Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện
Ngày 23/5/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2014/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2014.  
 
Hiện nay, do nhu cầu của thị trường mà hoạt động cho thuê lại lao động ngày càng diễn ra phổ biến và sôi nổi, nhiều doanh nghiệp trong nước đã áp dụng hình thức này để đáp ứng cho quá trình kinh doanh của mình. Trước khi Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành thì hoạt động cho thuê lại lao động đã được diễn ra một cách tự phát mà vẫn chưa được quy định pháp luật điều chỉnh, Bộ luật Lao động n... 
 
Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật; ngày 27/12/2013, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉ... 
 
Nhằm tập hợp và hệ thống hóa đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành. Đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời những văn bản, những quy phạm trái pháp luật, chồng chéo, mâu thuẩn hoặc không còn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương, góp phần đảm bảo cho công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy b... 
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Ngày 24 tháng 01 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ban hành Quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (sau đây viết tắt là Quy định). Quy định này quy định về các tiêu chí tiếp cận pháp luật của người dân tại địa bàn xã, phường, thị trấn (sau đây viết tắt là tại cơ sở); việc đánh giá, công nhận, biểu dương, xếp hạng, khen thưởng xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết tắt là địa phương) đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc đánh giá, công nhận, xếp hạng, biểu dương, khen thưởng và giải pháp bảo đảm xây dựng địa phương tiếp cận pháp luật./span/span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Thời gian qua, công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) trên địa bàn xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri đã đạt được một số kết quả tích cực. Nhận thức của người dân chấp hành pháp luật về giao thông được nâng lên, các vụ vi phạm giảm so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu vui cho xã An Ngãi Trung trong việc chấn chỉnh trật tự ATGT, đồng thời khẳng định công tác tuyên truyền đang ngày càng phát huy hiệu quả và cần được duy trì mở rộng. /span/span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Luật Phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2006. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012. /span/span/p  
 
Hiện nay, hợp đồng lao động đã trở thành hình thức giao kết có giá trị pháp lý cao để xác lập quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động, các bên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng. Nghĩa vụ này chỉ chấm dứt khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng, công việc trong hợp đồng đã hoàn thành hoặc hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng hay tro... 
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p pspan style="font-size: small;" /span/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w:LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} --span style="font-size: small;" /span!--[endif] --/p pspan style="font-size: small;" /span/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo văn bản; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Hoạt động thẩm định VBQPPL được thực hiện theo Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND; Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND và các văn bản có liên quan. Qua thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thẩm định VBQPPL của tỉnh còn một số khó khăn, vướng mắc.  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w:LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Thực hiện nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật theo quy định tại Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp; năm 2012, Bến Tre đã lựa chọn lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính để tổ chức theo dõi. Qua theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của các sở, ban ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân, Công an các huyện, thành phố; Ủy ban nhân dân và Công an các xã, phường, thị trấn và kết quả kiểm tra thực tế tại 11 đơn vị cấp tỉnh, huyện và xã trên địa bàn tỉnh cho thấy công tác xử lý vi phạm hành chính đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo các cấp, các ngành và địa phương; vai trò phối hợp giữa các ngành, địa phương và các tổ chức, đoàn thể trong quá trình thực hiện từng bước được phát huy; việc tuân thủ các quy trình, trình tự thủ tục trong công tác xử lý vi phạm hành chính được các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền của địa phương quan tâm và thực hiện khá đầy đủ, nghiêm túc.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Nguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tộiNguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 24/7/2012Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 24/7/2012

THÔNG BÁO số 649

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của bà Nguyễn Thị Anh, hiện cư ngụ tại: 27B, khu phố 1, phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

a) Về đất:

- Diện tích: 82,8 m2 ;

- Loại đất: ODT;

- Thuộc tờ bản đồ số 21, thửa 44;

b) Công trình xây dựng trên đất (nhà chính và nhà phụ):

- Nhà chính: diện tích 35,96 m2 (4,54 x 7,92), nền gạch men, vách tường, khung cột bêtông cốt thép, trần nhựa, mái lợp tole.

- Nhà sau: diện tích 18,462 m2 (3,4 x 5,43 ) nền gạch men, vách tường, khung cột bêtông cốt thép, trần nhựa, mái lợp tole.

- Tài sản tọa lạc tại: phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của bà Nguyễn Thị Anh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 619.704.467đ (sáu trăm mười chín triệu bảy trăm lẻ bốn ngàn bốn trăm sáu mươi bảy đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ (năm trăm ngàn đồng)/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng)/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 25/7/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2012.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 31/8/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO số 654

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và hoa màu trên đất của ông Huỳnh Thanh Hoàng và bà Lê Thị Lệ, hiện cư ngụ tại: 139C, khu phố 6, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

- Diện tích: 3.497,1 m2 ;

- Loại đất: 300 m2 đất thổ cư và 3.197,1 m2 đất trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 05, thửa 151;

b) Hoa màu trên đất gồm: 149 cây seri, 06 cây dừa, 02 cây mít

- Tài sản tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và hoa màu trên đất của ông Huỳnh Thanh Hoàng và bà Lê Thị Lệ, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 2.942.484.083đ (hai tỷ chín trăm bốn mươi hai triệu bốn trăm tám mươi bốn ngàn không trăm tám mươi ba đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ (năm trăm ngàn đồng)/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng)/ 01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 25/7/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2012.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 31/8/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO số 655

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và hoa màu trên đất của bà Trần Thị Ngọc Chuyện, cư ngụ tại: ấp Bình Đông 2, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

Tổng diện tích đất: 5.837 m2 (gồm các thửa số 2389 diện tích 300 m2; loại đất ONT, thửa số 2390 diện tích 3.528 m2 loại đất CLN, thửa số 2392 diện tích 1.929 m2, loại đất CLN), thuộc tờ bản đồ số 4.

b) Phần hoa màu trên đất: (15 cây dừa, 01 cây xoài).

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Mỹ Trạch, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và hoa màu trên đất của bà Trần Thị Ngọc Chuyện, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 607.586.660đ (sáu trăm lẻ bảy triệu năm trăm tám mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ (năm trăm ngàn đồng)/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng)/ 01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 25/7/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2012.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 31/8/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO số 656

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Thành Quơn và bà Huỳnh Thị Bán, hiện cư ngụ tại: 85A2, khu phố 2, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Diện tích: 174,9 m2 ;

- Loại đất: CLN;

- Thuộc tờ bản đồ số 12, thửa số 59;

2) Công trình xây dựng trên đất:

a) Kết cấu chung:

+ Cột bê tông cốt thép; vách tường + vách lá; nền gạch bông; mái lá; khung đỡ mái bằng cây tầm vong; cửa gỗ.

+ Diện tích: 36,38 m2;

b) Các tiện ích khác:

+ Điện kế riêng;

+ Thủy kế riêng;

+ Hiện trạng: đang sử dụng bình thường;

c) Tình trạng:

+ Tường bị thấm ố và có dấu hiệu mục;

+ Mái là và khung đỡ bị mục;

+ Các kết cấu khác ngoại quan bình thường;

- Tài sản tọa lạc tại: 85A2, khu phố 2, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Thành Quơn và bà Huỳnh Thị Bán, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 300.890.120đ (ba trăm triệu tám trăm chín mươi ngàn một trăm hai mươi đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng)/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 25/7/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2012.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 31/8/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO số 657

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Lê Vĩnh Thanh và bà Phạm Thị Thu Nga, hiện cư ngụ tại: 68/686, đường Ngô Quyền, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

a)- Diện tích: 168,1 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 56, thửa 34;

b)- Diện tích 256,6 m2;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 57, thửa cũ 86 (biến động 88);

- Tài sản tọa lạc tại: phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Vĩnh Thanh và bà Phạm Thị Thu Nga, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 209.248.623đ (hai trăm lẻ chín triệu hai trăm bốn mươi tám ngàn sáu trăm hai mươi ba đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 12.000.000đ (mười hai triệu đồng)/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 25/7/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2012.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 31/8/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre.

10/08/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1870, 1852 và 1853 thuộc tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Quới Tây A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1870, 1852 và 1853 thuộc tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Quới Tây A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Quyền và bổn phận của trẻ emQuyền và bổn phận của trẻ em

Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017. Luật có 07 Chương, 106 Điều, có nhiều nội dung mới, trong đó có các quy định mới về quyền và bổn phận của trẻ em.

 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung và được thể hiện cụ thể hơn như:

Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển.

Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.

Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện.

Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

 Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.

Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.

Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.

 Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

 Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

 Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.

Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

 Quyền của trẻ em khuyết tật: Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.

Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Về bổn phận của trẻ em, kế thừa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em.

Bổn phận của trẻ em đối với gia đình: Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ. Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác: Tôn trọng giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác. Thương yêu, đoàn kết, chia sẻ khó khăn, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè. Rèn luyện đạo đức, ý thức tự học, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Giữ gìn, bảo vệ tài sản và chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác.

Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội: Tôn trọng, lễ phép với người lớn tuổi; quan tâm, giúp đỡ người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người gặp hoàn cảnh khó khăn phù hợp với khả năng, sức khỏe, độ tuổi của mình. Tôn trọng quyền, danh dự, nhân phẩm của người khác; chấp hành quy định về an toàn giao thông và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ, giữ gìn, sử dụng tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng và độ tuổi của trẻ em. Phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật.

 Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước: Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước. Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em với bản thân: Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân. Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể. Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang. Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác. Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân.

15/12/2016 4:00 CHĐã ban hành
Tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhânTăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân

Ngày 04/7/2017, Bộ Y tế ban hành Chỉ thị số 04/CT-BYT về việc tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân.

Nội dung Chỉ thị nêu rõ trong thời gian qua, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trong toàn quốc đã đóng góp một phần quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người dân trong cộng đồng, góp phần giảm tải cho các bệnh viện công lập, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân. Đến nay, toàn quốc đã có 206 Bệnh viện tư nhân và trên 30.000 phòng khám tư nhân. Tuy nhiên, bên cạnh các đóng góp tích cực của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, hiện nay qua báo cáo của các Sở Y tế và thực tế Bộ Y tế kiểm tra cho thấy một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, đặc biệt là các phòng khám tư nhân còn vi phạm các quy định về pháp luật khám bệnh, chữa bệnh như: mời bác sỹ người nước ngoài hành nghề khi chưa có chứng chỉ hành nghề; hành nghề quá phạm vi chuyên môn cho phép; sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam; quảng cáo quá phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép; không công khai giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh hoặc có niêm yết giá nhưng thu phí cao hơn giá đã niêm yết; việc lưu đơn thuốc, hồ sơ bệnh án chưa đúng theo quy định của Bộ Y tế.

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế, chấn chỉnh các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn các tỉnh, thành phố, cung cấp các dịch vụ có chất lượng tốt, bảo đảm an toàn cho người bệnh, Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiêm túc thực hiện những nội dung sau đây:

Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và các quy chế chuyên môn cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý.

Tăng cường quản lý người hành nghề thông qua việc đăng ký hành nghề, bảo đảm tất cả người hành nghề phải được cấp chứng chỉ hành nghề và hành nghề đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép.

Đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của Sở Y tế danh sách các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân đã được cấp giấy phép hoạt động trên địa bàn, kèm theo phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động, danh sách và phạm vi hoạt động chuyên môn của người hành nghề tại các cơ sở này để người dân tiện tìm hiểu thông tin trước khi khám bệnh, chữa bệnh.

Yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở (nếu có) và tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh các thông tin sau: Giấy phép hoạt động bao gồm phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động; danh sách, văn bằng chuyên môn và phạm vi hoạt động chuyên môn của người chịu trách nhiệm chuyên môn và người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; tên và địa chỉ cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp để người dân biết và phản ánh khi có sai phạm.

Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất để kiểm tra hoạt động của các cơ sở hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

Thường xuyên kiểm tra biển hiệu quảng cáo, người hành nghề hoạt động chuyên môn của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, việc thực hiện các quy chế chuyên môn. Khi kiểm tra, thanh tra phát hiện cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có sai phạm phải xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật, không bao che sai phạm, thực hiện xử phạt hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, kết hợp với các hình thức phạt bổ sung theo quy định tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ như: tước chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, tước giấy phép hoạt động hoặc đình chỉ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân theo quy định của pháp luật.

Thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân có vi phạm pháp luật về y tế, tính chất, mức độ vi phạm, hình thức xử phạt để nhân dân biết nhằm tăng tính răn đe và phòng ngừa tái phạm.

Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện trong công tác quản lý, giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý, khuyến khích nhân dân cùng giám sát, phát hiện các sai phạm của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để thông báo cho Sở Y tế và chính quyền địa phương xử lý kịp thời.

Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thực hiện quản lý chặt chẽ việc quảng cáo về dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại địa phương. Khi thực hiện xác nhận nội dung quảng cáo phải thẩm định các nội dung quảng cáo, đối chiếu với phạm vi hoạt động chuyên môn do cơ quan có thẩm quyền cho phép, bảo đảm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không quảng cáo quá mức quy định, kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp quảng cáo khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép.

Tăng cường công tác truyền thông để người dân nêu cao cảnh giác khi nghe các quảng cáo quá mức về khả năng khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân.

20/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
Bến Tre: Ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2013Bến Tre: Ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2013
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w:LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngày 04/3/2013, UBND tỉnh Bến Tre đã ký ban hành Kế hoạch số 881/KH-UBND về theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2013. /span/p

Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngày 04/3/2013, UBND tỉnh Bến Tre đã ký ban hành Kế hoạch số 881/KH-UBND về theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2013.

Theo kế hoạch, việc tổ chức theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong năm 2013 sẽ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của địa phương. Trong đó, xác định lĩnh vực trọng tâm cần theo dõi là “Việc thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai áp dụng tại cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre”. Theo đó các đơn vị, địa bàn tổ chức theo dõi bao gồm tất cả các sở, ngành tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh. Riêng đối với lĩnh vực trọng tâm thì Sở Tư pháp sẽ là cơ quan chủ trì và các đơn vị phối hợp, thực hiện gồm có: Sở Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện.

Việc theo dõi thi hành pháp luật bao gồm 03 nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, là xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), cụ thể như: đánh giá về tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết; tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của văn bản.

Thứ hai, là xem xét, đánh giá tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật như: tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật; tính phù hợp của tổ chức bộ máy, mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực, về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật.

Thứ ba, là xem xét, đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực thuộc phạm quản lý, bao gồm: tính kịp thời, đầy đủ trong thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Phương pháp theo dõi: Việc theo dõi sẽ được thực hiện thông qua báo cáo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thu thập các thông tin được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, thông tin do tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp và qua kết quả kiểm tra thực tế từ Đoàn Kiểm tra của tỉnh về việc thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai áp dụng tại cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn tỉnh (đối với lĩnh vực trọng tâm). Bên cạnh đó, UBND tỉnh còn giao cho các sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể lựa chọn phương pháp điều tra, khảo sát thông qua phiếu khảo sát, tọa đàm, phỏng vấn trực tiếp và các hình thức phù hợp khác để thu thập thông tin tùy vào điều kiện thực tế đơn vị, địa bàn mình.

UBND tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức triển khai thực hiện; tham mưu thành lập, tổ chức Đoàn Kiểm tra, tổng hợp kết quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh, báo cáo về Bộ Tư pháp, Chính phủ. Đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm để triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trong những năm tiếp theo./.

11/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Tư pháp Bến Tre: phát động phong trào thi đua năm 2013Tư pháp Bến Tre: phát động phong trào thi đua năm 2013
Nhằm phát huy những kết quả, thành tích đã đạt được trong năm 2012 và tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của mỗi tập thể, cá nhân trong toàn thể, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong ngành tư pháp Bến Tre; phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện tốt các nội dung và mục tiêu các phong trào thi đua đề ra. Ngày 26 tháng 2 năm 2013, Sở Tư pháp tỉnh...

Nhằm phát huy những kết quả, thành tích đã đạt được trong năm 2012 và tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của mỗi tập thể, cá nhân trong toàn thể, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong ngành tư pháp Bến Tre; phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện tốt các nội dung và mục tiêu các phong trào thi đua đề ra. Ngày 26 tháng 2 năm 2013, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 294/KH-STP về phát động phong trào thi đua của ngành Tư pháp Bến Tre năm 2013.

Với chủ đề “Ngành Tư pháp tỉnh Bến Tre tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức cán bộ, đổi mới lề lối làm việc, đoàn kết, sáng tạo, kỷ cương, trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao” . Trong năm 2013, ngành Tư pháp Bến Tre ra sức thi đua, quyết tâm phấn đấu hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao với các nội dung như sau:

Thứ nhất: bám sát nhiệm vụ chính trị tại địa phương, đơn vị, phát huy mọi nguồn lực, vượt qua khó khăn, thách thức; phấn đấu 100% đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong Ngành hoàn thành và hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch công tác của ngành Tư pháp Bến Tre đã được Ủy ban nhân tỉnh phê duyệt. Trong đó, tập trung thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trọng tâm công tác Tư pháp năm 2013.

Phong trào thi đua phải tạo được động lực mới, sự đồng thuận, ý chí quyết tâm cao trong toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, vượt mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2013.

Thứ hai: tập trung xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến, mô hình mới, cách làm hay, gương người tốt, việc tốt, thường xuyên quan tâm nuôi dưỡng, tuyên truyền, phổ biến, phát huy tác dụng lan tỏa của các điển hình tiên tiến. Đồng thời, qua thực tiễn phong trào thi đua phát hiện, xây dựng, nhân rộng ngày càng nhiều các điển hình tiên tiến để làm nòng cốt phát triển phong trào thi đua.

Thứ ba: tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 02/CT-BTP ngày 24 tháng 01 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về đổi mới nội dung, hình thức phong trào thi đua và phương thức tổ chức, chỉ đạo thực hiện phong trào thi đua đi vào thực chất, hiệu quả; lấy kết quả, thành tích thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao là căn cứ chủ yếu để bình xét đề nghị khen thưởng; kết hợp chặt chẽ trong công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết thi đua, khen thưởng với kiểm tra, sơ kết, tổng kết thực hiện các nhiệm vụ công tác tư pháp; tăng tỉ lệ khen thưởng đối với công chức chuyên môn, nghiệp vụ và người lao động; khắc phục biểu hiện máy móc, cứng nhắc, hình thức trong thi đua, khen thưởng.

Thứ tư: củng cố, kiện toàn tổ chức, tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đặc biệt là những đơn vị còn đang còn thiếu biên chế.

Thứ năm: tổ chức triển khai kịp thời, hiệu quả về cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính…gắn với việc từng bước áp dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong các lĩnh vực, đổi mới lề lối làm việc, thực hiện quy trình giải quyết công việc khoa học, hiệu quả.

Thứ sáu: tiếp tục thực hiện sâu rộng, thiết thực, hiệu quả phong trào thi đua “Cán bộ Tư pháp tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định số 819/QĐ-BTP ngày 10 tháng 5 năm 2012 của Bộ Tư pháp. Năm 2013, tập trung quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp ban hành kèm theo Quyết định số 2659/QĐ-BTP ngày 03 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, không để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại đơn vị.

Thứ bảy: tiếp tục thực hiện có hiệu quả các hoạt động của Ngành phục vụ tích cực sự nghiệp xây dựng nông thôn mới theo Kế hoạch phát động của Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Bến Tre. Thủ trưởng các phòng, trung tâm trực thuộc Sở và Phòng Tư pháp các huyện, thành phố tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thuộc phạm vi được giao gắn với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trong các lĩnh vực về xây dựng, thi hành pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến giáo dục pháp luật, hòa giải cơ sở; hành chính tư pháp; bổ trợ tư pháp; lý lịch tư pháp; trợ giúp pháp lý …tập trung khắc phục những hạn chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng nông thôn mới.

Phong trào thi đua được phát động chia làm hai đợt: đợt 1: thời gian từ đầu năm đến ngày 30 tháng 6 năm 2013 và đợt 2: thời gian từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 đến ngày 30 tháng 9 năm 2013 để lập thành tích chào mừng những ngày lễ trọng đại của đất nước.

07/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán ngườiNghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người
Ngày 11 tháng 01 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người (Nghị định).

Ngày 11 tháng 01 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người (Nghị định).

Nghị định này quy định chi tiết về việc cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn Giấy phép thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân; tổ chức, hoạt động của cơ sở hỗ trợ nạn nhân và chế độ hỗ trợ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ hỗ trợ đối với nạn nhân. Theo đó, các tổ chức, cá nhân muốn thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân phải thõa những điều kiện sau: Có trụ sở làm việc ổn định, thuận tiện giao thông; diện tích đất tự nhiên tối thiểu 15 m2/nạn nhân; diện tích phòng ở bình quân 05 m2/nạn nhân; có trang thiết bị, phương tiện phù hợp với nhiệm vụ hỗ trợ nạn nhân; có ít nhất 05 (năm) nhân viên, trong đó 02 (hai) nhân viên có trình độ từ cao đẳng trở lên thuộc chuyên ngành công tác xã hội.

Bên cạnh đó Nghị định còn quy định các trường hợp không cấp Giấy phép thành lập như sau: Tổ chức, cá nhân nước ngoài; tổ chức cá nhân Việt Nam thuộc một trong các trường hợp sau: Không đáp ứng đủ các điều kiện thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của Nghị định; việc thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc lợi dụng việc thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; hồ sơ không hợp lệ.

Nghị định cũng đã quy định cụ thể chế độ hỗ trợ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ hỗ trợ nạn nhân về hỗ trợ nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại; hỗ trợ y tế; hỗ trợ tâm lý; trợ giúp pháp lý; hỗ trợ học văn hóa, học nghề, trợ cấp khó khăn ban đầu; hỗ trợ vay vốn.

Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2013.

06/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng mới các chợ trên địa bàn tỉnh Bến TreChính sách ưu đãi đầu tư xây dựng mới các chợ trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Ngày 30/3/2017, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 19/2017/QĐ-UBND ban hành Quy định quy trình đầu tư và chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng mới các chợ trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy định này quy định các hoạt động về đầu tư xây dựng, kinh doanh, khai thác và quản lý chợ, bao gồm: chợ đầu mối, chợ chuyên doanh, chợ tổng hợp, chợ dân sinh, chợ tạm và chợ nông thôn (sau đây gọi chung là chợ) của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và hợp tác xã, bao gồm các hoạt động như: đầu tư xây dựng mới bằng 100% nguồn vốn của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và hợp tác xã; đầu tư xây dựng mới bằng nguồn vốn của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và hợp tác xã có vốn góp của các thương nhân kinh doanh trong chợ và các nguồn vốn huy động khác (sau đây gọi chung là đầu tư xây dựng chợ).

* Về chủ trương đầu tư

 Hàng năm UBND cấp huyện có trách nhiệm lập kế hoạch đầu tư xây dựng mới các chợ trên địa bàn trong năm và tổ chức lấy ý kiến của các thương nhân đang kinh doanh tại chợ về chủ trương kêu gọi đầu tư xây dựng các chợ này, nếu được sự đồng thuận từ 80% trở lên của tổng số các thương nhân kinh doanh tại chợ, thì UBND cấp huyện phối hợp với các ngành có liên quan lập danh sách chợ cần đầu tư trong năm để kêu gọi đầu tư.

 Khi có 01 (một) nhà đầu tư đăng ký đầu tư xây dựng, kinh doanh khai thác và quản lý chợ thì UBND cấp huyện hỗ trợ nhà đầu tư lập phương án kinh doanh và tổ chức lấy ý kiến của các thương nhân kinh doanh trong chợ. Phương án kinh doanh khi lấy ý kiến phải thể hiện đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ của nhà đầu tư và của các thương nhân kinh doanh trong chợ, bao gồm một số nội dung cơ bản như: phương án thiết kế, diện tích quầy, cách bố trí vị trí kinh doanh cho các thương nhân kinh doanh tại chợ cũ khi hoạt động trong chợ mới, mức thu, hình thức thu giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ; tiền thuê sử dụng địa điểm kinh doanh tại chợ (nếu có). Trong các trường hợp cụ thể như sau:

Trường hợp xây dựng mới trên nền chợ cũ, UBND cấp huyện chủ trì phối hợp với nhà đầu tư lấy ý kiến của các thương nhân kinh doanh trong chợ về phương án kinh doanh, nếu được sự đồng thuận 100% thương nhân trong chợ thì tổ chức thực hiện dự án. Trong trường hợp các chợ xuống cấp nghiêm trọng, không an toàn trong kinh doanh, không đảm bảo vệ sinh môi trường mà lấy ý kiến các thương nhân đang kinh doanh trong chợ không đảm bảo tỉ lệ đồng thuận 100%, thì giao UBND cấp huyện phối hợp với các ngành có liên quan để xem xét, quyết định đầu tư hay không đầu tư.

Trường hợp xây dựng trên diện tích mới nhằm thay thế chợ cũ không phù hợp quy hoạch, UBND cấp huyện chủ trì phối hợp với nhà đầu tư lấy ý kiến của thương nhân kinh doanh tại chợ cũ về phương án kinh doanh, di dời sang chợ mới, nếu được ý kiến đồng thuận 100% số thương nhân kinh doanh trong chợ cũ thì triển khai dự án.

 Trường hợp có từ 2 (hai) nhà đầu tư trở lên cùng đăng ký đầu tư xây dựng, khai thác và quản lý cùng 01 (một) chợ, thì UBND cấp huyện tổ chức lấy ý kiến của thương nhân kinh doanh tại chợ về phương án kinh doanh của các nhà đầu tư để thương nhân quyết định lựa chọn nhà đầu tư phù hợp.

Trình tự, thời gian cấp quyết định chủ trương đầu tư của UBND tỉnh: Trên cơ sở danh mục kêu gọi đầu tư chợ của UBND cấp huyện và kết quả tổ chức lấy ý kiến của các thương nhân đang kinh doanh tại chợ về phương án kinh doanh của nhà đầu tư, nhà đầu tư nộp hồ sơ dự án đầu tư theo quy định tại Khoản 1, Điều 33, Luật Đầu tư tại Sở Kế hoạch và Đầu tư theo hình thức trực tiếp hoặc qua đường bưu điện. Trình tự, thời gian cụ thể thực hiện theo quy tại Điều 33, Luật Đầu tư và các quy định của UBND tỉnh Bến Tre. 

UBND cấp huyện có trách nhiệm chủ trì phối hợp với nhà đầu tư công bố rộng rãi để nhân dân biết về quyết định chủ trương đầu tư xây dựng chợ.

*Một số chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng chợ

Chính sách về đất đai: Đối với dự án đầu tư xây dựng chợ nông thôn thuộc lĩnh vực nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư nếu được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, nhà đầu tư được hưởng chính sách ưu đãi về đất đai theo quy định tại Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND ngày 30 tháng 01 năm 2015 của UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quy định chính sách ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

 Nhà đầu tư được xây dựng chợ kết hợp với kinh doanh phân lô đất ở trên cơ sở phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, quy hoạch xây dựng, quy hoạch phát triển thương mại và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

 Thời gian thuê đất để kinh doanh, khai thác chợ: Trường hợp nhà đầu tư được UBND tỉnh cho thuê đất thì thời gian cho thuê đất để đầu tư xây dựng, kinh doanh chợ được xem xét quyết định theo dự án đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư nhưng không quá 50 (năm mươi) năm. 

 Thời gian kinh doanh, khai thác chợ: Trường hợp chưa hết thời gian thuê đất mà nhà đầu tư không muốn tiếp tục kinh doanh, khai thác và quản lý chợ thì được phép chuyển nhượng tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác để tiếp tục kinh doanh, quản lý chợ. Nhà đầu tư phải thanh lý hợp đồng thuê mặt bằng với các thương nhân kinh doanh trong chợ trước khi chuyển nhượng tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác.

Nếu hết thời hạn thuê đất mà nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục kinh doanh, khai thác thì có văn bản đề nghị UBND tỉnh để gia hạn thời gian kinh doanh, khai thác và quản lý chợ. Trường hợp nhà đầu tư không muốn gia hạn thời gian thuê đất để tiếp tục kinh doanh chợ thì nhà đầu tư chuyển giao hiện trạng tài sản lại cho cơ quan có thẩm quyền quản lý chợ theo phân cấp quản lý.

 Các chính sách ưu đãi khác: Nhà đầu tư được quyền kêu gọi góp vốn của thương nhân kinh doanh tại chợ, trên cơ sở thỏa thuận với thương nhân bằng văn bản, phải công khai và phải được UBND cấp huyện phê duyệt, nhưng không vượt hơn giá trị đăng ký sử dụng hoặc thuê điểm kinh doanh tại chợ của từng thương nhân và huy động các nguồn vốn khác theo quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 5, Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ. Việc góp vốn thực hiện theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 14, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và số vốn huy động không được vượt quá 70% tổng vốn đầu tư xây dựng chợ (vốn huy động là phần vốn góp của các thương nhân kinh doanh tại chợ; không phải là các khoản thu từ hoạt động của chợ, hiện nay khoản thu này được quy định tại Thông tư số 67/2003/TT-BTC ngày 11 tháng 8 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng cho Ban Quản lý chợ, doanh nghiệp kinh doanh khác thác và quản lý chợ).

Nhà nước hỗ trợ tập huấn, bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn về nghiệp vụ kinh doanh, quản lý chợ cho cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Ngoài ra, Quyết định số 19/2017/QĐ-UBND quy định trách nhiệm của nhà đầu tư:

Có trách nhiệm lấy ý kiến các thương nhân kinh doanh tại chợ trước khi được cấp chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư; thực hiện đầy đủ các thủ tục có liên quan đến việc đầu tư xây dựng chợ, các hạng mục công trình phải được tổ chức nghiệm thu và hoàn công trước khi đưa vào khai thác.

Trong quá trình đầu tư xây dựng chợ, nhà đầu tư muốn thay đổi nội dung hồ sơ thiết kế, dự toán công trình, phương án kinh doanh, phương án đền bù giải phóng mặt bằng đã được phê duyệt, nhà đầu tư phải có văn bản xin ý kiến UBND cấp huyện về nội dung thay đổi và phải được UBND cấp huyện phê duyệt trước khi triển khai thực hiện. Ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư xây dựng chợ quy định tại Điều 5 của Quyết định này.

Trước khi đưa chợ mới đi vào hoạt động, nhà đầu tư phải xây dựng, đăng ký Nội quy hoạt động của chợ theo quy định và công bố rộng rãi cho các thương nhân kinh doanh tại chợ; trang bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết theo quy định, đảm bảo thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn của tiêu chí số 7 tiêu chí xây dựng nông thôn mới để chợ hoạt động được ổn định, trật tự, đảm bảo an toàn, có hiệu quả.

Trong quá trình hoạt động quản lý chợ, mỗi lần điều chỉnh giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ, nhà đầu tư phải thực hiện theo quy định hiện hành và công khai tạo sự đồng thuận của các thương nhân kinh doanh tại chợ.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2017 và thay thế Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND ngày 22 tháng 01 năm 2013 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định quy trình đầu tư và chính sách ưu đãi đầu tư xây dựng mới các chợ trên địa bàn tỉnh Bến Tre. 

03/05/2017 8:00 SAĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 21/02/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 21/02/2017
21/02/2017 2:00 CHĐã ban hành
Cũng tại con gàCũng tại con gà
Ông bà ta ngày xưa có câu “Bán bà con xa mua láng giềng gần”, câu nói ấy nhắc nhở mọi người phải biết quý trọng tình làng nghĩa xóm. Thế nhưng, đôi khi chỉ vì mâu thuẩn không đáng có mà đánh mất đi mối quan hệ tình làng nghĩa sớm bấy lâu nay gia đình ông T và gia đình bà H luôn gắn bó.

 

 

Ông bà ta ngày xưa có câu “Bán bà con xa mua láng giềng gần”, câu nói ấy nhắc nhở mọi người phải biết quý trọng tình làng nghĩa xóm. Thế nhưng, đôi khi chỉ vì mâu thuẩn không đáng có mà đánh mất đi mối quan hệ tình làng nghĩa sớm bấy lâu nay gia đình ông T và gia đình bà H luôn gắn bó.

Ông T đang ngồi uống nước trà cùng với mấy ông bạn già cùng sớm. Bà M vợ ông T vội chạy vào nhà kêu ông T: chuyện to rồi ông ơi, ngày hôm qua mấy con gà nhà mình qua phá vườn nhà bà H, bà H đưa đơn ra xã kiện rồi. Ông T nói với giọng thản nhiên: có gì đâu mà bà lo, bà H đi kiện mình đi hầu, chuyện có vậy mà bà H đi kiện ai mà giải quyết. Bà H đã gửi đơn đến Ủy ban nhân xã yêu cầu ông T phải bồi thường tiền hoa màu mà con gà nhà ông gây thiệt hại cho gia đình bà. Nhận được thư mời của Ủy ban nhân dân xã, ông T vô cùng buồn, vì ông nghĩ rằng chuyện không có gì tại sao bà H kiện gia đình ông. Ông T nhất quyết không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà H, ông nghĩ gà của bà H cũng qua vườn nhà ông nhưng ông có yêu cầu gì đâu, bà H yêu cầu như vậy là quá đáng.

Sau buổi hòa giải, chuyện tưởng như xong, ai về nhà nấy, xóm giềng vẫn vui vẻ bình thường. Tuy nhiên, chuyện không dừng lại ở đó, bà H vô cùng câm tức gia đình ông T, bà H quyết định rào con đường mà bấy lâu nay gia đình bà cho gia đình ông T đi chung, đồng nghĩa với việc bà không cho gia đình ông T đi trên con đường đó nữa. Thấy sự việc nghiêm trọng, gia đình ông T cố gắng thỏa thuận với bà H giành cho gia đình ông một lối đi, bởi vì ngoài lối đi đó, gia đình ông không còn lối đi nào khác.

Để có lối đi cho gia đình mình, buộc lòng ông T phải gửi đơn đến Toà án nhờ giải quyết. Cầm lá đơn trên tay ông T ngậm ngùi suy nghĩ, bấy lâu nay gia đình ông và gia đình bà H luôn gắn bó nhau, nay chỉ vì một con gà mà mất đi tình làng nghĩa xóm. Căn cứ theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thỏa thuận khác”….. Trong trường hợp của ông T, nếu ông chứng minh được ngoài lối đi qua nhà bà H, gia đình ông không còn lối đi nào khác thì gia đình ông được quyền yêu cầu gia đình bà H mở cho gia đình ông một lối đi. Tuy nhiên, gia đình ông phải đền bù cho gia đình bà H một khoản chi phí theo quy định của pháp luật.

Bước chân ra khỏi Tòa, gia đình ông T cố gắng hàn gắn mối quan hệ tình làng nghĩa xóm với gia đình bà H, nhưng gia đình bà H nhất quyết không đồng ý vì bà cho rằng “bát nước đổ đi, khó mà hốt lại đầy”. Giá như lúc trước đây hai gia đình nhường nhịn nhau chắc có lẽ sự việc không phải như thế này. Đây cũng là bài học cần suy ngẫm, đừng vì mâu thuẩn không đáng có mà đánh mất đi mối quan hệ tình làng nghĩa sớm.

05/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE (Đến tháng 6 năm 2017)DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE (Đến tháng 6 năm 2017)

​DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

 (Đến tháng 6 năm 2017)


STTHọ và tên Nơi hành nghềChứng chỉ hành nghề

Điện Thoại

 

01

Dương Thị Nhanh

 

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

224/TP-ĐGV

02/11/2006

02753.823.667
02Nguyễn Thị Như NgọcTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre397/TP/ĐG-CCHN02753.823.667
03Nguyễn Thị Bích ThủyTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

1732/TP/ĐG-CCHNN

20/3/2017

02753.823.667
04Lê Minh Thiện 398/TP/ĐG-CCHN02753.823.667
05Đào Minh ChíTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre826/TP/ĐG-CCHN02753.823.667
06Võ Thành KhởiCông ty  TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre

526/TP/ĐG/CCHN

15/12/2011

 
07Nguyễn Thị Hồng PhươngCông ty  TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre

668/TP/ĐG/CCHN

24/9/2012

02753.560.778

02753.818.444

08Trần Văn DuẩnChi nhánh Bến Tre - Công ty TNHH Trọng Pháp800/TP/ĐG-CCHN

02753.500.366

 

09Nguyễn Thị Thanh HuyềnCông ty TNHH Tư vấn bán đấu giá  Hoàng Anh636/TP/ĐG-CCHN 
10Liêu Quốc CườngCông ty TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản  Bến Tre

1084/TP/ĐG-CCHN

11/02/2015

 
11Phạm Hoài ThuậnVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

1161/TP/ĐG-CCHN

09/6/2015

 
12Nguyễn Văn PhướcVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

1202/TP/ĐG-CCHN

09/9/2015

 
13Trần Hoàng VũVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

174/TP/ĐGV

19/5/2006

 
14Nguyễn Thị Thanh TuyềnChi nhánh Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ phòng cháy chữa cháy và Điện công nghiệp Gia Duy

1291/TP/ĐG-CCHN

23/12/2015

0918.764.971
15Hoàng Thị Ngọc AnhChi nhánh Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ phòng cháy chữa cháy và Điện công nghiệp Gia Duy

1426/TP/ĐG-CCHN

27/4/2016

 
16Lê Nhật HoàngCt  Công ty Cổ phần Đầu tư - Bán đấu giá tài sản Hồng Phúc - Chi nhánh Bến Tre

1321/TP/ĐG-CCHN

02/02/2016

02753.701.357

hongphucauction

@gmail.com


27/06/2017 3:00 CHĐã ban hành
Kiểm tra thi hành pháp luật trên địa bàn huyện Thạnh PhúKiểm tra thi hành pháp luật trên địa bàn huyện Thạnh Phú
Thực hiện Kế hoạch kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú, Tổ kiểm tra theo dõi thi hành pháp luật huyện đã tổ chức kiểm tra việc thi hành pháp luật thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với 5 đơn vị gồm: Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện, xã Phú khánh, xã An Nhơn, xã Thạnh Phong và xã Thạnh Hải.

 

 

Thực hiện Kế hoạch kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú, Tổ kiểm tra theo dõi thi hành pháp luật huyện đã tổ chức kiểm tra việc thi hành pháp luật thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với 5 đơn vị gồm: Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện, xã Phú khánh, xã An Nhơn, xã Thạnh Phong và xã Thạnh Hải.

Kết quả kiểm tra cho thấy công tác thi hành pháp luật trên lĩnh vực đất đai, thời gian qua được các cấp, các ngành thực hiện khá tốt, các thủ tục hành chính áp dụng đúng qui định, qua đó đã làm hạn chế được những vi phạm xảy ra trong quá trình quản lý đất đai. Trong năm 2013, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các xã không có ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực quản lý đất đai. Riêng Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất đã tham mưu cho Phòng Tài nguyên – Môi trường và Ủy ban nhân dân huyện ban hành 09 công văn liên quan đến việc điều chỉnh thủ tục hành chính thực hiện pháp luật trên lĩnh vực đăng ký quyền sử dụng đất. Công tác tuyên truyền pháp luật về đất đai cũng được các ngành và các xã thường xuyên tổ chức triển khai, phổ biến đến cán bộ và nhân dân. Việc tuân thủ pháp luật trên lĩnh vực đất đai về hồ sơ thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được hướng dẫn thực hiện đúng theo qui định; công tác quản lý đất công ở cấp xã được cấp giấy chứng nhận và cắm ranh cụ thể từng thửa theo qui định.

Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế như: tiến độ cấp đổi giấy còn chậm so với yêu cầu; việc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 23 và 24 của Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có sự chồng chéo, chưa cụ thể, gây khó khăn khi áp dụng vào thực tế; tình hình lấn chiếm đất công, đất rừng phòng hộ ở xã Thạnh Hải, xã An Nhơn, khai thác cát trái phép trên sông khu vực xã Phú Khánh còn xảy ra; việc quản lý sử dụng đất trong nhân dân còn nhiều bất cập, người dân tự ý thay đổi mục đích sử dụng đất gây ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng đất của nhà nước nhưng chưa được xử lý kịp thời.

Tại các buổi làm việc, Tổ kiểm tra đã kiến nghị các đơn vị tiếp tục tuyên truyền sâu rộng Luật Đất đai ở những điểm nóng thường xảy ra tranh chấp đất đai; tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trên địa bàn, kịp thời nắm bắt để chấn chỉnh những sai sót, không để xảy ra vi phạm pháp luật trên diện rộng; tiếp tục tuyên truyền Chỉ thị 01/2013/CT-UBND của Ủy ban nhân dân huyện về việc nghiêm cấm sử dụng đất trồng lúa, trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm trên giồng cát và vùng Dự án ngọt hóa cụm Quới Điền để nuôi thủy sản chuyên canh nước mặn, lợ trên địa bàn huyện;  đẩy nhanh tiến độ cấp đổi quyền sử dụng đất theo đúng thủ tục và áp dụng đúng các qui định của pháp luật đã ban hành.

 

13/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạngNghị định quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng
Ngày 04 tháng 9 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2013/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng.

Ngày 04 tháng 9 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2013/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng.

Theo Nghị định này, mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng là 1.220.000 đồng.


Nghị định cũng quy định cụ thể các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với từng đối tượng người có công với cách mạng, bao gồm: mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng; mức trợ cấp thương tật đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh theo quy định; mức trợ cấp thương tật đối với thương binh loại B quy định tại các phục kèm theo.

Theo cách tính mới, mức phụ cấp, trợ cấp của một số đối tượng người có công như sau: trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của một liệt sĩ là 1.220.000 đồng/tháng; trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của hai liệt sĩ là 2.440.000 đồng/tháng; đối với thân nhân của ba liệt sĩ trở lên, mức trợ cấp là 3.660.000 đồng/tháng.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng sẽ hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ như trên và hưởng phụ cấp 1.023.000 đồng/tháng. Mức trợ cấp đối với người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình là 1.220.000 đồng/tháng. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến hưởng trợ cấp 1.023.000 đồng/tháng.

Thương binh loại B suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hưởng phụ cấp 612.000 đồng/tháng. Thương binh loại B suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên có bệnh tật đặc biệt nặng hưởng phụ cấp 1.220.000 đồng/ tháng.


Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị mặc bệnh suy giảm khả năng lao động từ 21%- đến 40% được hưởng trợ cấp 927.000 đồng/ tháng; từ 41%- 60% được hưởng trợ cấp 1.549.000 đồng/tháng; từ 61%-80% được hưởng 2.172.000 đồng/ tháng; từ 81% trở lên được hưởng 2.782.000 đồng/tháng.

Liệt sĩ không còn người hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng thì người thờ cúng được hưởng trợ cấp thờ cúng là 500.000 đồng/năm. Trợ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng không hưởng lương hoặc sinh hoạt phí khi đi học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học là 300.000 đồng/năm…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 10 năm 2013, thay thế Nghị định số 47/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Các khoản trợ cấp, phụ cấp ưu đãi quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

13/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nỗi lo có vơiNỗi lo có vơi
Phượng nở đầu mùa, tiếng ve sầu kêu báo hiệu một mùa hè đầy sôi động của hàng triệu học sinh, cũng là mùa chuẩn bị cho hành trang bước vào trang mới của cuộc đời với kỳ thì đại học hàng năm. Hiện nay, nhiều học sinh được cha mẹ đầu tư, chuẩn bị khá đầy đủ điều kiện đi học, thế nhưng vẫn còn đó những mảnh đời thiếu trước hụt sau. Thế nên dù có hi vọng, ước mơ tới giảng đường đại học, các em cũn...

Phượng nở đầu mùa, tiếng ve sầu kêu báo hiệu một mùa hè đầy sôi động của hàng triệu học sinh, cũng là mùa chuẩn bị cho hành trang bước vào trang mới của cuộc đời với kỳ thì đại học hàng năm. Hiện nay, nhiều học sinh được cha mẹ đầu tư, chuẩn bị khá đầy đủ điều kiện đi học, thế nhưng vẫn còn đó những mảnh đời thiếu trước hụt sau. Thế nên dù có hi vọng, ước mơ tới giảng đường đại học, các em cũng đành nén lại sau tiếng thở dài.

Trước tình trạng nhiều em học sinh hiếu học chấp nhận bỏ học bước vào đời mưu sinh, Nhà nước có những chính sách ưu đãi để các em có thể tiếp tục theo học. Theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định về tín dụng đối với học sinh, sinh viên và Thông tư số 34/2011/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc bổ sung điểm c khoản 2 mục II Thông tư số 27/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/11/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn quy trình xác nhận đối tượng  được vay vốn theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên quy định sinh viên được xem là có hoàn cảnh khó khăn gồm: Học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ, hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động; học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình nghèo theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật, hoặc hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo; học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học căn cứ mức độ thiệt hại thực tế, Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận vào đơn xin vay vốn của hộ gia đình.

Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật được xác định cụ thể như sau:

Học sinh, sinh viên là con cán bộ, công chức, viên chức và người lao động mà cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp đang hưởng trợ cấp thường xuyên phải có sổ hưởng trợ cấp hàng tháng do tổ chức Bảo hiểm xã hội cấp.

Học sinh, sinh viên mà cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là lao động tự do không tham gia Bảo hiểm xã hội bị tai nạn, bệnh tật mất khả năng lao động vĩnh viễn hoặc suy giảm khả năng lao động phải có chứng nhận tình trạng sức khoẻ, bệnh tật của cơ quan y tế có thẩm quyền.

Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã về tình hình kinh tế, tài chính của gia đình vào đơn xin vay vốn.

Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã là đối tượng được trợ cấp đột xuất hoặc được hỗ trợ lương thực cứu đói trong thời gian theo học.

Gia đình thuộc một trong các trường hợp trên thì được vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội để trang trải chi phí học tập. Điều kiện là đối với sinh viên năm nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc giấy xác nhận được vào học của trường; từ năm thứ hai trở đi phải có giấy xác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi  cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp và buôn lậu. Như vậy, nếu các em có đủ các điều kiện trên thì có thể vay vốn, mức vay tối đa là 800.000 đồng/tháng (8.000.000 đồng/năm học). Ngân hàng cho vay sẽ căn cứ vào mức thu học phí hàng năm của trường, nhu cầu người vay để quyết định mức cho vay cụ thể. Số tiền cho vay đối với mỗi hộ gia đình căn cứ vào số lượng học sinh, sinh viên trong gia đình, thời gian theo học tại trường và mức vay đối với mỗi sinh viên học sinh.

Đại diện hộ gia đình là người trực tiếp vay vốn và có trách nhiệm trả nợ ngân hàng. Người vay không phải thế chấp nhưng phải gia nhập và là thành viên tỗ tiết kiệm và vay vốn tại thôn, ấp, bản, buôn, nơi hộ gia đình đang sinh sống, được tổ bình xét đủ điều kiện vay vốn và thành lập danh sách đủ điều kiện vay vốn Ngân hàng chính sách xã hội để Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận. Về lãi suốt được tính ưu đãi là 0,5%/tháng.

Chính sách này là ưu đãi của nhà nước đối với học sinh, sinh viên, nên sau khi hoàn thành khóa học không quá 12 tháng thì phải trả nợ tiền vay.

Một khoản cho vay không lớn nhưng là một số tiền không nhỏ đối với các em học sinh, sinh viên nghèo. Các em có học thì mới có thể thoát nghèo, vì thế chính sách này như một cơn mưa hi vọng tưới mát lên con đường học vấn của các em đang khô cằn bởi gia cảnh khó khăn. Học xong, các em tìm được việc làm phù hợp, các em sẽ có cơ hội trả tiền vay, và gia đình các em có thể vượt qua khó khăn, thoát nghèo.

05/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hai vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 ngườiHai vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người
Trong tuần (từ ngày 20/5 đến 26/5/2014), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ va chạm giao thông, làm bị thương 02 người và 02 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người, như:

 

Trong tuần (từ ngày 20/5 đến 26/5/2014), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ va chạm giao thông, làm bị thương 02 người và 02 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 02 người, như:

- Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, lúc 12 giờ, ngày 22/5/2014, trên Đại lộ Đồng Khởi, thuộc địa bàn phường Phú Khương, thành phố Bến Tre. Bà Đặng Thị Thu Hà, sinh năm 1965, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành điều khiển xe mô tô lưu thông theo hướng từ vòng xoay Phú Khương về phường 4, đến khu vực trên thì đụng vào xe lăn (3 bánh) do ông Nguyễn Văn Hai, sinh năm 1931, phường 5, thành phố Bến Tre điều khiển lưu thông cùng chiều. Nguyên nhân do bà Hà điều khiển phương tiện vượt xe không đảm bảo an toàn, làm ông Hai bị thương vùng đầu, sau đó chết tại bệnh viện.

- Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, lúc 19 giờ, ngày 25/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc. Ông Lê Thành Trung, sinh năm 1987, huyện Măng Thích, tỉnh Vĩnh Long, điều khiển xe ô tô khách lưu thông theo hướng từ thành phố Bến Tre đi qua khu trên thì đụng vào xe đạp do ông Trần Văn Bự, sinh năm 1968, xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc điều khiển, làm ông Bự tử vong tại hiện trường. Nguyên nhân do ông Bự điều khiển xe chạy ngược chiều.

- Vụ va chạn giao thông, lúc 9 giờ, ngày 20/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú. Ông Trần Minh Hồ, sinh năm 1979, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, điều khiển ô tô tải lưu thông theo hướng từ huyện Mỏ Cày Nam đi huyện Thạnh Phú, qua khu vực trên va chạm với xe mô tô do bà Lê Thị Mỹ Tiên, sinh năm 1991, xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú điều khiển xe mô tô theo hướng  ngược lại. Nguyên nhân do ông Hồ điều khiển phương tiện chạy lấn tuyến, làm Tiên bị thương tại vùng đầu

- Vụ va chạn giao thông, lúc 21 giờ 50 phút, ngày 24/5/2014, trên Quốc lộ 60, thuộc địa bàn xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc. Ông Lê Vũ Hòa, sinh năm 1979, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, điều khiển xe mô tô theo hướng Cầu Hòa Lộc đi Cầu Mỏ Cày, khi đến khu vực trên va chạm với xe tải, do ông Trần Văn Du, sinh năm 1978, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, lưu thông theo hướng ngược lại, làm ông Lê Thị Hòa bị thương. Nguyên nhân do ông Hòa điều khiển phương tiên không đúng phần đường quy định.

Ngoài ra, lực lượng Cảnh sát giao thông đã ra quyết định xử phạt 878 trường hợp vi phạm hành chính trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, trong đó lỗi vị phạm do uống rượu, bia vượt quá nồng độ cồn cho phép là 159 trường hợp, chạy qua tốc độ 108 trường hợp, không có giấy phép lái xe 275 trường hợp, chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô trên 50cm3 36 trường hợp, khôngđội muxc bảo hiểm 95 trường hợp, điều khiển phương tiện đi không đúng phần đường quy định 29 trường hợp, chở quá tải 39 trường hợp…

Nguyên nhân, do lỗi chủ quan của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông; ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn giao thông của phần lớn người ttham gia giao thông vi phạm trật tự an toàn giao thông còn rất hạn chế.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Chi đoàn Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức thành công cuộc thi “Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính” năm 2015Chi đoàn Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức thành công cuộc thi “Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính” năm 2015

Được sự cho phép của Đảng ủy Sở Tư pháp, ngày 11 tháng 9 năm 2015 tại Hội trường Sở Tư pháp, Chi đoàn Sở Tư pháp đã tổ chức cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015. Tham dự Cuộc thi có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Thị Yến, Phó Bí thư Đoàn Khối Các cơ quan tỉnh; đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, Chi hội Luật gia, Thủ trưởng các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp và 22 thí sinh là đoàn viên Chi đoàn Sở Tư pháp.

CCHC4.gif 

Thông qua cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015, giúp cho đoàn viên nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính; phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đoàn viên, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Chi đoàn và đoàn viên; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để đoàn viên phấn đấu, học tập, trao dồi kiến thức, rèn luyện, trưởng thành hơn trong công tác cũng như trong cuộc sống.

CCHC2.gif 

CCHC3.gif 

Các thí sinh tham dự cuộc thi đã trãi qua 02 vòng thi do Ban tổ chức đặt ra. Vòng 01, mỗi thí sinh cùng tham gia trả lời 20 câu hỏi trắc nghiệm trong thời gian 15 phút với nội dung liên quan đến công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính. Kết thúc vòng 01, chọn ra 10 thí sinh có số điểm cao nhất để tham gia trả lời câu hỏi tự luận theo hình thức bốc thăm với nội dung liên quan đến xử lý tình huống, kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử, kiến thức liên quan đến cải cách hành chính, thủ tục hành chính.

CCHC1.gif 

Kết quả cuộc thi, Ban tổ chức đã tặng Giấy chứng nhận và tiền thưởng cho 01 thí sinh đạt giải nhất, 01 thí sinh đạt giải nhì, 03 thí sinh đạt giải ba và 05 giải khuyến khích.

22/09/2015 5:00 CHĐã ban hành
Hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017Hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017

Thực hiện Công văn số 2076/BTP-PBGDPL ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017 và Công văn số 3025/UBND-NC ngày 04 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017, Sở Tư pháp hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017 (Ngày Pháp luật năm 2017) với nội dụng cụ thể như sau:

 Chủ đề Ngày Pháp luật năm 2017: "Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cải cách hành chính, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp".

Nội dung trọng tâm: Căn cứ điều kiện thực tiễn và nhiệm vụ chính trị, các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tập trung vào các nội dung sau:

 Về công tác hoàn thiện thể chế: Rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, quy định pháp luật về đầu tư, kinh doanh, xuất nhập khẩu, thuế, đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, tín dụng…; các chính sách tư vấn, hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp;

Về công tác tổ chức thi hành pháp luật: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; quán triệt, truyền thông, phổ biến nội dung chính sách, quy định mới ban hành; tác động, hiệu ứng của chính sách, pháp luật đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp; các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý; quyền, nghĩa vụ của công dân và biện pháp bảo đảm thực hiện; pháp luật về đất đai, vệ sinh, an toàn thực phẩm, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền biên giới lãnh thổ; phòng, chống tham nhũng, lãnh phí; bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền tài sản, sở hữu trí tuệ; các điều ước, thỏa thuận quốc tế nhất là các thỏa thuận hợp tác về pháp luật và tư pháp mà Việt Nam là thành viên.

 Thông tin về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động đầu tư kinh doanh; triển khai nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; tăng cường theo dõi thi hành pháp luật, các vấn đề pháp lý phát sinh trong bối cảnh hội nhập quốc tế; các vấn đề dư luận quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội.

 Giáo dục ý thức và lợi ích của việc tuân thủ, chấp hành pháp luật; xây dựng, bồi dưỡng, nhân rộng, khen thưởng, tôn vinh gương người tốt, việc tốt, điển hình trong xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; phê phán, đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn xã hội; nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân trong chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; phát huy tinh thần gương mẫu tuân thủ, chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để hình thành nhân cách con người Việt Nam phát triển toàn diện; củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào chế độ; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật để tạo đồng thuận xã hội; có các giải pháp cụ thể để tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

 Hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017: Hưởng ứng Ngày Pháp luật là việc làm hàng ngày, thường xuyên của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người dân; trong đó tập trung vào đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến các luật, pháp lệnh và các văn bản mới liên quan đến chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hoặc liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp từ ngày 01/10 đến ngày 30/11/2017.

Các hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật phải phù hợp, thiết thực, hiệu quả, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, cụ thể là:

Tổ chức lễ hưởng ứng Ngày Pháp luật hoặc lồng ghép hưởng ứng thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm, qua hoạt động chính trị, chuyên môn phù hợp với điều kiện thực tiễn; lồng ghép trong triển khai hoạt động xây dựng, thi hành, bảo vệ pháp luật; tổ chức lễ ký kết chương trình phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; tổ chức đối thoại chính sách pháp luật; xây dựng, phát hiện, nhân rộng mô hình hay, cách làm mới, hiệu quả; tổ chức các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng để nâng cao năng lực xây dựng, thi hành thể chế, chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; ngày tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn phí; "Ngày Pháp luật" định kỳ hàng tháng; "Tiết học pháp luật"…

Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong phổ biến, giáo dục pháp luật; phát động, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật (trực tuyến, sân khấu hóa); sử dụng hiệu quả mạng lưới thông tin cơ sở, các phương tiện thông tin đại chúng; nhân rộng mô hình ngày hội pháp luật; thiết lập chuyên trang, chuyên mục phát thanh, truyền hình để bình luận, đối thoại chính sách, định hướng dư luận; áp phích, pa-nô, băng rôn, cờ, phướn trên đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; ra quân tình nguyện, hoạt động giáo dục ngoại khóa ngoài giờ lên lớp gắn với giáo dục khởi nghiệp; tư vấn pháp luật, thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, nhất là vụ việc tham gia tố tụng; mở phiên tòa xét xử lưu động; lồng ghép qua lễ hội, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, phòng, chống tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật có sự tham gia rộng rãi của Nhân dân.

Tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động nhân dân tuân thủ, chấp hành chính sách, pháp luật, củng cố khối đoàn kết cộng đồng, gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", Phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Thời gian thực hiện Ngày Pháp luật năm 2017: Các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tổ chức thường xuyên, liên tục trong cả năm, tập trung vào 02 tháng, bắt đầu từ ngày 01/10 đến hết ngày 30/11/2017, cao điểm từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2017.

Trong tuần lễ cao điểm từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2017, tổ chức tuyên truyền, cổ động trực quan chủ đề, khẩu hiệu về Ngày Pháp luật năm 2017 qua hệ thống áp phích, pa-nô, băng rôn, cờ, phướn trên các tuyến đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; chú ý lựa chọn khẩu hiệu phù hợp với đối tượng, địa bàn.

13/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREDANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

(Đến tháng 11 năm 2017)


STTTên Tổ chức hành nghề công chứngTrưởng Văn phòng/Phòng công chứngCông chứng viên hợp danh/làm việc theo hợp đồngĐịa điểm đặt trụ sởĐiện Thoại
01Phòng Công chứng số 1 - Sở Tư pháp Bến TreNguyễn Văn Tứ

- Lê Thị Thanh Trang

- Huỳnh Đoàn Ngọc Hân

17 Đường CMT8, phường 3, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre02753.810.618
02Văn phòng Công chứng Đồng KhởiVõ Văn ThanhLê Duy Phúc Hải (Công chứng viên hợp danh)Số 89A1, đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0918256585

 

03Văn Phòng Công chứng Tín HữuNguyễn Thị Kim Phượng

Ngô Xuân Hoàng

(Công chứng viên hợp danh)

số 46, đường số 3, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0983.626.700

0917.491.319

04Văn phòng Công chứng Kim CươngĐặng Thị Kim Cương

Nguyễn Thị Diễm Phương

(Công chứng viên hợp danh)

89A khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre0918.267.7570
02753.869.459
05Văn phòng Công chứng Bình ĐạiNgô Công Lợi

Nguyễn Văn Rậm

(Công chứng viên hợp danh)

08 đường Nguyễn Đình Chiểu, ấp Bình Thuận, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre0983.407.100
06Văn phòng Công chứng Ba TriPhan Văn Trung

Phạm Thị Minh Thủy

(Công chứng viên hợp danh)

27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

0918.813.969

02753.859.234

07Văn phòng Công chứng Hà Thị TiếnHà Thị Tiến 78A, quốc lộ 60, khu phố &, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

0978862448

02753.663.646

08Văn phòng Công chứng Thạnh PhúNguyễn Văn Mộng

Lê Văn Hòa

(Công chứng viên hợp danh)

ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre0753.870.771
09

Văn phòng Công chứng

Phan Đức Toàn

Phan Đức Toàn

Huỳnh Thị Kim Yến

(Công chứng viên hợp danh)

Số 50A, ấp Phước Hậu, xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre0912.223.045
10Văn phòng công chứng Nguyễn Văn MớiNguyễn Văn Mới

Nguyễn Minh Phương

(Công chứng viên hợp danh)

Số 1, ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre0918.262.633
11Văn phòng công chứng Lê Hùng DũngLê Hùng Dũng Số 59, ấp An Hòa, xã An Hiệp, Châu Thành, Bến Tre

0908.869.750

02753.626.626


09/11/2017 4:00 CHĐã ban hành
Sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2017Sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2017

Ngày 29/6/2017, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng và thực hiện quy ước 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017. Ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị gồm đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể tỉnh là Thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; thành viên Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố và đại diện Lãnh đạo Phòng tư pháp các huyện, thành phố.

hoi-nghi-pbgdpl2.jpg

Hội nghị đã triển khai, quán triệt Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Kế hoạch số 2525/KH-UBND ngày 08/6/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021 được ban hành tại Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ.

Các đại biểu tham dự Hội nghị đã tập trung thảo luận, đánh giá những kết quả, hạn chế, khó khăn trong công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước 6 tháng đầu năm, đồng thời đề xuất phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017, đặc biệt trong công tác PBGDPL gắn với triển khai thực hiện Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021.

hoi-nghi-pbgdpl1.jpg

Kết luận, chỉ đạo Hội nghị, ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đánh giá cao những kết quả đạt được trong công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước trong thời gian qua; đặc biệt, công tác PBGDPL góp phần thực hiện tốt Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế-xã hội, chính sách an sinh xã hội, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội; công tác PBGDPL có những tác động hiệu quả tích cực đến việc xây dựng ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật trong nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể tỉnh; thành viên Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh; Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các huyện, thành phố nghiên cứu, triển khai thực hiện có hiệu quả các phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

03/07/2017 5:00 CHĐã ban hành
DANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TREDANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TRE
14/12/2017 5:00 CHĐã ban hành
Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) và nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC, ngày 08/6/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2524/KH-UBND về tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC năm 2017. Thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 11/7/2017, Sở Tư pháp tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC cho gần 250 cán bộ, công chức đầu mối các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. Ông Nguyễn Đăng Minh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

kstthc2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên của Sở Tư pháp triển khai một số văn bản liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC, các nội dung cơ bản của công tác kiểm soát TTHC, kỹ năng dự thảo Quyết định công bố TTHC, công tác rà soát, kiến nghị đơn giản hóa TTHC.      

kstthc1.jpg

Thông qua Hội nghị, cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã được trang bị kỹ năng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ kiểm soát TTHC, góp phần thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh.

14/07/2017 9:00 SAĐã ban hành
Tìm hiểu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp QuốcTìm hiểu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc
23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 21/9/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 21/9/2017
02/10/2017 10:00 SAĐã ban hành
Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018

Ngày 20 tháng 6 năm 2017, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, các bộ luật, luật sau đây có hiệu lực thi hành: Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH1(sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015); Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Các quy định tại Nghị quyết số 110/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 có ghi thời điểm “ngày 01 tháng 7 năm 2016” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2018”, thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2019” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2020”.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng như sau:

Tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;

Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;

Tội phạm mới quy định tại các điều 147, 154, 167, 187, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 217a, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 393 và 418 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; các điều luật quy định hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201để giải quyết;

Quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết này cũng được áp dụng đối với các điều luật mới quy định tội được tách ra từ các tội ghép trong Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 1999);

Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”“số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”“thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”“đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”“giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”“quy mô lớn” của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này;

Đối với hành vi hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, hành vi kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án thì không được căn cứ vào việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ, tội danh đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội danh kinh doanh trái phép, tội danh cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để kháng cáo, kháng nghị theo hướng không phạm tội. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về tội hoạt động phỉ, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội kinh doanh trái phép, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, tội kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội danh tương ứng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết này;

 Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại Bộ luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;

Trường hợp chất thu giữ được nghi là chất ma túy ở thể rắn đã được hòa thành dung dịch, chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, xái thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải xác định hàm lượng chất ma túy làm cơ sở để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ được. Đối với các trường hợp khác thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.

Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sau đây gọi là Luật số 12/2017/QH14) được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định sau đây:

Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử;

Hình phạt tử hình đã tuyên đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này nhưng chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không thi hành án và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính; hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa. Nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Đối với các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 không quy định là tội phạm nữa: nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm các tội mà không được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015; nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này thì đương nhiên được xóa án tích;

Thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này;

Áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 để thi hành quy định tại điểm b khoản Điều 2 Nghị quyết này và các quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi cho người phạm tội.

 Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 7 năm 2017. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành cho đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này, tiếp tục áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 30/2006/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 09/2009/PL-UBTVQH12.

20/07/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/11/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/11/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 334 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, cư ngụ tại: ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 123,3m2;

- Thuộc thửa đất số 442, tờ bản đồ số 01 (thửa mới 7-1, tờ bản đồ số 31);

- Loại đất: Đất ở nông thôn.

2. Công trình xây dựng: Nhà ở

- Diện tích xây dựng là 114,8 m2;

- Kết cấu căn nhà gồm 3 phần:

+ Phần thứ nhất diện tích 46m2, nhà một tầng, móng cột bê tông cốt thép, tường bao che, ngăn phòng, xây gạch dày 100mm, sơn nước, trần nhựa, nền gạch men, mái lợp tole tráng kẽm chiều ngang 3,5m, chiều dài 13,3m.

+ Phần thứ hai diện tích 32,9m2, nền gạch men, mái tole tráng kẽm, không trần, không tường ngăn phòng, móng cột bê tông cốt thép, tường bao che, chưa tô trắng, có gác gỗ diện tích 29,9m2.

+ Phần thứ ba diện tích 35,3m2 nhà một tầng, móng cột bê tông cốt thép, tường bao che, không ngăn phòng, chưa tô, nền xi măng, mái fibrô xi măng, không trần

Cửa chính của căn nhà là cửa sắt (loại cửa kéo) và cửa khung sắt lắp kính, cửa sổ là cửa khung sắt lắp kính.

Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, cột bê tông có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole đã cũ và bị rỉ sét nhiều so với màu sắc ban đầu, tường bị thấm, gác gỗ bị mối mọt, các hiện trạng khác bình thường.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 1.112.722.246đ (Một tỷ, một trăm mười hai triệu, bảy trăm hai mươi hai ngàn, hai trăm bốn mươi sáu đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 220.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 04/01/2018 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 354 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Dân và bà Nguyễn Thị Sương, cư ngụ tại: ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 1.872,5m2;

- Thuộc một phần thửa đất số 252B, tờ bản đồ số 02 (thửa mới 452, tờ bản đồ số 4);

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm.

2. Cây trồng trên đất

- Dừa loại I (6 năm tuổi trở lên): 77 cây

- Dừa loại II (từ 4 đến 6 năm tuổi): 03 cây;

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Dân và bà Nguyễn Thị Sương, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 281.568.125đ (Hai trăm tám mươi mốt triệu, năm trăm sáu mươi tám ngàn, một trăm hai mươi lăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 56.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 04/01/2018 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


 THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 355 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Thành và bà Nguyễn Thị Kim Loan, cư ngụ tại: ấp Phủ, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 2018,6m2;

- Thửa đất số 1417, tờ bản đố số 02 (theo bản đồ đo đạc chính quy thuộc một phần thửa đất số 141, tờ bản đồ số 19 (141A);

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm.

2. Cây trồng trên đất

- Dừa loại I: 57 cây;

- Xoái loại I: 02 cây;

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp Phủ, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Thành và bà Nguyễn Thị kim Loan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 188.030.000đ (Một trăm tám mươi tám triệu, không trăm ba mươi ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 37.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 08 giờ ngày 04/01/2018 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 362(Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá toàn bộ vốn nhà nước do Công ty Cổ phần Dịch vụ và vận tải ô tô Bến Tre quản lý (không có giá trị đất) (có danh mục chi tiết kèm theo).

 - Tài sản tại: Công ty Cổ phần Dịch vụ và vận tải ô tô Bến Tre (địa chỉ: số 303ª4, Khu phố 3, Phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước giao Công ty Cổ phần Dịch vụ và vận tải ô tô Bến Tre điều hành quản lý, nay bán để thu hồi toàn bộ vốn nhà nước theo Quyết định số 1182/QĐ-UBND ngày 26/5/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 2.760.000.000đ (Hai tỷ, bảy trăm sáu mươi triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán chung, không bán riêng lẻ. Khách hàng trúng đấu giá, thời gian di dời tài sản trên đất không qua 03 tháng, ngoài ra khách hàng trúng đấu giá phải chịu trách nhiệm thu và trả các khoản như sau:

- Phải thu nợ khoán xe khách là: 88.500.000đ (có danh sách kèm theo).

- Phải trả nợ Bảo hiểm xe khách là: 43.100.000đ (có danh sách kèm theo).

- Phải trả tiền kê chân của xe khách là: 399.950.000đ (có danh sách kèm theo).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 550.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/12/2017 (trong giờ làm việc) tại Công ty Cổ phần Dịch vụ và vận tải ô tô Bến Tre (địa chỉ: số 303ª4, Khu phố 3, Phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/12/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 06/12/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (Thứ sáu).

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

04/12/2017 4:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊADANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏGhi chú
01Nghị định132/2015/NĐ-CP25/12/2015Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa01/7/2016  
16/02/2016 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 369 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình gắn liền trên đất (không thể di dời được) của và bà Nguyễn Thị Sáng, cư ngụ tại: ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thửa 1257, tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 667 m2;

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665096 do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam cấp ngày 20/02/2013, số vào sổ cấp GCN: CH00648.

2. Quyền sử dụng đất thửa 860 tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 300m2;

- Loại đất: Đất ở tại nông thôn;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665095 cấp ngày 20/02/2013 tại Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, số vào sổ CH00647.

3. Tài sản, công trình (không thể di dời được) gắn liền trên đất: nhà ở, nhà trọ cho thuê.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: Ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, nhà ở, nhà trọ cho thuê; tài sản, công trình gắn liền trên đất của và bà Nguyễn Thị Sáng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 803.700.000đ (Tám trăm lẻ ba triệu, bảy trăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 160.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 18/01/2018, tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre), (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 375 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ 04 hạng mục (nhà điều hành, hồ nước, nhà vệ sinh, hàng rào) thuộc Trạm cấp nước Tân Thạch, huyện Châu Thành, cụ thể như sau:

1. Nhà điều hành Trạm Tân Thạch: Kết cấu: móng cột pêtông cốt thép, tường gạch, nền lát gạch bông, mái tole tráng kẽm, diện tích 77,28 m2. Tỷ lệ còn lại 20 %.

2. Hồ nước: Kết cấu: thành, nắp pêtông cốt thép, thể tích 68,88 m3. Tỷ lệ còn lại 10 %.

3. Nhà vệ sinh: Kết cấu: nền láng xi măng, tường gạch, mái fbro xi măng, không có cửa ra vào, diện tích 1,8 m2. Tỷ lệ còn lại 10 %.

4. Hàng rào:

a) Cổng chính: Kết cấu: trụ sơn nước cửa cổng bằng song sắt, diện tích 5m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

b) Hàng rào chính: Kết cấu: trụ đà pêtông cốt thép, tường xây gạch, phía trên tường lắp khung thép hình, diện tích 26 m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

c) Hàng rào phụ 1: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo lưới B40, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 10%.

d) Hàng rào phụ 2: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo dây chì gai, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 0%.

- Tài sản tại: Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ cho lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre.

            - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo cho Trạm cấp nước Tân Thạch, người dân qua lại và khu làm việc xung quanh.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3+4): 49.785.000đ (Bốn mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi lăm ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 9.900.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc) Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre..

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 27/12/2017 (Thứ tư). 


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 379 (Kèm QC)

  Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp), địa chỉ tại: 393C, khu phố 6, phường  Khú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 360,0 m2, đất ở tại đô thị;

- Thuộc thửa đất số 71; tờ bản đồ số 47.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

2. Tài sản trên đất (nhà ở):

- Loại nhà: Nhà ở riêng lẻ, nhà ở cấp 3, diện tích xây dựng 91,3 m2, diện tích sàn 299,3 m2.

- Tài sản tọa lạc: Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

* Lưu ý: Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên và  Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền hoặc người mua có yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạt, trường hợp diện tích đất thực tế tăng thì người mua được hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp) do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre – Phòng Giao dịch Mỏ Cày Nam xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

            - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 4.000.000.000 đ (Bốn tỷ đồng).

   - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

- Khoản tiền đặt trước là 800.000.000đ/hồ sơ,  nộp chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

      - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc: xã Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ ngày 29/12/2017.

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 - 0275.3512081 – 0275.3512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

15/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2017. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp và các Phó Giám đốc Sở dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố, Chủ tịch Hội Công chứng, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh dự, đưa tin.

so-ket-6-thang2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe Báo cáo sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017; tham gia thảo luận, trao đổi, đề xuất các giải pháp các lĩnh vực của công tác tư pháp như: Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật; hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp...

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp biểu dương kết quả đạt được của ngành Tư pháp tỉnh trong 6 tháng đầu năm, yêu cầu những tháng còn lại trong năm 2017, toàn ngành Tư pháp Bến Tre tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật góp phần đảm bảo tính ổn định, đồng bộ, minh bạch, khả thi của pháp luật. Phát huy vai trò của ngành Tư pháp trong việc theo dõi, đôn đốc, kiểm soát chặt chẽ tình hình soạn thảo, ban hành văn bản tại địa phương.

so-ket-6-thang3.jpg

Thứ hai, đối với những luật đã được thông qua (gồm 12 luật và 12 nghị quyết), trong đó có 3 luật liên quan đến Ngành (Luật Hình sự sửa đổi; Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi và Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước sửa đổi) căn cứ hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương, các phòng, trung tâm thuộc Sở có liên quan, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố khẩn trương tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp có kế hoạch tổ chức thực hiện. Tập trung tổ chức Ngày Pháp luật định kỳ và Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017 đảm bảo thiết thực, hiệu quả. Tổ chức Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi cấp tỉnh năm 2017 đạt kết quả tốt, đúng với yêu cầu, thời gian, kế hoạch đã đề ra. Khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021 và các Đề án phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp tình hình thực tế địa phương. Kịp thời tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả nhiệm vụ được giao tại Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (ban hành kèm theo Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ) và nhiệm vụ “Đánh giá, công nhận, xây dựng xã tiếp cận pháp luật; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân” theo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020.

Thứ ba, tiếp tục triển khai thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trọng tâm năm 2017 và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp; trong đó, tập trung vào theo dõi tình hình thi hành các quy định của pháp luật về tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong việc tiếp cận, khai thác các nguồn lực về vốn, khoa học kỹ thuật, đất đai, lao động

so-ket-6-thang1.jpg            

Thứ tư, tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chủ động hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở trong quá trình đăng ký hộ tịch. Sớm khắc phục tình trạng lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực khi thực hiện thủ tục hành chính theo Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính đảm bảo giải quyết đúng quy định pháp luật.

Thứ năm, Phòng Tư pháp tiếp tục chỉ đạo Công chức Tư pháp-Hộ tịch cấp xã theo nhiệm vụ của mình, phát hiện đối tượng, giới thiệu đối tượng trợ giúp pháp lý đến với hoạt động trợ giúp pháp lý, để đảm bảo quyền lợi cho đối tượng được nhà nước bảo trợ về mặt tư pháp. Nhất là qua hoạt động hòa giải ở cơ sở và hòa giải tranh chấp đất đai ở UBND cấp xã khi phát hiện đối tượng nên giới thiệu về quyền được trợ giúp pháp lý để đối tượng biết mà yêu cầu.

Thứ sáu, trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp tập trung triển khai thi hành có hiệu quả các quy định của Luật Đấu giá tài sản; thực hiện thiết thực, đồng bộ các đề án, văn bản trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp, trong đó chú trọng công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực luật sư, công chứng, bán đấu giá tài sản.

19/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
Bến Tre nghiêm túc triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt NamBến Tre nghiêm túc triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 03 tháng 01 năm 2014 của Ban Bí thư, Kế hoạch của Ủy ban thường vụ Quốc hội và của Chính phủ về tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp; Bến Tre đã tổ chức triển khai nghiêm túc Hiến pháp năm 2013 trên địa bàn tỉnh, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kịp thời, hiệu quả và tiết kiệm.

Thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 03 tháng 01 năm 2014 của Ban Bí thư, Kế hoạch của Ủy ban thường vụ Quốc hội và của Chính phủ về tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp; Bến Tre đã tổ chức triển khai nghiêm túc Hiến pháp năm 2013 trên địa bàn tỉnh, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kịp thời, hiệu quả và tiết kiệm.

Theo đó, ngày 16 tháng 4 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp năm 2013 cho gần 600 đại biểu là cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện, cán bộ pháp chế của các sở, ngành, doanh nghiệp; báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ trì Hội nghị. Hội nghị vinh dự đón tiếp Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thế Liên, Thứ trưởng Bộ Tư pháp đến dự và giới thiệu nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp.

Sở Tư pháp đã chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức rà soát, lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với quy định của Hiến pháp do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành.


Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố cũng đã ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp trong ngành, địa phương mình. Đến nay, hầu hết các sở, ban, ngành tỉnh đã tổ chức Hội nghị giới thiệu, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Hiến pháp cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; 7/9 huyện, thành phố, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố cũng đã tổ chức giới thiệu, phổ biến nội dung, tinh thần, ý nghĩa của Hiến pháp cho cán bộ chủ chốt cấp huyện, cấp xã. Đồng thời, các ngành, địa phương cũng đã phối hợp triển khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, để tuyên truyền rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức như: xây dựng các chuyên mục truyền hình, chương trình phát thanh tuyên truyền Hiến pháp phát trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh cấp huyện, cấp xã; đăng tải Hiến pháp và tài liệu giới thiệu về Hiến pháp trên Báo Đồng Khởi, Trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp, Bản tin của cơ quan, đơn vị; tổ chức giới thiệu, phổ biến nội dung của Hiến pháp.

Nhìn chung, kết quả triển khai thi hành Hiến pháp trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả quan trọng; sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ, tập trung, thống nhất của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, các ngành, địa phương.

Trong thời gian tới, các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện thành phố sẽ tiếp tục tổ chức triển khai phổ biến sâu rộng ý nghĩa, nội dung, điểm mới của Hiến pháp đến cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người lao động và nhân dân; góp phần nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành Hiến pháp; bảo đảm Hiến pháp được tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh.

03/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn