Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện
Ngày 23/5/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2014/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.  
 
Hiện nay, do nhu cầu của thị trường mà hoạt động cho thuê lại lao động ngày càng diễn ra phổ biến và sôi nổi, nhiều doanh nghiệp trong nước đã áp dụng hình thức này để đáp ứng cho quá trình kinh doanh của mình. Trước khi Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành thì hoạt động cho thuê lại lao động đã được diễn ra một cách tự phát mà vẫn chưa được quy định pháp luật điều chỉnh, Bộ luật Lao động n... 
 
Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật; ngày 27/12/2013, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉ... 
 
Nhằm tập hợp và hệ thống hóa đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành. Đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời những văn bản, những quy phạm trái pháp luật, chồng chéo, mâu thuẩn hoặc không còn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương, góp phần đảm bảo cho công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy b... 
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Ngày 24 tháng 01 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ban hành Quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (sau đây viết tắt là Quy định). Quy định này quy định về các tiêu chí tiếp cận pháp luật của người dân tại địa bàn xã, phường, thị trấn (sau đây viết tắt là tại cơ sở); việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết tắt là địa phương) đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc đánh giá, công nhận, xếp hạng, biểu dương, khen thưởng và giải pháp bảo đảm xây dựng địa phương tiếp cận pháp luật./span/span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Thời gian qua, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) trên địa bàn xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri đã đạt được một số kết quả tích cực. Nhận thức của người dân chấp hành pháp luật về giao thông được nâng lên, các vụ vi phạm giảm so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu vui cho xã An Ngãi Trung trong việc chấn chỉnh trật tự ATGT, đồng thời khẳng định công tác tuyên truyền đang ngày càng phát huy hiệu quả và cần được duy trì mở rộng. /span/span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Luật Phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2006. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012. /span/span/p  
 
Hiện nay, hợp đồng lao động đã trở thành hình thức giao kết có giá trị pháp lý cao để xác lập quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động, các bên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng. Nghĩa vụ này chỉ chấm dứt khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng, công việc trong hợp đồng đã hoàn thành hoặc hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng hay tro... 
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p pspan style="font-size: small;" /span/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w:LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} --span style="font-size: small;" /span!--[endif] --/p pspan style="font-size: small;" /span/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo văn bản; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Hoạt động thẩm định VBQPPL được thực hiện theo Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND; Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND và các văn bản có liên quan. Qua thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thẩm định VBQPPL của tỉnh còn một số khó khăn, vướng mắc.  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w:LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Thực hiện nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật theo quy định tại Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp; năm 2012, Bến Tre đã lựa chọn lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính để tổ chức theo dõi. Qua theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của các sở, ban ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân, Công an các huyện, thành phố; Ủy ban nhân dân và Công an các xã, phường, thị trấn và kết quả kiểm tra thực tế tại 11 đơn vị cấp tỉnh, huyện và xã trên địa bàn tỉnh cho thấy công tác xử lý vi phạm hành chính đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo các cấp, các ngành và địa phương; vai trò phối hợp giữa các ngành, địa phương và các tổ chức, đoàn thể trong quá trình thực hiện từng bước được phát huy; việc tuân thủ các quy trình, trình tự thủ tục trong công tác xử lý vi phạm hành chính được các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền của địa phương quan tâm và thực hiện khá đầy đủ, nghiêm túc.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) và nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC, ngày 08/6/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2524/KH-UBND về tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC năm 2017. Thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 11/7/2017, Sở Tư pháp tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC cho gần 250 cán bộ, công chức đầu mối các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. Ông Nguyễn Đăng Minh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

kstthc2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên của Sở Tư pháp triển khai một số văn bản liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC, các nội dung cơ bản của công tác kiểm soát TTHC, kỹ năng dự thảo Quyết định công bố TTHC, công tác rà soát, kiến nghị đơn giản hóa TTHC.      

kstthc1.jpg

Thông qua Hội nghị, cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã được trang bị kỹ năng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ kiểm soát TTHC, góp phần thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh.

14/07/2017 9:00 SAĐã ban hành
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊADANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏGhi chú
01Nghị định132/2015/NĐ-CP25/12/2015Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa01/7/2016  
16/02/2016 2:00 CHĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013
Ngày 28/10/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Ban Tổ chức Cuộc thi đến dự và phát biểu khai mạc; cùng quý đại biểu thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo; đại biểu đại diện Công an tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát tri...

Ngày 28/10/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Ban Tổ chức Cuộc thi đến dự và phát biểu khai mạc; cùng quý đại biểu thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo; đại biểu đại diện Công an tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bến Tre; lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

Sau hơn hai tháng phát động, Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 có 12 đơn vị dự thi với 14 tiểu phẩm, gồm 8/9 huyện, thành phố và 04 sở, ngành tỉnh gồm: Công an tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tư pháp, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bến Tre. Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 đã phát động sự tham gia của tất cả các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Tuy nhiên, do thời gian phát động ngắn, hình thức dự thi đòi hỏi phải đầu tư cả về nội dung và hình thức thể hiện, kinh phí thực hiện còn hạn chế nên Cuộc thi chưa huy động đầy đủ các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh tham gia.


Về nội dung tiểu phẩm, đa số các đơn vị dự thi đã bám sát chủ đề, nội dung do Ban Tổ chức quy định; nội dung kiến thức pháp luật chính xác, có ý nghĩa giáo dục cao. Về hình thức, nhiều tiểu phẩm thể hiện khá hấp dẫn, bố cục chặt chẽ; bối cảnh, trang phục, đạo cụ, âm thanh phù hợp với nội dung tiểu phẩm; diễn viên thể hiện khá tròn các vai diễn. Về kỹ thuật, chất lượng hình ảnh, âm thanh, ánh sáng được đảm bảo và đúng thời gian quy định. Tuy nhiên, đại đa số các đơn vị dự thi lần này là những đơn vị không chuyên, lần đầu xây dựng tiểu phẩm truyền hình dự thi nên cũng còn những hạn chế về yếu tố kỹ thuật, chất lượng hình, âm thanh chưa tốt, có tạp âm; nội dung xâu chuỗi các vấn đề, xây dựng tình huống còn rời rạc, chưa tạo được cao trào, mâu thuẫn trong câu chuyện.

Ban Tổ chức, Ban giám khảo chọn được 01 tiểu phẩm đạt giải nhất, tiểu phẩm “Cần có một tấm lòng” của đơn vị Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp; 02 tiểu phẩm đạt giải nhì là: Tiểu phẩm “Quà sinh nhật” của đơn vị Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm; tiểu phẩm “Chết chùm” của đơn vị Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam; 03 tiểu phẩm đạt giải ba và 08 tiểu phẩm đạt giải khuyến khích.

Ban Tổ chức đã thống nhất chọn 2 tiểu phẩm đạt giải cao: Tiểu phẩm “Cần có một tấm lòng” của Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp và tiểu phẩm “Quà sinh nhật” của Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm dự thi vòng toàn quốc do Bộ Tư pháp tổ chức.


Cuộc thi tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2013 là một trong những hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016” tại địa phương. Thông qua cuộc thi này, nhằm đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, làm phong phú thêm nguồn tài liệu tuyên truyền, tiếp tục tạo chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, góp phần đẩy lùi tham nhũng.

01/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 18/01/2013Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 18/01/2013

THÔNG BÁO SỐ 73

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Lê Phước Giáo, địa chỉ tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre:

1. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 54;

- Diện tích: 46,8 m2, loại đất: Lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 879287, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP7/01620 do Ủy ban nhân dân Thị xã Bến Tre (nay là Thành phố Bến Tre) cấp ngày 18/03/2008

- Giá khởi điểm: 63.000.000đ (Sáu mươi ba triệu đồng)

- Tài sản tọa lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

2. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 471;

- Diện tích: 1.470,1 m2, loại đất: trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 145150, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP7/01806 do Ủy ban nhân dân Thị xã Bến Tre (nay là Thành phố Bến Tre) cấp ngày 31/03/2008

- Giá khởi điểm: 1.287.000.000đ (Một tỷ hai trăm tám mươi bảy triệu đồng)

- Tài sản tọa lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Phước Giáo do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.350.000.000đ (một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 21/01/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 05/03/2013; địa điểm: tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ (thửa 54), 500.000 đ/hồ sơ (thửa 471) ;

* Khoản tiền đặt trước: 3.000.000đ/hồ sơ (thửa 54), 65.000.000 đ/hồ sơ (thửa 471);

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.


THÔNG BÁO Số 74

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của Công ty TNHH Phước Thịnh (Nguyễn Quang Hiền - Giám đốc), địa chỉ tại: 27C đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Diện tích: 1.000,2 m2;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ 93, thửa đất 232;

- Tài sản tọa lạc tại: xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK489281, số vào sổ cấp giấy chứng nhận HSĐ/03102 cho bà Nguyễn Thị Xuân Trang, không thực hiện việc đo đạc lại.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của Công ty TNHH Phước Thịnh (Nguyễn Quang Hiền - Giám đốc) do Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 2.000.000.000đ ( Hai tỷ đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 21/01/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 05/03/2013; địa điểm: tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/hồ sơ;

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.


THÔNG BÁO Số 75

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Võ Văn Hiền và bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung, địa chỉ: số 235 ấp 1, xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

- Diện tích đất: 1.006,5 m2, loại đất: HNK (đất trồng cây hàng năm khác);

- Thuộc tờ bản đồ số 17, thửa đất 127;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BD 446274 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cấp ngày 31/12/2010

- Tài sản tọa lạc tại: ấp 2, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của của ông Võ Văn Hiền và bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung do Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 550.000.000 đ (Năm trăm năm mươi triệu đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 21/01/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 05/03/2013; địa điểm: tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trước: 28.000.000đ/hồ sơ;

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.

THÔNG BÁO Số 76

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Đông và bà Nguyễn Thị Trang, hiện cư ngụ tại: ấp Hòa Thuận 2, xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

- Diện tích: 6.617 m2;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 515, 1888;

b) Cây trồng trên đất: cây dừa, dừa nước, cam, bưởi, khóm, mít, mận, chuối, xoài…

- Tài sản tọa lạc tại: ấp Hòa Thới, xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Đông và bà Nguyễn Thị Trang bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 282.169.197đ (hai trăm tám mươi hai triệu một trăm sáu mươi chín ngàn một trăm chín mươi bảy đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 21/01/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 05/03/2013; địa điểm: tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ;

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 17, đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 3, thành phố Bến Tre (trong khuôn viên Sở Tư pháp) hoặc điện thoại: 075.3823667 -075.2212166 để biết thêm chi tiết./.

 

30/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 22/8/2018Kết quả lý lịch tư pháp ngày 22/8/2018
23/08/2018 4:00 CHĐã ban hành
Hội nghị trực tuyến về tổng kết Năm An toàn giao thông 2012Hội nghị trực tuyến về tổng kết Năm An toàn giao thông 2012
Sáng ngày 03/01/2013, Ban An toàn giao thông tỉnh dự Hội nghị trực tuyến về tổng kết Năm An toàn giao thông 2012. Ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ tịch Ủy ban an toàn giao thông quốc gia chủ trì hội nghị; tại đầu cầu Bến Tre, ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và các thành viên Ban An toàn giao thông tỉnh Bến Tre đã đến dự.

 

Sáng ngày 03/01/2013, Ban An toàn giao thông tỉnh dự Hội nghị trực tuyến về tổng kết Năm An toàn giao thông 2012. Ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ tịch Ủy ban an toàn giao thông quốc gia chủ trì hội nghị; tại đầu cầu Bến Tre, ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và các thành viên Ban An toàn giao thông tỉnh Bến Tre đã đến dự.

Năm 2012, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành về an toàn giao thông có nhiều đổi mới. Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an toàn giao thông đã được các cấp, các ngành quan tâm, đáp ứng được cơ bản yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước về đản bảo trật tự an toàn giao thông. Công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm giao thông luôn được coi là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông đã có bước đột phá. Nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được tổ chức đồng loạt với quy mô cả nước tạo được dấu ấn và sự quan tâm của xã hội. Nhiều chuyên trang, chuyên mục, diễn đàn về an toàn giao thông được các cơ quan thông tấn, báo chí đầu tư xây dựng; bước đầu góp phần nâng cao nhận thức, ý thức của người tham gia giao thông. Công tác quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép hiện nay đang được thực hiện ngày càng chặt chẽ, theo hướng tăng cường trách nhiệm, đảm bảo thống nhất, công khai, minh bạch. Công tác quản lý hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải đã có chuyển biến tích cực, tinh thần phục vụ nhân dân, hành khách tốt hơn trước.

Tình hình trật tự an toàn xã hội trong cả nước xảy ra 36.409 vụ, làm chết 9.849 người, bị thương 38.064 người. So với cùng kỳ năm 2011, giảm 7.490 vụ (17,06%), giảm 1.647 người chết (14,33%), giảm 9.527 người bị thương (20,02%). Tại Bến Tre đã xảy ra 109 vụ, chết 119 người, bị thương 50. So với cùng kỳ giảm 18 vụ (14,17%), giảm 12 người chết (9,16%), giảm 12 người bị thương (19,35%). Bến Tre là một trong 10 tỉnh có tỷ lệ người chết vì tai nạn giao thông giảm từ 05 đến dưới 10%.

Tuy nhiên, về nhận thức, trách nhiệm trong công tác phối hợp chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của một số lãnh đạo cơ quan, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, thiếu toàn diện; công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý ở một số địa bàn chưa quyết liệt; một số hành vi vi phạm của người điều khiển xe thô sơ chưa được xử lý, ngăn chặn kịp thời; hiện tượng vi phạm quy trình, chế độ công tác và tiêu cực ở một bộ phận cán bộ thuộc lực lượng chức năng vẫn còn xảy ra. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông chưa thật sự huy động được sức mạnh và phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; việc phổ biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông còn hạn chế; trách nhiệm của gia đình trong việc phối hợp với nhà trường quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên chưa được thực hiện nghiêm túc; việc đào tạo, sát hạch và quả lý người điều khiển các phương tiện giao thông còn hạn chế; hầu hết các cơ sở đào tạo chỉ coi trọng việc đào tạo chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng cho học viên; chưa quan tâm giáo dục về văn hoá ứng xử, đạo đức nghề nghiệp và ý thức chấp hành pháp luật giao thông; tình trạng phương tiện vận tải lưu hành không tuân thủ pháp luật diễn ra phổ biến, kéo dài và xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng; tình trạng lái xe chạy quá giờ quy định, chở quá tải trọng vẫn còn xảy ra; tuy các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng giảm so với cùng kỳ năm 2011; nhưng tính chất, mức độ tai nạn giao thông nghiêm trọng vẫn còn xảy ra; số người chết và số người bị thương vẫn còn ở mức cao.

 

04/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 832, 835, 836, 837, 993, tờ bản đồ số 02 tại xã Thới Thuận, Bình Đại, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 832, 835, 836, 837, 993, tờ bản đồ số 02 tại xã Thới Thuận, Bình Đại, tỉnh Bến Tre
20/09/2018 5:00 CHĐã ban hành
Đừng vì quá thươngĐừng vì quá thương
Nhìn con xanh xao ngồi trước điều tra viên trả lời hỏi cung, bà Loan như đứt từng khúc ruột mà không biết phải làm sao, bà chỉ biết tự trách mình vì quá thương con mà giờ đây con bà tội chồng thêm tội.

Nhìn con xanh xao ngồi trước điều tra viên trả lời hỏi cung, bà Loan như đứt từng khúc ruột mà không biết phải làm sao, bà chỉ biết tự trách mình vì quá thương con mà giờ đây con bà tội chồng thêm tội.

Tuân, 17 tuổi là con trai độc nhất của vợ chồng bà Loan. Con bà cũng ngoan chứ không đến nổi quậy quạng như những đứa trẻ khác, luôn có thành tích học tập khá giỏi. Thời gian gần đây Tuân mê chơi điện tử nên có đi sớm về muộn. Một ngày kia, Tuân về thú nhận với mẹ là nợ tiền game quá nhiều không trả nổi mà lại không dám xin mẹ nên Tuân và bạn đã đi trộm một chiếc xe máy ở một phòng nét hay chơi, đem bán lấy tiền trả nợ. Việc đó chỉ hai đứa biết chứ công an và mọi người chưa phát hiện ra, Tuân sợ nên nói bà biết. Do quá thương con bà Loan sợ con đi tù nên không trình báo công an. Bà khuyên con cố gắng học hành nếu còn mê chơi game thì sẽ bị đi tù, còn lại không được nói với ai chuyện chiếc xe để bà tính. Mặc dù bà Loan cũng rất lo sợ việc công an sẽ phát hiện ra nhưng vì quá thương con nên bà đành im lặng, giấu luôn cả chồng.

Căn cứ vào Bộ luật Hình sự, tại Điều 22 quy định về việc không tố giác tội phạm thì “Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại điều 313 Bộ luật này”. Bên cạnh đó những người như ông bà, cha mẹ ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng trong quy định tại điều 313 về tội che giấu tội phạm.

Tuân đã phạm tội trộm cắp tài sản là chiếc xe máy, sau khi giám định tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản theo điều 138 Bộ luật Hình sự, bà Loan có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội không tố giác tội phạm theo điều 314 Bộ luật Hình sự, nhưng nếu bà Loan vì quá thương con mà bao che cho hành vi phạm tội của Tuân thì chính bà đang hại Tuân chứ không phải giúp Tuân. Bà Loan nên khuyên Tuân tự thú với cơ quan công an trước khi hành vi phạm tội kia bị phát hiện. Với thái độ thành khẩn khai báo, tự nguyện sửa chữa lỗi lầm và bồi thường thiệt hại cho người bị hại, thì với lần đầu phạm tội, nhân thân tốt, phạm tội khi tuổi chưa thành niên Tuân có thể sẽ nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Là cha mẹ bà phải biết hướng cho Tuân hiểu đâu là đúng là sai và phải biết chịu trách nhiệm về những hành vi mà mình đã làm, hành vi sai trái thì càng phải có trách nhiệm bởi có thể ảnh hưởng đến người khác. Dùng tình thương che lấp lỗi lầm cho con không những là hành vi trái pháp luật mà còn là hành vi chấp nối cho con phạm tội, chính sự che giấu ấy đã đẩy các em càng lún sâu hơn nữa vào những việc làm sai trái và vô tình làm cho các em có suy nghĩ cha mẹ cũng đồng tình với những việc làm của mình và hậu quả sẽ càng to lớn hơn. Các bậc cha mẹ yêu thương, giáo dục các con và cũng đừng quên nghiêm khắc dạy dỗ khi con phạm sai lầm, đặc biệt là những sai phạm có liên quan đến pháp luật.

(Tên nhân vật đã được thay đổi)

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Cảnh báo số người chết do tại nạn giao thông trong 9 tháng đầu năm 2018 tăng đột biếnCảnh báo số người chết do tại nạn giao thông trong 9 tháng đầu năm 2018 tăng đột biến

Trong 9 tháng đầu năm 2018, mặc dù, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã tập trung quyết liệt các giải pháp phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, tuyên truyền các quy định về an toàn giao thông; tuy có kéo giảm số vụ, số người bị thương, nhưng số người chết do tại nạn giao thông trên địa bàn tỉnh tăng đột biến. Đã xảy ra 186/203 vụ, nhưng số người chết 152/144 người, bị thương 81/108 người; trong đó, tai nạn giao thông đường bộ 143/138 vụ, chết 151/144 người, bị thương 29/33 người; có 08 vụ rất nghiêm trọng, chết 16 người (Châu Thành 02, Ba Tri 02, Mỏ Cày Bắc 02, Bình Đại 01, Giồng Trôm 01), 135 vụ nghiêm trọng, chết 135 người. Địa bàn xảy ra tai nạn giao thông đường bộ có số người chết nhiều nhất như: Châu Thành 27 vụ; Giồng Trôm 23 vụ; Ba Tri, thành phố Bến Tre 18 vụ, Bình Đại, Mỏ Cày Bắc: 17 vụ.

Nguyên nhân xảy ra, có 53 vụ liên quan đến rượu bia; 40 vụ đi không đúng phần đường, làng đường quy định;23 vụ thiếu chú ý quan sát; 21 vụ không làm chủ tay lái; 07 vụ vượt tránh không đúng quy định…

Phương tiện gây tai nạn: mô tô – mô tô: 45 vụ, mô tô - ô tô tải: 18 vụ, mô tô - đi bộ:18 vụ, mô tô tự té: 16 vụ, mô tô - ô tô xe khách: 05 vụ, mô tô - xe so miromoc:03 vụ. Tuyến đường xảy ra tai nạn: Quốc lộ 43 vụ, tỉnh lộ 46 vụ, huyện lộ 22 vụ, lộ xã, ấp 24 vụ. Thời điểm xảy ra tại nạn nhiều nhất: Từ 18h đến < 24h:72 vụ, từ 12 đến < 18h:40 vụ, từ 6h đến <12h:17 vụ, từ 0h đến <6h:14 vụ.

Lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ đã phơi hợp tuần tra, kiểm soát gần 32 nghìn cuộc, phát hiện trên 41 nghìn trường hợp vi phạm, xử lý hành chính trên 36 nghìn trường hợp; trong đó, tổ chức kiểm tra nồng độ cồn 464 cuộc, xử lý trên 2. 800 trường hợp.

Để tập trung chỉ đạo quyết quyết và kiềm chế tai nạn giao thông xảy ra trong 03 tháng cuối năm 2018, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ tình đến cơ sở cần tiếp tục phối hợp thực hiện tốt và có hiệu quả công tác tuyên truyền các quy định về đảm bảo an toàn toàn giao thông ohuf hợp với đối tượng, địa bàn, nhất là đối tượng cá biệt, có nguy cơ vi phạm, tập trung địa bàn nông thôn, tổ  hân dân tự quản, theo các nội dung: về an toàn cho người tham gai giao thông, kiểm soát tốc độ, kiểm soát uống rượu bia đối với người lái xe. Tiếp tục triển khai cuộc vận động xây dựng phong trào “ Văn hóa giao thông với bình yên sông nước”

Tiếp tục phối hợp, đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến đường, và thời gian thường xảy ra tai nạn, mở cao điểm về xử lý tốc độ, nồng độ cồn, trên các tuyến đường trọng điểm; kiên quyết xử lý các hành vi đi không đúng phần đường quy định, vượt đèn đỏ; các phương tiện giao thông vi phạm luồng, tuyến, chỡ quá số người quy định, điều khiển phương tiện không đủ đuều kiện an toàn kỹ thuật, không có giấy phép lái xe…Phối hợp chỉ đạo, xử lý một số đí bàn trong điểm thường xuyên ùn tắc giao thông như tuyến đường vào cầu Rạch Miễu, tuyến QL 60 qua thị trấn Mỏ Cày.

Tập trung xử lý một số điểm đen thường xảy ra tai nạn, khảo sát, dự toán kinh phí, lắp đặt camera ở một số tuyến đường, phơi hợp sơ cấp cứu kịp thời khi có tai nạn giao thông xảy ra.

03/10/2018 4:00 CHĐã ban hành
 Tăng cường tuyên truyền và giáo dục văn hóa giao thông trong thanh thiếu niên học sinh Tăng cường tuyên truyền và giáo dục văn hóa giao thông trong thanh thiếu niên học sinh
Ai cũng biết tai nạn giao thông (TNGT) hiện nay ở nước ta đang là mối quan tâm của toàn xã hội. Có rất nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau về nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng lo ngại trên. Quả thật đây là bài toán còn nhiều vấn đề nan giải của các cấp quản lý và sự thành công thì  phụ thuộc phần lớn ở ý thức của người tham gia giao thông đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên.

Ai cũng biết tai nạn giao thông (TNGT) hiện nay ở nước ta đang là mối quan tâm của toàn xã hội. Có rất nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau về nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng lo ngại trên. Quả thật đây là bài toán còn nhiều vấn đề nan giải của các cấp quản lý và sự thành công thì  phụ thuộc phần lớn ở ý thức của người tham gia giao thông đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên.

Trên cơ sở các yêu cầu đặt ra nhằm giảm thiếu TNGT ở nước ta Ủy ban ATGT quốc gia đã xây dựng nội dung cơ bản về văn hóa giao thông (VHGT), trong đó xác định: "VHGT được biểu hiện bằng hành vi xử sự đúng pháp luật, theo các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, cái đẹp, cái thiện của người tham gia giao thông" và "coi việc tự giác tuân thủ pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông (ATGT) như một chuẩn mực đạo đức truyền thống và là biểu hiện văn minh hiện đại của con người khi tham gia giao thông".

Lẽ phải, cái chuẩn mực đạo đức truyền thống và biểu hiện văn minh hiện đại nói trên thể hiện trước hết ở trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng; tôn trọng, nhường nhịn và giúp đỡ người khác; thái độ ứng xử văn minh lịch sự khi xảy ra va chạm giao thông và tinh thần tôn trọng pháp luật... Khi đã không coi trọng pháp luật giao thông thì người ta cũng chẳng để ý đến cái gọi là “văn hoá giao thông”, đối với giới trẻ hiện nay, tình trạng đó còn đáng báo động hơn. Ở tất cả mọi nơi từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng hay đến miền núi những câu chuyện đau thương về tai nạn giao thông của lứa tuổi thanh thiếu niên vẫn đang diễn ra, để lại những hậu quả nghiêm trọng.

Hằng ngày, giới trẻ đang phải chứng kiến không ít hình ảnh không đẹp mắt về ý thức của người tham gia giao thông như đi ngược chiều, đi trên lề đường, đi vào đường cấm, chở quá số người quy định trên xe. Chính ý thức chấp hành giao thông kém của người lớn đã khiến những kiến thức về Luật ATGT mà giới trẻ tiếp thu được bị vô hiệu hóa.

Vấn đề cốt lõi để xây dựng Văn hoá giao thông là làm chuyển biến nhận thức của học sinh về an toàn giao thông, để làm được điều đó  thì nhà trường và ngành giáo dục phải vào cuộc tích cực, quyết liệt hơn nữa. Bởi đây là môi trường rất thuận lợi giúp cho học sinh có thể thu nhận được những kiến thức cần thiết về pháp luật nói chung, và vấn đề an toàn giao thông nói riêng. Cần có chương trình giáo dục về an toàn giao thông ngay từ bậc tiểu học.

Trên thực tế, việc giáo dục VHGT cho Thanh niên học sinh trong trường học là một vấn đề không quá mới. Bên cạnh những việc làm thiết thực, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng khác nhau trong xã hội để phát huy cho hết những nét tích cực nhất trong mỗi hành động cụ thể khi đoàn viên thanh niên học sinh tham gia giao thông . Thường xuyên nâng cao nhận thức và ý thức tự giác chấp hành pháp luật về giao thông; xây dựng nếp sống văn hóa của thanh thiếu nhi khi tham gia giao thông bằng các hình thức phong phú, đa dạng, gắn lền với quyền lợi và nghĩa vụ của các em. Thông qua giáo dục chúng ta cần hoàn thiện cho đoàn viên học sinh  những nét đẹp truyền thống cũng như hiện đại về cách ứng xử văn hóa trên nhiều lĩnh vực trong đó có giao thông. Phải liên  tục khơi dậy, vun đắp những nét đẹp trong hoạt động giao thông đó.

Xây dựng văn hoá giao thông chính là góp phần giáo dục văn hoá, lối sống đẹp cho thế hệ trẻ, nhằm đảm bảo an toàn cho chính mình và những người xung quanh. Nên phát huy hình ảnh giới trẻ trong việc tuyên truyền văn hóa giao thông nhằm góp phần hạn chế những vấn nạn đang xảy ra hiện nay, vì chính “Giới trẻ là hình ảnh của một tương lai không xa”.

28/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/8/2013Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/8/2013

THÔNG BÁO Số 688

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là các thửa đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

1. Thị trấn Giồng Trôm:

Tổng diện tích đất: 276,1 m2 và nhà làm việc 60,0 m2 bán dạng phế liệu;

2. Xã Hưng Phong:

Tổng diện tích đất: 393,1 m2;

3. Xã Phong Nẫm:

Tổng diện tích đất: 267,0 m2;

4. Xã Tân Thanh:

Diện tích sử dụng 108,8 m2, diện tích lộ giới 41 m2, diện tích tính vào giá bán 67,8 m2.

* Loại đất, giá khởi điểm và diện tích từng thửa của tài sản (1+2+3+4): (có bảng kê chi tiết kèm theo).

- Tài sản 1 tọa lạc tại: thị trấn Giồng Trôm; Tài sản 2 tọa lạc xã Hưng Phong; Tài sản 3 tọa lạc xã Phong Nẫm và tài sản 4 tọa lạc xã Tân Thanh;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng bán đấu giá nộp vào ngân sách nhà nước;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản (1+2+3+4): 2.346.139.000đ (hai tỷ ba trăm bốn mươi sáu triệu một trăm ba mươi chín ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 29/8/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 30/9/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 04/10/2013 tại Hội trường UBND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO Số 691

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Vũ Đình Tùng và bà Phan Thị Hoàng An, địa chí: ấp 5, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm sau:

1) Về đất và tài sản trên đất thuộc tờ bản đồ 47, thửa số 25

- Diện tích đất: 870,1 m2 ( trong đó: 150 m2 đất ở nông thôn, 720,1m2 đất cây lâu năm);

b) Tài sản gắn liền trên đất: cây trồng lâu năm, xung quanh đất đã được rào kẻm gai;

- Giá khởi điểm (1): 1.300.000.000 đ (Một tỷ ba trăm triệu đồng)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AP 816490 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 05/10/2009

2) Về đất và tài sản trên đất thuộc tờ bản đồ 01, thửa 359

- Diện tích đất: 244,2 m2 (trong đó: 77 m2 đất ở nông thôn, 167,2 m2 đất cây lâu năm);

b) Tài sản gắn liền trên đất: cây trồng lâu năm, chưa có tường rào xung quanh đất;

- Giá khởi điểm (2): 600.000.000 đ (Sáu trăm triệu đồng)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 041885 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 22/11/2007

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Vũ Đình Tùng và bà Phan Thị Hoàng An do Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long – Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.900.000.000 đ (Một tỷ chín trăm triệu đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 29/8/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 30/9/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 03/10/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000 đ/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 150.000.000đ/01 hồ sơ;


THÔNG BÁO Số 690

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là là quyền sử dụng đất của ông Lê Phước Giáo, địa chí: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm sau:

1. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 54;

- Diện tích: 46,8 m2, loại đất: Lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 879287, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP7/01620 do Ủy ban nhân dân Thị xã Bến Tre (nay là Thành phố Bến Tre) cấp ngày 18/03/2008

- Giá khởi điểm: 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng)

- Tài sản tọa lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

2. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 471;

- Diện tích: 1.470,1 m2, loại đất: trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 145150, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HP7/01806 do Ủy ban nhân dân Thị xã Bến Tre (nay là Thành phố Bến Tre) cấp ngày 31/03/2008

- Giá khởi điểm: 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng)

- Tài sản tọa lạc tại: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

* Tài sản(1+2) bán theo nhu cầu người sử dụng.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Phước Giáo do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.270.000.000đ (một tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng)

* Tài sản bán theo nhu cầu người sử dụng

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 29/8/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 30/9/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 03/10/2013; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ ( tài sản 1), 500.000 đ/hồ sơ (tài sản 2);

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ (tài sản 1), 100.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 2).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667, fax số : 075-3512080 và website: www.sotuphap.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

10/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 05 và 10/10/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 05 và 10/10/2018

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 191 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá tài sản tịch thu sung vào công quỹ nhà nước gồm 02 (hai) lô xe (danh sách chi tiết kèm theo). Cụ thể:

1. Lô số 01: gồm 184 (một trăm tám mươi bốn) chiếc (trong đó có 20 xe mô tô 03 bánh, 01 xe máy kéo, 163 xe mô tô, xe gắn máy 02 bánh) bán dạng phế liệu. Giá khởi điểm: 454.100.000đ (Bốn trăm năm mươi bốn triệu, một trăm ngàn đồng).

2. Lô số 02: gồm 22 (hai mươi hai) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng được đăng ký lưu hành. Giá khởi điểm: 47.000.000đ (Bốn mươi bảy bảy triệu đồng).

     * Lưu ý: Tài sản bán từng lô và đối với xe bán dạng phế liệu, khách hàng trúng đấu giá khi nhận bàn giao xe phải thực hiện cà số khung, đục số máy, các khoản chi phí người mua chịu.

- Tài sản đang quản lý tại: kho Công an huyện Ba Tri, thuộc thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Công an huyện Ba Tri bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 501.100.000 đ (Năm trăm lẻ một triệu, một trăm ngàn đồng).

  * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ (lô số 01) và 100.000đ/hồ sơ (lô số 02), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước: 90.800.000 đ/hồ sơ (lô số 01) và 9.400.000 đ/hồ sơ (lô số 02) nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/10/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Công an huyện Ba Tri (địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, nhận hồ sơ đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/10/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 16/10/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 18/10/2018.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 187 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng các loại trên đất của ông Trần Văn Mai và bà Huỳnh Thị Hát, hiện cư ngụ tại: ấp Gia Thạnh, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 1.395 m2;

- Loại đất: CLN (trồng cây lâu năm);

- Thuộc tờ bản đồ số 03, thửa đất số 381.

2. Cây trồng các loại trên đất:

- Tài sản toạ lạc tại: xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng các loại trên đất của ông Trần Văn Mai và bà Huỳnh Thị Hát, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 90.965.000đ (Chín mươi triệu, chín trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ ngày 13/11/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 - Tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản.

 - Khoản tiền đặt trước: 18.000.000đ/hồ sơ, chuyển vào tài khoản Trung tâm Dịch vụ đấu giá số 72110000200470 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 188 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, cư ngụ tại: ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 123,3m2;

- Thuộc thửa đất số 442, tờ bản đồ số 01 (thửa mới 7-1, tờ bản đồ số 31);

- Loại đất: Đất ở nông thôn.

2. Công trình xây dựng: Nhà ở

- Diện tích xây dựng là 114,8 m2;

- Kết cấu căn nhà gồm 3 phần:

+ Phần thứ nhất diện tích 46m2, nhà một tầng, móng cột bê tông cốt thép, tường bao che, ngăn phòng, xây gạch dày 100mm, sơn nước, trần nhựa, nền gạch men, mái lợp tole tráng kẽm chiều ngang 3,5m, chiều dài 13,3m.

+ Phần thứ hai diện tích 32,9m2, nền gạch men, mái tole tráng kẽm, không trần, không tường ngăn phòng, móng cột bê tông cốt thép, tường bao che, chưa tô trắng, có gác gỗ diện tích 29,9m2.

+ Phần thứ ba diện tích 35,3m2 nhà một tầng, móng cột bê tông cốt thép, tường bao che, không ngăn phòng, chưa tô, nền xi măng, mái fibrô xi măng, không trần

Cửa chính của căn nhà là cửa sắt (loại cửa kéo) và cửa khung sắt lắp kính, cửa sổ là cửa khung sắt lắp kính.

Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, cột bê tông có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole đã cũ và bị rỉ sét nhiều so với màu sắc ban đầu, tường bị thấm, gác gỗ bị mối mọt, các hiện trạng khác bình thường.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 828.200.631đ (Tám trăm hai mươi chín triệu, hai trăm ngàn, sáu trăm ba mươi mốt đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 165.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 13/11/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 189 (Kèm QC)

            Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Bùi Văn Hạt và bà Nguyễn Thị Nga, địa chỉ tại: xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 4.945m2;

- Loại đất: BHK;

- Thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 26.

- Tài sản tọa lạc: xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng của ông Bùi Văn Hạt và bà Nguyễn Thị Nga, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 261.686.636đ (Hai trăm sáu  mươi mốt triệu, sáu trăm tám mươi sáu ngàn, sáu trăm ba mươi sáu đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 52.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 13/11/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 190 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Huỳnh Mộng Hùng và bà Nguyễn Thị Thu Thùy, cư ngụ tại: ấp Vĩnh Hưng 1, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 424,8 m2 (Trong đó có 10,1m2 đất lộ giới);

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số 343, tờ bản đồ số 6 (thửa gốc số 2931, 3148, tờ bản đồ số 1).         

2. Cây trồng trên đất:

- Cây cam sành (loại 2): 08 cây;

- Cây nhãn suồng cơm vàng (loại 3): 29 cây;

- Cây nhãn (loại 3): 01 cây.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Nhơn Phú, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Huỳnh Mộng Hùng và bà Nguyễn Thị Thu Thùy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 162.947.000đ (Một trăm sáu mươi hai triệu, chín trăn bốn mươi bảy ngàn đồng).

* Lưu ý: Giá khởi điểm trên không bao gồm các khoản phí, lệ phí, thuế các khoản này do người mua trúng đấu giá chịu

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 32.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 13/11/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 192 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Quang Hiền và bà Nguyễn Thị Hồng, hiện cư ngụ tại: số 27C Nguyễn Đình Chiểu, phường 8, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

I. Về đất: Tổng diện tích 1.070,6 m2

1. Thửa 39A, tờ bản đồ số 18

- Diện tích: 1.050,9 m2

- Mục đích sử dụng: 100m2 đất ở đô thị, 833,6m2 đất trồng cây lâu năm và  117,3m2 đất thuộc lộ giới.

2. Thửa đất số 39B, tờ bản đồ số 18

- Diện tích: 6.2 m2 (Phần mộ)

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm

3. Thửa 39C, tờ bản đồ số 18

- Diện tích: 13.5 m2

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm

II. Công trình xây dựng trên đất:

1. Công trình xây dựng không đảm bảo nợ vay

1.1. Nhà hàng An Hòa cũ (khu nhà lớn)

- Diện tích xây dựng: 711m2

- Kết cấu:

+ Tầng hầm: nền láng xi măng, cột bê tông cốt thép, vách tường.

+ Tầng lầu: Nền gạch bóng kiếng, cột bê tông cốt thép, vách tường, trần thạch cao.

+ Sàn: bê tông cốt thép, trang trí hoa văn.

1.2. Nhà ở 2:

- Diện tích xây dựng: 35,1m2. Kết cấu: Nền lát gạch ceramic, cột BTCT, vách tường, trần nhựa, mái tole

1.3. Khu vệ sinh:

- Diện tích xây dựng: 6m2. Kết cấu: Nền lát gạch ceramic, vách tường, cột BTCT, mái tole

1.4. Tường rào bao quanh khu đất:

- Kích thước: Dài 165m, cao 2m. Kết cấu: Trụ BTCT, tường xây gạch

1.5. Hồ nước:

- Số lượng: 02 hồ (hồ đôi). Kích thước: cao 2m, đường kính 1,4m. Kết cấu: sử dụng bê tông đá, có nắp đậy.

1.6. Bồn nước inox đứng:

- Dung tích: 1000 lít. Kết cấu: Inox

1.7. Bồn nước inox nằm ngang:

- Dung tích: 1000lít. Kết cấu: Inox

2. Công trình xây dựng đảm bảo nợ vay: Nhà ở 1

- Diện tích sàn xây dựng: 163,2m2. Kết cấu: Nền lát gạch ceramic, cột BTCT, trần thạch cao, mái tole

III. Cây trồng trên đất

1. Cây cao kiểng: 8 cây (đường kích gốc 15cm trở lên)

2. Cây bưởi da xanh: 01 cây (từ 3 năm tuổi)

3. Chuối: 01 bụi (từ 03 cây trở lên)

- Tài sản toạ lạc tại: Phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Quang Hiền và bà Nguyễn Thị Hồng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (I+II+III): 8.311.625.800đ (Tám tỷ, ba trăm mười một triệu, sáu trăm hai mươi lăm ngàn, tám trăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên chưa bao gồm 2% thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản).

* Khoản tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: 1.660.000.000đ/01 hồ sơ (nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre).

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/11/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 13/11/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 194 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá công quỹ nhà nước gồm 02 lô xe:

Lô số 01:  24 (hai mươi bốn) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng phế liệu. Giá khởi điểm: 34.900.000 đ (Ba mươi bốn triệu, chín trăm ngàn đồng)

Lô số 02:  33 (ba mươi ba) chiếc xe mô tô, xe gắn máy hai bánh các loại bán dạng đăng ký lại. Giá khởi điểm: 121.000.000 đ (Một trăm hai mươi mốt triệu đồng) (có danh sách kèm theo).

     * Lưu ý: tài sản bán chung 02 lô, khách hàng trúng đấu giá, khi nhận bàn giao xe phế liệu phải thực hiện xóa bỏ hết số khung, số máy, các khoản chi phí liên quan đến việc vận chuyển  xe và  xóa bỏ hết số khung, số máy người mua chịu.

- Tài sản đang quản lý tại: kho Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

      - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre bán nộp vào ngân sách nhà nước.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 155.900.000đ (Một trăm năm mươi lăm triệu, chín trăm ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

    * Khoản tiền đặt trước: 31.100.000 đ/hồ sơ nộp chuyển vào Tài khoản số 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

     - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2018 (trong giờ làm việc), tại kho Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre (địa chỉ: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

     - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 09 giờ 30 phút ngày 11/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2018 (trong giờ làm việc).

     - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2018 (trong giờ làm việc).

     - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 23/10/2018


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 181 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Lo và bà Nguyễn Thị Bước, hiện cư ngụ tại: ấp Hòa Bình, xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất do ông Nguyễn Văn Lo đứng tên.

a) Về đất và cây trồng trên thửa đất số 116, tờ bản đồ số 10.

a1) Về đất:

- Diện tích: 1.702,5m2; loại đất: LUA.

- Giá khởi điểm tài sản (a1): 73.930.534đ (Bảy mươi ba triệu, chín trăm ba mươi ngàn, năm trăm ba mươi bốn đồng).

a2) Cây trồng trên đất:

- Dừa loại 1 có 19 cây;

- Dừa loại 2 có 57 cây.

- Giá khởi điểm tài sản (a2): 48.904.670đ (Bốn mươi tám triệu, chín trăm lẻ bốn ngàn, sáu trăm bảy mươi đồng).

b) Về đất và cây trồng trên một phần thửa đất số 14, tờ bản đồ số 10.

b1) Về đất:

- Diện tích: 3.117m2; loại đất: HNK;

- Giá khởi điểm tài sản (b1): 149.071.397đ (Một trăm bốn mươi chín triệu, không trăm bảy mươi mốt ngàn, ba trăm chín mươi bảy đồng).

b2) Cây trồng trên đất:

- Dừa loại 1 có 25 cây;

- Bưởi loại 2 có 04 cây;

- Mận loại 2 có 01 cây.

- Giá khởi điểm tài sản (b2): 23.539.005đ (Hai mươi ba triệu, năm trăm ba mươi chín ngàn, không trăm lẻ năm đồng).

2. Về quyền sử dụng đất do ông Huỳnh Văn Điện đứng tên đã sang nhượng cho ông Nguyễn Văn Lo và bà Nguyễn Thị Bước nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định.

a) Diện tích: 1.111,4m2; loại đất: LUA; thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 10.

- Giá khởi điểm tài sản (a): 48.262.183đ (Bốn mươi tám triệu, hai trăm sáu mươi hai ngàn, một trăm tám mươi ba đồng).

b) Diện tích: 1.246,5m2; loại đất: LUA; thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 10.

- Giá khởi điểm tài sản (b): 54.128.834đ (Năm mươi bốn triệu, một trăm hai mươi tám ngàn, tám trăm ba mươi bốn đồng).

c) Diện tích: 1.555,2m2; loại đất: LUA; thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10.

- Giá khởi điểm tài sản (c): 67.534.069đ (Sáu mươi bảy triệu, năm trăm ba mươi bốn ngàn, không trăm sáu mươi chín đồng).

- Tài sản (1 + 2) toạ lạc tại: xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Lo và bà Nguyễn Thị Bước, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá là: 465. 370.695đ (Bốn trăm sáu mươi lăm triệu, ba trăm bảy mươi ngàn, sáu trăm chín mươi lăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên không bán từng thửa và đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 93.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 09 giờ 30 phút ngày 11/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 14/11/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 193 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Lê Minh Phúc và bà Nguyễn Thị Cẩm Đào, hiện cư ngụ tại: ấp Chợ, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1. Quyền sử dụng đất

- Diện tích: 101,6m2;

- Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn;

- Thuộc thửa đất số 231, tờ bản đồ số 7.

2. Công trình xây dựng gắn liền với đất

a) Nhà ở: Không rõ năm xây dựng

- Diện tích: 89,98m2.

- Kết cấu chủ yếu: Nhà kiên cố cấp 4; Móng, khung, cột bê tông cốt thép; nền lót gạch men có lớp vữa lót; Tường xây gạch có trát vữa xi măng sơn nước hoàn thiện, phần tường mặt tiền trước nhà được ốp gạch men toàn bộ lên đến mái; Mái lợp tole sóng vuông + xà gồ gỗ; Cửa đi chính là cửa sắt kéo; Nhà không xây trần; Phòng ngủ: nền lót gạch men, cửa đi chính là cửa gỗ; Nhà vệ sinh: nền và tường ốp gạch men toàn bộ, cửa đi là cửa nhựa. Hệ thống điện, nước sinh hoạt được lắp đắt hoàn chỉnh.

- Hiện trạng: Công trình đã qua sử dụng và có một số dấu hiệu hư hỏng như: sơn tường bị bong tróc nhẹ, tường xuất hiện vết nứt; nền gạch men bị trầy xước; cửa sắt, mái tole bị gỉ sét nhẹ,… Hiện các kết cấu vẫn ổn định và đang dược sử dụng bình thường.

b) Mái che: Không rõ năm xây dựng

- Diện tích 11,62m2 (4,15m x 2,8m)

- Kết cấu chủ yếu: Cột sắt tròn, kèo và xà gồ bằng gỗ, mái lợp tole tráng kẽm sóng vuông.

- Hiện trạng: Mái tole và cột sắt bị gỉ sét, các kết cấu vận ổn định và sử dụng bình thường.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: xã Thành triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Lê Minh Phúc và bà Nguyễn Thị Cẩm Đào, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 837.401.000đ (Tám trăm ba mươi bảy triệu, bốn trăm lẻ một ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 167.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Ấp Chợ, Xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 12/11/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ phút ngày 14/11/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

* Lưu ý: Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tham gia đấu giá: tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

 Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

16/10/2018 9:00 SAĐã ban hành
Luật Luật sư được sửa đổi, bổ sung năm 2012 có nhiều điểm mớiLuật Luật sư được sửa đổi, bổ sung năm 2012 có nhiều điểm mới
Quốc hội khóa XIII thông qua Luật số 20/2012/QH13 ngày 20/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư (Luật) với nhiều điểm mới.

 

 

Quốc hội khóa XIII thông qua Luật số 20/2012/QH13 ngày 20/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư (Luật) với nhiều điểm mới.

Để nâng cao chất lượng Luật sư, từng bước bảo đảm mặt bằng chung giữa Luật sư với các chức danh tư pháp, theo đó thời gian đào tạo nghề Luật sư tăng lên 12 tháng (khoản 2 Điều 12), theo quy định cũ thì thời gian đào tạo nghề luật sư là 06 tháng. Đồng thời, Luật cũng quy định rút ngắn thời gian tập sự hành nghề luật sư xuống còn 12 tháng so với 18 tháng theo quy định hiện hành. Riêng đối với những người đã là điều tra viên sơ cấp, thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật được giảm hai phần ba thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Người có thời gian công tác ở các ngạch chuyên viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật, thẩm tra viên ngành Tòa án, kiểm tra viên ngành Kiểm sát từ mười năm trở lên thì được giảm một nửa thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Ngoài ra, theo định của Luật thì cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân không được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.

Bên cạnh đó, Luật quy định luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư và chỉ được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động mà không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên.

Luật Luật sư được sửa đổi, bổ sung còn quy định các trường hợp bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư như: không gia nhập một Đoàn luật sư nào trong thời hạn hai năm kể từ ngày được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư; không thành lập, tham gia thành lập hoặc làm việc theo hợp đồng lao động cho một tổ chức hành nghề luật sư hoặc đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân trong thời hạn ba năm, kể từ ngày gia nhập Đoàn luật sư…

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013.

 

03/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/8/2018Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/8/2018
20/08/2018 3:00 CHĐã ban hành
Quy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre
p style="text-align&#58; justify;"!--[if gte mso 9]xml w&#58;WordDocument w&#58;ViewNormal/w&#58;View w&#58;Zoom0/w&#58;Zoom w&#58;PunctuationKerning / w&#58;ValidateAgainstSchemas / w&#58;SaveIfXMLInvalidfalse/w&#58;SaveIfXMLInvalid w&#58;IgnoreMixedContentfalse/w&#58;IgnoreMixedContent w&#58;AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w&#58;AlwaysShowPlaceholderText w&#58;Compatibility w&#58;BreakWrappedTables / w&#58;SnapToGridInCell / w&#58;WrapTextWithPunct / w&#58;UseAsianBreakRules / w&#58;DontGrowAutofit / /w&#58;Compatibility w&#58;BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w&#58;BrowserLevel /w&#58;WordDocument /xml![endif]--/p
pspan style="font-size&#58; small;" /span/p
p style="text-align&#58; justify;"!--[if gte mso 9]xml w&#58;LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w&#58;LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w&#58;LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce&#58;style!&#160;&#160; /* Style Definitions */&#160; table.MsoNormalTable &#123;mso-style-name&#58;"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size&#58;0; mso-tstyle-colband-size&#58;0; mso-style-noshow&#58;yes; mso-style-parent&#58;""; mso-padding-alt&#58;0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin&#58;0cm; mso-para-margin-bottom&#58;.0001pt; mso-pagination&#58;widow-orphan; font-size&#58;10.0pt; font-family&#58;"Times New Roman"; mso-ansi-language&#58;#0400; mso-fareast-language&#58;#0400; mso-bidi-language&#58;#0400;&#125; --span style="font-size&#58; small;" /span!--[endif] --/p
pspan style="font-size&#58; small;" /span/p
p class="MsoNormal" style="text-align&#58; justify;"span style="font-size&#58; small;"Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo văn bản; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Hoạt động thẩm định VBQPPL được thực hiện theo Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND; Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND và các văn bản có liên quan. Qua thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thẩm định VBQPPL của tỉnh còn một số khó khăn, vướng mắc.
Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo văn bản; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Hoạt động thẩm định VBQPPL được thực hiện theo Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND; Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND và các văn bản có liên quan. Qua thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thẩm định VBQPPL của tỉnh còn một số khó khăn, vướng mắc.

1. Quy định của pháp luật về công tác thẩm định – Thực tiễn áp dụng

Về đối tượng thẩm định

Theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND thì Sở Tư pháp có chức năng thẩm định dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình và VBQPPL của UBND tỉnh. Tại Nghị định số 91/2006/NĐ-CP đã hướng dẫn các yếu tố để xác định một VBQPPL đồng thời liệt kê một số văn bản không phải là VBQPPL. Tuy nhiên, trên thực tế để xác định đâu là VBQPPL, đâu không phải là VBQPPL vẫn chưa được thống nhất, còn nhiều ý kiến khác nhau bởi chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là “quy tắc xử sự chung”. Điều đó dẫn đến việc nhận thức để phân định văn bản có phải là VBQPPL hay không; trong nhiều trường hợp, không có sự thống nhất giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định. Ví dụ: Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước, Nghị quyết thông qua quy hoạch … là VBQPPL hay không phải là VBQPPL … Như vậy, do chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là VBQPPPL, đâu không phải là VBQPPL nên đối tượng thẩm định trong một số trường hợp là không xác định được.

Về thời hạn thẩm định

Theo quy định của Luật thì chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan tư pháp để thẩm định. Đồng thời, chậm nhất là bảy ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan soạn thảo. Luật quy định ở đây chậm nhất 15 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp đây là thời gian tối thiểu để gửi văn bản đến cơ quan thẩm định. Trường hợp, cơ quan soạn thảo gửi sớm hơn thời gian này, cơ quan thẩm định sẽ có thêm thời gian để thu thập, nghiên cứu thêm các tài liệu liên quan đến dự thảo thẩm định, trường hợp gửi muộn hơn thì cơ quan thẩm định không đủ thời gian để nghiên cứu làm ảnh hưởng đến chất lượng văn bản. Như vậy, Luật chưa quy định cụ thể thời hạn thẩm định mà chỉ quy định thời hạn ít nhất được quy định trong Luật là 08 ngày. Thực tế, áp dụng quy định của Luật hầu hết việc gửi dự thảo văn bản muộn hơn so với quy định (có trường hợp yêu cầu thẩm định trong một buổi), gây không ít khó khăn cho cơ quan tư pháp trong quá trình thẩm định đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng văn bản sau khi ban hành của tỉnh.

Về giá trị pháp lý của văn bản thẩm định

Luật và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP quy định thẩm định là một khâu bắt buộc trong quy trình soạn thảo và ban hành VBQPPL của tỉnh, không có văn bản thẩm định thì HĐND, UBND sẽ không xem xét đối với dự thảo văn bản đó. Tuy nhiên, quy định của pháp luật cũng chỉ dừng ở đó mà không có quy định cụ thể giá trị pháp lý của văn bản thẩm định. Văn bản thẩm định chỉ được coi như một kênh thông tin, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định, chỉnh lý dự thảo văn bản, trường hợp không tiếp thu thì phải giải trình. Vì vậy, đối với văn bản thẩm định cơ quan soạn thảo có thể tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc không tiếp thu ý kiến thẩm định.

Về việc thực hiện thẩm định

Luật chỉ quy định cơ quan tư pháp cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh. Thực tế, việc thẩm định VBQPPL sẽ được phân công cho một công chức để thực hiện thẩm định, công chức làm việc độc lập, nghiên cứu và dự thảo Báo cáo thẩm định trình lãnh đạo Phòng Xây dựng văn bản xem xét. Sau khi lãnh đạo Phòng duyệt, trình lãnh đạo Sở xem xét và ký ban hành. Thiết nghĩ công tác thẩm định có vai trò quan trọng, đảm bảo văn bản VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh sau khi ban hành phù hợp với quy định của pháp luật; nhưng việc thực hiện văn bản thẩm định lại do một cá nhân nghiên cứu, khó tránh khỏi những sai sót do trình độ năng lực còn hạn chế. Mặt khác, hoạt động thẩm định VBQPPL có liên quan đến nhiều lĩnh vực như: đất đai, xây dựng, phí, lệ phí, …trong khi đó công chức thực hiện chức năng thẩm định chỉ học cử nhân luật. Do đó, đối với việc thẩm định những văn bản chuyên ngành cũng khó có thể thực hiện tốt.

2. Hoàn thiện pháp luật về công tác thẩm định

Để nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của tỉnh, nhất là để hoàn thiện công tác thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh trong thời gian tới cần:

Thứ nhất, quy định cụ thể đối tượng thẩm định văn bản là QPPL. Trên cơ sở đó có tiêu chí để phân biệt đâu là VBQPPL đâu không phải là VBQPPL.

Thứ hai, quy định giá trị pháp lý của văn bản thẩm định, có giá trị bắt buộc trong văn bản Luật. Cơ quan yêu cầu thẩm định có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định.

Thứ ba, quy định bắt buộc về việc thành lập Tổ thẩm định khi thẩm định đối với những VBQPPL phức tạp, có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực trong văn bản Luật hoặc dưới luật. Như vậy, mới có thể hạn chế thấp nhất việc bỏ sót những nội dung không phù hợp với quy định trong dự thảo văn bản, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng văn bản thẩm định.

Thứ tư, quy định thời hạn thẩm định theo hướng gia tăng thời gian thẩm định. Thời hạn thẩm định sẽ được tính kể từ ngày cơ quan tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.


04/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/4/2018Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/4/2018

THÔNG BÁO HĐ 86 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá quyền sử dụng đất công do Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú quản lý đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt bán đấu giá nộp ngân sách, cụ thể như sau:

 

 

 

TT

 

 

Số thửa

 

 

Số tờ

Diện tích (m2)

 

Diện tích đấu giá (m2)

 

Loại đất đấu giá

 

Giá

khởi điểm

(đồng)

 

 

Hình thức

sử dụng đất

 

Phí hồ sơ (đ)

 

Tiền đặt trước (đ)

Tổng diện tích (m2)Trong đó: Lộ giới (m2)
IXã Đại Điền  
016015335,5 335,5ONT139.150.000Giao đất có thu tiền200.00027.000.000
IIXã An Nhơn  
016916478,1432,3478,1NTS26.500.000Cho thuê thời hạn 05 năm1.000.0005.000.000
IIIXã Giao Thạnh  
011691612.925,3 12.925,3NTS82.885.000Cho thuê thời hạn 05 năm1.000.00016.000.000
02113920.005,5 20.005,5NTS125.400.000Cho thuê thời hạn 05 năm1.000.00025.000.000
IVXã Thạnh Phong  
013199.856,5 9.856,5NTS122.188.000Cho thuê thời hạn 10 năm1.000.00024.000.000
VXã Quới Điền  
0134441.543,1 1.543,1TMD98.000.000Cho thuê thời hạn 10 năm1.000.00019.000.000
023454456,3 456,3TMD28.800.000Cho thuê thời hạn 10 năm1.000.0005.500.000

* Lưu ý: Tài sản bán giao đất có thu tiền và cho thuê từng thửa theo nhu cầu người sử dụng.

- Tài sản tọa lạc tại: Xã Đại Điền, xã An Nhơn, xã Thạnh Phong, xã Giao Thạnh và xã Quới Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công do Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre giao xã Đại Điền, An Nhơn, Thạnh Phong, Giao Thạnh và Quới Điền, huyện Thạnh Phú quản lý, do không có nhu cầu sử dụng đấu giá giao đất có thu tiền và cho thuê nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (I+II+III+IV+V): 622.923.000đ (Sáu trăm hai mươi hai triệu, chín trăm hai mươi ba ngàn đồng).

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá đối với từng thửa (theo bảng kê phía trên), nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước đối với từng thửa (theo bảng kê phía trên), nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 02/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Đại Điền, An Nhơn, Thạnh Phong, Giao Thạnh và Quới Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 02/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc)  

- Tổ chức đấu giá vào lúc: 14 giờ ngày 06/6//2018  tại: Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HĐ 87 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình gắn liền trên đất (không thể di dời được) của và bà Nguyễn Thị Sáng, cư ngụ tại: ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thửa 1257, tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 667 m2;

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665096 do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam cấp ngày 20/02/2013, số vào sổ cấp GCN: CH00648.

2. Quyền sử dụng đất thửa 860 tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 300m2;

- Loại đất: Đất ở tại nông thôn;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665095 cấp ngày 20/02/2013 tại Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, số vào sổ CH00647.

3. Tài sản, công trình (không thể di dời được) gắn liền trên đất: nhà ở, nhà trọ cho thuê.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: Ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, nhà ở, nhà trọ cho thuê; tài sản, công trình gắn liền trên đất của bà Nguyễn Thị Sáng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 710.150.000đ (Bảy trăm mười triệu, một trăm năm mươi ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 142.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 02/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 02/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 06/6/2018, tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre), (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).  


THÔNG BÁO HĐ 88 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của bà Trang Thị Nô, cư ngụ tại: ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 187,5m2 (trong đó: 131,8 m2 đất CLN và 55,7 m2 đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường bộ).

- Thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ địa chính số 12.   

2. Công trình xây dựng trên đất

a) Nhà ở: Diện tích: 108,8m2

- Kết cấu: Móng, cột BTCT, tường gạch, nền lát gạch bông 60cm x 60cm, cửa gỗ, mái lợp tole giả ngói mái đỏ, trần thạch cao. Chất lượng còn lại khoảng 88%.

b) Sân nền: diện tích 53,1m2. Chất lượng còn lại khoảng 70%.

c) Hàng rào: Diện tích 29,26m2

- Kết cấu: BTCT, tường gạch, xây lững cao 0,6m, ốp đá, phía trên có lắp khung sắt hình bao che. Chất lượng còn lại 75%.

d) Cổng chính: diện tích 4,32m2

- Kết cấu: BTCT, trụ sơn nước, cửa lắp khung thép hình. Chất lượng còn lại 75%.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: Ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của và bà Trang Thị Nô, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 348.502.000đ (Ba trăm bốn mươi tám triệu, năm trăm lẻ hai ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 69.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 02/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 02/5/2018 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 04/6/2018 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 06/6/2018 (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức đấu giá).

 

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre) và Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Thạnh Phú (thị trấn Thạnh Phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua, liên hệ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 0275.3823667- 0275.3512081 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

14/05/2018 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 11/01/2013Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 11/01/2013

THÔNG BÁO Số 36

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Đinh Văn Chịa, hiện cư ngụ tại: ấp 2, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

* Quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất có tổng diện tích: 2.776,5 m2;

- Loại đất: LNC;

- Thuộc tờ bản đồ số 8-4, thuộc các thửa 5+6+9+10 và 12+13+14;

- Tài sản toạ lạc tại: ấp 2, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Đinh Văn Chịa, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 3.407.986.260đ (ba tỷ bốn trăm lẻ bảy triệu chín trăm tám mươi sáu ngàn hai trăm sáu mươi đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 14/01/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 26/02/2013; địa điểm: tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 200.000.000đ/hồ sơ;

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.

THÔNG BÁO SỐ 37

Tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Tư và bà Nguyễn Thị Bông:

- Diện tích đất: 3.000 m2 đất trồng cây lâu năm, thuộc tờ bản đồ số 10, thửa số 451 (bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 017983 số vào sổ cấp GCN: 000175 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành cấp ngày 25/01/2011) và cây trồng trên đất;

- Tài sản tọa lạc tại: xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Tư và bà Nguyễn Thị Bông quản lý, không có nhu cầu sử dụng, đề nghị bán đấu giá.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 2.700.000.000đ (hai tỷ bảy trăm triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 14/01/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2013

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 26/02/2013; địa điểm: tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 140.000.000đ/hồ sơ;

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.

THÔNG BÁO Số 38

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là các thửa đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

1) Thửa đất số 34, thuộc tờ bản đồ số 11.

- Diện tích: 1.000 m2;

- Loại đất: CLN (đất trồng cây lâu năm).

- Giá khởi điểm: 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng).

2) Thửa đất số 30, thuộc tờ bản đồ số 19.

- Diện tích được sử dụng: 6.778,1 m2;

- Diện tích lộ giới: 416,5 m2;

- Diện tích tính vào giá bán: 6.361,6 m2;

- Loại đất: SKC (đất cơ sở sản xuất, kinh doanh);

- Giá khởi điểm: 6.400.000.000đ (sáu tỷ bốn trăm triệu đồng).

3) Thửa đất số 184, thuộc tờ bản đồ số 23.

- Diện tích: 828,2 m2 (trong đó 300 m2 đất ONT và 528,2 m2 đất lúa).

- Giá khởi điểm: 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng).

* Tài sản 1 tọa lạc tại: xã An Hóa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

* Tài sản 2 tọa lạc tại: thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

* Tài sản 3 tọa lạc tại xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: (1+2+3): 7.020.000.000đ (bảy tỷ không trăm hai mươi triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 14/01/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 25/02/2013; địa điểm: tại Hội trường Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành.

* Lệ phí tham gia đấu giátài sản (1+3): 200.000đ/hồ sơ

* Lệ phí tham gia đấu giátài sản 2: 500.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trướctài sản 1: 12.000.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trướctài sản 2: 350.000.000đ/hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trướctài sản 3: 24.000.000đ/hồ sơ;

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 17, đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 3, thành phố Bến Tre (trong khuôn viên Sở Tư pháp) hoặc điện thoại: 075.3823667 -075.2212166 để biết thêm chi tiết.

.

10/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Một gia đình tan vỡMột gia đình tan vỡ
Trước mặt tôi, chị với hai hàng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt, chị nhờ tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình và viết đơn xin ly hôn. Vội lao đi dòng nước mắt, chị bắt đầu câu chuyện. Chị đã có hai con, vừa bước sang tuổi 35, nhưng vẫn giữ được nét thanh xuân của thời con gái. Người đời vẫn hay nữa đùa nữa thật ví von “hồng nhan bạc phận”, câu nói ấy dường như không sai với cuộc đời của chị...

Trước mặt tôi, chị với hai hàng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt, chị nhờ tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình và viết đơn xin ly hôn. Vội lao đi dòng nước mắt, chị bắt đầu câu chuyện. Chị đã có hai con, vừa bước sang tuổi 35, nhưng vẫn giữ được nét thanh xuân của thời con gái. Người đời vẫn hay nữa đùa nữa thật ví von “hồng nhan bạc phận”, câu nói ấy dường như không sai với cuộc đời của chị. Chị sinh ra và lớn lên tại vùng quê ở mãnh đất Vĩnh Long, chị tên Thanh và con đường học vấn của chị kết thúc khi vừa tốt nghiệp phổ thông. Mười tám tuổi, chị mở một hiệu may nho nhỏ tại nhà bằng tay nghề khéo léo và vốn kiến thức may vá được gia đình truyền lại. Hiệu may tuy nhỏ nhưng với sự khéo tay của cô chủ xinh đẹp, không ít chàng trai đến may áo để được gặp cô chủ làm quen, tiệm may từ đó đã tìm được những khách quen trong đó có anh Hoàng người chị chọn và gửi gấm cuộc đời.

Về làm dâu tại vùng quê Xứ Dừa, chị Thanh luôn biết yêu thương, chung thủy với chồng, hiếu kính và tôn trọng nhà chồng. Bằng chứng cho điều ấy là việc nhà chồng luôn bênh vực, yêu thương và mở cho chị tiệm may nho nhỏ, mặc dù hiện tại cuộc sống hôn nhân đang trên bờ vực thẳm, như lời chị nói “bước tiếp hay quay lại đối với chị đều không là hạnh phúc”. Anh Hoàng là một người có học vấn, có địa vị xã hội, anh vẫn yêu thương con, nhưng với chị, trái tim người đàn ông ấy đã sẻ chia một nữa cho một người phụ nữ khác. Anh cho rằng anh cần một người phụ nữ trí thức, có hiểu biết và hiện đại, sánh bước cùng anh trong những bữa tiệc sang trọng, trong những chuyến công tác tiếp xúc với những người có địa vị, điều mà chị không thể nào làm được, đó cũng là lý do để anh cần thêm một người phụ nữ khác bên cạnh mình.

Một mình chị, tần tảo cùng tiệm may do nhà chồng mở cho, vẫn thừa sức nuôi hai đứa con nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn. Đặc biệt, do sống chan hòa nên nhà chồng luôn yêu thương che chở. Bất lực trước sự phản bội của đứa con trai, cha mẹ chồng của chị chỉ biết yêu thương cháu nội, chia sẻ gánh nặng cùng con dâu. Sự việc tưởng chừng như êm ả, vào khoảng cuối năm 2012 một người phụ nữ được gọi là “vợ nhỏ” của anh Hoàng đến thông báo rằng cô ta sắp sinh cho chồng chị một bé trai bụ bẫm lúc ấy chị Thanh như chết lặng.

Chị đến với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhờ tư vấn và chị mốn ly hôn, chị không mốn kéo dài cuộc sống như vậy nữa, câu hỏi chị đặc ra: “liệu chồng chị có bị xử lý gì không và dù gì đi chăng nữa gia đình bên chồng chị vẫn luôn tốt với chị và các con của chị” .

Như vậy, điều đầu tiên người vợ phải làm khi người chồng có hành vi ngoại tình chính là yêu cầu chính quyền địa phương có biện pháp xử phạt về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Sau khi bị xử lý vi phạm hành chính; nếu người chồng vẫn duy trì mối quan hệ này, thì người vợ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.

Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì “Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Một vấn đề tưởng chừng như chỉ do tình cảm con người, do đạo đức điều chỉnh nhưng ít người phụ nữ nào biết rằng họ là vợ hợp pháp cho nên vẫn được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chấp nhận yêu thương một con người thì không có luật pháp nào điều chỉnh, yêu thương hay không yêu thương là do trái tim quyết định. Như chị Thanh nói:  “Một khi người ta đã mất đi phần hồn thì cho dù mình giữ phần xác cũng không có một ý nghĩa gì”. Nhưng việc chồng chị có hành vi sống chung như vợ chồng với người khác rõ ràng là đã vi phạm pháp luật hình sự. Sau khi được tư vấn chị chấp nhận ly hôn, chấp nhận mất tất cả còn hơn phải chia sẻ. Trong tình cảm, con người ta có quyền ích kỷ, và mọi thứ trên đời đều có thể chia sẻ, ngoại trừ tình yêu.

Mỗi người phụ nữ đều xứng đáng có một người yêu thương của riêng mình, mỗi đứa con đều xứng đáng có một người cha của riêng nó. Đối với chị thà chọn giải pháp ly hôn còn hơn vì chị mà phải gián tiếp làm khổ thêm mọi người dù sao đó cũng là cha các con của chị.

(tên nhân vật đã được thay đổi)

05/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 07/11/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 07/11/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 277 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng các loại trên đất của ông Trần Văn Mai và bà Huỳnh Thị Hát, hiện cư ngụ tại: ấp Gia Thạnh, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 1.395 m2;

- Loại đất: CLN (trồng cây lâu năm);

- Thuộc tờ bản đồ số 03, thửa đất số 381.

2. Cây trồng các loại trên đất:

- Tài sản toạ lạc tại: xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng các loại trên đất của ông Trần Văn Mai và bà Huỳnh Thị Hát, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 90.965.000đ (Chín mươi triệu, chín trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và nhận hồ sơ của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 08 giờ ngày 13/12/2017 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).

 - Tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản.

 - Khoản tiền đặt trước: 18.000.000đ/hồ sơ, chuyển vào tài khoản Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá số 72110000200470 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 283 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của bà Trang Thị Nô, cư ngụ tại: ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 187,5m2 (trong đó: 131,8 m2 đất CLN và 55,7 m2 đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường bộ).

- Thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ địa chính số 12.   

2. Công trình xây dựng trên đất

a) Nhà ở: Diện tích: 108.8m2

- Kết cấu: Móng, cột BTCT, tường gạch, nền lát gạch bông 60cm x 60cm, cửa gỗ, mái lợp tole giả ngói mái đỏ, trần thạch cao. Chất lượng còn lại khoảng 88%.

b) Sân nền: diện tích 53,1m2. Chất lượng còn lại khoảng 70%.

c) Hàng rào: Diện tích 29,26m2

- Kết cấu: BTCT, tường gạch, xây lững cao 0,6m, ốp đá, phía trên có lắp khung sắt hình bao che. Chất lượng còn lại 75%.

d) Cổng chính: diện tích 4,32m2

- Kết cấu: BTCT, trụ sơn nước, cửa lắp khung thép hình. Chất lượng còn lại 75%.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: Ấp Đại An, xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của và bà Trang Thị Nô, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 386.151.800đ (Ba trăm tám mươi sáu triệu, một trăm năm mươi mốt ngàn, tám trăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 77.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hòa Nghĩa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 13/12/2017 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 336 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, hiện cư ngụ tại: 374CC, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có đặc điểm sau:

1. Quyền sử dụng đất:

a) Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 166, 167, tờ bản đồ số 6.

- Thửa đất số 166, diện tích: 740,4m2; loại đất trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số 167, diện tích: 1.345,5m2; loại đất trồng cây lâu năm;

b) Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 337, tờ bản đồ số 6.

- Diện tích: 181,7 m2; loại đất trồng cây lâu năm;

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01227 QSDĐ/2493 QĐ-UB do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 21/6/2004 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ PN/00242 QSDĐ/3891 QĐ-UB (TX) do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp ngày 24/3/2005.

- Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất thửa số 166, 167 ngày 27/4/2017 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Bến Tre và phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 337 ngày 23/12/2015 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Bến Tre.

2. Công trình xây dựng gắn liền trên thửa đất số 166, 167

a) Nhà bán kiên cố: có diện tích 22,63m2. Kết cấu: Nền láng ximăng, khung, cột gỗ, kèo gỗ, vách gỗ, mái tole. Hiện trạng: nhà đã xuống cấp, cột gỗ, vách gỗ mối mọt đục khoét...

b) Hàng rào lưới B40. Kết cấu: cao khoảng 1,6m, dài 194,2md, trụ đỡ BTCT, kèo rào xung quanh các thửa đất. Hiện trạng: Lưới bị gỉ sét, hư hỏng.

3. Cây trồng trên đất:

- Dừa loại 1: 90 cây (trong đó có 03 cây trên thửa đất số 337);

- Dừa loại 3: 10 cây;

- Bưởi da xanh loại 2: 10 cây;

- Nhãn: 01 cây;

- Mận: 01 cây.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Hòa và bà Hà Thanh Bạch, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3): 1.350.547.000đ (Một tỷ, ba trăm năm mươi triệu, năm trăm bốn mươi bảy ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản).

* Khoản tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: 270.000.000đ/01 hồ sơ (nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi).

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 13/12/2017 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 337 (Kèm QC)

            Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Tấn Dũng và bà Phan Thị Phượng, địa chỉ tại: Ấp 1, xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 3.374,5 m2;

- Loại đất: Lúa;

- Thuộc thửa đất số 89, tờ bản đồ số 20.

2. Cây trồng trên đất: Có 07 cây dừa (trong đó 4 cây dừa trên 6 năm tuổi, 3 cây dừa từ 2 đến 6 năm tuổi).

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Tấn Dũng và bà Phan Thị Phượng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 98.773.571đ (Chín mươi tám triệu, bảy trăm bảy mươi ba ngàn, năm trăm bảy mươi mốt đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 150.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 19.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

- Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

- Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

- Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 13/12/2017 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 338 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Hồ Thị Khá và ông Bùi Văn Trẻ, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Tổng diện tích: 9.631,1m2;

- Loại đất: Chuyên trồng lúa nước;

- Thuộc thửa đất số 133 và 134, tờ bản đồ số 4.

2. Cây trồng trên đất:

- Dừa trên 6 năm tuổi loại 2: 77 cây;

- Dừa dưới 6 năm tuổi loại 3: 49 cây.

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Hồ Thị Khá và ông Bùi Văn Trẻ, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 756.462.000đ (Bảy trăm năm mươi sáu triệu, bốn trăm sáu mươi hai ngàn đồng).

   * Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

            - Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 150.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

 - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 13/12/2017 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 339 (Kèm QC)

   Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Huỳnh Kiến Cát Phượng, hiện cư ngụ tại: 101C, ấp Mỹ An C, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm sau:

1. Quyền sử dụng đất:

- Diện tích:  716,4 m2 (trong đó: diện tích lộ giới là 38,7m2);

- Thuộc tờ bản đồ địa chính số 7, thửa đất số 711 (theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc địa chính hiện trạng thửa đất số 1008, tờ bản đồ địa chính số 7);

- Mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm;

2. Công trình xây dựng trên đất:

- Dãy phòng nghỉ có diện tích 235,81m2, nền gạch ceramic, cột bê tông cốt thép, tường xây gạch, trần thạch cao, mái tol thiếc và ngói, phòng trọ kế bức tường chung không kê biên.

- 02 (hai) hồ nước thể tích 06m3.

3. Cây trồng trên đất:

- Dừa trên 8 năm tuổi đang cho trái: 08 cây.

- Tài sản tọa lạc tại: xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Hùynh Kiến Cát Phượng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 2.150.600.367đ (Hai tỷ, một trăm năm mươi triệu, sáu trăm ngàn, ba trăm sáu mươi bảy đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: 430.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 13/12/2017 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

* Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, số 15 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275-3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

17/11/2017 4:00 CHĐã ban hành
Canh bạc ngày xuânCanh bạc ngày xuân

Tết cổ truyền là một nét văn hóa truyền thống tốt đẹp đã được lưu giữ từ xưa đến nay. Nói đến Tết là nói đến đoàn tụ, xum vầy, là thăm hỏi chúc tết với mong muốn mọi điều may mắn sẽ đến với nhau trong năm mới. Trong không khí rộn ràng của những ngày giáp Tết, khi mọi người tất bật sửa soạn, mua sắm, trang trí nhà cửa để chuẩn bị cho một cái Tết thật sung túc và ấm cúng thì một số người dân lại ném tiền vào những canh bạc đỏ đen để rồi mang đến những hệ lụy không đáng có cho bản thân, gia đình và xã hội.

Những ngày nghỉ Tết cũng chính là một trong những cơ hội để những trò đỏ đen được dịp tung hoành. Cờ bạc dịp Tết đã không còn quá xa lạ với chúng ta. Những tiếng rao lô tô, những nhóm đua cá ngựa, những đám đông đá gà hay những sòng bài tây không còn lạ lẫm đối với người dân trong những ngày xuân. Tuy nhiên, rất nhiều người vẫn đang nhầm lẫn hoặc cố tình nhầm lẫn giữa những trò chơi vui xuân với những canh bạc thắng thua.

Thay vì dùng thời gian nhàn rỗi trong dịp Tết để nghỉ ngơi, thăm hỏi, chúc Tết lẫn nhau thì một số cá nhân lại dùng thời gian này để đầu tư vào các canh bạc. Cờ bạc len lỏi khắp các thôn, xóm, từ thành thị đến nông thôn, từ những trò chơi vui xuân có thưởng đến những canh bạc chuyên nghiệp mà giá trị thắng, thua có thể từ vài ngàn đến vài trăm ngàn và có khi đến mức tiền triệu. Không khí vui xuân đang bị lấn át bởi những màn đỏ đen trắng trợn. Không phân biệt trai, gái, già, trẻ, từng tốp người ngồi "xòe quạt" bằng các lá bài tây, thậm chí có khi cả một xóm nhỏ cùng tụ tập để tham gia trò cá cược chọi gà.

Người thắng thì hả hê, người thua thì tức tối, có người vì muốn thắng lại những gì mình đã thua mà không ngần ngại đầu tư từ tài sản cá nhân, đến tài sản của gia đình, để rồi không thể lấy lại những gì đã mất mà mất luôn những gì còn đang có. Một số trường hợp cá biệt vì không chấp nhận kết quả cuộc chơi mà dẫn đến cãi vả, xô xát thậm chí gây thương tích lẫn nhau. Để rồi sau đó, khi những ngày Tết qua đi, kết quả là những con số dày đặt trên bảng thống kê tình hình vi phạm hành chính, vi phạm hình sự của các xã, phường, huyện, thị, là những con số người bị thương, người chết và kèm theo đó là những người đang phải đối diện với các án phạt tù.

Ai cũng biết cờ bạc là vi phạm pháp luật, nhưng dưới danh nghĩa "vui chơi mấy ngày Tết" nên không phải ai cũng có thể nhận thức đầy đủ về hành vi vi phạm của mình. Theo Điều 26, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình thì hành vi đánh bạc trái phép sẽ bị xử lý như sau:

"1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

c) Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;

d) Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;

b) Che giấu việc đánh bạc trái phép.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:

a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép;

b) Dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc;

c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;

d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép.

5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây:

a) Làm chủ lô, đề;

b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;

c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề;

d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có đối với hành vi quy định tại Khoản 1; Khoản 2; Điểm a Khoản 3; Điểm b, c, d Khoản 4 và Khoản 5 Điều này.

7. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 và Khoản 5 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam."

Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người đánh bạc còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội đánh bạc như sau:

"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng".

Riêng đối với các trường hợp tổ chức đánh bạc cũng sẽ bị xử lý theo Điều 249 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, cụ thể:

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Với sự phát triển không ngừng của xã hội thì sự gìn giữ những nét đẹp truyền thống lâu đời hay những lễ hội xuân ấm áp, vui nhộn đáng được người dân tôn trọng, gìn giữ và phát huy. Tuy nhiên, niềm vui ngày Tết không thể tròn đầy khi mà đâu đó vẫn còn có những con người mượn danh ngày Tết để thỏa mãn tính sát phạt trong những trò ăn thua đen đỏ. Mỗi con người chúng ta nên hiểu về ngày Tết một cách đúng nghĩa để tự tìm cho mình những thú vui bổ ích và đón chào một mùa xuân mới thật sự ấm áp tình yêu thương, sum vầy, hạnh phúc.

Lê Cao Nhi

07/02/2017 2:00 CHĐã ban hành
Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ cuối)Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ cuối)

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Qua quá trình triển khai tổ chức thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, bên cạnh các kết quả đạt được, việc thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

a) Về ban hành Danh mục văn bản quy định chi tiết của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Tại khoản 3 Điều 28 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định Sở Tư pháp có trách nhiệm:

"Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định trình Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định danh mục nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh danh mục quyết định của Ủy ban nhân dân quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước".

Tuy nhiên, qua thực tế áp dụng quy định trên gặp một số khó khăn vướng mắc như sau:

Một là, một số luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước giao cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quy định chi tiết một số vấn đề được nêu trong Luật. Tuy nhiên, để quy định được các nội dung này thì cần có Nghị định của Chính Phủ hoặc Thông tư của bộ, ngành hướng dẫn cụ thể.

 Theo khoản 2 Điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật: "Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết". Tuy nhiên, việc ban hành các văn bản quy định chi tiết để hướng dẫn các Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước chưa kịp thời nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc ban hành, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của địa phương. Cụ thể như: Luật Thủy lợi có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 07 năm 2018, có giao thẩm quyền về cho Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định cụ thể giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý sau khi được Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trên cơ sở giá tối đa sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định. Tuy nhiên, hiện nay, Bộ Tài chính chưa có hướng dẫn nội dung này nên một số sở, ban, ngành đề nghị không đưa vào Danh mục văn bản chi tiết phải trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành trong năm 2018 với lý do nếu đưa vào danh mục văn bản quy định chi tiết của Ủy ban nhân dân tỉnh mà Bộ Tài chính chưa có hướng dẫn thì sẽ không ban hành được dẫn đến việc ban hành văn bản bị chậm trể.

Hai là, hằng năm, theo yêu cầu của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành tỉnh căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của ngành mình đăng ký nội dung thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh gửi về Văn phòng Ủy ban nhân dân để tổng hợp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Danh mục nội dung chương trình các kỳ họp thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong Danh mục thông qua thành viên bao gồm các văn bản trong Danh mục văn bản quy định chi tiết của Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật quy định các nội dung đặc thù của tỉnh và các văn bản khác của Ủy ban nhân dân; do đó, việc quy định lập thêm Danh mục văn bản quy định chi tiết sẽ trùng lắp với Danh mục nội dung chương trình các kỳ họp thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật thì khi tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết, Quyết định), cơ quan soạn thảo phải lập đề nghị xây dựng văn bản gửi Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh để tổng hợp, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định. Theo quy định này thì những văn bản đã nằm trong Danh mục văn bản quy định chi tiết của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh và Danh mục nội dung Chương trình các kỳ họp Thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh lại phải tiến hành thêm thủ tục lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Nhằm đơn giản hóa thủ tục trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hạn chế trùng lắp các thủ tục trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề nghị giao rõ cho Sở Tư pháp là cơ quan chủ trì tham mưu lập Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (chứ không chỉ văn bản quy định chi tiết). Đồng thời, đề nghị chỉ quy định lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đối với trường hợp đăng ký bổ sung văn bản quy phạm pháp luật vào Danh mục.

b) Về quy định "Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực" (tại khoản 4 Điều 154 Luật)

Thực tế việc áp dụng quy định này gặp những khó khăn, vướng mắc như sau:

Văn bản quy định chi tiết (cả Trung ương và địa phương) ngoài quy định những nội dung trong văn bản được quy định chi tiết còn quy định, hướng dẫn một số nội dung khác có liên quan hoặc một văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết nội dung của nhiều văn bản quy phạm pháp luật; trong trường hợp này, khi văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy định chi tiết có đương nhiên hết hiệu lực hay không? Mặt khác, nếu các văn bản này đương nhiên hết hiệu lực mà cơ quan có thẩm quyền chưa kịp ban hành văn bản quy định chi tiết thay thế thì sẽ áp dụng quy định nào để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong văn bản quy định chi tiết đã hết hiệu lực?

Thực tế thời gian qua các cơ quan Trung ương như Chính phủ và các Bộ ban hành văn bản thường rất chậm, không đảm bảo quy định nói trên hoặc sát thời điểm văn bản luật có hiệu lực mới ban hành văn bản quy định chi tiết (trong khi đó lại có nội dung giao tiếp về cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh quy định hướng dẫn làm cho địa phương lúng túng trong ban hành văn bản). Nếu áp dụng đúng như quy định nói trên thì thường xuyên có tình trạng có những khoảng thời gian không có văn bản để quản lý.

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 12 Luật quy định: "Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền". Như vậy, các văn bản hết hiệu lực theo quy định tại khoản 4 Điều 154 Luật có cần phải thực hiện thủ tục bãi bỏ hay không?

Từ những khó khăn trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị bỏ quy định tại khoản 4 Điều 154 Luật (áp dụng như quy định cũ tại Điều 81 Luật năm 2008). Để một văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu luật cần phải có quy định rõ ràng, cụ thể (phải bị thay thế, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bằng một văn bản khác).

c) Về quy định đăng tải dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh (Điều 120 Luật).

Theo quy định tại Điều 120 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì dự thảo Nghị quyết Hội đồng nhân dân và Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh cấp tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.

Tuy nhiên, qua thực tế thực hiện việc đăng tải các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh từ năm 2012 (trước ngày Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực) đến nay, hầu hết các cơ quan tham mưu soạn thảo văn bản đều không nhận được ý kiến góp ý từ việc đăng tải này (qua theo dõi chỉ nhận được 01 ý kiến góp ý của cá nhân đối với 01 văn bản quy phạm).

Mặt khác, việc quy định thời gian đăng tải là 30 ngày là khá dài, làm cho quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của địa phương bị kéo dài, không đáp ứng tính kịp thời trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội tại địa phương. Do đó, đề nghị Trung ương xem xét điều chỉnh quy định về thời hạn đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trong Luật từ 30 ngày xuống 10 ngày (bằng thời hạn góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự tác động của văn bản) cho phù hợp.

24/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn  bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01

Luật

 

 15/2012/

QH13

20/6/2012Xử lý vi phạm hành chính
Hết hiệu lực một phần: Khoản 1 Điều 122; Đoạn đầu Khoản 1 Điều 123

Đã được sửa đổi

 bởi Luật Hải quan 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014

02Nghị định

81/2013/

NĐ-CP

19/7/2013Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Còn hiệu lực

Đính chính Khoản 2 Điều 10

Đã được đính chính  bởi Công văn 1500/TTg-PL của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/9/2013
03Nghị định

112/2013/

NĐ-CP

02/10/2013Quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuấtHết hiệu lựcĐã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016
04Nghị định

115/2013/

NĐ-CP

03/10/2013Quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
05Nghị định

165/2013/

NĐ-CP

12/11/2013Quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương  tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự , an toàn giao thông và bảo vệ môi trườngCòn hiệu lực 
​Nghị định
17/2016/NĐ-CP
17/3/2016​

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Còn hiệu lực
06Thông tư

26/2013/

TT-BCT

30/10/2013Quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi mục Đ Điều 3; bổ sung Điểm c Khoản 6 Điều 5; ban hành 07 mẫu ấn thay thế các mẫu ấn quy định tại các khoản 9, 11, 13, 15, 16 và 17 mục B và khoản 2 mục C Điều 3

Đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 13/2015/TT-BCT ngày 16/6/2015
07Thông tư

153/2013/

TT-BTC

31/10/2013Về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử  phạt vi phạm hành chính

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6  Điều 4; Sửa đổi Khoản 2 Điều 5; bổ sung Khoản 2a sau Khoản 2 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Điểm a Khoản 2 Điều 11

Được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư  105/2104/TT-BTC ngày 07/8/2014
08Thông tư

173/2013/

TT-BTC

20/11/2013Về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
09Thông tư

105/2014/

TT-BTC

07/8/2014Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chínhCòn hiệu lực  
10Thông tư

34/2014/

TT-BCA

15/8/2014Quy định về các biểu mẫu đê sử  dụng khi xử  phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Công an nhân dânCòn hiệu lực 
11Thông tư

149/2014/

TT-BTC

10/10/2014Quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để bổ sung vào ngân sách Nhà nướcCòn hiệu lực 
12Thông tư

47/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
13Thông tư

13/2015/

TT-BCT

16/6/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 26/2013/TT-BCT ngày 30/10/2013 của Bộ Công Thương quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trườngCòn hiệu lực  
14Thông tư liên tịch

27/2015/TTLT-BCT-BCA-VKSNDTC-TANDTC

17/8/2015Hướng dẫn chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện để truy cứu trách nhiệm hình sựChưa có hiệu lực 

 

 

08/06/2016 3:00 CHĐã ban hành
Chuyện cây dừaChuyện cây dừa

Hàng xóm láng giềng là một trong những mối quan hệ mật thiết, quan trọng của con người. Tại những vùng quê, mối quan hệ ấy càng được thắt chặt và thể hiện rất rỏ cái gọi là “tình làng nghĩa xóm”. Tuy nhiên, từ sự gần gũi đó đôi lúc cũng phát sinh những mâu thuẫn, có khi chỉ từ những chuyện nhỏ nhặt nhưng nếu không có sự tôn trọng về quyền và lợi ích của nhau thì sẽ dẫn đến tranh chấp, bất hòa.

Ông B và ông Đ là bạn bè lại là hàng xóm lâu năm của nhau, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ hai nhà đều tin tường lẫn nhau, mối quan hệ của hai nhà chẳng khác gì gia đình thân thuộc và những tưởng mối quan hệ ấy sẽ vững bền không có gì thay đổi. Nhưng mọi chuyện chỉ bắt đầu khi có một cây dừa lớn, ra hoa kết trái và đó là một sự đáng tiếc vô cùng lớn cho một mối quan hệ xóm giềng thân thiết.

Cây dừa được ông B trồng trên đất của ông và xác ranh của hai bên gia đình, cây dừa lớn có cành lá de qua mái nhà ông Đ, mỗi lần trời mưa gió cành lá va quẹt vào mái tôn nhà ông Đ kêu rất lớn, ông Đ có yêu cầu ông B đốn bỏ cây dừa nhưng ông B không chịu và cho rằng “chút đỉnh không sao”. Mọi việc dần cho qua, đến một ngày nọ, vì gió lớn nên trái dừa rụng, theo bẹ dừa rớt xuống mái nhà làm bể tôn nhà ông Đ, tôn rớt xuống đất nhưng rất may không có thiệt hại gì nhiều. Sự việc làm ông Đ vừa hoảng sợ vừa tức giận nên kêu ông B lập tức đổn bỏ cây dừa. Ông B vẫn không đồng ý nên ông Đ tự mình leo lên mé hết phần cành lá và cả buồng dừa de qua phần đất nhà ông. Việc làm đó của ông Đ bị ông B và gia đình ông B kịch liệt phản đối, cho rằng ông Đ đang phá hoại tài sản của mình. Hai bên xảy ra cãi vã, không bên nào chịu nhường bên nào và sự việc cứ thế ngày một trở nên nghiêm trọng, người của hai nhà bắt đầu không nhìn mặt nhau, ông B còn buộc ông Đ phải bồi thiệt hại cho mình và thế là tranh chấp thật sự diễn ra.

Theo Bộ Luật Dân sự năm 2015, Điều 175 quy định về ranh giới giữa các bất động sản: Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp. Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác. Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Điều 177 Bộ Luật Dân sự 2015 cũng quy định về việc bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại: Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.

Khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định. Khi xây dựng công trình vệ sinh, kho chứa chất độc hại và các công trình khác mà việc sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường thì chủ sở hữu tài sản đó phải xây cách mốc giới một khoảng cách và ở vị trí hợp lý, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn và không làm ảnh hưởng đến chủ sở hữu bất động sản khác.

Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường.

Từ những quy định trên, cho thấy rằng ông B đã sai trong trường hợp này, khi cây cối có cành lá lấn qua đất của ông Đ, ông B phải chủ động cắt tỉa phần lấn qua đất vì đó là sự xâm phạm quyền sở hữu về mặt không gian của người khác và để tránh gây thiệt hại về người và tài sản của người chủ sử dụng đất bị lấn đó. Trong câu chuyện trên, ông B không những không tự nguyện mà khi được nhắc nhở nhiều lần vẫn không thực hiện, thậm chí khi có thiệt hại xảy ra ông B cũng không khắc phục. Trường hợp nếu có thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của những người trong gia đình ông Đ thì gia đình ông B hoàn toàn chịu trách nhiệm và hậu quả sẽ còn lớn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, ông Đ tự mình đi cắt tỉa cành lá của cây dừa là cũng không đúng theo quy định của pháp luật, vì theo quy định đã nêu thì ông phải yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây.

Câu chuyện trên là một ví dụ điển hình trong việc trồng cây để xác định ranh hoặc trồng cây sát ranh đất. Trồng cây là việc làm rất hữu ít, tuy nhiên trồng cây để xác định ranh hoặc trồng cây sát ranh đất người dân cần tìm hiểu rỏ những quy định của pháp luật để tránh vi phạm pháp luật và tránh được những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, đừng để từ những việc nhỏ có thể xem là vô hại nếu chúng ta không cẩn thận lại dẫn đến chuyện bất hòa, thậm chí tranh chấp xảy ra làm mất đi tình làng xóm láng giềng vốn gần gũi, thân thiết.

24/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy cơ quan  chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủyQuy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy cơ quan  chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy

Ngày 25/7/2018 Ban Bí thư đã ban hành Quy định số 04, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy.

Quy định này gồm 4 chương, 15 điều, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng gồm: văn phòng, ban tổ chức, cơ quan ủy ban kiểm tra, ban tuyên giáo, ban dân vận, ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy. 

Về nguyên tắc tổ chức phải bảo đảm tham mưu, phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của tỉnh ủy; không chồng chéo, trùng lặp chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan tham mưu, giúp việc; bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; không nhất thiết cơ quan tham mưu, giúp việc ở Trung ương có vụ, cục… nào thì ở cấp tỉnh cũng có tổ chức tương ứng; mô hình và quy mô tổ chức bộ máy phải phù hợp với tính chất, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; không nhất thiết tổ chức bộ máy các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy ở các địa phương phải giống nhau. Thực hiện thống nhất văn phòng cấp ủy phục vụ chung các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, ác công việc về hành chính nội bộ (nếu cần) của các cơ quan tham mưu, giúp việc do lãnh đạo cơ quan phân công kiêm nhiệm phù hợp với tình hình cụ thể.

Về đầu mối bên trong của các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy do ban thường vụ tỉnh ủy quyết định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan và định hướng khung của Quy định này; tổng số biên chế được các cấp có thẩm quyền giao. Tối thiểu có năm người mới lập một đầu mối (phòng và tương đương). Phòng có dưới 10 người được bố trí trưởng phòng và một phó trưởng phòng; có từ 10 người trở lên được bố trí không quá hai phó trưởng phòng. Tổng số cấp phó của các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy không quá 15 người (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh không quá 18 người). Số lượng cụ thể cấp phó của mỗi cơ quan do ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy xem xét, quyết định.

Biên chế của các cơ quan tham mưu, giúp việc do ban thường vụ tỉnh ủy xem xét, quyết định trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ, cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm đã được phê duyệt; bảo đảm tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động theo nghị quyết, quy định, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị.

Về trách nhiệm, quyền hạn chung của các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy, thường trực tỉnh ủy trong tham mưu, đề xuất cho cấp ủy và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan mình; được yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh ủy báo cáo, cung cấp hồ sơ, tài liệu phục vụ việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan mình; được cử cán bộ dự các cuộc họp, hội nghị của cấp ủy trực thuộc, các sở, ban, ngành, đảng đoàn, ban cán sự đảng, các cơ quan liên quan bàn về nội dung thuộc lĩnh vực chuyên môn do cơ quan mình phụ trách; thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền của chủ thể kiểm tra, giám sát theo quy định tại Điểm 1.2.1, khoản 1.2, mục 1, phần I Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương quy định thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

          Về tiêu chuẩn chức danh, việc xác định tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, viên chức trong mỗi cơ quan, đơn vị do các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy xây dựng, ban thường vụ tỉnh ủy quyết định phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của địa phương. Về cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức, đối với văn phòng tỉnh ủy: bố trí cán bộ, công chức, viên chức hợp lý, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm của văn phòng. Cơ quan ủy ban kiểm tra tỉnh ủy và các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy bảo đảm cơ cấu cán bộ, công chức hợp lý để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của cơ quan trên cơ sở vị trí việc làm của từng cơ quan.

          Quy định 04 còn cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cho từng cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy và mối quan hệ công tác giữa các cơ quan này với tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy, thường trực tỉnh ủy, các cơ quan tham mưu, giúp việc ở Trung ương; với các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy và MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh; với thường trực HĐND và UBND tỉnh; với cấp ủy và các ban tham mưu, giúp việc của cấp ủy cấp dưới.

Quy định này thay thế Quy định số 219-QĐ/TW, ngày 27/12/2013 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy; Quy định số 183-QĐ/TW, ngày 8/4/2013 của Ban Bí thư khóa XI về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy của ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương.

Thiều Minh Sử (Ban Nội chính Tỉnh ủy).


13/09/2018 5:00 CHĐã ban hành
Triển khai thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ emTriển khai thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
p class="MsoNormal"span style="font-family&#58; arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size&#58; small;"img style='display&#58;none;' src="/PublishingImages/images/stories/Tin-hoat-dong/bao-ve-tre-em.jpg" border="0" style="float&#58; left;" /Thực hiện quyết định số 418/QĐ-BTP ngày 18/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp&#160; Ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 01/9/2009 của Thủ tướng&#160; Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Kế hoạch số&#160; 286/KH-UBND ngày 27/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre thực hiện công tác bảo&#160; vệ, chăm sóc trẻ em/span/span/p
p class="MsoNormal" style="text-align&#58; justify;"span style="font-family&#58; Arial;" /span/p

 

Thực hiện quyết định số 418/QĐ-BTP ngày 18/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 01/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Kế hoạch số 286/KH-UBND ngày 27/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em theo Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010. Ngành Tư pháp Bến Tre đã triển khai các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý đăng ký hộ tịch, quốc tịch; trợ giúp pháp lý trong đó chú trọng bảo đảm quyền được khai sinh và có quốc tịch của trẻ em, bảo đảm tính nhân đạo của hoạt động nuôi con nuôi, tránh lợi dụng để mua bán trẻ em; phòng ngừa tệ nạn tảo hôn. Tăng cường trợ giúp pháp lý cho trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em bị xâm hại tình dục. Đẩy mạnh tuyên truyền góp phần ngăn ngừa tội phạm xâm hại trẻ em, tăng cường hiệu quả giáo dục phục hồi đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Ảnh minh họa

Những nội dung thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói trên thuộc trách nhiệm của toàn ngành Tư pháp từ tỉnh đến cơ sở và phải gắn với hoạt động thường xuyên./.

19/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre tổ chức họp mặt công chứng viênBến Tre tổ chức họp mặt công chứng viên
Ngày 19 tháng 10 năm 2013, lần đầu tiên kể từ khi thực hiện Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng của tỉnh, Sở Tư pháp tổ chức buổi họp mặt công chứng viên của tỉnh để trao đổi rút kinh nghiệm, thống nhất hướng giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tác nghiệp.

Ngày 19 tháng 10 năm 2013, lần đầu tiên kể từ khi thực hiện Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng của tỉnh, Sở Tư pháp tổ chức buổi họp mặt công chứng viên của tỉnh để trao đổi rút kinh nghiệm, thống nhất hướng giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tác nghiệp.

Ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì buổi họp mặt, tham dự buổi họp mặt có Trưởng phòng Bổ trợ tư pháp, Trưởng Phòng công chứng, Trưởng các văn phòng công chứng, tất cả công chứng viên của tỉnh và những người đang được đề nghị bổ nhiệm công chứng viên.

Văn phòng Công chứng Bình Đại

Tại buổi họp mặt, đồng chí Trưởng Phòng Bổ trợ tư pháp thông qua văn bản hướng dẫn chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân cấp huyện, cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng. Bên cạnh đó, thông báo kết quả thực hiện việc xã hội hóa hoạt động công chứng của cả nước và tình hình phát triển công chứng của tỉnh, những thông tin phản hồi từ phía tổ chức, cá nhân trong tỉnh liên quan đến việc xã hội hóa công chứng để các đại biểu tham dự có cách nhìn nhận và chấn chỉnh hoạt động của mình nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu của tổ chức, cá nhân và yêu cầu xã hội hóa. Các đại biểu trao đổi những kinh nghiệm, những khó khăn, vướng mắc và phương hướng tháo gỡ trong thời gian tới với không khí sôi nổi, thân thiện và hợp tác. Hầu hết các đại biểu đều tham gia phát biểu ý kiến và để nghị Sở Tư pháp tổ chức họp mặt định kỳ hàng quý để các công chứng viên có dịp trao đổi học tập và rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động.

Kết thúc buổi họp mặt, ông Lê Minh Hiền đã tóm tắt các ý kiến và đồng ý một số quan điểm giải quyết của công chứng viên, đồng thời sẽ có thông báo bằng văn bản các hướng dẫn thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Tư pháp và tiếp thu phản ánh các kiến nghị thuộc thẩm quyền của cấp trên.

23/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Kỳ đầu)

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Qua quá trình triển khai tổ chức thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, bên cạnh các kết quả đạt được, việc thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

a) Việc thực hiện quy định về lập đề nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì đối với Nghị quyết quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 27 Luật cơ quan soạn thảo phải thực hiện quy trình chính sách: Thực hiện từ Điều 112 đến Điều 117 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trước khi thực thực hiện quy trình soạn thảo. Quy trình chính sách bao gồm các bước như sau:

- Xây dựng nội dung chính sách

          - Đánh giá tác động của chính sách

          - Xây dựng dự thảo Hồ sơ lập đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Thẩm định đề nghị xây dựng Nghị quyết

          - Trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét thông qua đề nghị xây dựng Nghị quyết.

          - Trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét đề nghị xây dựng Nghị quyết, phân công soạn thảo và xác định thời hạn trình Hội đồng nhân dân.

Sau khi thực hiện xong các bước nêu trên, nếu đề nghị xây dựng Nghị quyết được Thường trực Hội đồng nhân dân chấp thuận thì thực hiện tiếp theo quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật từ Điều 118 đến Điều 126 của Luật.

Tuy nhiên, trên thực tế việc đánh giá tác động chính sách được các cơ quan soạn thảo thực hiện lồng ghép trong quá trình xây dựng văn bản nhưng chưa đúng quy trình, thủ tục vì những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành những chính sách đặc thù của tỉnh thường có nội dung ngắn và thực hiện theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nên việc lập đề nghị xây dựng Nghị quyết thực hiện theo ý kiến chỉ đạo và thường bỏ qua bước lập Đề nghị xây dựng Nghị quyết trong quy trình chính sách (gửi Sở Tư pháp thẩm định Đề nghị (thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định), thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh và trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét Đề nghị)

Thứ hai, theo quy định của Luật thì cần phải xây dựng nội dung chính sách sau đó đưa chính sách đó đánh giá tác động, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thông qua thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh rồi mới trình Thường trực HĐND chấp thuận. Nếu chính sách đó được chấp thuận thì cơ quan soạn thảo mới tiến hành xây dựng dự thảo Nghị quyết và thực hiện các quy trình tiếp theo. Tuy nhiên, trên thực tế do nội dung chính sách của địa phương thường ngắn gọn nên  cơ quan soạn thảo tiến hành xây dựng luôn dự thảo Nghị quyết, đánh giá tác động chính sách, tổ chức lấy ý kiến góp ý, thẩm định… và bỏ qua giai đoạn xây dựng chính sách như quy định của Luật.

Qua thực tế theo dõi việc ban hành và triển khai thực hiện các chính sách pháp luật tại địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất điều chỉnh quy định đánh giá tác động chính sách ở địa phương theo hướng lồng gép đánh tác động chính sách vào quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm đơn giản hóa thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tiết kiệm thời gian, công sức cho các cơ quan tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, không tách riêng thành 02 quy trình như quy định của Luật hiện hành.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 111 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì đối với những đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (khoản 1 Điều 27) thì không phải thực hiện quy trình chính sách theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 2 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy định về soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định "đánh giá tác động văn bản trong tất cả các trường hợp kể cả trường hợp dự thảo Quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên". Như vậy, quy trình đánh giá tác động chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và quy trình đánh giá tác động chính sách trong soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thống nhất với nhau.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị sửa đổi quy định tại điểm c khoản 3 Điều 128 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hướng dẫn cụ thể, làm cơ sở để địa phương áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

b) Về ban hành văn bản bãi bỏ

Theo khoản 1 Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Như vậy, theo quy định mới của Luật năm 2015 thì văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh) là văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn triển khai áp dụng quy định này gặp một số khó khăn như sau:

Một là, phần lớn văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để quy định chi tiết điều, khoản điểm được cơ quan Trung ương giao về cho địa phương ban hành, khi các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương làm căn cứ pháp lý ban hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã không còn phù hợp (bị sửa đổi, bổ sung, thay thế) thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cũng không còn phù hợp.

Trong trường hợp nếu văn bản không còn đối tượng điều chỉnh hoặc một phần đối tượng điều chỉnh không còn, hoặc một phần hoặc toàn bộ nội dung không còn phù hợp với căn cứ pháp lý hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội mà không cần thiết phải ban hành văn bản mới thay thế thì ban hành văn bản bãi bỏ (bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản). Như vậy, có thể thấy nội dung của văn bản bãi bỏ rất đơn giản, chỉ cần rà soát các quy định hiện hành của Trung ương thì có thể xác định văn bản đó có cần thiết bãi bỏ hay không bãi bỏ.

Hai là, nếu văn bản bãi bỏ là hình thức văn bản quy phạm pháp luật thì phải ban hành theo trình tự thủ tục của một văn bản quy phạm pháp luật như: Đề nghị xây dựng văn bản, soạn thảo, đăng tải, lấy ý kiến, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua. Trong khi nội dung văn bản bãi bỏ phần lớn chỉ có 2 điều: Một điều quy định về bãi bỏ văn bản nào đó, một điều quy định về tổ chức thực hiện. Đồng thời, kinh phí xây dựng cho một văn bản quy phạm pháp luật theo Thông tư liên tịch số 338/2016/TTLT-BTC-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2016 quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện VBQPPL thì mức chi cho một văn bản bãi bỏ là 10 triệu đồng gây tốn kém ngân sách nhà nước.

Từ những lý do trên, kiến nghị cơ quan Trung ương xem xét điều chỉnh lại nội dung này theo hướng văn bản chỉ có nội dung bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy trình rút gọn tại Điều 146 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đồng thời điều chỉnh lại mức chi kinh phí cho phù hợp với loại văn bản này).

c) Về thực hiện nội dung cấm quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (khoản 4 Điều 14 Luật)

Khoản 4 Điều 14 Luật quy định cấm quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật."

Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 14 thì nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân không được quy định thủ tục hành chính trừ trường hợp được giao trong luật.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Luật thì Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Do đó, trong thực tiễn áp dụng quy định này có một số vướng mắc như sau:

Một số văn bản dưới luật giao hoặc qua thực tế tại địa phương phát sinh một số nội dung cần quy định thủ tục hành chính để triển khai thực hiện các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của địa phương (như ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, hỗ trợ xúc tiến thương mại, ban hành thủ tục xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC …). Trong trường hợp này nếu địa phương không quy định thủ tục để tổ chức, cá nhân nhận được mức hỗ trợ sẽ dẫn đến việc tùy tiện trong thực hiện, không đảm bảo tính công khai, minh bạch; đồng thời có một số cơ quan tự quy định về mẫu đơn, tờ khai và trình tự thủ tục để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân. Còn nếu quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh thì lại trái với khoản 4 Điều 14 Luật (chỉ cho phép quy định trong trường hợp được luật giao).

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh kiến nghị xem xét sửa đổi khoản 4 Điều 14 Luật theo hướng mở rộng thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

d) Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện và cấp xã.

Theo quy định tại Điều 30 của Luật thì Hội đồng cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp được luật giao.

Tuy nhiên, thực tiễn văn bản Luật hầu như không giao thẩm quyền một cách rõ ràng cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã. Mặt khác, trong một số trường hợp văn bản dưới Luật giao hoặc cấp huyện và cấp xã (nhất là cấp huyện) phát sinh vấn đề cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết các vấn đề phát sinh tại địa phương hoặc để thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương; trong trường hợp này nếu ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì lại trái với quy định tại Điều 30 Luật, không ban hành thì cấp huyện và cấp xã gặp khó khăn trong thực hiện chức năng quản lý của mình.

Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị sửa đổi Điều 30 Luật theo hướng cho phép Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã, ngoài trường hợp được Luật giao còn được phép ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một số trường hợp văn bản dưới luật giao. (Còn tiếp kỳ sau)

24/01/2018 11:00 SAĐã ban hành
Đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyệnĐăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện

Ngày 20 tháng 11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Hộ tịch. Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Quán triệt quan điểm phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương, cho cơ sở, Luật Hộ tịch quy định thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo hướng phân cấp mạnh mẽ cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký các việc hộ tịch. Quy định này nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm của chính quyền địa phương; bảo đảm tăng cường vai trò quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tiến tới mục tiêu lâu dài là phân cấp triệt để thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho chính quyền cơ sở khi điều kiện cho phép.

Đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã 

Thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch trong nước của Ủy ban nhân dân cấp xã bao gồm: Đăng ký khai sinh; kết hôn; nhận cha, mẹ, con; giám hộ (bao gồm cả đăng ký chấm dứt, thay đổi giám hộ); đăng ký khai tử; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác) và Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam.

 Về thẩm quyền đăng ký hộ tịch:

Việc khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ.

Việc kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ.

Việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con.

Việc giám hộ được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người giám hộ hoặc người được giám hộ cư trú.

Việc chấm dứt giám hộ được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký việc giám hộ trước đây.

Việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi, bổ sung thông tin hộ tịch được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân thực hiện việc ghi vào sổ việc thay đổi hộ tịch khi nhận được thông báo của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử; trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.

Thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo nơi cư trú trong Luật Hộ tịch được xác định là nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi cá nhân đang sinh sống.

Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch: Thủ tục đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch với các thủ tục khá đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho người có yêu cầu. Cá nhân có yêu cầu đăng ký hộ tịch nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) cho cơ quan đăng ký hộ tịch kèm theo các giấy tờ chứng minh cho sự kiện hộ tịch cần đăng ký (Giấy chứng sinh hoặc văn bản thay thế, giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế giấy báo tử, giấy tờ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con, giấy tờ làm căn cứ chứng minh việc thay đổi, cải chính hộ tịch …)

Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân (một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp còn giá trị sử dụng). Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển tiếp, khi chưa có Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú.

Luật Hộ tịch cũng quy định cụ thể về nội dung đăng ký khai sinh, xác định nội dung đăng ký khai sinh là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được ghi vào Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên quan đến thông tin khai sinh phải phù hợp với nội dung đăng ký khai sinh của người đó (Điều 14). Luật Hộ tịch cũng quy định nguyên tắc cấp Số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh; cập nhật thông tin hộ tịch vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch; về thời hạn, trách nhiệm thực hiện việc đăng ký khai sinh, khai tử; thời gian và trình tự giải quyết các việc đăng ký hộ tịch, bảo đảm chặt chẽ nhưng rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục hành chính so với quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.

 Đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp huyện

Chương III của Luật Hộ tịch quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký các loại việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài và việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú trong nước từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc.

Phạm vi các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài được quy định cụ thể như sau:

- Việc khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch; có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; có cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch. Việc khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh về cư trú tại Việt Nam có cha và mẹ là công dân Việt Nam; có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam.

- Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài; giữa người nước ngoài cư trú tại Việt Nam với nhau.

- Việc giám hộ giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài cùng cư trú tại Việt Nam;

- Việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau mà một hoặc cả hai bên thường trú tại Việt Nam.

- Việc khai tử cho người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam.

Riêng ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được mở rộng hơn (pháp luật hiện hành mới chỉ quy định trình tự, thủ tục ghi vào sổ việc khai sinh, kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài). Để bảo đảm quyền lợi của công dân Việt Nam, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, Luật Hộ tịch quy định: Việc hủy kết hôn, giám hộ và thay đổi hộ tịch, khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cũng được ghi vào sổ hộ tịch theo trình tự, thủ tục quy định tại Chương này.

Thẩm quyền đăng ký: Để thực hiện định hướng lớn về cải cách hành chính, với quan điểm thực hiện phân cấp mạnh cho chính quyền cơ sở, nhằm phát huy năng lực, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, tăng cường vai trò quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện việc đăng ký hộ tịch, Luật Hộ tịch đã giao thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài cho Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên cư trú trong nước, xác định lại dân tộc, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các việc này.

Trình tự, thủ tục đăng ký: Cơ bản, trình tự, thủ tục đăng ký các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện được kế thừa các quy định hiện hành, có đơn giản, rút gọn hơn về quy trình và thời hạn giải quyết một số loại việc hộ tịch (như: việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con đều rút ngắn thời hạn giải quyết). Người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân, một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp còn giá trị sử dụng. Trường hợp người nước ngoài không có hộ chiếu để xuất trình theo quy định thì có thể xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển tiếp, khi chưa có Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì, trước mắt người dân vẫn phải xuất trình các giấy tờ cần thiết.

18/12/2015 9:00 SAĐã ban hành
Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chínhThời hiệu khởi kiện vụ án hành chính

Quyền khởi kiện vụ án hành chính được quy định tại Điều 115 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 "Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó; tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó; cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó".

Tuy nhiên, trong thực tế đời sống xã hội cũng như trong thực tiễn thụ lý đơn khởi kiện, giải quyết các vụ án hành chính tại Tòa án các cấp đã cho thấy không phải người khởi kiện vụ án hành chính nào cũng hiểu rõ, cũng nắm được những quy định của pháp luật liên quan đến quyền khởi kiện hợp pháp của mình, đặc biệt là vấn đề về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính. Bởi việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện vụ án có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án; nó hạn chế thấp nhất việc người khởi kiện sau khi khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì Tòa án lại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vì thời hiệu khởi kiện đã hết.

"Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện".

Theo đó, Khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:

Một năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.

Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau: Một năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai; 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.

Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.

16/03/2017 10:00 SAĐã ban hành
Xã Tân Thủy, huyện Ba Tri ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lýXã Tân Thủy, huyện Ba Tri ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý
Ngày 04 tháng 3 năm 2014, Ủy ban nhân dân xã Tân Thủy phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Ba Tri, Chi nhánh số 01 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức Lễ công bố Quyết định thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Tân Thủy. Tham dự buổi Lễ có ông Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh; đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp huyện Ba Tri, Ủy ban nhân dân xã...

Ngày 04 tháng 3 năm 2014, Ủy ban nhân dân xã Tân Thủy phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Ba Tri, Chi nhánh số 01 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức Lễ công bố Quyết định thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Tân Thủy. Tham dự buổi Lễ có ông Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh; đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp huyện Ba Tri, Ủy ban nhân dân xã Tân Thủy; chuyên viên Chi nhánh số 01 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh và người dân của xã.

Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Tân Thủy có 16 thành viên, ông Nguyễn Văn Triết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm. Tại buổi Lễ, ông Nguyễn Văn Triết đã thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã; thông qua kế hoạch hoạt động và dự trù kinh phí sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã năm 2014. Theo đó, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Tân Thủy sẽ tiếp tục tổ chức sinh hoạt ở 02 điểm, gồm: ấp Tân Bình và ấp Tân Định.

Sau buổi Lễ, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức buổi trợ giúp pháp lý lưu động cho đối tượng được trợ giúp pháp lý và đông đảo người dân địa phương tham dự. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh đã báo cáo hai chuyên đề về Trợ giúp pháp lý, Hôn nhân gia đình và thực hiện tư vấn pháp luật tại chỗ. Tại buổi trợ giúp pháp lý có rất nhiều người dân đặt câu hỏi liên quan đến nhiều lĩnh vực như hộ tịch, hôn nhân gia đình, dân sự, đất đai,…

Đến nay, huyện Ba Tri đã có 09 Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý. Các câu lạc bộ được thành lập không chỉ giúp cho địa phương trong việc tuyên truyền pháp luật mà còn trợ giúp pháp lý cho người dân đặc biệt là người nghèo, người có công, gia đình chính sách…

19/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn