Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Phòng Kiểm soát Thủ tục hành chính
​Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính (TTHC), Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND) tỉnh Bến Tre đã chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố trực tiếp chỉ đạo sâu sát, quyết liệt công tác rà soát quy định, thủ tục hành chính. Trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu, nội dung rà soát theo Kế hoạch số 6873/KH-UBND ngày 28/12/2015 rà soát quy định TTHC năm 20... 
 
Ngày 06 tháng 6 năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 43/NQ-CP về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môi trường kinh doanh (gọi tắt là Nghị quyết số 43/NQ-CP). 
 
Ngày 15 tháng 8 năm 2014, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến toàn quốc sơ kết 01 năm triển khai thực hiện Chi thị số 15/CT-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính và đánh giá tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2014 
 
Thực hiện Công văn số 5575/VPCP-TCCV ngày 24 tháng 7 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ về việc triển khai công tác kiểm soát thủ tục hành chính, ngày 31 tháng 7 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành a href="download/nam2014/CV 3566-UBND.PDF"Công văn số 3566/UBND-TH/a, theo đó Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ngành liên quan thực hiện một số nhiệm vụ sau 
 
"Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp thực hiện công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc công bố và niêm yết công khai thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh.  
 
Ngày 01 và ngày 02 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường lớn Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính cho cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính (cán bộ, đầu mối) của các sở, ban, ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn (các cơ quan, địa phương). Tham dự Hội nghị có hơn 280 đại biểu là lãnh đạo trực tiếp phụ trách công tác kiểm soát thủ tục hành chính và cán bộ, công chức đầu mối của các cơ quan, địa phương trong tỉnh. Bà Nguyễn Thị Yến Nhi - Phó Giám đốc Sở Tư pháp dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. 
 
Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính và trên cơ sở quy định tại Quyết định số 07/2014/QĐ-UBND ngày 10/4/2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế hoạt động của hệ... 
 
Công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC), kiểm soát TTHC 6 tháng đầu năm 2014 được Uỷ ban nhân dân tỉnh (UBND) tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đặc biệt quan tâm chỉ đạo thường xuyên và quyết liệt, coi đây là một trong bốn nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh (Tập trung phát triển sản xuất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; và thực hiện tốt nhiệm vụ cả... 
 
Ngày 28 tháng 5 năm 2014, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1048/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ rà soát quy định hành chính, thủ tục hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre. Theo đó, Tổ rà soát gồm 10 thành viên, Tổ trưởng do ông Lê Văn Sáu, Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách; các thành viên là đại diện lãnh đạo Sở Tư pháp, công chức Phòng Kiểm soát ... 
 
Thực hiện Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 785/STP-KSTT, đề nghị các cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành c... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
“Giấy tay” bán đất“Giấy tay” bán đất
Thời gian gần đây, trong các giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường xảy ra tranh chấp. Tình trạng trên một phần là do nhiều người dân chưa nắm bắt được các quy định của pháp luật về đất đai, cũng như chưa nắm được nội dung và hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên nhiều hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi khởi kiện ra Tòa án có thể bị Toà tuyên vô hiệu,...

Thời gian gần đây, trong các giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường xảy ra tranh chấp. Tình trạng trên một phần là do nhiều người dân chưa nắm bắt được các quy định của pháp luật về đất đai, cũng như chưa nắm được nội dung và hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên nhiều hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi khởi kiện ra Tòa án có thể bị Toà tuyên vô hiệu, gây nhiều bất lợi cho người nhận chuyển nhượng.

Trong thực tế ở địa phương, nhiều người khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường thông qua “giấy tay”, có sự chứng kiến của người làm chứng. Tuy có người làm chứng, nhưng “giấy tay” đó chưa thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục luật định, nên “giấy tay” chưa đảm bảo được tính pháp lý. Do đó, khi phát sinh tranh chấp hình thức chuyển nhượng bằng “giấy tay” có thể bị tòa án tuyên vô hiệu. Hệ quả là các bên sẽ khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và việc chuyển nhượng không thành công. Trường hợp sau đây là một ví dụ: Ông Huỳnh Văn V bán cho ông Huỳnh Thanh H 2.500m2 đất năm 2008, vì họ hàng thân thiết với nhau nên ông V và ông H chỉ làm “giấy tay” bán đất và nhờ người làm chứng, ông H đã san lấp mặt bằng và trồng cây trên mãnh đất đó. Thời gian gần đây, giữa ông V và ông H xảy ra mâu thuẩn vì phần đất trên có người hỏi mua ông V với giá rất cao để làm kho chứa hàng, ông H phát hiện và tranh chấp được Tòa án thụ lý giải quyết và Tòa án tuyên hợp đồng trên vô hiệu và trao trả những gì cho nhau trước đó.

Để thực hiện theo đúng quy định pháp luật, tại Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hình thức chuyển quyền sử dụng đất thì việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Văn bản công chứng, văn bản chứng thực đối với hợp đồng, giao dịch có từ 02 trang trở lên, thì từng trang phải được đánh số thứ tự, có chữ ký tắt của người yêu cầu công chứng, chứng thực và người thực hiện công chứng, chứng thực, riêng trang cuối phải có chữ ký đầy đủ; số lượng trang phải được ghi vào cuối văn bản…(Điều 59 của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực). Vì vậy, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng cần tuân thủ các quy định về hình thức của hợp đồng nêu trên để bảo đảm hiệu lực của hợp đồng.

Tại điểm 2.2, mục 2, Thông tư liên tịch số 04/2006/ TTLT – BTP – BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất quy định: “Hợp đồng, văn bản về bất động sản mà bên có bất động sản là hộ gia đình, cá nhân, thì hộ gia đình, cá nhân đó được lựa chọn hình thức công chứng tại Phòng Công chứng hoặc chứng thực tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có bất động sản”.

Vì vậy, để tránh hậu quả tranh chấp đáng tiếc xảy ra, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải làm hợp đồng theo mẫu và có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền và không nên làm bằng “giấy tay”.

22/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định của pháp luật về việc niêm yết thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, khai nhận di sản thừa kếQuy định của pháp luật về việc niêm yết thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, khai nhận di sản thừa kế

Vừa qua, một số địa phương trong tỉnh phản ánh chưa có sự thống nhất về thời hạn niêm yết việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế giữa Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất.

Để giải quyết vấn đề trên, ngày 23 tháng 7 năm 2013 Sở Tư pháp có Công văn số 1211/STP-BTTP về việc hướng dẫn thời gian niêm yết việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, khai nhận di sản thừa kế.

Theo đó, căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Theo quy định này thì thời hạn niêm yết việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế tại Điểm 2.3 Khoản 2 Mục II Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT không còn phù hợp.

Như vậy, thời gian niêm yết việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 19 của Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng, cụ thể như sau:

Việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế phải được niêm yết trong thời hạn mười lăm ngày. Việc niêm yết do tổ chức hành nghề công chứng thực hiện tại trụ sở của Ủy ban nhân cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản. Trong trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng thì niêm yết tại nơi tạm trú có thời hạn cuối cùng của người đó.

Trong trường hợp di sản thừa kế ở nhiều địa phương thì việc niêm yết được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có các di sản thừa kế đó.

Trong trường hợp di sản gồm cả bất động sản và động sản hoặc di sản chỉ là bất động sản thì việc niêm yết được thực hiện theo hướng dẫn nêu trên; nếu không xác định được cả hai nơi này thì niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản.

Trong trường hợp di sản chỉ là động sản, nếu trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng và nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người để lại di sản không ở cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì tổ chức hành nghề công chứng có thể đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người để lại di sản thực hiện việc niêm yết.

Nội dung niêm yết phải nêu rõ họ, tên của người để lại di sản; họ, tên của những người thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản thừa kế; quan hệ của những người thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản thừa kế với người để lại di sản thừa kế; danh mục di sản thừa kế. Cuối bản niêm yết phải ghi rõ nếu có khiếu nại, tố cáo về việc bỏ sót, giấu giếm người được hưởng di sản thừa kế; bỏ sót di sản thừa kế; di sản thừa kế không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người để lại di sản thì khiếu nại, tố cáo đó được gửi cho tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc niêm yết.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết có trách nhiệm xác nhận việc niêm yết và bảo quản việc niêm yết trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày niêm yết.

21/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh làm việc với lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh,Ủy ban nhân dân các huyện, thành phốỦy ban nhân dân tỉnh làm việc với lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh,Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố
  Ngày 16 tháng 8 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có buổi làm việc với lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Cao Văn Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Trưởng Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhâ...

Ngày 16 tháng 8 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có buổi làm việc với lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Cao Văn Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Trưởng Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì hội nghị.

Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ báo cáo kết quả công tác cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; bà Nguyễn Thị Yến Nhi, Phó Giám đốc Sở Tư pháp báo cáo tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Đánh giá chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua – bà Nguyễn Thị Yến Nhi nêu rõ: Việc ban hành văn bản trên địa bàn tỉnh được các cấp, các ngành và địa phương quan tâm và đạt nhiều kết quả quan trọng; tuân thủ đúng quy trình, thủ tục và thể thức ban hành văn bản; bên cạnh thể chế của Trung ương thì ở địa phương cũng đã từng bước hoàn thiện; nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành đã nâng lên; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị; chất lượng của văn bản ngày càng được nâng lên rõ rệt…góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và công tác quản lý nhà nước ở địa phương.


Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác văn bản ở địa phương trong thời gian qua cũng còn một số khó khăn, hạn chế, cụ thể: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo chương trình xây dựng nghị quyết, chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị đạt tỷ lệ thấp (khoảng 50%); quá trình soạn thảo, ban hành một số văn bản không đảm bảo theo quy trình; việc tổ chức lấy ý kiến chưa đạt yêu cầu; chất lượng dự thảo một số văn bản chưa cao; còn sai nhiều về thể thức, kỹ thuật trình bày và còn lặp lại những quy định của cấp trên.

Trên cơ sở những khó khăn, hạn chế, cuộc họp đã thống nhất phân tích nguyên nhân và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. Theo đó, từng cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, đặc biệt là người đứng đầu; phải tuân thủ chặt chẽ quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn bản; bố trí kinh phí đầy đủ và kịp thời theo quy định…

Qua cuộc họp chuyên đề lần này đã thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh đối với công tác văn bản; đây là một trong những hoạt động chủ yếu của cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Từ điều này cộng với những giải pháp được đưa ra, hy vọng chất lượng công tác văn bản trên địa bàn tỉnh Bến Tre sẽ ngày được nâng lên.

22/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013Tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013
Chiều ngày 15/8/2013, Ban Chỉ đạo Chiến dịch tỉnh tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã đến dự.

Chiều ngày 15/8/2013, Ban Chỉ đạo Chiến dịch tỉnh tổng kết Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã đến dự.

Chủ đề Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013 là “Chung tay xây dựng văn minh đô thị và nông thôn mới, với phương chăm “Mỗi thanh niên một việc làm tình nguyện, mỗi cơ sở Đoàn một công trình, phần việc thiết thực tham gia xây dựng văn minh đô thị và nông thôn mới”.

Ngày 05/6/2013, Ban Chỉ đạo Chiến  dịch tỉnh tổ chức lễ ra quân tại xã Phú Đức, huyện Châu Thành; với trên 1.000 lực lượng tham gia, đã trồng 3.000 cây xanh trên tuyến kinh Ba Lai nhằm hưởng ứng Ngày môi trường thế giới năm 2013, khánh thành công trình lộ giao thông nông thôn dài 1.600m.

Thời gian chiến dịch diễn ra từ ngày 01/6/2013 đến 15/8/2013; tham gia chiến dịch có 11 trường ở thành phố Hồ Chí minh với 505 chiến sĩ; trường Đại học Cần Thơ với 78 chiến sĩ; các trường trong tỉnh với 280 chiến sĩ, có 05 Đội hình: “Hành quân xanh” với 91 chiến sĩ, “Khăn hồng tình nguyện” với 101 chiến sĩ, “Luật gia trẻ” với 30 chiến sĩ, “Kỳ nghỉ hồng” với 134 chiến sĩ, “Niềm tin xanh” gồm 27 trường trung học phổ thông trong tỉnh với 245 chiến sĩ; ngoài ra có 77 sinh viên tình nguyện quốc tế của các nước Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Estonia; số đoàn viên, hội viên, thanh niên, học sinh đối ứng và tham gia chiến dịch tại địa phương hơn 10.000 lực lượng.

Về tham gia xây dựng văn minh đô thị, tổ chức tuyên truyền về nếp sống văn minh đô thị với nhiều hình thức phong phú như: treo băng rol, pano, áp phích, thông qua sinh hoạt Chi đoàn, Chi hội được 321 cuộc, với trên 9.500 lực lượng tham dự; tổ chức xây dựng nếp sống văn minh, bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quang đô thị như: vệ sinh hẻm, khu phố, các tuyến đường văn minh, trồng hoa, cây xanh, thu gom rác thải, xây dựng vỉa hè văn minh, khu chợ sạch đẹp; xây dựng “Tuyến đường thanh niên tự quản về an ninh trật tự” ở huyện Thạnh Phú, “ Tuyến đường văn minh” ở huyện Ba Tri, công trình thắp sáng tuyến đường ở huyện Mỏ Cày Nam, tặng 120 bóng đèn tiết kiện cho hộ nghèo ở huyện Châu Thành.

Về tham gia xây dựng nông thôn mới, tổ chức truyền truyền về tiêu chí nông thôn mới, các thiết chế xây dựng xã văn hóa được 544 cuộc với trên 15.000 người tham gia; phối hợp Ngày hội Internet với nội dung tập huấn kiến thức Internet, thi đánh máy, tải tài liệu nhanh, tạo email…ở các huyện Mỏ Cày bắc, Bình Đại, Giồng Trôm, Thạnh Phú, có gần 1.300 người tham gia.

Thực hiện các công trình như: đổ bê tông, đá xanh, làm mới các tuyến lộ liên tổ, liên ấp (dài trên 24 km, với trên 4.600 ngày công); tham gia phát hoang, đắp lộ (được 199 km, trên 25 nghìn ngày công), xây dựng cầu bê tông kinh phí 156 triệu đồngvới hơn 1.000 ngày công (huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú).

Xây 2 nhà nhân ái, tình thương, sữa chữa 22 căn nhà gia đình chính sách, hộ nghèo, giá trị trên 2,2 tỷ đồng, trên 24 nghìn ngày công.

Ngoài ra, các lực lượng còn tham gia đảm bảo trật tự giao thông, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, dịch bệnh; hoạt động “Tiếp sức mua thi”, “Tiếp sức đến trường”; chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng; chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hiến máu tình nguyện; tham gia phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội; hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, hỗ trợ tư vấn nghề nghiệp, việc làm cho thanh niên; các hoạt động của Đội hình: “Hành quân xanh”, “Khăn hồng tình nguyện”, “Luật gia trẻ”, “Kỳ nghỉ hồng”, “Niềm tin xanh” đạt nhiều kết quả.

Tuy nhiên, Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2013 cũng còn một số hạn chế; hình thức, nội dung tuyên truyền chiến dịch chưa phong phú; chủ đề chiến dịch còn mang tính hình thức, chưa xác định công trình, phần việc cụ thể; một vài đơn vị, địa phương chưa phát huy nguồn lực tại chỗ, lực lượng tham gia đối ứng còn hạn chế; một số công trình chưa tạo được dấu ấn tình nguyện; hoạt động ra quân “Ngày thứ bảy tình nguyện”, “Ngày chủ nhật xanh” tổ chức không đều khắp các cơ sở; công tác, báo cáo chưa kịp thời.

22/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh ban hàn Kế hoạch tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013Ủy ban nhân dân tỉnh ban hàn Kế hoạch tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013
Ngày 15/8/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3835/KH-UBND về việc tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 nhằm thực hiện Quyết định số 4061/QĐ-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công ...

 

Ngày 15/8/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 3835/KH-UBND về việc tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 nhằm thực hiện Quyết định số 4061/QĐ-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016” và Kế hoạch số 5403/KH-BTC ngày 16/7/2013 của Ban Tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng - Bộ Tư pháp tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Mục đích cuộc thi là một trong những hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân” từ năm 2012 đến năm 2016”. Thông qua cuộc thi nhằm đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, làm phong phú thêm nguồn tài liệu tuyên truyền, hỗ trợ thực hiện có hiệu quả công tác này, tiếp tục tạo chuyển biến tích cực trong nhận thực và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, tạo sự đồng thuận trong xã hội, góp phần đẩy lùi nạn tham nhũng.

Đối tượng dự thi là các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố.

Nội dung thi: Các tiểu phẩm dự thi có nội dung tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật phòng, chống tham nhũng; động viên cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng; biểu dương những gương người tốt, việc tốt trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; lên án, phê phán các hành vi tham nhũng.

Hình thức dự thi: Các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức xây dựng, lựa chọn và gửi 01 tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng dưới hình thức đĩa DVD để tham dự cuộc thi. Tiểu phẩm dự thi là thể loại tiểu phẩm truyền hình được thể hiện dưới dạng Video Clip (có cốt chuyện, kịch bản gắn với tình huống, xử lý tình huống, có nhân vật, bối cảnh đời thường, không phải là tiểu phẩm được biểu diễn, ghi hình trên sân khấu…). Tiểu phẩm dự thi phải là tiểu phẩm chưa gửi tham gia các cuộc thi nào khác. Thời lượng mỗi tiểu phẩm dự thi từ 07 phút đến 15 phút.

Thời gian gửi tiểu phẩm dự thi đến hết ngày 10/10/2013 (tính theo dấu bưu điện). Địa điểm tiếp nhận tiểu phẩm dự thi tại Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp. Địa chỉ: Số 17, Đường Cách Mạng Tháng 8, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Giải thưởng cuộc thi gồm: 01 giải nhất, 02 giải nhì, 03 giải ba, 09 giải khuyến khích. Dự kiến thời gian tổng kết, trao giải diễn ra vào cuối tháng 10/2013.

Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp cùng các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban Tổ chức, Ban Giám khảo; đôn đốc, theo dõi, hướng dẫn và tổ chức cuộc thi theo Kế hoạch.

21/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm “Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm “Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”

Chiều ngày 02 tháng 10 năm 2015, Đảng ủy Sở Tư pháp tổ chức buổi Tọa đàm với chủ đề "Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí". Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp dự và phát biểu chỉ đạo; tham dự buổi Tọa đàm có Ban Giám đốc Sở, đại diện Công đoàn, Chi đoàn thanh niên, cùng toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Sở Tư pháp.

toa-dam1.gif 

Tại buổi Tọa đàm, đại biểu được nghe các tham luận về: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong phòng, chống tham nhũng tại đơn vị; Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính (thực trạng và giải pháp). Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cũng đã mạnh dạn trao đổi, thảo luận, chia sẽ kinh nghiệm, tìm ra các giải pháp để công tác cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở cơ quan trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn.

toa-dam2.gif 

Buổi Tọa đàm là một trong những hoạt động của Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở Tư pháp tiếp đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự đồng thuận cao trong thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiết kiệm, chống lãng phí; nâng cao nhận thức về công tác dân vận của Đảng, tư tưởng và phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh; góp phần xây dựng cho mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng phong cách trọng dân, gần dân, học dân và có trách nhiệm với dân; tạo phong trào thi đua sâu rộng, qua đó tuyên dương và nhân rộng điển hình những tập thể, cá nhân tiêu biểu, xuất sắc. Đồng thời, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng, phấn đấu, học tập, trao dồi kiến thức, rèn luyện, trưởng thành hơn trong quá trình tiếp xúc, làm việc với tổ chức, cá nhân.

05/10/2015 11:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến Tre
15/12/2017 4:00 CHĐã ban hành
Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 25/9/2015Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 25/9/2015
30/09/2015 10:00 SAĐã ban hành
Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2015Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2015

Thực hiện Kế hoạch số 864/KH-UBND ngày 27 tháng 02 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, xây dựng và thực hiện quy ước trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2015 và Kế hoạch số 4300/KH-HĐPH ngày 24 tháng 8 năm 2015 của Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh về việc kiểm tra công tác PBGDPL và hoạt động của Hội đồng Phối hợp PBGDPL năm 2015. Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh tổ chức Đoàn kiểm tra công tác PBGDPL và hoạt động của Hội đồng Phối hợp PBGDPL năm 2015 tại Liên đoàn Lao động tỉnh (ngày 24/9); Hội đồng Phối hợp PBGDPL huyện Thạnh Phú (ngày 25/9) và Hội đồng Phối hợp PBGDPL thành phố Bến Tre (ngày 29/9).  

Mặt dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, khối lượng công tác PBGDPL rất nhiều, nhưng 3 đơn vị, địa phương được kiểm tra (Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội đồng Phối hợp PBGDPL huyện Thạnh Phú và thành phố Bến Tre) đã triển khai, thực hiện khá tốt công tác PBGDPL và hoạt động của Hội đồng PBGDPL đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết quả rất đáng trân trọng.

Đạt được kết quả nêu trên trước hết là do có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, thủ trưởng cơ quan; sự phối hợp tích cực, chặt chẽ và khá toàn diện của các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các thành viên Hội đồng trong việc triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các đề án, chương trình, kế hoạch PBGDPL.

kiem-tra-pbgdpl.gif 

Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, các thành viên Hội đồng được nâng lên; đã khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các lực lượng tham gia thực hiện công tác PBGDPL; thường xuyên rà soát, củng cố, kiện toàn Hội đồng Phối hợp PBGDPL, Ban Thư ký và đội ngũ làm công tác PBGDPL, trong đó, vai trò của cơ quan thường trực Hội đồng, Ban Thư ký được phát huy, nhất là vai trò nòng cốt tham mưu, đề xuất của Phòng Tư pháp (cơ quan Thường trực Hội đồng); thực hiện khá tốt việc sơ kết, tổng kết công tác PBGDPL; đề xuất được một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động PBGDPL trong thời gian tới.

Các cấp công đoàn thuộc Liên đoàn Lao động tỉnh thường xuyên nghiên cứu, đổi mới hình thức, nội dung PBGDPL đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động để phù hợp với đối tượng người lao động và loại hình hoạt động nên hiệu quả công tác PBGDPL từng nơi, từng lúc có nâng lên. Tổ chức công đoàn đã hình thành mạng lưới đội ngũ tuyên truyền, PBGDPL từ tỉnh đến cơ sở với văn phòng tư vấn pháp luật của Liên đoàn Lao động tỉnh, tổ tư vấn pháp luật của các Liên đoàn Lao động huyện, thành phố, Công đoàn ngành để tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý miễn phí cho cán bộ, công chức, viên chức, lao động có nhu cầu tìm hiểu về pháp luật hoặc về những chế độ, chính sách liên quan đến người lao động.

Đã tập trung tổ chức triển khai, phổ biến Hiến pháp năm 2013, các văn bản pháp luật mới với nhiều hình thức đa dạng, phong phú; tổ chức triển khai thực hiện Ngày Pháp luật định kỳ và Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 theo hướng tích cực, hiệu quả, thiết thực hơn.

Công tác hoà giải ở cơ sở đạt kết quả tốt (thành phố Bến Tre đạt tỉ lệ 87,43%, huyện Thạnh Phú đạt 90,88%)

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác PBGDPL cũng còn nhiều khó khăn, hạn chế như: Một số đơn vị, địa phương có lúc chưa thật sự quan tâm đến công tác PBGDPL, tuyên truyền chưa sâu; triển khai thực hiện đề án, chương trình PBGDPL và các văn bản mới còn chậm, chưa kịp thời. Một số tổ chức công đoàn, doanh nghiệp và người sử dụng lao động chưa thật sự quan tâm đến công tác tuyên truyền, PBGDPL. Đội ngũ làm công tác PBGDP còn hạn chế về kiến thức pháp luật, kỹ năng PBGDPL. Việc thực hiện xã hội hóa công tác PBGDPL còn gặp nhiều khó khăn, chưa huy động mạnh nguồn lực xã hội thực hiện công tác PBGDPL. Kinh phí bố trí cho công tác PBGDPL nhiều địa phương còn quá thấp, chưa đáp ứng yêu cầu.  

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác PBGDPL trong thời gian tới, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh, Trưởng Đoàn kiểm tra đề nghị lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội đồng Phối hợp PBGDPL huyện Thạnh Phú và thành phố Bến Tre cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các đề án, chương trình, kế hoạch PBGDPL.

Chỉ đạo rà soát kế hoạch công tác PBGDPL năm 2015, để tổ chức triển khai thực hiện những công việc còn lại theo Kế hoạch đề ra; cần xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác PBGDPL trong năm 2016.

Phát huy hơn nữa vai trò phối hợp, nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan thành viên Hội đồng, có sự phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị, thành viên Hội đồng; thực hiện tốt vai trò là Hội đồng tư vấn giúp Ủy ban nhân dân dân trong công tác PBGDPL, vai trò tham mưu của cơ quan thường trực Hội đồng là Phòng Tư pháp.

Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các luật, pháp lệnh mới ban hành; tổ chức tốt Ngày pháp luật nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 (9/11) đạt kết quả cao. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức PBGDPL. Quan tâm củng cố, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác PBGDPL.

Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; triển khai có hiệu quả Luật Hòa giải ở cơ sở, củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, đội ngũ hòa giải viên; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, phấn đấu đạt chỉ tiêu hòa giải thành (85%); tích cực chủ động, phối hợp  đề xuất các giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn đối với công tác PBGDPL, hỗ trợ kinh phí thực hiện công tác PBGDPL, hòa giải cơ sở, tìm các giải pháp thu hút nguồn lực xã hội hóa đối với công tác PBGDPL, huy động sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đối với công tác này. 

30/09/2015 10:00 SAĐã ban hành
Ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại ĐiềnRa mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại Điền
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) ngày càng hiệu quả cao, thiết thực, đáp ứng nhu cầu TGPL cho người dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người nghèo, đối tượng chính sách…ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) ngày càng hiệu quả cao, thiết thực, đáp ứng nhu cầu TGPL cho người dân, góp phần đưa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người nghèo, đối tượng chính sách…ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và một số đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/ 06/ 2013, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm TGPL) phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú, Ủy ban nhân dân xã Đại Điền tổ chức ra mắt thành lập “Câu lạc bộ trợ giúp lý xã Đại Điền” và tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL lần đầu tiên. Đến dự có: Ông Nguyễn Minh Khoa đại diện Trung tâm trợ giúp lý; bà Lê Thị Mộng Thùy, Tưởng Chi nhánh số 02; ông Lê Mộng Linh, Trưởng phòng Tư pháp huyện, ông Nguyễn Văn Bình, Phó Bí Thư Đảng ủy xã, cùng 44 người dân tham dự buổi lễ.

Theo Quyết Định số 75/QĐ-UBND ngày 15/05/2013, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Đại Điền có 14 thành viên, bà Mai Thị Hiền, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân làm Chủ nhiệm,

Đến nay, huyện Thạnh Phú có 14/18 xã được thành lập Câu lạc bộ TGPL; nâng tổng số Câu lạc bộ TGPL trong toàn tỉnh là 47Câu lạc bộ .

 

Câu lạc bộ TGPL là một hình thức hoạt động TGPL cộng đồng, tạo điều kiện cho người được TGPL ở địa phương tham gia sinh hoạt hoạt, trao đổi vướng mắc pháp luật. Thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL giúp cho thành viên của Câu lạc bộ có điều kiện gần dân nhiều hơn, qua đó hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người dân, giúp người dân giải quyết tranh chấp ở cơ sở được kịp thời.

Dự kiến đến cuối năm 2013, Trung tâm TGPL sẽ tiếp tục phối hợp với các cấp chính quyền địa phương, phòng Tư pháp huyện Thạnh Phú sẽ thành lập Câu lạc bộ TGPL ở các xã còn lại trên địa bàn huyện Thạnh Phú, nhằm phục vụ tốt nhu nhu cầu TGPL cho người dân.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật tổ chức tọa đàm về công tác trợ giúp pháp lý tại Bến Tre
 Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đô...

Ngày 12 / 6/ 2013, Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật phối hợp Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức tọa đàm công tác trợ giúp pháp lý (TGPL). Đến dự buổi tọa đàm có Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp luật; bà Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, lãnh đạo Trung tâm TGPL nhà nước, các Trợ giúp viên pháp lý, các Cộng tác viên TGPL và đại diện 02 câu lạc bộ TGPL xã Nhơn Thạnh, Phú Nhuận thành phố Bến Tre.

Tại tọa đàm, các đại biểu đã nghe trình bày các tham luận về Thực trạng hoạt động TGPL trong hoạt động tố tụng; Vai trò TGPL với công tác hòa giải cơ sở; Vai trò của Cộng tác viên và các tổ chức hành nghề luật trong TGPL; Cơ chế phối hợp và thực tiễn triển khai Kế hoạch tăng cường TGPL cho trẻ em giai đoạn 2011- 2015; kết quả hoạt động phối hợp thực hiện Chương trình 14 phổ biến giáo dục pháp luật và TGPL cho phụ nữ; Kết quả hoạt động phối hợp TGPL lưu động; Tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc; lãnh đạo Trung tâm TGPL báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động TGPL; tình hình tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL ở địa phương.

Các tham luận và ý kiến của đại biểu đã đánh giá, phân tích khá sâu, đúng thực chất tình hình và kết quả đạt được trong hoạt động TGPL; phân tích vai trò, tác động của hoạt động TGPL đối với sự phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương; làm rõ những khó khăn, hạn chế, tìm ra nguyên nhân trong việc thực hiện TGPL, để từ đó đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn; đồng thời kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL.

Ông Phùng Ngọc Đức, Biên tập viên chính, Tạp chí Dân chủ – Pháp luật đã dành thời gian trao đổi và hướng dẫn về phương pháp, cách thức và kỹ năng viết tham luận, viết tin, bài báo chí.

Kết thúc buổi tọa đàm, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sơ Tư pháp trân trọng và cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ – Pháp Luật ; đồng chí Huỳnh Thị Lệ Thủy, Phó cục trưởng Cơ quan đại diện phía Nam – Bộ Tư pháp và các đồng chí cùng đi trong đoàn đã dành thời gian quý báo đến thăm và làm việc tại Bến Tre, xin trân trọng cán ơn các đồng chí lãnh đạo, đại diện các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tỉnh; các đồng chí trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên, các cộng tác viên; các đồng chí Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL đã đến dự đông đủ.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hiệu quả Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ Hiệu quả Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho phụ nữ
Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và đối tượng chính sách được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp cho người dân thuộc đối tượng được TGPL tiếp cận với pháp luật. Cái nghèo của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa không chỉ là nghèo vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu văn hoá mà còn nghèo vì thiếu hiểu biết pháp luật, có hiểu biết pháp luật, có văn hoá có biết...

Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo và đối tượng chính sách được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp cho người dân thuộc đối tượng được TGPL tiếp cận với pháp luật. Cái nghèo của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa không chỉ là nghèo vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu văn hoá mà còn nghèo vì thiếu hiểu biết pháp luật, có hiểu biết pháp luật, có văn hoá có biết chữ, người dân mới biết tự bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình; yên tâm đầu tư phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Chính vì xác định được tầm quan trọng của công tác TGPL; trong những năm qua, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh (Trung tâm TGPL) đã đẩy mạnh hoạt động trợ giúp hướng về cơ sở, tăng cường TGPL lưu động ở các vùng xa, vùng sâu… không chỉ cho đối tượng TGPL mà còn cho các đối tượng khác. Trung tâm TGPL đã có những biện pháp trợ giúp cụ thể cho các đối tượng phụ nữ chuẩn bị kết hôn và ly hôn, đối tượng chính sách,…tham gia bảo vệ quyền lợi cho chị em khi bị xâm hại. Tuy nhiên, chị em phụ nữ thường có tâm lý e ngại khi đến các cơ quan công quyền, nhất là trong trường hợp phải đến cơ quan pháp luật để trình bày những vướng mắc khó nói của bản thân mình và gia đình. Nhiều người đành chấp nhận im lặng, chịu đựng bị đối xử tồi tệ cho đến khi được mọi người xung quanh phát hiện và các cơ quan, tổ chức can thiệp, khi đó có thể xảy ra nhiều hậu quả đáng tiếc..

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, để tạo điều kiện thuận lợi cho chị em phụ nữ được nâng cao kiến thức pháp luật để tự bảo vệ mình hoặc được bảo vệ khi cần thiết, Trung tâm TGPL đã phối hợp với Hội Liên hiện phụ nữ các cấp thành lập các Câu lạc bộ TGPL dành cho phụ nữ ở cấp huyện; bên cạnh các Câu lạc bộ TGPL được thành lập ở các xã, đã tạo ra một diễn đàn để các chị em có nơi sinh hoạt, vui chơi và tìm hiểu pháp luật. Đến nay, Trung tâm TGPL đã thành lập 46 Câu lạc bộ TGPL; trong đó có 3 Câu lạc bộ Hội liên hiệp phụ nữ cấp huyện; do Ban chấp hành Hội phụ nữ của huyện và các cán bộ tư pháp xã, Hội Phụ nữ xã trong huyện làm nòng cốt. Hướng tới Trung tâm TGPL sẽ phối hợp với lãnh đạo địa phương sẽ ra mắt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cho Phụ nữ xã Khánh Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, gồm có 45 thành viên, chủ yếu là hội viên hội phụ nữ của ấp. Câu lạc bộ tổ chức sinh hoạt thường kỳ hàng quý, hàng tháng xoay vòng các xã, với nội dung rất phong phú và hình thức đa dạng, thu hút được nhiều chị em tham gia, giới thiệu những quy định mới của pháp luật, những sự kiện xảy ra trong đời sống hàng ngày, được sự hỗ trợ, hướng dẫn về chuyên môn của Trung tâm trợ giúp pháp lý và phòng Tư pháp huyện, thành phố.

Câu lạc bộ TGPL còn trực tiếp trợ giúp miễn phí cho phụ nữ là nạn nhân của nạn bạo lực gia đình một cách kịp thời nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho họ. Qua thời gian hoạt động, Câu lạc bộ TGPL được chính quyền địa phương quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ.

Trung tâm TGPL đã rà soát, hướng dẫn ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL ở địa phương. Hầu hết, tổ chức và hoạt động của các Câu lạc bộ TGPL đều đúng theo Quyết định số 03/2008/QĐ-BTP của Bộ tư pháp.

Đối với Câu lạc bộ TGPL phụ nữ cấp huyện là mô hình hoạt động thật sự có hiệu quả cao, tiêu biểu là Câu lạc bộ TGPL của Hội Phụ nữ huyện Mỏ Cày Nam, đã tổ chức lồng ghép sinh hoạt ở chi, tổ hội, tổ chức cuộc thi về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình…. đã phát hiện và báo cáo các ngành chức năng phối hợp ngăn chặn giải quyết kịp thời 09 vụ tảo hôn, 26 vụ bạo hành phụ nữ, 04 vụ ngược đãi trẻ em. Ngoài ra, thành viên Câu lạc bộ TGPL còn phối hợp tham gia hòa giải, giải quyết đơn thư khiếu nại có liên quan đến phụ nữ, trẻ em; có 214 vụ tranh chấp liên quan đến đất đai, hôn nhân gia đình và tranh chấp khác; trong đó hòa giải thành 128 vụ.

Câu lạc bộ TGPL là diễn đàn để các chị em phụ nữ bày tỏ những tâm tư, nguyện vọng của mình, và yêu cầu bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình trong cuộc sống.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - vần đề cần quan tâm của doanh nghiệpPháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - vần đề cần quan tâm của doanh nghiệp
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực trạng trên một phần là do sự thiếu thông tin của doanh nghiệp về những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này./span/span/p

Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực trạng trên một phần là do sự thiếu thông tin của doanh nghiệp về những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Hiện nay, đa số các doanh nghiệp ở nước ta là vừa và nhỏ, trình độ chuyên môn và thực lực kinh tế còn hạn chế. Chính vì vậy, họ chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: Làm sao để tồn tại, phát triển, có lợi nhuận,… mà ít quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đồng thời, các doanh nghiệp hiện nay không có bộ phận pháp chế hoặc có nhưng vẫn còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp, có chăng họ cũng chỉ quan tâm đến những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh để sinh lời như: Thương mại, dân sự, xây dựng,… mà ít quan tâm đến các quy định của pháp luật mang tính giải quyết hậu quả như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Đến nay, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cơ bản đã đầy đủ. Tuy nhiên, các thông tin liên quan đến pháp luật về bồi thường của Nhà nước chưa được phổ biến một cách sâu, rộng đến các doanh nghiệp thông qua các kênh truyền thông. Nguyên nhân là do cơ sở vật chất, nhân sự của các cơ quan thẩm quyền còn hạn chế nên ảnh hưởng đến việc truyền tải thông tin, kinh phí dành cho việc thực hiện các công việc nêu trên còn khiêm tốn. Thực tế cho thấy một số doanh nghiệp khi bị thiệt hại thường có tâm lý hoang mang và không có ý thức là mình sẽ được bồi thường, họ cũng chỉ thu thập các chứng cứ để minh oan, ít khi họ có động thái thu thập hoặc thu thập không đầy đủ chứng cứ để sau này làm căn cứ cho việc bồi thường thiệt hại.

Việc thương lượng giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước ít khi đi đến kết quả, do từ trước tới nay một số cơ quan nhà nước chỉ quen cầm cân nảy mực. Vì vậy, họ khó thông cảm đến thiệt hại của doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc kể từ ngày doanh nghiệp bị thiệt hại nhận được quyết định nhưng không đồng ý thì doanh nghiệp bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, khi khởi kiện đa phần doanh nghiệp có tâm lý kiện chắc gì đã thắng, một số doanh nghiệp còn theo lối tư duy cũ là khi bị thiệt hại thì hay dàn xếp hơn là tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật về bồi thường của Nhà nước để từ đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua những quy định của pháp luật hiện hành.

Do đó, tự bản thân doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói riêng. Cùng với đó, doanh nghiệp nên thay đổi lối tư duy cũ thay vào đó là cần tìm hiểu rõ những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để vận dụng vào việc bảo vệ quyền, lợi ích của mình khi có thiệt hại xảy ra.

21/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ởHỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở
Ngày 26 tháng 04 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở, Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 5 năm 2013, theo đó:

Ngày 26 tháng 04 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở, Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 5 năm 2013, theo đó:

Đối tượng và điều kiện được hỗ trợ

Là hộ gia đình có người có công với cách mạng đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận, bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Thân nhân liệt sỹ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng.

Mức hỗ trợ

Hộ đang ở nhà tạm hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng (kể cả các hộ đã được hỗ trợ theo các chính sách khác trước đây) với mức độ như sau: Phải phá dỡ để xây mới nhà ở theo quy định hỗ trợ 40 triệu đồng/hộ; phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở theo quy định hỗ trợ 20 triệu đồng/hộ.

Trong quá trình hỗ trợ phải đảm bảo nguyên tắc: Sau khi được hỗ trợ, các hộ xây dựng được nhà ở mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở đã có, đảm bảo diện tích sử dụng tối thiểu 30 m2 (đối với những hộ độc thân thì có thể xây dựng nhà ở có diện tích sử dụng nhỏ hơn nhưng không thấp hơn 24 m2); đảm bảo “3 cứng” (nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng).

Phương thức thực hiện hỗ trợ: Ủy ban nhân dân cấp xã đối chiếu, lập danh sách các hộ được hỗ trợ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện; Ủy ban nhân dân cấp huyện tổng hợp, kiểm tra và phê duyệt danh sách số hộ thuộc diện được hỗ trợ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để làm cơ sở lập và phê duyệt kế hoạch hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp xã hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các hộ dân xây dựng nhà ở đảm bảo yêu cầu về diện tích và chất lượng nhà ở theo quy định của Quyết định này và vận động các hộ tự xây dựng nhà ở. Đối với các hộ có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật...) không thể tự xây dựng nhà ở thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức xây dựng nhà ở cho các hộ này.

Ngoài ra, Quyết định cũng nêu rõ trong năm 2013, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện cơ bản xong việc hỗ trợ về nhà ở cho hộ gia đình người có công với cách mạng theo đúng quy định của Quyết định này đối với khoảng 71.000 hộ.

20/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIIINội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh khóa VIII sẽ diễn ra trong 03 ngày, trong đó 01 ngày họp Tổ đại biểu thảo luận tài liệu kỳ họp (ngày 19/11/2013) và 02 ngày họp toàn thể tại hội trường (ngày 05, 06/12/2013). Kỳ họp lần này diễn ra với các nội dung chính sau đây:

Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ thông qua các báo cáo và tờ trình:

1. Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

2. Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2013, Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2014.

3. Báo cáo quyết toán ngân sách tỉnh năm 2012.

4. Báo cáo thu, chi ngân sách năm 2013, dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh năm 2014.

5. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 33/2012/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2012 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5.

6. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 12/2013/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2013 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6.

7. Báo cáo về việc tổng kết Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND về bổ sung một số chủ trương, biện pháp tiếp tục thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn tỉnh Bến Tre đến 2020 và Nghị quyết số 06/2009/NQ-HĐND về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND.

8. Báo cáo chuyên đề về kết quả thực hiện Nghị quyết số 14/2011/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2011 về công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

9. Báo cáo chuyên đề về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại năm 2013.

10. Báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh năm 2013.

11. Báo cáo với HĐND tỉnh về các nội dung đã thoả thuận giữa Thường trực HĐND và Ủy ban nhân dân năm 2013.

12. Báo cáo tiếp thu, giải trình về các ý kiến thảo luận Tổ đại biểu, ý kiến thẩm tra của các Ban và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

13. Các tờ trình của Ủy ban nhân dân tỉnh xin thông qua dự thảo:

- Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

- Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2014.

- Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2012.

- Nghị quyết về dự toán và phương án phân bổ ngân sách nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014.

- Nghị quyết về quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre áp dụng trong năm 2014.

- Nghị quyết Quy hoạch vùng tỉnh Bến Tre.

- Nghị quyết Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

- Nghị quyết thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc.

- Nghị quyết về việc bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

- Nghị quyết về đẩy mạnh và phát triển đô thị tỉnh Bến Tre đến năm 2020.

- Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh.

Các cơ quan tư pháp báo cáo:

1. Tình hình và kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp năm 2013 ở địa phương. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

2. Tình hình và kết quả hoạt động xét xử năm 2013 trên phạm vi toàn tỉnh. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

3. Tờ trình về việc cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh: thông báo về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến, kiến nghị của cử tri. Đồng thời sẽ giới thiệu nhân sự bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016.

Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh có nội dụng báo cáo, tờ trình gồm:

1. Báo cáo tổng kết hoạt động Thường trực, các Ban HĐND tỉnh năm 2013 và chương trình công tác năm 2014.

2. Báo cáo kết quả giám sát của HĐND về cải cách thủ tục hành chính và công tác xây dựng, nâng cao chất lương đội ngủ cán bộ, công chức trong chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 của tỉnh và kết quả giám sát khai thác cát sông trái phép trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

3. Báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát của HĐND, Thường trực HĐND tỉnh năm 2013 và dự kiến nội dung chương trình giám sát năm 2014.

4. Báo cáo thực hiện kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2013 và dự toán kinh phí năm 2014.

5. Báo cáo về tình hình thực hiện chương trình xây dựng nghị quyết năm 2013.

6. Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận Tổ đại biểu và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

7. Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh về các báo cáo, tờ trình, đề án trình tại kỳ họp thứ 8.

8. Các tờ trình của Thường trực HĐND tỉnh xin thông qua:

- Nghị quyết về chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về Chất vấn và trả lời chất vấn.

- Nghị quyết về cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

- Nghị quyết về xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân.

Kỳ họp lần thứ 8 - HĐND tỉnh khoá VIII sẽ được truyền hình trực tiếp phiên khai mạc, phiên chất vấn, trả lời chất vấn và phiên bế mạc để cử tri theo dõi và giám sát.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 8Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 8
Thực hiện Kế hoạch số 824/KH-HĐND ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc tiếp xúc cử tri kỳ họp thứ 08 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Mỏ Cày Nam tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong Tổ tiếp xúc cử tri trước kỳ họp. Theo đó, việc tiế...

Thực hiện Kế hoạch số 824/KH-HĐND ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc tiếp xúc cử tri kỳ họp thứ 08 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Mỏ Cày Nam tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong Tổ tiếp xúc cử tri trước kỳ họp. Theo đó, việc tiếp xúc cử tri sẽ được tiến hành tại các địa điểm và thời gian cụ thể sau đây:

Điểm thứ nhất: Hội trường Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn Mỏ Cày (gồm cử tri thị trấn Mỏ Cày và cử tri xã Tân Hội). Thời gian: 7 giờ 30 phút ngày 14/11/2013;

Điểm thứ hai: Hội trường UBND xã An Thới (gồm cử tri xã An Thới và cử tri xã Ngãi Đăng). Thời gian: 7 giờ 30 phút ngày 15/11/2013;

Điểm thứ ba: Hội trường UBND xã Định Thủy (gồm cử tri xã Định Thủy và cử tri xã Phước Hiệp). Thời gian: 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2013;

Điểm thứ tư: Hội trường UBND xã Cẩm Sơn (gồm cử tri xã Cẩm Sơn và cử tri xã Tân Trung). Thời gian: 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2013.

Tại các cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh sẽ báo cáo với cử tri tình hình thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về kinh tế - xã hội và quốc phòng – an ninh năm 2013. Đồng thời thông báo nội dung, chương trình kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh, trên cơ sở đó tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Ngoài ra sẽ thông tin nội dung giải trình của UBND tỉnh, các sở, ngành đối với các ý kiến, kiến nghị của cử tri trước và sau kỳ họp thứ 6.

Để Hội đồng nhân dân tỉnh thực sự là cơ quan quyền lực đại diện cho nhân dân, để kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh là diễn đàn để nhân dân thể hiện ý chí, quyền làm chủ của mình; đề nghị quý cử tri tích cực tham dự các cuộc tiếp xúc cử tri để phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị của mình. Các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam sẽ tiếp thu, ghi nhận và phản ánh lại tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh lần thứ 8 sắp tới.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020

Ngày 21 tháng 6 năm 2017, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Nghị quyết 43/2017/QH14 về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020. Theo đó, trong giai đoạn 2016 - 2020, Quốc Hội giao Chính phủ tập trung thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp sau:

Khẩn trương rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm để sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan theo hướng quy định rõ các điều cấm và tăng chế tài xử lý; khắc phục tình trạng chồng chéo, không rõ trách nhiệm trong phân công quản lý an toàn thực phẩm; tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, đến hết năm 2020 cơ bản hoàn thành các quy chuẩn kỹ thuật chính về an toàn thực phẩm cho các nhóm đối tượng và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Đến hết năm 2018, kiện toàn cơ bản bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm các cấp theo hướng tập trung đầu mối, rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả. Ở cấp xã, phân công cán bộ theo dõi an toàn thực phẩm. Tăng cường năng lực, điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ quản lý an toàn thực phẩm ở các cấp, tạo sự chuyển biến rõ rệt về an toàn thực phẩm.

Phấn đấu giảm mạnh số vụ ngộ độc thực phẩm nhiều người, giảm tỷ lệ mẫu thực phẩm kiểm tra không đảm bảo an toàn, tăng tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản được kiểm tra đạt yêu cầu về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm so với giai đoạn trước. Có lộ trình và giải pháp giải quyết dứt điểm các vấn đề yếu kém: về dư lượng vượt ngưỡng cho phép của thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, kinh doanh thực phẩm; kiểm soát giết mổ nhỏ lẻ, thực phẩm có nguy cơ cao, thức ăn đường phố; ngộ độc thực phẩm cấp tính và mãn tính; kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, hàng nhập lậu và gian lận thương mại; kiểm soát môi trường đất, nước cho sản xuất thực phẩm an toàn.

Hoàn thiện chính sách về đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm đồng bộ với quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất an toàn; có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo chuỗi khép kín, áp dụng chương trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, hệ thống kiểm soát chất lượng tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ, bảo đảm an toàn thực phẩm, có lộ trình giảm tỷ trọng sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, kém chất lượng.

 Đẩy mạnh quản lý an toàn thực phẩm sang kiểm soát theo quá trình sản xuất, dựa trên phân tích nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm; tăng cường hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm; chỉ đạo các địa phương phát triển, nhân rộng chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn và kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ; tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống giám sát, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; tăng các biện pháp, chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng; tiếp tục thực hiện thí điểm thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm, đánh giá tổng kết và mở rộng mô hình khi có kết quả tích cực.

Bố trí đủ ngân sách cho công tác quản lý an toàn thực phẩm theo dự toán. Cho phép sử dụng kinh phí xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm để phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, trong đó được trích một tỷ lệ hợp lý khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích trong quản lý, tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm. Tăng cường xã hội hóa, đa dạng các nguồn lực tài chính và một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm; thực hiện tốt việc tổ chức đánh giá, công nhận các cơ sở thực hiện xã hội hóa quản lý an toàn thực phẩm và chỉ định các cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện kiểm nghiệm về an toàn thực phẩm tham gia kiểm định, giám định chất lượng thực phẩm. Phối hợp tích cực với hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp, đặc biệt là của người dân trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm.

Tăng cường công tác giáo dục truyền thông, thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm; biểu dương kịp thời những điển hình tiên tiến, công khai những tồn tại yếu kém, những hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm của tổ chức và cá nhân; tránh đưa thông tin không đúng sự thật gây hoang mang trong dư luận ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và phát triển các kỹ năng truyền thông; nâng cao số lượng, chất lượng các tài liệu và thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm. Thiết lập hệ thống thông tin hỏi đáp phục vụ người dân, cung cấp thông tin, phản ánh về an toàn thực phẩm; tiếp nhận và xử lý kịp thời các thông tin vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.

Chú trọng công tác đào tạo, tăng cường tập huấn chuyên môn nghiệp vụ; tổ chức đào tạo lại cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm tại các tuyến; từng bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tích cực vận động sự hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế cho công tác an toàn thực phẩm.

20/07/2017 3:00 CHĐã ban hành
Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bến Tre khóa VIII được tổ chức vào ngày 05 và ngày 06 tháng 12 năm 2013. Tham dự kỳ họp có: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội; các đồng chí lãnh đạo tỉnh; 48/52 đại biểu HĐND tỉnh; thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; thường trực HĐND và đại diện cử tri của các huyện, thành phố.

Kỳ họp đã nghe Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014;  Thông báo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Đại biểu HĐND tỉnh và những vấn đề cử tri quan tâm; Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh; Báo cáo tiếp thu và giải trình của UBND tỉnh về một số vấn đề nổi lên qua thảo luận ở Tổ đại biểu, ý kiến kiến nghị của cử tri và của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tại kỳ họp thứ 8. Ngoài ra, một số văn bản Thường trực HĐND tỉnh đã gửi cho đại biểu nghiên cứu, để làm cơ sở thảo luận, quyết định.

Tại kỳ họp, đại biểu HĐND tỉnh đã tập trung thảo luận vào những ý kiến còn khác nhau qua thảo luận tại tổ, xoay quanh một số nhóm vấn đề: nuôi thủy sản không theo quy hoạch; phát triển các mô hình sản xuất trong nông nghiệp; vốn đầu tư các chương trình, đề án; an ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Kỳ họp cũng đã dành ra một buổi để các đại biểu HĐND tỉnh thực hiện phiên chất vấn. Nội dung chất vấn liên quan đến việc nuôi tôm ngoài vùng quy hoạch; sử dụng đất không đúng theo hợp đồng thuê đất đối với Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre; đầu tư xây dựng và hoạt động của Cảng Giao Long; thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông thuộc Sở Thông tin và Truyền thông; tạm đình chỉ vụ án không đúng theo quy định; không đưa Đề án thành lập thị trấn Tiệm Tôm, xã An Thủy, huyện Ba Tri vào trong Nghị quyết HĐND tại kỳ họp 8; công trình kiên cố hóa Trường Trung học cơ sở Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc chưa được hoàn thành; giải quyết khiếu nại của công dân khu vực đất cù Lao Lá, huyện Ba Tri và các khiếu nại khác chậm giải quyết; cải cách hành chính (quản lý hộ tịch, hộ khẩu).

Đại diện cử tri huyện Châu Thành cũng đã có ý kiến phát biểu về việc tổ chức, điều hành, nội dung của kỳ họp thứ 8 - HĐND tỉnh Khóa VIII, đồng thời kiến nghị những vấn đề mà cử tri quan tâm.

Kỳ họp đã ban hành 17 Nghị quyết như sau:

Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2012;

Nghị quyết về dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về việc thông qua quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bến Tre đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc;

Nghị quyết về việc bãi bỏ một phần, bãi bỏ toàn bộ một số Nghị quyết của HĐND tỉnh;

Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2014 – 2016 và định hướng đến năm 2020;

Nghị quyết về Chương trình xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về Chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về dự toán kinh phí hoạt động của HĐND tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 8 – HĐND tỉnh Khóa VIII;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả cho thôi làm nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết xác nhận kết quả bầu bổ sung chức danh Phó Trưởng Ban Văn hóa Xã hội chuyên trách HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Qua đánh giá, kỳ họp đã thực hiện đúng chương trình và thành công tốt đẹp.

26/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
CUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNGCUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

CUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

Mời quý đọc giả cùng tham gia cuộc thi viết tìm hiểu pháp luật về lao động trên Bản tin Tư pháp với những nội dung cụ thể như sau:

1. Đối tượng dự thi

- Công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

- Thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo, Tổ thư ký giúp việc cho Ban Tổ chức, Ban Giám khảo của cuộc thi không được tham gia dự thi.

2. Hình thức dự thi

- Mỗi cá nhân chỉ được gửi 01 bài dự thi, bài dự thi bằng tiếng Việt, có thể viết tay hoặc đánh máy trên giấy A4, đánh số trang theo thứ tự.

- Trang bìa bài dự thi phải ghi rõ họ; tên; ngày, tháng, năm sinh, giới tính; địa chỉ (nơi ở, nơi học tập hoặc nơi làm việc) của người dự thi. Ngoài phong bì của bài dự thi ghi rõ: "Bài dự thi tìm hiểu pháp luật về lao động".

3. Nội dung thi

Mỗi thí sinh phải trả lời 05 câu hỏi sau đây:

Câu 1: Quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động được pháp luật quy định như thế nào?

Câu 2: Người lao động, người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp nào?

Câu 3: Pháp luật lao động quy định chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ như thế nào?

Câu 4: Việc sử dụng lao động dưới 15 tuổi được pháp luật quy định ra sao?

Câu 5: Giải đáp tình huống:

Chị T là công nhân, con của chị T chưa được một tuổi, nhà lại xa nơi làm việc nên chị T hay đi làm muộn, mặc dù đã được Tổ trưởng sản xuất nhắc nhở nhiều lần nhưng chị T vẫn không khắc phục được. Vừa qua, lãnh đạo Công ty đã ra quyết định xử lý kỷ luật chị T bằng hình thức khiển trách, đồng thời quyết định nếu chị T còn tiếp tục vi phạm sẽ kéo dài thời hạn nâng lương thêm 01 năm.

Hỏi: Công ty xử lý kỷ luật chị T như vậy là đúng hay sai, giải thích tại sao?

4. Thời gian và địa điểm nhận bài dự thi

- Thời gian nhận bài dự thi: Từ nay đến hết 17 giờ, ngày 05/12/2016.

- Địa điểm nhận bài thi: Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp. Địa chỉ: Số 17, đường Cách mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Bài dự thi có thể gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện. Riêng đối với bài dự thi được gửi qua đường bưu điện, Ban Tổ chức sẽ tính thời gian theo dấu bưu điện.

5. Cơ cấu giải thưởng

01 giải nhất: 2.000.000 đồng.

02 giải nhì: 1.500.000 đồng/giải

03 giải ba: 1.000.000 đồng/giải.

05 giải khuyến khích: 500.000 đồng/giải.

BAN TỔ CHỨC CUỘC THI

18/10/2016 5:00 CHĐã ban hành
Quy định pháp luật về đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệpQuy định pháp luật về đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển, kéo theo nhu cầu mở rộng thị trường của doanh nghiệp ngày càng tăng, việc thành lập thêm các chi nhánh, văn phòng đại diện là điều cần thiết. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì việc đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp được thực hiện như sau:

Hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển, kéo theo nhu cầu mở rộng thị trường của doanh nghiệp ngày càng tăng, việc thành lập thêm các chi nhánh, văn phòng đại diện là điều cần thiết. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì việc đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp được thực hiện như sau:

Hồ sơ đăng ký chi nhánh, văn phòng đại diện

Khi thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, doanh nghiệp phải gửi thông báo lập chi nhánh, văn phòng đại diện tới Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi đặt chi nhánh, văn phòng đại diện. Nội dung thông báo gồm:

Mã số doanh nghiệp; tên và địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; tên chi nhánh, văn phòng đại diện dự định thành lập; địa chỉ trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện; nội dung, phạm vi hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện;

Họ, tên, nơi cư trú, số Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 24 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện; họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Kèm theo thông báo nêu trên phải có:

Quyết định bằng văn bản và bản sao biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai (02) thành viên trở lên, của chủ sở hữu công ty hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, của Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần, các thành viện hợp danh đối với công ty hợp danh về việc thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện;

Bản sao hợp lệ quyết định bổ nhiệm người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện; bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 24 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện.

Đối với chi nhánh kinh doanh các ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề thì phải có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của người đứng đầu chi nhánh hoặc của cá nhân khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp

Sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nhập thông tin vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để yêu cầu mã số chi nhánh, văn phòng đại diện. Sau đó, cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện cho doanh nghiệp.

Trường hợp doanh nghiệp lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại tỉnh, thành phố khác với nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính thì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện. Doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản tới Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để bổ sung vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Việc lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp ở nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật nước đó. Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày chính thức mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài, doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký. Kèm theo thông báo phải có bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc giấy tờ tương đương để bổ sung vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

20/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chínhNghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính
Ngày 14 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; trong đó có Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 14 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; trong đó có Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính.

Theo quy định mới, Cục kiểm soát thủ tục hành chính được chuyển giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

Sở Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương. Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Sở Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở Tư pháp tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

Việc lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính, Nghị định cũng đã quy định ngoài việc tham gia góp ý kiến về nội dung dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Sở Tư pháp có trách nhiệm cho ý kiến về nội dung quy định thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung cho ý kiến về quy định thủ tục hành chính chính chủ yếu xem xét các vấn đề về nguyên tắc và yêu cầu của việc quy định thủ tục hành chính.

Nghị định cũng quy định cụ thể về vấn đề thẩm định văn bản có quy định về thủ tục hành chính. Cơ quan thẩm định sẽ không tiếp nhận hồ sơ gửi thẩm định nếu dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính chưa có bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính và ý kiến góp ý của cơ quan cho ý kiến. Đồng thời, cơ quan thẩm định có trách nhiệm thẩm định quy định về thủ tục hành chính và thể hiện nội dung này trong Báo cáo thẩm định.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng sửa đổi thời hạn ban hành quyết định công bố thủ tục hành chính phải được ban hành chậm nhất trước 20 ngày làm việc tính đến ngày văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành thay vì thời hạn 10 ngày như quy định trước đây.

Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

20/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đảng ủy Sở Tư pháp làm việc với Ban chấp hành Chi đoàn thanh niênĐảng ủy Sở Tư pháp làm việc với Ban chấp hành Chi đoàn thanh niên
Thực hiện Quy chế làm việc của Đảng ủy, Sáng ngày 19/6/2013, Đảng ủy Sở Tư pháp tổ chức làm việc với Ban Chấp hành Chi đoàn về kết quả thực hiện hoạt động của Ban chấp hành Chi đoàn Thanh niên 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2013. Đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy và các đồng chí trong Đảng ủy đã đến dự.

Thực hiện Quy chế làm việc của Đảng ủy, Sáng ngày 19/6/2013, Đảng ủy Sở Tư pháp tổ chức làm việc với Ban Chấp hành Chi đoàn về kết quả thực hiện hoạt động của Ban chấp hành Chi đoàn Thanh niên 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2013. Đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy và các đồng chí trong Đảng ủy đã đến dự.

Giao lưu với chi đoàn bạn

Tại cuộc họp, đồng chí Lê Thanh Bằng, Bí thư Chi đoàn Thanh niên báo cáo tình hình tư tưởng đoàn viên cơ bản ổn định, vững vàng, thực hiện tốt nội quy, quy chế cơ quan, không ngừng phấn đấu, rèn luyện phẩn chất, đạo đức, lối sống, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tham gia các phong trào do Chi đoàn và Đoàn cấp trên phát động, như: “Ngày thứ bảy tình nguyện” và “Ngày chủ nhật xanh”, tổ chức thăm và tặng quà các đối tượng chính sách, vì đàn em thân yêu, tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho người dân, nhất là trẻ em, người nghèo, người thuộc đối tượng chính sách, giới thiệu đoàn viên ưu tú tạo nguồn phát triển đảng viên mới.

Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy đánh giá cao kết quả hoạt động của Ban Chấp hành Chi đoàn; và đề nghị trong thời gian tới, Ban Chấp hành Chi đoàn phải thường xuyên giáo dục chính trị, tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên; tổ chức học tập nghiêm túc các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; củng cố lập trường tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên; tạo điều kiện để đoàn viên, thanh niên không ngừng rèn luyện đạo đức, lối sống, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; tham gia tích cực các phong trào do đoàn cấp trên phát động; chủ động, sáng tạo, năng động; thực hiện tốt phong trào văn thể mỹ để tạo sự phấn khởi trong lực lượng đoàn viên thanh niên; tiếp tục giới thiệu đoàn viên ưu tú để phát triển đảng viên.

19/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”Quy định về danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”
Ngày 22 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (Nghị định). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2013.

Ngày 22 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (Nghị định). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2013.

Nghị định quy định cụ thể về đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” như sau:

Những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”: Có 2 con trở lên là liệt sỹ; chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sỹ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sỹ; có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ; có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.

Người con là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật.

Người chồng là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó.

Thương binh quy định như trên là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần.

Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Đồng thời Nghị định còn quy định những trường hợp thõa điều kiện để được xét tăng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” nhưng phản bội, đầu hàng địch, có hành động gây nguy hại cho cách mạng hoặc vi phạm pháp luật bị Tòa án xét xử bằng hình thức phạt tù mà bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật (kể cả trường hợp được hưởng án treo) thì không được xét tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Bà mẹ hoặc thân nhân của bà mẹ khi có đủ điều kiện như trên liên hệ trực tiếp Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bà mẹ đăng ký hộ khẩu thường trú (đối với bà mẹ còn sống) hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người được ủy quyền kê khai để được hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luậtHội nghị triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật
Sáng ngày 05/6/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì Hội nghị, tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là thành viên...

Sáng ngày 05/6/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì Hội nghị, tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là thành viên Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; cán bộ phụ trách công tác pháp chế, thanh tra các sở, ngành, ban, ngành tỉnh; lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe những nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật và các kế hoạch triển khai có liên quan.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trương Văn Nghĩa đề nghị lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tập trung nghiên cứu nắm chắc các nội dung quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Phổ biến giáo dục pháp luật; Nghị định 59/2012/NĐ-CP và các Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh để xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai, thực hiện ở ngành, địa phương mình một cách nghiêm túc và đạt hiệu quả cao. Trong đó, cần chú ý những nội dung quan trọng về nội dung, tiến độ thực hiện; thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các văn bản trên. Đặt biệt, chú ý đến việc bố trí cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ cho phù hợp với nhiệm vụ của ngành và địa phương; phân bổ kinh phí đầy đủ, kịp thời; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cán bộ tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ do cơ quan cấp trên tổ chức; từng ngành, đơn vị, địa phương chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành liên quan để tổ chức triển khai thực hiện các luật, văn bản quan trọng này.

10/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện  Luật Hòa giải ở cơ sởỦy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện  Luật Hòa giải ở cơ sở
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Thực hiện Quyết định số 2611/QĐ-BTP ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở; nhằm triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở đồng bộ, thống nhất và hiệu quả; ngày 25 tháng 12 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành a href="kh%20hoagiai.pdf"Kế hoạch số 6352/KH-UBND/a triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh. /span/p

Thực hiện Quyết định số 2611/QĐ-BTP ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở; nhằm triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở đồng bộ, thống nhất và hiệu quả; ngày 25 tháng 12 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 6352/KH-UBND triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.

Mục đích nhằm tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Hòa giải ở cơ sở; nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức và nhân dân về vị trí, vai trò của hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới, tạo sự chuyển biến cơ bản, bền vững, hiệu quả trong hoạt động hòa giải ở cơ sở góp phần giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.

Nội dung tổ chức triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở tập trung vào những công việc như: Tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến công tác hoà giải ở cơ sở do Hồi đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành; tham mưu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với Luật Hòa giải ở cơ sở. Phổ biến, quán triệt Luật Hòa giải ở cơ sở. Củng cố, kiện toàn cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu quản lý công tác hòa giải ở địa phương; rà soát, củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, đội ngũ hòa giải viên; tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động hòa giải theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở. Biên soạn tài liệu; tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ về công tác hòa giải ở cơ sở. Hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Kiểm tra, báo cáo đánh giá tình hình thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở; thống kê số liệu về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; tổ chức sơ kết 03 năm thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở

Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện Kế hoạch và hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và địa phương triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tỉnh; các sở, ban, ngành tỉnh có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình chủ động, tích cực phối hợp với Sở Tư pháp thực hiện hiệu quả Kế hoạch. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch này ở địa phương.

07/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trúNghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú
Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu...

Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp; thời hạn đăng ký thường trú, điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 5 của Nghị định số 31/2014/NĐ-CP thì nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống. Và chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Đối với chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân, tổ chức tại thành phố trực thuộc trung ương phải bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố.

Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này, thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn.

Và chỗ ở hợp pháp theo Nghị định số 31/2014/NĐ-CP bao gồm: Nhà ở;  tàu, thuyền, phương tiện khác nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân; nhà khác nhưng được sử dụng nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.

Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ; giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất đó); hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn...

Trong đó đáng chú ý là quy định về điều kiện công dân tạm trú được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm: Có chỗ ở hợp pháp tại thành phố trực thuộc trung ương. Có thời gian tạm trú liên tục tại thành phố trực thuộc trung ương từ một năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương; từ hai năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương; trường hợp tạm trú liên tục tại nhiều chỗ ở khác nhau thì thời gian tạm trú liên tục được tính bằng tổng thời gian tạm trú tại các chỗ ở đó. Nơi đề nghị được đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú.

Cũng theo Nghị định này, trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới và có đủ điều kiện đăng ký thường trú, người thay đổi chỗ ở hợp pháp hoặc đại diện hộ gia đình phải làm thủ tục đăng ký thường trú tại chỗ ở mới.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/06/2014 và thay thế Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú; Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú.

28/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sởVai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở
 Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các ...

Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.

Luật Hoà giải ở cơ sở đã khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc giới thiệu danh sách bầu làm hoà giải viên ở cơ sở; chủ trì tổ chức bầu hoà giải viên; đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận hoà giải viên sau khi bầu. Cụ thể tại Điều 8 của Luật Hoà giải ở cơ sở về bầu, công nhận hòa giải viên quy định người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật Hoà giải ở cơ sở có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức: Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình. Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý; trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp; trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng; Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

 

Đối với việc thôi làm hòa giải viên được quy định tại Điều 11 của Luật Hoà giải ở cơ sở: Trường hợp thôi làm hòa giải viên quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Trường hợp thôi làm hòa giải viên đối với tổ trưởng tổ hòa giải thì Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Quyết định thôi làm hòa giải viên được gửi Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

Bên cạnh đó vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở, còn thể hiện ở quy định tại Điều 12 của Luật Hoà giải ở cơ sở như đề nghị số lượng tổ hoà giải, số hòa giải viên trong một tổ hòa giải ở địa phương để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định; rà soát, kiến nghị kiện toàn tổ hoà giải.  Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì phối hợp với tổ trưởng tổ hòa giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải và kiến nghị Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã để đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã kiện toàn tổ hòa giải.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở còn thể hiện ở vai trò chủ trì bầu tổ trưởng tổ hoà giải theo quy định tại Điều 14 của Luật Hoà giải ở cơ sở. Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn bản và gửi chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định công nhận.

Ngoài ra, Điều 22 và Điều 26 của Luật Hoà giải ở cơ sở quy định: Trường hợp các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau thì tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố đó phối hợp thực hiện việc hòa giải và thông báo với Trưởng ban công tác Mặt trận tại nơi đó cùng phối hợp thực hiện. Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời thông báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.

Bên cạnh việc quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận nêu trên, Điều 30 của Luật Hoà giải ở cở sở còn quy định Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểmHội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm
Chiều ngày 22/4/2014, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phối hợp tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm. Bà Nguyễn Thị Phương Đào, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh; ông Lê Phong Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ...

Chiều ngày 22/4/2014, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phối hợp tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm. Bà Nguyễn Thị Phương Đào, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh; ông Lê Phong Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy; ông Cao Văn Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Phó Trưởng thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh đến dự và đồng chủ trì hội nghị.

Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo: Ban Dân vận Tỉnh ủy, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn phòng điều phối xây dựng nông thôn mới tỉnh, Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Tỉnh đoàn; Thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các huyện, thành phố; lãnh đạo các đoàn thể cấp huyện, các xã điểm xây dựng nông thôn mới.

Thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 02/8/2011 của Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 14/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh ngày 9/12/2011 về việc thông qua Đề án tổng thể xây dựng nông thôn mới tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 29/HĐND ngày 8/12/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh về định mức hỗ trợ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010-2020.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 1235/QĐ-UBND ngày 18/7/2013 về ban hành Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Bến Tre (thay thế Quyết định số 1624/QĐ-UBND ngày 20/7/2011); Quyết định số 1436/QĐ-UBND ngày 20/8/2013 về việc ban hành thiết kế mẫu, thiết kế điển hình các công trình giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 1651/QĐ-UBND ngày 16/9/2013 về việc ban hành hướng dẫn cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư của nhà nước để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác lập quy hoạch xã nông thôn mới, thiết kế mẫu hội trường văn hóa trên địa bàn tỉnh, lồng ghép các nguồn vốn để xây dựng nông thôn mới,…


Qua 03 năm triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới đối với 25 xã điểm đã đạt được nhiều kết quả tốt, làm chuyển biến nhận thức, ý thức của cán bộ, đảng viên và người dân về xây dựng nông thôn mới; các đồ án quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới ở tất cả các xã đã được phê duyệt; các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hoàn thiện; các lĩnh vực chính trị, văn hóa xã hội đều có sự chuyển biến khá tốt, tác động tích cực đến đời sống của cư dân nông thôn.

Kết quả đến nay có 05 xã thực hiện từ 14 đến 16 tiêu chí, như: Châu Bình (huyện Giồng Trôm) đạt 16 tiêu chí; Phú Nhuận (Thành phố Bến Tre), Hữu Định (huyện Châu Thành) đạt 15 tiêu chí; Sơn Định (huyện Chợ Lách), Định Thủy (huyện Mỏ Cày Nam) đạt 14 tiêu chí; các xã đạt từ 10 đến 13 tiêu chí, như: Quới Sơn, Phú Sơn, Nhơn Thạnh, Thành Triệu, Cẩm Sơn, An Thới, Phú Thuận, Tân Thiềng; các xã còn lại đạt từ 05 đến 09 tiêu chí, như Tân Thủy, Tân Thành Bình, Sơn Đông, Mỹ Nhơn, Tân Phú Tây, Phú Long, Đại Điền, Hưng Lễ, Long Hòa, Quới Điền.

Để phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn  mới ở các xã điểm, trong đó vai trò của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức đoàn thể các cấp cần tập trung vận động thực hiện một số tiêu chí như: phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh, mỗi người trong gia đình đều có việc làm, có phương án, mô hình phát triển, nhất là các mô hình kinh tế hợp tác.

Vận động nhân dân xây dựng, sửa chữa làm đẹp nhà ở, cổng, ngõ, hàng rào, cột cờ, trồng cây xanh, hoa kiểng.  Xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc; mỗi gia đình có nhà tắm kính đáo, hố xí hợp vệ sinh, sử dụng nước sạch, điện an toàn, ăn ở, sinh hoạt sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng.

Có ý thức bảo vệ môi trường, không vứt rác thải bừa bãi, chất thải phải thu gom, chôn lấp, có cống rãnh thoát nước, khu chăn nuôi phải cách xa nhà ở, đảm bảo vệ sinh.

Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, trẻ em trong độ tuổi được đị học; tham gia các lớp dạy nghề nông thôn. Giữ gìn truyền thống đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, đùm bọc, tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giúp nhau giảm nghèo, thực hiện tốt nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang.

Tham gia bảo vệ an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh; mỗi thành viên gia đình tham gia sinh hoạt ít nhất một tổ chức đoàn, hội ở địa phương. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; tích cực tham gia xây dựng, quản lý, giám sát các công trình phúc lợi ở địa phương.

Kế hoạch cũng đã đề ra các bước thực hiện, phân công phụ trách địa bàn cụ thể, như: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh phụ trách xã Tân Thành Bình (Mõ Cày Bắc), hỗ trợ thực hiện tiêu chí 17 về môi trường tại xã Hữu Định (Châu Thành); Hội Cựu chiến binh tỉnh phụ trách xã Châu Bình (Giồng Trôm), xã Phú Thuận (Bình Đại); Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh phụ trách xã Tân Thủy (Ba Tri) và hỗ trợ thực hiện tiêu chí 17 về môi trường tại xã Cẩm Sơn (Mõ Cày Nam); Hội Nông dân tỉnh phụ trách xã Sơn Định (Chợ Lách), xã Định Thủy (Mỏ Cày Nam); Tỉnh đoàn phụ trách xã Phú Nhuận (Thành phố Bến Tre), xã Đại Điền (Thạnh Phú); Liên đoàn Lao động tỉnh phụ trách xã Hữu Định (Châu Thành).

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012
Sáng ngày 18 tháng 4 năm 2014, Sở Tư pháp phối hợp tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 cho Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo các Phòng Tư pháp, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thành phố. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hô...

Sáng ngày 18 tháng 4 năm 2014, Sở Tư pháp phối hợp tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 cho Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo các Phòng Tư pháp, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thành phố. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hội Luật gia tỉnh và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh. Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp dự và khai mạc Hội nghị.


Tại Hội nghị báo cáo viên đã giới thiệu hai chuyên đề: Nội dung cơ bản của Luật Hoà giải ở cơ sở, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hoà giải ở cơ sở; hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở và những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012.

Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 nhằm triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở theo Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở và thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bến Tre theo Kế hoạch số 1221/KH-UBND ngày 23 tháng 3 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh.


Phát biểu khai mạc, chỉ đạo tại Hội nghị, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị Phòng Tư pháp các huyện thành phố phối hợp với Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tham mưu Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức triển khai thi hành có hiệu quả Luật Hoà giải ở cơ sở cũng như Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hoà giải ở cơ sở tại địa phương. Các Báo cáo viên pháp luật phát huy vai trò của mình trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung, Luật Hoà giải ở cơ sở và pháp luật Phòng, chống tham nhũng nói riêng đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị và trong nhân dân.

22/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn