã phấn đấu, nỗ lực cụ thể hóa nội dung, tiêu chí thi đua vào từng lĩnh vực chuyên môn, gắn liền với từng giai đoạn cụ thể (thi đua ngắn hạn, dài hạn và đột xuất) với một số kết quả đáng ghi nhận. Cụ thể:

Tổ chức góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 - một sự kiện chính trị, pháp lý quan trọng của đất nước. Sở Tư pháp đã tích cực tham mưu Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và báo cáo kết quả về Ủy ban dự thảo, Bộ Tư pháp theo đúng thời gian quy định. Tổ chức in ấn và phát hành 820 quyển, 360.600 phiếu lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với khoảng 43.000.000 lượt ý kiến.

Đã thẩm định, góp ý văn bản kịp thời, đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo chất lượng, tính khả thi, hợp lý của dự thảo văn bản cụ thể gồm: thẩm định 133 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, gồm 37 dự thảo nghị quyết, 85 dự thảo quyết định và 11 dự thảo chỉ thị (tăng 35 văn bản so với năm 2012), tham gia góp ý 160 dự thảo văn bản (trong đó có 60 cuộc họp góp ý và góp ý 18 văn bản của trung ương).

Thực hiện việc tự kiểm tra 1.803 văn bản, trong đó: cấp tỉnh 35 văn bản, cấp huyện 1.768 văn bản theo đúng quy trình, thời gian quy định, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý các văn bản có nội dung và hình thức không phù hợp với quy định. Bên cạnh đó, đã tiếp nhận, kiểm tra theo đúng thẩm quyền 766 văn bản (cấp tỉnh kiểm tra 117 văn bản, cấp huyện kiểm tra 649 văn bản). Đặc biệt trong năm 2013, đã chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch và tổ chức triển khai, báo cáo kết quả tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành từ năm 1976 đến ngày 31/12/2012. Kết quả: đã kiến nghị công bố 260 văn bản hết hiệu lực thi hành; kiến nghị bãi bỏ 192 văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành có nội dung không còn phù hợp; kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần 15 nghị quyết có nội dung không còn phù hợp.


Thời gian qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã mang lại hiệu quả thiết thực; nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Đội ngũ làm công tác PBGDPL cấp tỉnh, cấp huyện thường xuyên được củng cố, kiện toàn, tăng về số lượng, chất lượng; được tập huấn, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo phục vụ ngày càng tốt hơn công tác PBGDPL. Toàn tỉnh hiện có 222 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện; 2.473 tuyên truyền viên pháp luật cấp xã. Hoạt động hòa giải ở cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng hiệu quả. Hiện nay, toàn tỉnh có 983 Tổ hòa giải/983 ấp, khu phố (đạt 100%) với hơn 7.400 hòa giải viên; đã tổ chức 05 lớp tập huấn và cấp phát trên 600 tài liệu cho các Tổ hòa giải. Kết quả hòa giải thành trên địa bàn tỉnh đạt trên 82,5% (tăng 2,16% so với năm 2012).

Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) ở địa phương từng bước củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy và đội ngũ thực hiện công tác TGPL, qua đó nâng cao chất lượng vụ việc TGPL và ngày càng đi vào chiều sâu, tăng cường đưa hoạt động TGPL về cơ sở, gắn chặt với công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chú trọng tại các địa bàn khó khăn, ven biển. Năm 2013, đã thực hiện TGPL cho người thuộc đối tượng là 828 vụ việc. Ngoài ra, còn tư vấn trực tiếp cho một số người không thuộc đối tượng được TGPL thông qua hình thức tư vấn tại trụ sở, TGPL lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ; thực hiện 63 đợt TGPL lưu động với 3.478 người dân tham gia, cấp phát 17.130 tờ gấp pháp luật cho người dân.

Lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch, chứng thực đã đi vào nền nếp, các sự kiện hộ tịch được đăng ký đúng quy định, đặc biệt là người dân đi đăng ký khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn quy định ngày càng tăng, đã kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của người dân. Trong năm, đã giải quyết 211 trường hợp đăng ký kết hôn; đăng ký khai sinh 134 (đăng ký lại 62, trẻ em 72); khai tử 08; nhận cha, mẹ, con 33; ghi chú 103 (kết hôn 27, ly hôn 76); quốc tịch 03; các trường hợp khác 504. Công tác lý lịch tư pháp, được triển khai khá đồng bộ, tiếp tục xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho người dân ngày càng tốt hơn; phối hợp chặt chẽ trong việc đối chiếu thông tin lý lịch tư pháp, đã cấp 3.178 phiếu lý lịch tư pháp trong năm.

Chú trọng xã hội hóa hoạt động công chứng: Năm 2013, toàn tỉnh có 05 tổ chức hành nghề công chứng với 08 công chứng viên; cơ sở vật chất của các tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu theo quy định. Đã giải quyết 21.703 hợp đồng, giao dịch của khách hàng theo đúng quy định của pháp luật (tăng 6.884 hợp đồng, giao dịch so với năm trước), tổng số phí thu được là 4.211.974.000 đồng (tăng 494.989.000 đồng so với năm trước).

Hoạt động bán đấu giá tài sản: đã xây dựng và áp dụng quy trình phần mềm bán đấu giá và chính thức đưa vào hoạt động kể từ tháng 01/2013, trong năm đã thực hiện 588 hợp đồng bán đấu giá tài sản của các cơ quan, đơn vị gửi bán, đã bán được 114 hợp đồng với số phí thu được là 6.164.980.000 đồng.

Về công tác quản lý luật sư: Toàn tỉnh có 35 luật sư với 24 tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động. Thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch, phối hợp đào tạo nghiệp vụ luật sư tại tỉnh Bến Tre với 66 học viên. Tiếp nhận và giải quyết cấp giấy đăng ký hoạt động cho 02 Văn phòng luật sư và quyết định thu hồi 01 giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng và 03 Chi nhánh. Phối hợp kiểm tra về tổ chức và hoạt động của 06 tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh.

Với những kết quả đạt được như trên, tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua yêu nước năm 2013 và phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2014, Sở Tư pháp đã vinh dự được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước tỉnh Bến Tre năm 2013.

19/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
DANH SÁCH  CÔNG CHỨNG VIÊN ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ  VÀ CẤP THẺ CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI BẾN TRE NĂM 2017 (Tính đến ngày 20/3/2017)DANH SÁCH  CÔNG CHỨNG VIÊN ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ  VÀ CẤP THẺ CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI BẾN TRE NĂM 2017 (Tính đến ngày 20/3/2017)

DANH SÁCH  CÔNG CHỨNG VIÊN ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀVÀ CẤP THẺ CÔNG CHỨNG VIÊN TẠI BẾN TRE NĂM 2017

(Tính đến ngày 20/3/2017)

STT   STTHỌ VÀ TÊNNĂM SINHQUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆMSỐ THẺ CÔNG CHỨNG VIÊNNƠI LÀM VIỆC
01Huỳnh Thanh Tân01/5/1957

1297/QĐ-BTP

ngày 03/6/2014

03/CCV

cấp ngày 13/3/2017

VPCC Lê Hùng Dũng

số 49, ấp An Hòa, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

02Lê Duy Phúc Hải10/3/1976

3434/QĐ-BTP

ngày 22/12/2014

04/CCV

cấp ngày 13/3/2017

VPCC Đồng Khởi

Số 89A1, đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

03Nguyễn Thị Diễm Phương10/9/1978702/QĐ-BTP ngày 03/4/2013

05/CCV

 cấp ngày 13/3/2017

VPCC Kim Cương

Số 89A khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre


01/06/2017 4:00 CHĐã ban hành
Tác hại của việc sử dụng rượu, bia đối với người tham gia giao thôngTác hại của việc sử dụng rượu, bia đối với người tham gia giao thông

          Ở Việt nam, rượu, bia đã trở thành một loại thức uống quen thuộc trong sinh hoạt đời sống của người dân. Đây là một loại đồ uống được bài bán khắp mọi nơi, từ thành thị đến các vùng nông thôn. Mọi người uống rượu, bia ở nhiều trạng thái tâm lý khác nhau như vui cũng uống, buồn cũng uống và không vui, không buồn cũng uống. Từ đó, dẫn đến một số người sử dụng rơi vào tình trạng lạm dụng rượu, bia gây ra thiệt hại rất lớn cho sức khỏe và tai nạn, tệ nạn xã hội.

          Tác hại của việc sử dụng rượu, bia

          Ông Võ Phạm Trọng Nhân Trưởng Khoa KHTH, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu cho biết: Việc sử dụng rượu, bia sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người. Chất cồn khi vào cơ thể sẽ được hấp thụ trên toàn tuyến tiêu hóa, sau đó đi thẳng vào máu và phân tán đến các bộ phận khác; cồn làm giãn các mạch máu, do đó người uống có cảm giác ấm khi uống vào. Nó được xem là một chất ức chế hệ thần kinh trung ương. Tình trạng ức chế này có thể gây hôn mê và chết khi nồng độ cồn/máu đạt tới mức trên 300mg/dl . Rượu, bia đứng hàng thứ 5 trong 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên toàn cầu.

          Người điều khiển xe cơ giới khi đã uống rượu, bia vào thì khoảng 6 phút sau hệ thần kinh hưng phấn, ảo thị, ảo thính, làm giảm khả năng điều khiển tự chủ và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xử lý và truyền tải hình ảnh lên não. Nếu nồng độ cồn/máu từ 160 - 200mg/dl thì phản xạ đã giảm, phản ứng của lái xe giảm từ 10 - 30%. Nồng độ cồn/máu ở mức từ 200 - 300mg/dl thì điện não bị ức chế, ước tính sai về khoảng cách và vận tốc, giảm nhạy bén trong quan sát do đó thiếu kiểm soát dẫn tới vi phạm như chạy quá tốc độ, vượt đèn đỏ, đi không đúng phần đường, làn đường, đi vào đường ngược chiều, không làm chủ được tay lái, phán đoán và xử lý tình huống kém, gây ức chế não làm cho người lái xe ngủ gật dẫn đến tai nạn giao thông. Còn về lâu dài thì việc sử dụng rượu, bia ảnh hưởng đến các chức năng gan, thận rất nhiều.

          Theo thống kê của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, Công an tỉnh Bến Tre: Trong năm 2017, các tổ tuần tra kiểm soát của đơn vị đã phát hiện và xử lý 3.653 trường hợp vi phạm quy định về nồng độ cồn. Có 93 vụ tai nạn giao thông đường bộ có liên quan đến người điều khiển xe cơ giới có sử dụng rượu, bia gây ra chiếm khoảng 34,1 % trên tổng số vụ. Nguyên nhân của các vụ tai nạn giao thông gây hậu quả chết người thì phần lớn đều do người điều khiển cơ giới có sử dụng rượu, bia gây ra. Do vậy, khi tham gia giao thông mà người điều khiển xe có nồng độ cồn càng cao thì mức độ rủi ro gây ra tai nạn càng tăng.

          Điễn hình như vụ tai nạn ngày 17/3/2017, sau khi đã sử dụng rượu, bia anh Lê Văn Thương, sinh năm 1974, ngụ tại xã Nhuận Phú Tân điều khiển xe mô tô biển số 71B2-109.48 tham gia giao thông trên Huyện lộ 20 xã Nhuận Phú Tân huyện Mỏ Cày Bắc khi đến khu vực ấp Tân Thuận thì do anh không kiểm soát tay lái nên đã tự té. Sau khi xảy ra tai nạn, anh được đưa đi cấp cứu nhưng đến ngày 21/3 thì anh tử vong tại bệnh viện Chợ Rẩy. Được biết, trước đó anh Thương đi mời đám tân gia nhà rồi có uống rượu, bia ở nhà người thân của mình mới về nhà.

          Hay vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đường Lộ Thơ thuộc ấp Chợ, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành giữa xe gắn máy biển số: 71FL-0143 do anh Trần Anh Tuấn, sinh năm 1991, ngụ tại xã Thành Triệu điều khiển và xe ô tô tải biển số 71C-019.20 do anh Nguyễn Hữu Nghị, sinh năm: 1988, ngụ xã Tiên Long điều khiển chạy ngược chiều. Vụ tai nạn đã làm anh Triệu tử vong tại hiện trường. Theo thông tin ban đầu thì vào thời điểm xảy ra tai nạn anh Tuấn đã có sử dụng rượu, bia điều khiển xe tham gia giao thông.

          Người sử dụng rượu, bia vẫn bị xử lý theo quy định của pháp luật

          Tại Khoản 8, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định các hành vi bị nghiêm cấm người tham gia giao thông thực hiện các hành vi: Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn. Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

          Nếu nồng độ cồn vượt quá quy định thì người tham gia giao thông có thể bị xử phạt đến mức tối đa là 04 triệu đồng đối với xe mô tô, xe gắn máy và phạt tiền đến 18 triệu đồng đối với xe ô tô, xe máy kéo, xe máy chuyên dùng; đồng thời người vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn đến 05 tháng, tạm giữ phương tiện đến 07 ngày.

          Theo Điều 596 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra như sau: "Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường…". Nếu người điều khiển xe cơ giới có sử dụng rượu, bia gây tai nạn giao thông thì tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại của hành vi mà có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm tù theo Khooản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

          Giải pháp kéo giảm tình trạng sử dụng rượu, bia tham gia giao thông

          Thượng tá Võ Văn Nghĩa – Phó Trưởng Phòng cảnh sát giao thông đường bộ cho biết: Nhận thấy việc người điều khiển xe cơ giới có sử dụng rượu, bia tham gia giao thông là một trong những nguy cơ xảy ra tai nạn cao nhất chính vì thế trong công tác, chúng tôi tập trung thực hiện một số giải pháp như:

          Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước thì phải tăng cường, siết chặc công tác quản lý, kiểm tra về việc kinh doanh , sử dụng rượu, bia. Cần có kiểm soát nhu cầu sử dụng, nguồn cung cấp để giảm tác hại của tình trạng lạm dụng rượu bia. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hậu quả, tác hại của việc sử dụng rượu, bia. Để mọi người thấy được những tác hại đó mà chuyển biến ý thức tránh xa dần với các đồ uống có cồn. Từng bước xây dựng một xã hội văn hóa "không uống rượu, bia khi tham gia giao thông".

          Ở góc độ chuyên môn, chúng tôi sẽ tham mưu Lãnh đạo các cấp, đặc biệt là Ban An toàn giao thông để ban hành các cao điểm tuyên truyền và xử lý vi phạm các quy định về nồng độ cồn triển khai, thực hiện quyết liệt từ tỉnh đến cơ sở để kịp thời phát hiện nhắc nhở và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về nồng độ cồn, hạn chế đến mức thấp nhất số vụ tai nạn giao thông do người lái xe sử dụng rượu, bia gây ra.

          Đối với từng hộ gia đình thì mọi người chúng ta không nên lạm dụng việc sử dụng rượu, bia trong cuộc sống, sinh hoạt hằng ngày. Đặc biệt là phải "Uống có trách nhiệm". Tức là ta chỉ uống rượu, bia ở mức độ chừng mực, uống vào các thời điểm thích hợp, tại những nơi thích hợp và uống với những lý do thích hợp.

          Khi chúng ta đã sử dụng rượu, bia thì mọi người không nên điều khiển xe tham gia giao thông mà chúng ta nên nhờ người khác không sử dụng rượu, bia đưa về hay đi về bằng các phương tiện công cộng hoặc gọi điện người thân chở về để đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe của mọi người.

Hữu Trí – Phòng CSGT đường bộ, Công an tỉnh Bến Tre


04/04/2018 3:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn