Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Phòng Xây dựng Văn bản QPPL
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này, nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra, trong đó có nhiệm vụ thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. /span/span/p  
 
Thực hiện Kế hoạch kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú, Tổ kiểm tra theo dõi thi hành pháp luật huyện đã tổ chức kiểm tra việc thi hành pháp luật thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với 5 đơn vị gồm: Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện, xã Phú khánh, xã An Nhơn, xã Thạnh Phong và xã Thạnh Hải. 
 
Ngày 06 tháng 02 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Đồng thời, ngày 15 tháng 6 năm 2013 Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng ban hành Thông tư số 09/2013/TT-BTP quy định chi tiết thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2013. Để triển khai kịp th... 
 
Thực hiện Quyết định số 1934/QĐ-BTP ngày 25 tháng 7 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời đánh toàn diện kết quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2003-2013 trên địa bàn tỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến công ... 
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"Nhằm thực hiện tốt Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính trong đó có Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; đồng thời đảm bảo việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh được thực hiện thống nhất và đúng trình tự, thủ tục theo quy định mới, góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh; ngày 1 tháng 8 năm 2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 20/2013/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 24 tháng 4 năm 2007 về trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Bến Tre. /span/span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Thực hiện Kế hoạch số 744/KH-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành từ năm 1976 đến ngày 31 tháng 12 năm 2012, Sở Tư pháp đã phối hợp với các sở, ngành tỉnh tiến hành rà soát đạt yêu cầu kế hoạch đề ra./span/p  
 
Xuất phát từ tình trạng dạy học trước chương trình lớp 1 xảy ra ở một số địa phương đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội. Đồng thời, trên cơ sở dạy học trước chương trình lớp 1 là phản khoa học, gây khó khăn trong việc tổ chức dạy học lớp 1, vì sẽ làm trẻ chủ quan, giảm hứng thú học tập khi vào học lớp 1, ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ, nhất là khi ngư... 
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành (01/01/2010), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây ra. Thực trạng trên một phần là do sự thiếu thông tin của doanh nghiệp về những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này./span/span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal"span style="font-size: small;"Đó là một trong những nội dung được quy định trong Thông tư số 11/2013/TT-BCA của Bộ Công an vừa mới ban hành ngày 01 tháng 3 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP và Nghị định số 71/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ./span/p  
 
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" w:LsdException Locked="false" Name="Default Paragraph Font" / /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p p class="MsoNormal"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ; đồng thời đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác này, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngày 04/3/2013, UBND tỉnh Bến Tre đã ký ban hành Kế hoạch số 881/KH-UBND về theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2013. /span/p  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Danh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnhDanh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh
07/02/2017 2:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/7/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/7/2017
24/07/2017 5:00 CHĐã ban hành
Ông, bà không được nhận cháu làm con nuôi và anh, chị, em không được nhận nhau làm con nuôi. Ông, bà không được nhận cháu làm con nuôi và anh, chị, em không được nhận nhau làm con nuôi.
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="text-align: justify;"Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là một trong các hành vi bị cấm trong lĩnh vực nuôi con nuôi được quy định tại Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Mục đích Luật Nuôi con nuôi đưa ra những quy định cấm nhằm để bảo đảm việc nuôi con nuôi được thực hiện đúng mục đích, trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi./span/p

Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là một trong các hành vi bị cấm trong lĩnh vực nuôi con nuôi được quy định tại Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Mục đích Luật Nuôi con nuôi đưa ra những quy định cấm nhằm để bảo đảm việc nuôi con nuôi được thực hiện đúng mục đích, trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi. Việc cấm ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi, là một trong những quy định mới được đưa vào luật, song hành vi bị cấm này không phải là những hành vi mới. Hành vi này đã được quy định tại Thông tư 01/2008/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.

 

Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là việc nuôi con nuôi giữa những người có quan hệ huyết thống, nhưng nếu pháp luật thừa nhận thì vô hình chung sẽ dẫn đến làm đảo lộn trật tự ngôi thứ trong quan hệ gia đình, không phù hợp với truyền thống văn hóa, đạo lý của người Việt Nam. Chẳng hạn như, nếu pháp luật cho phép một người cháu được làm con nuôi của ông, bà nội hay ông, bà ngoại thì pháp luật sẽ phải công nhận người cháu lại trở thành “con”, ông bà trở thành “bố mẹ” và như vậy người cháu sẽ ngang hàng với các con đẻ của ông bà, tức là “con bằng vai bố mẹ”, “ cháu bằng vai của cô, cậu, chú , bác, dì” hoặc nếu pháp luật cho phép anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi thì anh, chị, em lại trở thành “cha mẹ và con”. Rõ ràng là, việc làm đảo lộn ngôi thứ, thứ bậc như vậy trong quan hệ gia đình và việc gây xáo trộn về quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau trong quan hệ gia đình sẽ không được chấp nhận trong xã hội Việt Nam. Do đó, pháp luật không công nhận quan hệ nuôi con nuôi giữa ông, bà và cháu; anh, chị, em với nhau.

Ở đây có sự khác biệt giữa việc nuôi con nuôi với việc nuôi dưỡng. Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con, còn việc nuôi dưỡng chỉ là nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình. Trường hợp cha mẹ bị chết, thì ông bà nội hay ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh, chị có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc em đây chỉ là quan hệ nuôi dưỡng hay nghĩa dưỡng mà không phải quan hệ nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Việc ông bà nội, ông bà ngoại nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh, chị nuôi dưỡng em đó là trách nhiệm nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, không cần phải xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì mới ràng buộc được trách nhiệm của các bên.

Nếu việc nuôi con nuôi vi phạm một trong những điều cấm được quy định tại Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì việc nuôi con nuôi sẽ  bị chấm dứt. Đồng thời, tùy theo mức độ vi phạm mà người có hành vi vi phạm sẽ còn bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc pháp luật về  xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp.

 

09/02/2012 12:00 SAĐã ban hành
Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niênHạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Con được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức để trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội có lẽ đó là niềm hạnh phúc lớn nhất của mỗi người. Quan hệ giữa cha, mẹ và con là quan hệ thiêng liêng, không những chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý mà còn thể hiện ở đó là ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ của những người làm cha, làm mẹ đối con cái của mình và càng có ý nghĩa quan trọng về mặt đạo đức, xã hội. Để điều chỉnh quan hệ cha mẹ và con, pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy định cụ thể nghĩa vụ, quyền của cha mẹ đối với con, cũng như quyền, nghĩa vụ của con đối với cha mẹ. Tuy nhiên trong thực tế cuộc sống nhiều bậc làm cha mẹ không những không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với con cái, mà còn vị phạm các quyền của con.

Nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, đặc biệt là con chưa thành niên, pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy định về việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, như là một biện pháp chế tài của luật đối với cha, mẹ do không làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của con.

Điều 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau: Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên  theo Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 gồm:

Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên: Người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; hội liên hiệp phụ nữ.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 86 của Luật này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Bên cạnh đó, Điều 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định về hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên:

Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau đây: Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên; một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con; một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.

Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

07/03/2016 11:00 SAĐã ban hành
Những điểm mới cơ bản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáoNhững điểm mới cơ bản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 09 Chương, 68 Điều. Luật có những điểm mới cơ bản như sau:

Mở rộng chủ thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Theo Hiến pháp năm 2013 "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào". Cụ thể hóa Hiến pháp Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào" (Khoản 1 Điều 6).  

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định này thể hiện tính nhân văn trong chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho những người bị hạn chế quyền công dân.

Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Quy định này thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người.

Bổ sung một Chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

 Để phản ánh rõ hơn phạm vi điều chỉnh của Luật cũng như thể hiện cơ bản nhất chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã bổ một Chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với 04 Điều quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung

Chủ thể thực hiện quyền này được mở rộng. Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung không xem là mốc khởi điểm để hình thành về tổ chức.

Một số nội dung theo quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ nay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở Trung ương

Theo quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, một số nội dung thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ nay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương (công nhận tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo; tiếp nhận thông báo giải thể trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo). Việc thay đổi này sẽ giảm tải công việc cho Thủ tướng Chính phủ, tăng thẩm quyền cho cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cũng như giúp cho việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo nhanh gọn, thuận lợi hơn khi các tổ chức, cá nhân liên quan có nhu cầu.

Thời gian được công nhận là tổ chức tôn giáo giảm còn 05 năm

Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 quy định tổng thời gian kể từ khi được Ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận sinh hoạt tôn giáo đến đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo là 23 năm. Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thời gian công nhận tổ chức tôn giáo được tính từ khi tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Đây là một quy định thuận lợi cho các tổ chức khi đề nghị công nhận tổ chức tôn giáo.

Vấn đề tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo

Điều 30 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Đối với tổ chức tôn giáo được công nhận trước ngày Luật có hiệu lực là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày Luật này có hiệu lực với điều kiện các tổ chức tôn giáo này có trách nhiệm điều chỉnh, đăng ký hiến chương tại đại hội gần nhất theo quy định.

Đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 21 của Luật còn phải được tổ chức tôn giáo đề nghị và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký mới trở thành pháp nhân phi thương mại.

 Tách nội dung phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc thành hai nội dung: phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc và bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tách bạch, phân định rõ chức sắc, chức việc. Trên cơ sở phân định rõ chức sắc, chức việc, Luật quy định cách thức thực hiện đối với việc phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc (Điều 33) khác với bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc (Điều 34).

Về cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo

Cơ sở đào tạo tôn giáo, trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Luật đã bổ sung làm mới các quy định liên quan đến cơ sở đào tạo tôn giáo bao gồm từ đổi tên trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo thành cơ sở đào tạo tôn giáo, điều kiện thành lập, thẩm quyền chấp thuận đến các nội dung liên quan đến hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo.

Mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định việc mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo và phân tách việc mở lớp cho hai đối tượng là người chuyên hoạt động tôn giáo đăng ký việc mở lớp với cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh và những người không chuyên hoạt động tôn giáo thì thông báo với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi mở lớp.

 Bổ sung nội dung phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Đây là một quy định hoàn toàn mới, phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo, với xu thế hội nhập quốc tế và thông lệ quốc tế. Quy định này đã tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được đề nghị phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị khi đáp ứng các điều kiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định, đó là: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; Được đào tạo tôn giáo tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam; Tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được thay đổi theo hướng chỉ đăng ký, thông báo lần đầu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những nội dung không có trong văn bản đăng ký hoặc thông báo sẽ đăng ký, thông báo bổ sung.

Bổ sung theo hướng tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 8 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, đó là được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với các quyền cụ thể như sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đối với chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.

Trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc này, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có 7 Điều quy định về hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài, trong đó tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo tập trung có thể thuê, mượn địa điểm để sinh hoạt tôn giáo; người nước ngoài có thể được tổ chức tôn giáo ở Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị; tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có quyền gia nhập, chấm dứt tham gia tổ chức tôn giáo nước ngoài;…

 Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để các cơ quan này biết, thực hiện trách nhiệm phối hợp với các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc để các hoạt động tôn giáo diễn ra đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn, bảo vệ môi trường... Các nội dung theo quy định của Luật, người đại diện cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có trách nhiệm thông báo như thông báo lễ hội định kỳ; thông báo về khoản thu, mục đích sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng; thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo; thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử; thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành; thông báo cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc; thông báo hội nghị thường niên… Đây cũng là quy định phù hợp với xu hướng hiện nay nhằm nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tôn giáo trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.

Phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, Luật cũng có các quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Đề bảo đảm có đầy đủ công cụ pháp lý nhằm thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, đồng thời bảo đảm quyền phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định về thanh tra chuyên ngành tôn giáo; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và một số biện pháp chế tài khác như đình chỉ, thu hồi, giải thể.

13/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/3/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/3/2015
Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 120/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Tuyến; cư ngụ tại: Khu phố 3, Thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm như sau:

1. Về đất thuộc thửa đất số 204, tờ bản đồ số 20

- Diện tích: 100 m2;  Loại đất: ở đô thị (ODT);

- Giá khởi điểm tài sản 1 là: 290.790.600đ (Hai trăm chín mươi triệu, bảy trăm chín mươi ngàn, sáu trăm đồng).

2. Về đất thuộc thửa đất số 202, tờ bản đồ số 20

- Diện tích: 201,1 m2;  Loại đất: cây lâu năm;

- Giá khởi điểm tài sản 2 là: 260.600.000đ (Hai trăm sáu mươi triệu, sáu trăm ngàn đồng)

3. Công trình xây dựng

a) Nhà ở: Xây dựng năm 2010. Diện tích xây dựng: 68,68m2. Diện tích sàn: 144,68m2.

* Cấu trúc:

- Dạng nhà cấp IV. Gồm: Tầng trệt: (có 01 phòng khách, 01 phòng ngủ, phòng vệ sinh + khu nhà bếp (phòng chữ L + bếp + phòng vệ sinh). Tầng một: (có 01 phòng khách + 02 phòng ngủ + phòng vệ sinh).

- Kết cấu tầng trệt:

+ Hành lang: bậc thang tam cấp, bêtông cốt thép.

+ Phòng khách (01 phòng): Móng, đà kiềng, khung cột bêtông cốt thép. Nền lát gạch ceramic (50x50)cm, tường bao xây gạch dày 10cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, sơn nước, phía ngoài ốp đá grantte, phía trong tường ốp gạch men cao 1,2m. Trần bêtông. Cửa đi chính bằng gỗ, 04 cánh; cửa sổ khung sắt + kính, 04 cánh.

+ Phòng ngủ + phòng vệ sinh: kết cấu như phòng khách; tường không ốp gạch. Cửa phòng khung nhôm + kính, 01 cánh; cửa sổ khung sắt + kính, 02 cánh. Phòng vệ sinh: Nền lát gạch ceramic nhám (25x25)cm, tường xây gạch dày 10cm, ốp gạch men. Cửa phòng khung nhôm + kính mờ, 01 cánh. Trang thiết bị: bàn cầu, lavabo, vòi nước và gương soi.

+ Khu nhà bếp: Phòng cữ L, kết cấu tương tự như phòng khách. Cửa đi bằng gỗ, 02 cánh; cửa sau bằng gỗ, 01 cánh; cửa sổ khung sắt + kín, 04 cánh. Bếp: bằng bêtông cốt thép, tường, mặt bếp ốp gạch ceramic, tủ bếp bằng khung nhôm + kính. Phòng vệ sinh: Nền lát gạch ceramic nhám (25x25)cm; tường xây gạch dày 10cm, ốp gạch men. Cửa phòng khung nhôm + kính mờ, 01 cánh. Trang thiết bị: bàn cầu, lavabo, vòi nước và gương soi.

- Kết cấu tầng 2:

+ Hành lang: khung bảo vệ bằng sắt, sơn chống sét, cao < 1m.

+ Phòng khách (01 phòng): Móng, đà kiềng, khung cột bêtông cốt thép. Nền lát gạch ceramic (50x50)cm, tường bao xây gạch dày 10cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, sơn nước, phía ngoài ốp đá grantte, phía trong tường ốp gạch men cao 1,2m. Trần thạch cao. Cửa đi chính bằng gỗ, 02 cánh; cửa đi phụ khung nhôm + kính, 01 cánh; cửa sổ bằng gỗ, 02 cánh (01 bộ) và kung nhôm + kính, 04 cánh dạng lùa (02 bộ).

+ Phòng ngủ + phòng vệ sinh: kết cấu như phòng khách. Cửa phòng mặt chữ L bằng gỗ, 02 cánh; cửa sổ khung nhôm + kính, 02 cánh.

b) Nhà phụ: Xây dựng năm 2010, kích thước: 19,47m2;

- Kết cấu: Là mái che của nhà chính, nền lát gạch ceramic (40x40)cm, tường bao xây gạch dày 10cm, sơn nước. Đòn tay gỗ tạp, mái tole firô ximăng. Cửa đi bằng gỗ, 01 cánh.

c) Cổng + tường rào:

- Cổng rào: kích thước 8,8m2; trụ cổng bằng betông cốt thép (40x40)cm, quét vôi. Cánh cổng (02 cánh): khung bằng thép tròn tổ hợp hàn lại với nhau, cao 2,2m.

- Tường rào: Kích thước 12,06m2. Kết cấu: móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,8m, tường xây gạch dày 10cm, cao 2,5m.

d) Sân nền: Kích thước 90m2. Kết cấu: Sân bêtông đan, kông cốt thép, từng khối ghép lại với nhau.

- Giá khởi điểm tài sản 3 là: 547.669.400đ (Năm trăm bốn mươi bảy triệu, sáu trăm sáu mươi chín ngàn, bốn trăm đồng).

- Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: Khu phố 3, thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Tuyến, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 1.099.060.000đ (Một tỷ, không trăm chín mươi chín triệu, không trăm sáu mươi ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 07/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 104/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Kim Tùng và bà Hà Thị Thủy, hiện cư ngụ tại: ấp Chợ, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Diện tích: 727,9 m2 ;

- Loại đất: LNC;

- Thuộc tờ bản đồ 06, thửa  số 308;

2) Tài sản trên đất là cây trồng bao gồm: cây dừa, cây măng cụt.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Phước Hòa, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Kim Tùng và bà Hà Thị Thủy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 240.458.765đ (hai trăm bốn mươi triệu bốn trăm năm mươi tám ngàn bảy trăm sáu mươi lăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 07/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 105/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi gắn liền trên đất của ông Dương Văn Hy và bà Nguyễn Thị Nguyệt, cư ngụ tại: ấp Phú Hòa, xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

1) Về đất thuộc thửa số 174 và thửa số 145, tờ bản đồ số 19;

- Diện tích: 1.836,9 m2 (trong đó 300 m2 đất ONT và 1.536,9 m2 đất CLN);

- Diện tích 75,2 m2; loại đất CLN;

2) Công trình xây dựng;

a) nhà ở:

- Thời gian hoàn thành xây dựng năm 2008;

- Diện tích xây dựng: 339,1 m2;

- Diện tích sàn xây dựng: 404,52 m2;

- Số tầng: 02 tầng;

- Pháp lý: chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà

* tầng trệt:

- Số phòng; 02 phòng khách và 05 phòng ngủ;

- Kết cấu chính: khung cột bêtông cốt thép, vách tường xây gạch ống 10cm, sơn nước, tường ván gạch ceramic cao 1,6m, có ngăn phòng;

- Hệ thống cửa: cửa chính có 02 tầng cửa (cửa nhôm lắp kín và cửa nhôm kéo), cửa phụ, cửa phòng và cửa sổ là cửa nhôm lắp kính.

- Nền lát gạch bóng kính, nền các phóng lát gạch bông.

* Tầng 01:

- Số phòng: 01 phòng khách và 02 phòng ngủ;

- Kết cấu chính:

+ khung cột bêtông cốt thét;

+ Vách tường xây gạch ống, sơn nước, tường ván gạch ceramic cao 1,6m, có ngăn phòng;

+ Nến lát gạch bông;

+ Trần thạch cao;

+ Mái tole giã ngói;

+ Hệ thống cửa: cửa chính, cửa phụ và cửa phòng là cửa nhôm lắp kính;

+ Cầu thang bêtông cốt thép, lát gạch bông, tay vịn bằng inox;

+ Các tiện ích khác: điện kế riêng, hệ thống điện chiếu sáng đầu đủ;

- Hiện trạng; công trình đang sử dụng bình thường, nền bị lún, tường bị xé một vài chỗ, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

b) Tường rào:

- Kết cấu:

+ Trụ bêtông, kéo lưới B40, cao 1m, dài 31,64m;

+ Trụ bêtông, tường xây gạch < 80cm kéo lưới B40, cao 1m, dài 58,6 m;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng bình thường, lưới B40 đã bị rỉ sét, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

c) Cổng rào:

- Kết cấu:

+ Trụ xây gạch, dán gạch giã đá, cửa cổng bằng khung sắt, cao 2,5m, ngang 3,2m;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng bình thường, cửa cổng bằng khung sắt đã rỉ sét, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

d) Sân lót đan:

- Kết cấu: đan bêtông cốt thét, diện tích 139,88m2; hiện trạng công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

đ) Hồ nước:

- kết cấu: Loại hồ bêtông tròn, số lượng 02, kích thước cao 3m, đường kính 2,8m;

- Hiện trạng: công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

e) Hồ cá:

- Kết cấu: loại hồ bêtông tròn, số lượng 01 ống, kích thước cao 0,5m, đường kính 3,5m;

- Hiện trạng: công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

3) Hoa lợi trên đất; Cây măng cụt, bòn bon, bưởi da xanh, sầu riêng, cây dâu, cây dừa, cây kiểng trồng làm cảnh ngoài đất

- Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi gắn liền trên đất của ông Dương Văn Hy và bà Nguyễn Thị Nguyệt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 964.375.400đ (chín trăm sáu mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn bốn trăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 07/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 80.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 107/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất và hoa màu trên đất của bà Phạm Thị Phương Lan, hiện cư ngụ tại: 482C, ấp Phú Tự, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Diện tích: 1.300,8 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ 46, thửa  571;

2) Công trình xây dựng trên đất:

- Nhà văn phòng: diện tích 90,31 m2; (14,45 m x 6,25m), nền lát gạch ceramic vách tường, khung cột bêtông cốt thép, đòn tay gỗ, kèo gỗ, trần nhựa, mái lộp tole.

- Nhà xưởng: diện tích 178,63 m2 (28,58m x 6,25m), nền láng ximăng, cột bêtông cốt thép đúc sẵn, vách lá, khung kèo, đòn tay bằng gỗ, mái lá.

- Hàng rào:

+ Cổng  rào: Diện tích 7,2 m2 (3m x 2,4m). Kế cấu: trụ cổng bêtông cốt thép, cao 2,6 m; Cánh cổng: khung bằng thép hộp, song đứng bằng sắt tròn, sơn chống sét, 01 cánh.

+ Tường rào: móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bê tông cốt thép, khoảng cột 2,8 m, tường xây lững cao 0,6 m, trên lắp lưới B40.

3) Hoa màu trên đất gồm: 19 cây dừa và 01 cây me.

- Tài sản toạ lạc tại (1+2+3): xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất và hoa màu trên đất của bà Phạm Thị Phương Lan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 522.834.345đ (năm trăm hai mươi hai triệu tám trăm ba mươi bốn ngàn ba trăm bốn mươi lăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 07/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 116/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, nhà và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, địa chỉ tại: ấp An Vĩnh 1, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

1. Về đất và nhà thuộc  tờ bản đồ số 3, thửa số 2949

a) Về đất:

- Diện tích: 630 m2 ;

- Loại đất: LNC; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AM 212096 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 08/4/2008.

b) Nhà trên đất:

+ Nhà ở chính có diện tích 78,3 m2, cột ximăng, đòn tay, xiêng, kèo bằng cây, lợp lá, vách lá và bê dừa, nền lót gạch bông. Không có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

+ Nhà tiền chế có diện tích 30 m2, cột bêtông, máy lợp tole lạnh, khung sắt, hai bên cháy bằng cây lợp lá, nền tráng ximăng.

+ Nhà kho có diện tích 99,8 m2.

+ Chuồng heo có 6 căn chia làm 12 chuồng có diện tích 180m2, cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

+ Tường rào xây tường cao 2 m, diện tích 260,6m2.

+ Cổng rào bằng thép có diện tích 5 m2.

* Tài sản 1 tọa lạc tại: xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (1): 197.907.642đ (Một trăm chín mươi bảy triệu, chín trăm lẻ bảy ngàn, sáu trăm bốn mươi hai đồng).

2. Thửa số 3342, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 959,9 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AO 593582 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 02/01/2009.

- Chuồng heo có diện tích 294 m2 đã xuống cấp không thể sử dụng được.

- Tường rào xây tường cao 0,6 m lắp lưới B40 có diện tích 50,4 m2.

- Tường rào xây tường cao 2 m có diện tích 178 m2.

- Cây trồng: 04 cây dừa trên 10 năm tuổi, 01 cây bưởi khoảng 3 năm tuổi và 01 bụi tre trên 3 năm tuổi.

* Tài sản 2 tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (2): 289.028.333đ (Hai trăm tám mươi chín triệu, không trăm hai mươi tám ngàn, ba trăm ba mươi ba đồng).

3. Thửa số 2784, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 957 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AN 550468 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 30/9/2008.

- Chuồng heo có diện tích 356,3 m2 cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

- Tường rào có diện tích 257,3 m2.

- Cây trồng: 02 cây dừa trên 5 năm tuổi, 02 cây dừa khoảng 01 năm tuổi và 02 cây nhãn trên 5 năm tuổi.

* Tài sản 3 tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (3): 245.795.116đ (Hai trăm bốn mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi lăm ngàn, một trăm mười sáu đồng).

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, nhà và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Tài sản trên bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm tính tròn của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 732.731.091 đ (Bảy trăm ba mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi một ngàn, không trăm chín mươi một đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá (1+2+3): 200.000đ/ 01 hồ sơ/01 tài sản.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 1: 15.000.000 đ/ 01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản (2+3): 20.000.000 đ/ 01hồ sơ/01 tài sản.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/3/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút, ngày 07/5/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 117/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, cây trồng và công trình xây dựng trên đất của bà Nguyễn Thị Ngọc Hiển, địa chỉ tại: ấp An Phong, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre và ông Nguyễn Văn Tân, địa chỉ số 16/7, khu phố 2, phường Tân Thuận Đông, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.

1. Về đất và công trình xây dựng thuộc tờ bản đồ số 02, thửa số 3016.

- Về đất: Diện tích 2.825,1 m2 (đất ONT và HNK). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ787791, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 03244 QSDĐ/2963/QĐ-UB (H) do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày (nay là huyện Mỏ Cày Nam) cấp ngày 31/8/2004. Trên đất có:

- 02 (hai) căn nhà tiền chế có kết cấu móng bêtông cốt thép, khung cốt thép vách tường xây gạch và tole, không trần.

+ Căn 1 có nền lót gạch ceramic, mái tole tráng kẽm diện tích 52,25 m2 và nền ximăng mái tole tráng kẽm diện tích 310,65 m2.

+ Căn 2 có nền lót gạch ceramic, mái tole tráng kẽm diện tích 333,3 m2.

+ Hầm nước thành xây gạch dày 200, không nắp gồm có 05 (năm) hầm tổng thể tích 31,32 m2.

+ Hồ tròn di chuyển được gồm 06 (sáu) hồ tổng thể tích 19,5 m3.

2. Về đất và cây trồng thuộc tờ bản đồ số 02, thửa số 1057.

Diện tích 1.498,3 m2 đất HNK. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 357510, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00327 do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày (nay là huyện Mỏ Cày Nam) cấp ngày 02/11/2005. Trên đất có 07 (bảy) bụi chuối trên 01 năm tuổi.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại ấp An Phong, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, cây trồng và công trình xây dựng trên đất của bà Nguyễn Thị Ngọc Hiển và ông Nguyễn Văn Tân, bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 2.552.611.145đ (Hai tỷ, năm trăm năm mươi hai triệu, sáu trăm mười một ngàn, một trăm bốn mươi lăm đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 200.000.000đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 07/5/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 119/2015

Tài sản thanh lý là:

1. Thanh lý khai thác củi đước để đào, đắp mới đê bao ngư trường của hộ ông Phan Văn Hoằng khối lượng ước tính 13,6 ster (bao gồm chi phí bốc xếp, vận chuyển)

- Tài sản 1 tọa lạc: tại Tiểu khu 15, Phân khu phục hồi sinh thái 2 (ấp Thạnh Thới Đông, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre).

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1): 13.040.000đồng (Mười ba triệu, không trăm bốn mươi ngàn đồng).

2. Thanh lý khai thác rừng bần để xây dựng Đồn biên phòng Hàm Luông với sản lượng lâm sản khai thác (theo thiết kế) khối lượng ước tính 264,4 m3 (giá bán cây đứng, cây còn trong rừng, chưa chặt hạ).

- Tài sản 2 tọa lạc: tại Lô 2, khoảnh 2, Tiểu khu 11, thuộc địa bàn xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (2): 28.350.000đồng (Hai mươi tám triệu, ba trăm năm mươi ngàn đồng).

* Lưu ý:

+ Tài sản bán theo từng mục 1, 2.

+ Giá trên đã bao gồm thuế VAT.

+ Khi bán đấu giá thành tiến hành bàn giao tài sản thực tế, nếu tăng hơn 264,4 m3 và 13,6 ster thì người mua nộp thêm tiền trên tổng tài sản mua được cho Trung tâm, còn ngược lại nếu giảm hơn 264,4 m3 và 13,6 ster thì Trung tâm sẽ hoàn lại tiền trên tổng tài sản mua được cho khách hàng.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ban quản lý Rừng phòng hộ và đặc dụng quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 41.390.000đồng (Bốn mươi một triệu, ba trăm chín mươi ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ (tài sản 1) và 100.000đ/01 hồ sơ (tài sản 2).

* Khoản tiền đặt trước: 1.500.000đ/01 hồ sơ (tài sản 1) và 3.000.000đ/01 hồ sơ (tài sản 2).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/03/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/04/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 06/04/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

27/03/2015 5:00 CHĐã ban hành
Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại trong tố tụng hành chínhPhiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại trong tố tụng hành chính

Ngày 25/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã thông qua Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 (sau đây gọi là Luật TTHC năm 2015). Đây là một trong những đạo luật quan trọng về tố tụng được Quốc hội thông qua theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, là đạo luật trực tiếp liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.     

  Theo đó, một trong những quy định mới được bổ sung trong Luật TTHC năm 2015 là quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại. Khi được Chánh án Toà án phân công giải quyết vụ án, Thẩm phán có nhiệm vụ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại, trừ vụ án theo thủ tục rút gọn và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri.  Việc tổ chức phiên họp này tạo điều kiện cho các đương sự tiếp cận tài liệu, chứng cứ của nhau và yêu cầu, phạm vi khởi kiện, yêu cầu độc lập, việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa...

Tại Điều 134 của Luật TTHC năm 2015 quy định về nguyên tắc đối thoại như sau:

 Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không tiến hành đối thoại được, vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri, vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn được quy định tại các điều 135, 198 và 246 của Luật này.

Việc đối thoại phải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây: Bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự; không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết vụ án hành chính trái với ý chí của họ; nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Những vụ án hành chính không tiến hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật TTHC năm 2015 gồm: Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia đối thoại được vì có lý do chính đáng; các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại.

Về việc thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại: Trước khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại giữa các đương sự, Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp. Trường hợp vụ án hành chính không tiến hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật này thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành việc đối thoại.

Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại:

Thành phần tham gia phiên họp gồm có: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký phiên họp ghi biên bản; đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); người phiên dịch (nếu có).

Trường hợp cần thiết, Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia phiên họp.

Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên họp để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp và thông báo bằng văn bản việc hoãn phiên họp, mở lại phiên họp cho các đương sự.

Về trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại quy định tại Điều 139 của Luật TTHC năm 2015 như sau:

Trước khi khai mạc phiên họp, Thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho đương sự biết quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này.

Khi tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và hỏi đương sự về những vấn đề sau đây: Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, sửa đổi, bổ sung, thay thế, rút yêu cầu khởi kiện; yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác; việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa; vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.

Sau khi các đương sự trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các đề nghị của đương sự quy định tại khoản 2 Điều này; trường hợp đương sự vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ.

Sau khi tiến hành xong việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều này, Thẩm phán tiến hành thủ tục đối thoại như sau:

Thẩm phán phổ biến cho đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc đối thoại để họ tự nguyện thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án;

Người khởi kiện trình bày bổ sung về yêu cầu khởi kiện, những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm của người khởi kiện về hướng giải quyết vụ án (nếu có);

Người bị kiện trình bày bổ sung ý kiến về yêu cầu của người khởi kiện, những căn cứ ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện và đề xuất hướng giải quyết vụ án (nếu có);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày bổ sung và đề xuất ý kiến giải quyết phần liên quan đến họ (nếu có);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người khác tham gia phiên họp đối thoại (nếu có) phát biểu ý kiến;

Tùy từng trường hợp, Thẩm phán yêu cầu đương sự nêu văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan để đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện, đồng thời kiểm tra hiệu lực pháp luật của văn bản đó. Thẩm phán có thể phân tích để các đương sự nhận thức đúng về nội dung văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan để họ có sự lựa chọn và quyết định việc giải quyết vụ án;

Sau khi các đương sự trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;

Thẩm phán kết luận về những vấn đề các bên đương sự đã thống nhất và những vấn đề chưa thống nhất.

Thư ký phiên họp ghi biên bản về diễn biến phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại.

 Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải có các nội dung sau đây: Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp; địa điểm tiến hành phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; ý kiến của đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 138 của Luật này; các nội dung khác; kết luận của Thẩm phán về việc chấp nhận, không chấp nhận các đề nghị của đương sự.

Biên bản đối thoại phải có các nội dung sau đây: Nội dung quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này; ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; nội dung đã được đương sự thống nhất, không thống nhất.

Đối với trường hợp không tiến hành đối thoại được quy định tại Điều 135 của Luật này thì lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký phiên họp ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản phiên họp ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên họp và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận.

Về xử lý kết quả đối thoại:

Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người bị kiện giữ nguyên quyết định, hành vi bị khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ nguyên yêu cầu thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án.

Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện thì Thẩm phán lập biên bản về việc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện. Người khởi kiện được quyền khởi kiện lại vụ án nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Trường hợp qua đối thoại mà người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện thì Tòa án lập biên bản về việc cam kết của đương sự. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện. Hết thời hạn này mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án .

Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì quyết định của Tòa án có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

18/10/2016 5:00 CHĐã ban hành
Quyền và bổn phận của trẻ emQuyền và bổn phận của trẻ em

Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017. Luật có 07 Chương, 106 Điều, có nhiều nội dung mới, trong đó có các quy định mới về quyền và bổn phận của trẻ em.

 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung và được thể hiện cụ thể hơn như:

Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển.

Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.

Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện.

Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

 Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.

Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.

Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.

 Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

 Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

 Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.

Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

 Quyền của trẻ em khuyết tật: Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.

Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Về bổn phận của trẻ em, kế thừa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em.

Bổn phận của trẻ em đối với gia đình: Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ. Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác: Tôn trọng giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác. Thương yêu, đoàn kết, chia sẻ khó khăn, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè. Rèn luyện đạo đức, ý thức tự học, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Giữ gìn, bảo vệ tài sản và chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác.

Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội: Tôn trọng, lễ phép với người lớn tuổi; quan tâm, giúp đỡ người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người gặp hoàn cảnh khó khăn phù hợp với khả năng, sức khỏe, độ tuổi của mình. Tôn trọng quyền, danh dự, nhân phẩm của người khác; chấp hành quy định về an toàn giao thông và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ, giữ gìn, sử dụng tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng và độ tuổi của trẻ em. Phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật.

 Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước: Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước. Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em với bản thân: Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân. Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể. Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang. Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác. Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân.

15/12/2016 4:00 CHĐã ban hành
Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2015Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2015

Sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) 6 tháng đầu năm 2015. Được sự ủy quyền của Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố; đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

hop-hoi-dong-pb1.gif 

Tại Hội nghị Trưởng ban Thư ký của Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh báo cáo tóm tắt dự thảo Báo cáo công tác PBGDPL 6 tháng đầu năm và phương hướng công tác 6 tháng cuối năm 2015. Hội nghị cũng đã nghe 11 ý kiến phát biểu của đại biểu tham dự. Hội nghị đã thống nhất đánh giá công tác PBGDPL trong 6 tháng đầu năm 2015 đã được các cơ quan, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp triển  thực hiện có hiệu quả. Nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động triển khai thực hiện công tác PBGDPL đúng theo kế hoạch. Hình thức PBGDPL phong phú, nội dung pháp luật phù hợp với từng đối tượng, địa bàn, đi vào chiều sâu, thực chất. Công tác phối hợp của một số cơ quan, đơn vị, thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL cấp tỉnh, cấp huyện đi vào nền nếp, phát huy được vai trò của từng cơ quan, đơn vị trong công tác phối hợp PBGDPL. Bước đầu triển khai hoạt động xã hội hóa công tác PBGDPL với những kết quả còn khiêm tốn, tuy nhiên, có thể thấy chủ trương xã hội hóa công tác PBGDPL là cần thiết và đúng đắn, được một số ngành, địa phương quan tâm triển khai thực hiện. Bên cạnh những kết quả đạt được, thì công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở và xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân ở cơ sở trong thời gian qua cũng còn những hạn chế và khó khăn. Để triển khai thực hiện có hiệu quả công tác PBGDPL trong 6 tháng cuối năm 2015, cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

Tiếp tục phối hợp tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả, đúng tiến độ công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, xây dựng và thực hiện quy ước theo Kế hoạch của UBND tỉnh về công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, xây dựng và thực hiện quy ước trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2015.

Tiếp tục chú trọng đổi mới, đa dạng các hình thức PBGDPL, phát huy các hình thức PBGDPL đạt hiệu quả, phổ biến pháp luật sâu rộng đến nhóm đối tượng đặc thù; tổ chức Ngày pháp luật nước Công hòa xã hội chủ nghĩa việt nam năm 2015 (9/11) thiết thực và hiệu quả. Quan tâm củng cố, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, có chế độ chính sách cho phù hợp.

Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp năm 2013; tổng kết cuộc thi viết "Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" trên địa bàn tỉnh đúng tiến độ theo Kế hoạch UBND tỉnh.

Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh; tổ chức quán triệt, phổ biến, truyền thông để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, cộng đồng về xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; phối hợp rà soát các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật, đề xuất Bộ Tư pháp báo cáo Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở cho phù hợp với thực tiễn ở địa phương, cơ sở.

hop-hoi-dong-pb2.gif 

Tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật Hòa giải ở cơ sở, tổ chức kiện toàn tổ hòa giải, đội ngũ hòa giải viên; triển khai thực hiện Chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, phấn đấu tỷ lệ hòa giải thành đạt trên  85%; phải đảm bảo kinh phí hỗ trợ cho hoạt động của tổ hoà giải và chi thù lao hoà giải cho hoà giải viên; tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng các tổ hoà giải, hoà giải viên thực hiện hiệu quả công tác hoà giải theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Tiếp tục nâng cao hiệu quả mô hình Tủ sách pháp luật, phát huy hiệu quả tủ sách pháp luật trong công tác PBGDPL. Rà soát, đánh giá các quy định pháp luật về quy ước ấp, khu phố để phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo, những vấn đề mới phát sinh trong xây dựng và thực hiện quy ước; theo dõi, nắm bắt tình hình, kiểm tra việc xây dựng và thực hiện quy ước theo Kế hoạch UBND tỉnh.

25/06/2015 11:00 SAĐã ban hành
Nâng cao hơn nữa hiệu quả của Tủ sách pháp luậtNâng cao hơn nữa hiệu quả của Tủ sách pháp luật

Thực hiện Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật (Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bến Tre đã ban hành Chỉ thị số 07/2010/CT-UBND ngày 05 tháng 11 năm 2010 về việc tăng cường công tác xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Các sở, ngành, đoàn thể tỉnh, UBND các huyện, thành phố cũng đã triển khai quán triệt và thực hiện nghiêm túc chủ trương xây dựng Tủ sách pháp luật ở ngành, địa phương mình.

Sau 5 năm triển khai thực hiện, đến nay, toàn tỉnh có khoảng 1.275 Tủ sách pháp luật. Trong đó có: 164 Tủ sách pháp luật cấp xã; 275 Tủ sách pháp luật tại cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện;  446 Tủ sách pháp luật trong trường học; 385 Tủ sách pháp luật tại ấp, khu phố, chi tổ, hội; 05 Tủ sách pháp luật tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp phục vụ cho công nhân. Tủ sách pháp luật của các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện đặt tại văn phòng hay phòng nghiệp vụ cơ quan, đơn vị; Tủ sách pháp luật cấp xã đặt tại trụ sở UBND cấp xã hoặc Bưu điện văn hoá; Tủ sách pháp luật tại ấp, khu phố được đặt tại nhà của Trưởng ấp, nhà văn hóa ấp, khu phố; Tủ sách pháp luật trường học được đặt tại thư viện nhà trường; đối với doanh nghiệp thì Tủ sách pháp luật được đặt tại nhà ăn tập thể, nơi tiếp công nhân.

Các tài liệu trong Tủ sách pháp luật chủ yếu là các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực quản lý của ngành, đơn vị, liên quan mật thiết đối với đời sống người dân, công báo, sách pháp luật, các đề cương, sổ tay, tờ bướm tuyên truyền pháp luật, báo pháp luật, các loại tạp chí pháp luật, băng đĩa tuyên truyền pháp luật.

 Đa số các Tủ sách pháp luật đều có phân công cán bộ quản lý. Tủ sách pháp luật tại cơ quan, đơn vị do công chức tại phòng chuyên môn nơi đặt Tủ sách pháp luật quản lý; Tủ sách pháp luật cấp xã do công chức Tư pháp-Hộ tịch, công chức Văn phòng UBND xã, cán bộ phụ trách tại Bưu điện văn hoá cấp xã quản lý. Đa số UBND cấp xã, cơ quan, đơn vị có xây dựng quy chế khai thác, sử dụng Tủ sách pháp luật, có mở sổ theo dõi quản lý và cập nhật đầu sách. Việc ứng dụng công nghệ thông tin mới được áp dụng đối với Tủ sách pháp luật trong nhà trường (kết hợp việc quản lý sách trong thư viện nhà trường).

Đối tượng phục vụ của Tủ sách pháp luật đa số là cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị, công nhân lao động, học sinh tại các trường học và người dân. Hình thức khai thác Tủ sách pháp luật, ngoài việc đọc tại chỗ, các tài liệu trong Tủ sách pháp luật còn được cho mượn về khi có nhu cầu cần tham khảo, nghiên cứu. Số lượt người đọc, mượn tại Tủ sách pháp luật trung bình hàng năm tại cơ quan, đơn vị là 108 lượt/năm, tại Tủ sách pháp luật cấp xã là 280 lượt/năm. Thời gian phục vụ bạn đọc theo giờ hành chính từ 7 giờ đến 11 giờ, 13 giờ đến 17 giờ các ngày từ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần.

Qua 05 năm triển khai thực hiện Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg, xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật trên địa bàn tỉnh, bên cạnh một số kết quả như trên, cũng còn những khó khăn, hạn chế như:

Một số nơi, việc bố trí Tủ sách pháp luật, sách, tài liệu chưa thuận tiện, khoa học, chưa kịp thời cập nhật, loại bỏ các sách, tài liệu đã hết hiệu lực, chưa bổ sung sách mới, nguồn tài liệu bổ sung cho Tủ sách pháp luật chưa nhiều.  Nguồn kinh phí đầu tư cho Tủ sách pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu, do ngân sách địa phương, cũng như tại cơ quan, đơn vị còn khó khăn, chưa huy động được nhiều nguồn kinh phí hỗ trợ khác. Hàng năm, đa số UBND cấp xã bố trí được kinh phí hỗ trợ cho Tủ sách pháp luật, bổ sung thêm đầu sách, tài liệu pháp luật; số tiền đầu tư cho Tủ sách pháp luật cấp xã từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng/năm, phụ thuộc vào điều kiện ngân sách từng địa phương. Một số ít cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện bố trí kinh phí cho Tủ sách pháp luật, nhưng không nhiều, chủ yếu sử dụng nguồn kính phí khoán của cơ quan, đơn vị; một vài cơ quan, đơn vị cấp tỉnh bố trí kinh phí cho Tủ sách pháp luật từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/Tủ sách/năm. 

Địa điểm đặt Tủ sách pháp luật cấp xã và thời gian phục vụ như hiện nay chưa phù hợp. Thời gian phục vụ của Tủ sách pháp luật chủ yếu trong giờ hành chính, đây cũng là thời gian lao động của người dân, công nhân nên chưa thuận tiện cho người dân đến đọc, mượn sách.

Số lượt người dân đến đọc sách và nghiên cứu văn bản pháp luật chưa nhiều, một số ít người dân khi có vướng mắc về pháp luật, có quyền lợi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, mâu thuẩn thì họ đến Tủ sách pháp luật để tìm hiểu, nghiên cứu; còn phần lớn người dân họ tìm đến những người có hiểu biết pháp luật, hoặc liên hệ với cơ quan tư vấn pháp luật miễn phí, hoặc tìm hiểu trên mạng internet. Hiện nay, có nhiều dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí (như Trung tâm Trợ giúp pháp lý, Trung tâm tư vấn pháp luật hoặc Văn phòng Luật sư cũng có nhiệm vụ trợ giúp pháp lý miễn phí...), mặc khác do công nghệ thông tin phát triển cho nên người dân, người thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý có thể dể dàng tiếp cận pháp luật, không phải đến Tủ sách pháp luật để tìm hiểu, nghiên cứu.

Việc xây dựng Tủ sách pháp luật cấp xã, cơ quan, đơn vị là một trong các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật. Để duy trì, nâng cao hiệu quả xây dựng, quản lý, khai thác của Tủ sách pháp luật hiện có, trong thời gian tới cần phải tập trung thực hiện những giải pháp như:

Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp; đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về vai trò, vị trí Tủ sách pháp luật trong phổ biến, giáo dục pháp luật; từ đó quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp xây dựng, quản lý, khai thác của Tủ sách pháp.

Đổi mới trong việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật, có thể xây dựng mô hình Tủ sách pháp luật điện tử. Đối với Tủ sách pháp luật cấp xã, tùy tình hình thực tế địa phương, cơ sở, có thể tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả Tủ sách pháp luật hiện có, kết hợp việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật, xây dựng mô hình Tủ sách pháp luật điện tử.

Bên cạnh, cơ quan, đơn vị, địa phương quan tâm bố trí kinh phí hợp lý đầu tư cho Tủ sách pháp luật, thì Trung ương quan tâm cấp bổ sung, hỗ trợ kinh phí cho địa phương đối với địa phương nào chưa tự cân đối được ngân sách, để địa phương nâng cao chất lượng, hiệu quả khai thác Tủ sách pháp luật.

25/06/2015 11:00 SAĐã ban hành
Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp tham dự hội thi tiếng hát cán bộ, công chức, viên chức năm 2015Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp tham dự hội thi tiếng hát cán bộ, công chức, viên chức năm 2015

Thực hiện Kế hoạch của Công đoàn Viên chức tỉnh Bến Tre về việc tổ chức Hội thi tiếng hát cán bộ, công chức, viên chức, người lao động lần thứ IV năm 2015; nhằm tạo sân chơi bổ ích cho các cán bộ, công chức viên chức, người lao động trong khối các cơ quan tỉnh, Hội thi tiếng hát cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đã diễn ra sôi nổi trong 4 đêm thi, từ ngày 17 đến ngày 20 tháng 6 năm 2015 với sự tham gia của 25 đơn vị khối các cơ quan tỉnh. Năm nay các đội dự thi đã có sự đầu tư tốt về dàn dựng, trang phục, đa dạng về thể loại tham gia dự thi.

thi-van-nghe.gif 

Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp đã tham gia Hội thi với 4 tiết mục bao gồm múa, đơn ca – múa minh hoạ, song ca và tốp ca. Được sự quan tâm hỗ trợ của Ban lãnh đạo Sở, Ban Chấp hành Công đoàn Sở, sự tham gia nhiệt tình của các công đoàn viên, đội văn nghệ của Sở Tư pháp đã cố gắng tập luyện và tham gia cuộc thi. Kết quả Hội thi Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp đạt giải Ba tập thể, tiết mục song ca bài Mẹ Việt Nam anh hùng đạt giải A, tiết mục múa Ký ức và tiết mục đơn ca bài Lời ru cỏ non đạt giải B, và tiết mục tốp ca  Viết tiếp bài ca anh hùng đạt giải C.

25/06/2015 11:00 SAĐã ban hành
Tọa đàm “Tìm giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông”Tọa đàm “Tìm giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông”
Sáng ngày 19/6/2015, Ban Dân vận Tỉnh ủy và Ban An toàn giao thông tỉnh Bến Tre phối hợp tổ chức Tọa đàm “Tìm giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông”. Ông  Trần Quang Diên, Phó trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy; ông Nguyễn Văn Hoàng, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giao thông -Vận tải, Phó Trưởng ban thường trực Ban An toàn giao thông tỉnh đồng chủ trì hội nghị.

Tại buổi Tọa đàm có 11 ý kiến tham luận. Các ý kiến đã tập trung phân tích, đánh giá tình hình, thực trạng tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua; tìm ra nguyên nhân và đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người khi tham gia giao thông, góp phần kiềm chế, kéo giảm tai  nạn giao thông trên địa bàn.

toa-dam-keo-giam-tai-nan-giao-thong.gif 

Kết luận buổi Tọa đàm, ông Nguyễn Văn Hoàng, Giám đốc Sở Giao thông -Vận tải đánh giá cao nội dung ý kiến tham luận của các đại biểu; đồng thời lưu ý, nhấn mạnh một số vấn đề cần quan tâm: Trước hết đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp triển khai thực hiện các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tập trung thực hiện giải pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật pháp luật về an toàn giao thông; đưa nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật pháp luật về an toàn giao thông vào sinh hoạt định kỳ tại các chi bộ đảng; các chi, tổ, hội thuộc tổ chức chính trị - xã hội; gắn việc xây dựng "Văn hóa giao thông"  vào nội dung cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"; xác định rõ trách nhiệm tôn trọng và chấp hành pháp luật là tiêu chí đánh giá chất lượng của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đoàn thể; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên; tiêu chuẩn đánh giá chuẩn mực đạo đức của học sinh, sinh viên hàng năm; biểu dương gương người tốt, việc tốt; đồng thời phê phán những hành vi cố ý vi phạm, coi thường kỹ cương, pháp luật về an toàn giao thông. Đưa nội dung sinh hoạt định kỳ về an toàn giao thông đối với các tổ nhân dân tự quản, tổ dân vận ấp, khu phố; để mọi nhà, mọi người có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật về an toàn giao thông; người lớn trong mỗi gia đình phải là tấm gương để con, cháu noi theo.

 toa-dam-keo-giam-tai-nan-giao-thong1.gif

Ban Giám hiệu các trường học chủ động nghiên cứu, đối mới hình thức, nội dung, phương pháp giảng dạy pháp luật về an toàn giao thông phù hợp với từng đối tượng. Mỗi thầy, cô giáo phải là tấm gương mẫu mực chấp hành pháp luật về an toàn giao thông. Phối hợp chặt chẽ giữa  đình, nhà trường với các đoàn thể, chính trị -xã hội quản lý, giáo dục các em chấp hành và đảm bảo trật tự, an toàn giao thông, không để xảy ra tai nạn giao thông. Lực lượng Cảnh sát giao thông phối hợp với các cơ quan chức năng vừa thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động; vừa tăng cường lực lượng, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, thường xuyên tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn giao thông.

24/06/2015 10:00 SAĐã ban hành
Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 23/6/2015Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 23/6/2015
23/06/2015 5:00 CHĐã ban hành
Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 19/6/2015Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 19/6/2015
23/06/2015 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 23/6/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 23/6/2015
          Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 229/2015

Tài sản bán đấu giá là một phần diện tích đất trong giấy quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Hoàng Dũng và bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp (người có tài sản bảo lãnh thế chấp vay cho ông Nguyễn Văn Diệu và bà Nguyễn Thị Hiệp), địa chỉ: ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm như sau:

- Diện tích đất: 2.000 m2 (trong đó: 50 m2 đất ở nông thôn và 1.950 m2 đất trồng cây lâu năm);

- Thuộc tờ bản đồ số 02, một phần thửa đất số 141;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số  AM 081046, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H06078 do UBND huyện Chợ Lách cấp ngày 29/4/2008.

- Tài sản tọa lạc tại: ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh  Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc một phần quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Hoàng Dũng và bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp (người có tài sản bảo lãnh thế chấp vay cho ông Nguyễn Văn Diệu và bà Nguyễn Thị Hiệp) do Ngân hàng TMCP Đông Á- Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 364.500.000đ (Ba trăm sáu mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 24/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2015 (trong giờ làm việc)

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 28/7/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/hồ sơ

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 230/2015 

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi gắn liền trên đất của ông Dương Văn Hy và bà Nguyễn Thị Nguyệt, cư ngụ tại: ấp Phú Hòa, xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

1) Về đất thuộc thửa số 174 và thửa số 145, tờ bản đồ số 19;         

- Diện tích: 1.836,9 m2 (trong đó 300 m2 đất ONT và 1.536,9 m2 đất CLN);

- Diện tích 75,2 m2; loại đất CLN;

2) Công trình xây dựng;

a) nhà ở:

- Thời gian hoàn thành xây dựng năm 2008;

- Diện tích xây dựng: 339,1 m2;

- Diện tích sàn xây dựng: 404,52 m2;

- Số tầng: 02 tầng;

- Pháp lý: chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà

* tầng trệt:

- Số phòng; 02 phòng khách và 05 phòng ngủ;

- Kết cấu chính: khung cột bêtông cốt thép, vách tường xây gạch ống 10cm, sơn nước, tường ván gạch ceramic cao 1,6m, có ngăn phòng;

- Hệ thống cửa: cửa chính có 02 tầng cửa (cửa nhôm lắp kín và cửa nhôm kéo), cửa phụ, cửa phòng và cửa sổ là cửa nhôm lắp kính.

- Nền lát gạch bóng kính, nền các phóng lát gạch bông.

* Tầng 01:

- Số phòng: 01 phòng khách và 02 phòng ngủ;

- Kết cấu chính:

+ khung cột bêtông cốt thét;

+ Vách tường xây gạch ống, sơn nước, tường ván gạch ceramic cao 1,6m, có ngăn phòng;

+ Nến lát gạch bông;

+ Trần thạch cao;

+ Mái tole giã ngói;

+ Hệ thống cửa: cửa chính, cửa phụ và cửa phòng là cửa nhôm lắp kính;

+ Cầu thang bêtông cốt thép, lát gạch bông, tay vịn bằng inox;

+ Các tiện ích khác: điện kế riêng, hệ thống điện chiếu sáng đầu đủ;

- Hiện trạng; công trình đang sử dụng bình thường, nền bị lún, tường bị xé một vài chỗ, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

b) Tường rào:

- Kết cấu:

+ Trụ bêtông, kéo lưới B40, cao 1m, dài 31,64m;

+ Trụ bêtông, tường xây gạch < 80cm kéo lưới B40, cao 1m, dài 58,6 m;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng bình thường, lưới B40 đã bị rỉ sét, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

c) Cổng rào:

- Kết cấu:

+ Trụ xây gạch, dán gạch giã đá, cửa cổng bằng khung sắt, cao 2,5m, ngang 3,2m;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng bình thường, cửa cổng bằng khung sắt đã rỉ sét, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

d) Sân lót đan:

- Kết cấu: đan bêtông cốt thét, diện tích 139,88m2; hiện trạng công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

đ) Hồ nước:

- kết cấu: Loại hồ bêtông tròn, số lượng 02, kích thước cao 3m, đường kính 2,8m;

- Hiện trạng: công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

e) Hồ cá:

- Kết cấu: loại hồ bêtông tròn, số lượng 01 ống, kích thước cao 0,5m, đường kính 3,5m;

- Hiện trạng: công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

3) Hoa lợi trên đất; Cây măng cụt, bòn bon, bưởi da xanh, sầu riêng, cây dâu, cây dừa, cây kiểng trồng làm cảnh ngoài đất

- Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi gắn liền trên đất của ông Dương Văn Hy và bà Nguyễn Thị Nguyệt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 916.156.630đ (chín trăm mười sáu triệu, một trăm năm mươi sáu ngàn, sáu trăm ba mươi đồng).

 Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 24/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2015 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 28/7/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 80.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 231/2015 

Tài sản bán đấu giá thanh lý công cụ phục vụ sản xuất dừa và công cụ văn phòng của Công ty TNHH Đất Lành (có danh mục chi tiết từng nhóm hàng kèm theo).

- Tài sản tọa lạc: tại Số 37/A3, Tỉnh lộ 885, ấp Phú Chánh, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của Công ty TNHH Đất Lành đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tuyên bố mở thủ tục phá sản theo Quyết định số 01/2013/QĐ-MTTPS ngày 23/12/2013.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 36.873.000đ (ba mươi sáu triệu, tám trăm bảy mươi ba ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/ 01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000/ 01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 24/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/7/2015 (trong giờ làm việc)

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 03/7/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

DANH MỤC CHI TIẾT TÀI SẢN THANH LÝ

(Kèm theo Thông báo bán đấu giá số 903/TB-BĐG ngày 23/6/2015)

 

 

CÔNG CỤ PHỤC VỤ SẢN XUẤT DỪA VÀ CÔNG CỤ VĂN PHÒNG ​ ​ ​36.873.000đ
1

Tủ cây đựng dụng cụ sản xuất

 

cái23.825.000

Tủ cây đựng hồ sơ

 

cái1

Tủ oval đựng hồ sơ

 

cái1

Tủ sắt đựng hồ sơ

 

cái1

Ti vi

 

cái2

Tủ để tivi

 

cái1

Giường cá nhân

 

cái4
2Bàn vi tính gỗ MFCcái34.320.000
Bàn làm việc MFCcái7
Bàn gỗ làm việccái2
Salonbộ1
Bàn họp oval + 10 ghế dựabộ1
3Ghế sắtcái11.737.000
Ghế xoaycái1
Ghế đaycái7
Ghế nhựa mủcái6
4Máy nghiềngcái118.000.000
5Quạt hútcái7675.000
Quạt đứngcái2
Quạt trầncái4
6Máy bơm 1fa của TQcái21.800.000
Máy bơm 3fa của ĐLcái1
7Cầu thang sắtcái1810.000
Thang sắtcái1
8Két sắtcái11.800.000
9Bình chữa cháycái81.440.000
10Cân đồng hồ 12kg,60kg,100kgcái82.466.000
Bao PE loại 10kg, 25kgkg150
Xe đẩycái1
Cần xé nhựacái8

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 233/2015 

- Tài sản bán đấu giá là một phần quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Nết, hiện cư ngụ tại: ấp 5, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích 3.999,8m2;

- Loại đất: LUC;

- Một phần thửa đất số  189, tờ bản đồ số 5;

- Tài sản toạ lạc tại: ấp 5, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Nết, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 239.988.000đ (Hai trăm ba mươi chín triệu, chín trăm tám mươi tám ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 10.000.000đ /01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 24/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 28/7/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 238/2015 

Tài sản bán đấu giá thanh lý tháo dỡ các dãy phòng học và các dãy nhà làm việc (cũ) của Trường Trung học cơ sở Huỳnh Tấn Phát. Tài sản cụ thể như sau:

1. Dãy 1 (khu hành chánh): diện tích sử dụng: 332 m2. Kết cấu: nền gạch bông, vách gạch, cột pêtông cốt thép, mái ngói, trần ván ép, tỷ lệ còn lại 5%.

- Cửa sổ: loại 2 cánh bằng cây khung kiếng: 12 bộ, loại 4 cánh bằng cây khung kiếng: 08 bộ;

- Cửa đi: loại 1 cánh bằng cây khung kiếng: 04 cái, loại 2 cánh bằng cây khung kiếng: 06 bộ.

2. Dãy 2 (phòng bộ môn): diện tích sử dụng: 320 m2. Kết cấu: nền ximăng, vách gạch, cột pêtông cốt thép, mái ngói, không trần, tỷ lệ còn lại 5%.

- Cửa đi loại 2 cánh bằng cây: 05 bộ.

3. Dãy 3 (thư viện, thiết bị, phòng học):

- Diện tích sử dụng: 448 m2. Kết cấu: nền ximăng, vách gạch, cột pêtông cốt thép, mái ngói, không trần. Riêng phòng học: mái tole fibro ximăng, trần ván ép, tỷ lệ còn lại 5%.

- Cửa đi loại 2 cánh bằng cây: 07 bộ.

4. Dãy 4 (phòng học): diện tích sử dụng: 320 m2. Kết cấu: nền ximăng, vách gạch, cột pêtông cốt thép, mái ngói, không trần, tỷ lệ còn lại 5%.

- Cửa đi loại 2 cánh bằng cây: 05 bộ.

5. Phòng Y tế: diện tích sử dụng: 15 m2. Kết cấu: nền gạch tàu, vách gạch, cột pêtông cốt thép, mái tole fibro ximăng, không trần, tỷ lệ còn lại 5%.

- Cửa đi loại 2 cánh bằng cây: 01 bộ;

6. Hồ nước: diện tích sử dụng: 7,5 m2. Kết cấu hồ: thành, nắp, cột pêtông cốt thép, tỷ lệ còn lại 5%.

7. Nhà vệ sinh: diện tích sử dụng: 67 m2. Kết cấu nhà: nền gạch ceramic, vách gạch, cột pêtông cốt thép, mái tole fibro ximăng, tỷ lệ còn lại 5%. Cửa đi loại 1 cánh bằng cây: 14 cái;

- Tài sản tọa lạc tại: Trường Trung học cơ sở Huỳnh Tấn Phát; địa chỉ: xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trường Trung học cơ sở Huỳnh Tấn Phát quản lý, không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

* Lưu ý: Khi bán đấu giá thành.

- Người mua trúng đấu giá được phép lấy cả phần móng, đà, trả lại mặt bằng sạch cho Trường Trung học cơ sở Huỳnh Tấn Phát.

- Thời gian tháo dỡ và bàn giao mặt bằng là 30 ngày (kể từ ngày bàn giao)

- Picton để lại Trường Trung học cơ sở Huỳnh Tấn Phát.

- Hàng rào để lại bảo vệ khuôn viên nhà trường không bán.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3+4+5+6+7): 186.700.000đ (Một trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm ngàn đồng)

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 28.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 24/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/7/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 03/7/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 239/2015 

Tài sản bán đấu giá tịch thu sung công quỹ nhà nước, gồm: 03 lô xe môtô 02 bánh các loại, thùng sắt, xe đạp điện, xe đạp. Tài sản cụ thể như sau:

1. Lô số 01: gồm 410 (bốn trăm mười) xe mô tô, xe gắn máy các loại (trong đó: 405 xe 02 bánh (có 35 xe bị tháo bỏ một phần máy), 05 xe 03 bánh); 01 xe đạp điện và 01 thùng sắt kích thước 2,9m x 1,6m x 1,5m bán dạng phế liệu. Giá khởi điểm: 449.600.000 đ (Bốn trăm bốn mươi chín triệu, sáu trăm ngàn đồng).

2. Lô số 02:  gồm 15 (mười lăm) chiếc xe mô tô, xe gắn máy 02 bánh các loại bán dạng đăng ký lại. Giá khởi điểm: 24.000.000 đ (Hai mươi bốn triệu đồng).

3. Lô số 03:  gồm 03 (ba) chiếc xe mô tô hai bánh các loại bán dạng đăng ký lại và 02 (hai) chiếc xe mô tô, 01 (một) máy xe mô tô hiệu Honda và 01 (một) chiếc xe đạp bán dạng phế liệu. Giá khởi điểm: 23.700.000 đ (Hai mươi ba triệu, bảy trăm ngàn đồng).

*Lưu ý: Tài sản bán theo từng lô, có bảng kê chi tiết kèm theo. Xe bán phế liệu khi trúng đấu giá thành người nhận tài sản phải cà số khung, số máy.

- Tài sản (1 + 2) tọa lạc tại: kho Công an huyện Ba Tri, địa chỉ: thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và tài sản (3) tọa lạc tại: Kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính không xác định được chủ sỡ hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp từ số 01 đến 15/QĐ-TTTVPT  và quyết định số 23/QĐ-TTTVPT ngày 04/5/2015 của Công an huyện Ba Tri; Quyết định thi hành án chủ động số 1659/QĐ-CCTHADS ngày 14/7/2014, số 991/QĐ-CCTHADS ngày 20/3/2014, số 1371/QĐ-CCTHADS ngày 08/5/2014, số 1709/QĐ-CCTHADS ngày 16/7/2014 số 1007/QĐ-CCTHADS ngày 19/3/2015, 1069/QĐ-CCTHADS ngày 01/4/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 497.300.000 đ (Bốn trăm chín mươi bảy triệu, ba trăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 24/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/7/2015 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 03/7/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ (lô số 01), 100.000/hồ sơ (lô số 02), (lô số 03).

* Tiền đặt trước: 65.000.000 đ/hồ sơ (lô số 01), 3.500.000 đ/hồ sơ (lô số 02), (lô số 03).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 240/2015 

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Nhu và bà Trần Thị Riêm (là người có tài sản đảm bào thế chấp vay cho Công ty TNHH Sáu Nhu), địa chỉ tại: ấp Vĩnh Khánh, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất 65, 66, 103, 104, 124, 125, 126, 127, 15, 69; tờ bản đồ số 66.

a) Về đất:

- Diện tích: 12.116,3 m2 (trong đó: 1.850 m2 đất ở nông thôn, 6.254,6 m2 đất trồng cây lâu năm và 4.011,7 m2 đất HNK).

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 381397, AN 385002, AC 515779, AM 699493, AM 699495, AN 385003, AM 699494, AO 241128 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 022030, BE 506809.

b) Công trình xây dựng trên đất (không có giấy chứng nhận) gồm: nhà bảo vệ, tường rào xây gạch cao 03m, nhà kho xưởng (1), nhà tiền chế (1), mái che 1, nhà sấy mẫu, nhà kho xưởng (2), nhà kho xưởng (3), mái che 2, nhà tiếp khách, nhà ăn nền đất, mái che 3, nhà nghỉ công nhân, nhà vệ sinh 1, nhà tiền chế (2), nhà kho xưởng (4), bờ kè bê tông, nhà tiền chế (3), nhà cơ khí, ống hồ, nhà ở, phòng làm việc, nhà mát, nhà để xe công nhân, phòng bảo vệ, tường rào, sân bê tông, cổng rào, hồ bê tông vuông.

c) Trạm biến áp 560kva EMC.

- Tài sản (1) tọa lạc: xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Giá khởi điểm tài sản (1): 9.136.150.000 đ (Chín tỷ, một trăm ba mươi sáu triệu, một trăm năm mươi ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản (1) bán chung quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất và Trạm biến áp.

2. Về đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất 166, 151, 165, 164, 152, 153, 176, 193; tờ bản đồ 29.

a) Về đất:

- Diện tích: 11.292,4 m2 (trong đó: 600 m2 đất ở nông thôn, 10.692,4 m2 đất trồng cây lâu năm).

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 616320, AP 816321, AO 832688, AO 832689, V 512418, AP 816322 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 883813, BG 883762.

b) Công trình xây dựng trên đất (không có giấy chứng nhận) gồm: tường rào xây gạch cao 2m, ống hồ, nhà xưởng, mái che sau.

c) Trạm biến áp 400 KVA.

- Tài sản (2) tọa lạc: xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm tài sản (2): 2.095.875.000 đ (Hai tỷ, không trăm chín mươi lăm triệu, tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản (2) bán chung quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất và Trạm biến áp.

3. Máy móc thiết bị gồm: 04 máy ép mụn, 01 Motor máy ép mụn hiệu HITACHI 30HP, 01 moto máy ép mụn 60HP, 01 moto super line 60HP, 01 moto super line 40HP, 01 cần cẩu, 02 máy đập vỏ, 01 motor Hitachi máy ép vỏ, 04 máy quay chỉ, 05 băng tải phẳng, 05 băng tải xoắn, 06 máy sàn than, 02 máy đập vỏ, 02 máy quay chỉ, 02 băng chuyền phẳng, 01 động cơ LS 315SP, 02 máy ép mụn thành khối, 01 motor Hitachi 50HP - 6 pole, 01 Motor Hitachi 110kw - 4pole, 01 máy đập vỏ, 02 máy quay chỉ, 01 băng chuyền phẳng, 01 máy ép mụn và 07 xe đẩy.

- Tài sản (3) tọa lạc tại 3 địa điểm: phân xưởng thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, xã Hữu Định, huyện Châu Thành và xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre.

- Giá khởi điểm tài sản (3): 763.000.000 đ (Bảy trăm sáu mươi ba triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thực hiện việc đo đạc lại và bán từng mục theo nhu cầu người sử dụng.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Nhu và bà Trần Thị Riêm (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Công ty TNHH Sáu Nhu) do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Tổng giá khởi điểm tài sản bán đấu giá (1+2+3): 11.995.025.000 đ (Mười một tỷ, chín trăm chín mươi lăm triệu, không trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 24/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 01/7/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 08/72015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  500.000đ/ 01 hồ sơ từng tài sản 1,2,3;

* Khoản tiền đặt trước: 500.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 1), 100.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 50.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 3).

          Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

23/06/2015 5:00 CHĐã ban hành
Một số vấn đề cần biết về hành vi bạo lực gia đình và cách phòng, chống bạo lực gia đìnhMột số vấn đề cần biết về hành vi bạo lực gia đình và cách phòng, chống bạo lực gia đình
Tại Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, quy định: Bạo lực gia đình (BLGĐ) là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.

Có 3 yếu tố để xác định BLGĐ : Một là, hành vi cố ý của thành viên gia đình; Hai là, hành vi phải gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế; Ba là, người bị tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại là thành viên trong gia đình.

Tại khoản 16, Điều 3, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quy định:  Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.

Những hành vi BLGĐ

Nhóm hành vi về bạo lực thể chất

Hành vi đấm, đá, tát, véo, cào cấu, cắn...gây thương tích hoặc sử dụng các công cụ, phương tiện, vật chất hỗ trợ để gây thương tích cho thành viên gia đình.

Nhóm hành vi về tình dục

Cưỡng ép thành viên gia đình quan hệ tình dục hoặc ép thành viên gia đình thực hiện các hành động khiêu dâm, sử dụng các loại thuốc kích thích;

Có hạnh vi kích động tình dục hoặc lạm dụng thân thể đối với thành viên gia đình không phải là vợ chồng.

Nhóm hành vi về bạo lực kinh tế

Hành vi không cho thành viên gia đình sử dụng tài sản chung vào mục đích chính đáng; chiếm đoạt tài sản riêng của thành viên gia đình; ép buộc thành viên gia đình lao động quá sức hoặc làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại hoặc làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động; ép buộc thành viên gia đình đi ăn xin hoặc lang thang kiếm sống; hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ; thường xuyên đe dọa bằng bạo lực để buộc thành viên gia đình  ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ.

Nhóm hành vi về bạo lực tinh thần

Bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân; bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người già, yếu, tàn tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ;

Lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình ; tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm; sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm; phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

Cấm các thành viên gia đình ra khỏi nhà, ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, bạn bè hoặc có mối quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh nhằm mục đích cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý đối với thành viên đó; không cho thành viên gia đình thực hiện quyền làm việc; tham gia vào các hoạt động xã hội hợp pháp, lành mạnh; buộc thành viên gia đình phải chứng kiến cảnh bạo lực đối với người, con vật;

Ngăn cản thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha mẹ và con (không thuộc trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom theo quyết định của Tòa án);

Từ chối hoặc trốn tránh trách nhiệm nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; từ chối hoặc trốn tránh trách nhiệm nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật; từ chối hoặc trốn tránh trách nhiệm nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật;

Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, huy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác; cản trở người khác kết hôn, ly hôn; cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, huy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Một số biện pháp phòng, chống BLGĐ trong thời gian tới

Cần tập trung truyền thông giúp cho các gia đình và cộng đồng nhận biết về hành vi BLGĐ, hình thức BLGĐ; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng và chính quyền cơ sở trong phòng, chống BLGĐ; các hình thức sử lý đối với hành vi BLGĐ; các đôi tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ.

Cần đa dạng hóa các loại hình truyền thông. Trong đó, hình thức truyền thông được gợi ý là truyền thông trực tiếp tại cộng đồng. Việc truyền thông qua các tiểu phẩm sân khấu, lồng ghép nội dung trong các cuộc họp của tổ chức, đoàn thể, cụm dân cư ở cộng đồng, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt ngoại khóa ở các trường học…

Cần phát hiện sớm, đa dạng hóa hình thức tiếp nhận thông tin về BLGĐ ở cộng đồng; phân công người quan tâm, giám sát những gia đình có nguy cơ cao về BLGĐ.

Can thiệp kịp thời khi phát hiệ mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình.

Xử lý nghiêm hành vi BLGĐ, có 4 bước:

Bước 1: Xác minh hành vi BLGĐ;

Bước 2:Xác định cá nhân có thẩm quyền xử lý hành vi BLGĐ, và các hình thức xử lý, gồm: Góp ý phê bình trong cộng đồng dân cư; xử phạt vi phạm hành chính (gồm cảnh cáo, phạt tiền); áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc; áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thi trấn; áp dụng biện pháp đưa đi trường giáo dưỡng, trại cải tạo; truy cứu trách nhiêm hình sự.

Bước 4: Theo dõi, giám sát người có hành vi BLGĐ;

Bước 4: Giúp đỡ, hỗ trợ người có hành vi BLGĐ.

23/06/2015 5:00 CHĐã ban hành
Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 17/6/2015Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 17/6/2015
22/06/2015 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 18/6/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 18/6/2015
Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 221/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Châu Ngọc Khang và bà Lê Thị Hiền, hiện cư ngụ tại: 112D3, khu phố Bình Lợi, phường 6, thành phố Bến Tre, Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Thửa số 22, diện tích 82.9 m2, thửa số 22a, diện tích 1.3 m2, cùng tờ bản đồ số 24.

- Loại đất: ODT;

2. Công trình xây dựng trên đất (nhà ở).

- Không rõ năm xây dựng, xây dựng trên phần đất do ông Khang và bà Hiền đứng tên thửa số 22, diện tích 82,9 m2 và thửa số 22a, diện tích 1,3 m2. Xây dựng trên phần đất do ông Khang và bà Hiền không đứng tên thửa số 14a, diện tích 17,3 m2; thửa số 14b, diện tích 0,5 m2 và thửa số 23a, diện tích 1,8 m2.

- Dạng nhà cấp IV: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, mái lợp tole sóng vuông, hệ thống điện đi ngoài, hệ thống nước âm tường.

- Phòng khách: nề láng ximăng, tường bao xây gạch dày 10 cm, quét vôi, đòn tay thép, mái tole sóng vuông. Cửa đi bằng sắt 02 cánh; Phòng ngủ (02 phòng): có kết cấu tương tự như phòng khách, nền lát gạch ceramic (30x30) cm, cửa phòng khung sắt + kính 01 cánh, cửa sổ khung sắt + kính, 02 cánh (dạng lùa), có 01 phòng ngủ không có cửa phòng và cửa sổ; Nhà bếp: bêtông cốt thép lát gạch men, tường ốp gạch cao khoảng 1,6 m; Phòng vệ sinh: nền lát gạch ceramic nhám (20x20) cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, ốp gạch men cao khoảng 02 m, cửa bằng thiết 01 cánh, thiếc bị vệ sinh vòi nước, lavabo...

- Hiện trạng: Nhà ở đang sử dụng bình thường.

* Lưu ý: Người mua tài sản phải tự tháo dỡ một phần nhà trả lại phần đất thửa số 14a, diện tích 17,3 m2; Thửa 14b, diện tích 0,5 m2 và thửa 23a diện tích 1,8 m2 (do phần đất này ông Khang, bà Hiền không đứng tên). Chi phí cho việc tháo dỡ người mua tự chịu.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Châu Ngọc Khang và bà Lê Thị Hiền, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 746.545.000đ (bảy trăm bốn mươi sáu triệu, năm trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ / 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/ 01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 22/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/7/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 29/7/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 225/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

- Tổng diện tích được sử dụng: 13.249,7 m2 (gồm 110 thửa)

- Loại đất: ONT (có bảng kê chi tiết kèm theo).

- Tài sản tọa lạc tại: xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri quản lý không có nhu cầu sử dụng.

* Tài sản trên bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 18.086.170.000đ (Mười tám tỷ, không trăm tám mươi sáu triệu, một trăm bảy mươi ngàn đồng).

- Lệ phí tham gia đấu giá và khoản tiền đặt trước: (trong bảng kê chi tiết).

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 22/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/7/2015.

Thời gian đăng ký mua tài sản từ: 13 giờ đến 16 giờ 30 phút ngày 22/7/2015 (trong giờ làm việc) tại Trung tâm Phát triển Quỹ Đất huyện Ba Tri.

Tổ chức bán đấu giá: vào lúc  08 giờ ngày 24/7/2015 tại Hội trường Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 228/2015

Tài sản là 01 (một) chiếc xe môtô hai bánh, nhãn hiệu: VISION, màu sơn xanh, biển số 71B2-160.16, số máy JF 33E-0560618, số khung RLHJF 3316DY-480.487 của bà Dương Thị Yến Linh, sinh năm 1993; đăng ký thường trú tại: 45B, ấp Mỹ Đức, xã Mỹ Thành, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Tài sản tọa lạc tại: Kho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Dương Thị Yến Linh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 23.992.000đ (Hai mươi ba triệu, chín trăm chín mươi hai ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 2.500.000 đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 22/6/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 29/6/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 03/7/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

22/06/2015 4:00 CHĐã ban hành
Tăng cường công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh Bến TreTăng cường công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trong thời gian qua, việc triển khai, thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng7 năm 2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế và Đề án số 1685/ĐA-UBND ngày 17 tháng 4 năm  2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về thành lập tổ chức pháp chế và nâng cao chất lượng hoạt động pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre đạt được một số kết quả nhất định, nhất là trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng và kiểm tra văn bản, tư vấn pháp luật.

Tuy nhiên, công tác pháp chế ở các sở, ngành tỉnh, doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh còn nhiều bất cập, hạn chế về tổ chức và hoạt động. Nguyên nhân là do một số sở, doanh nghiệp chưa thành lập Phòng Pháp chế, chưa bố trí đủ biên chế; chưa xác định đúng vị trí và tầm quan trọng của công tác pháp chế; chưa quan tâm đầu tư, tạo điều kiện về phương tiện làm việc, chưa bố trí công chức pháp chế chuyên trách, người làm công tác pháp chế thiếu ổn định do điều động, luân chuyển công tác; cán bộ làm công tác pháp chế chưa được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ.

Để khắc phục những hạn chế, khó khăn nêu trên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tiếp tục phổ biến, quán triệt Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng7 năm 2011 của Chính phủ quy định và Đề án số 1685/ĐA-UBND ngày 17 tháng 4 năm  2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh đến từng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động để nhận thức đầy đủ, thống nhất về công tác pháp chế; quan tâm và tạo điều kiện cần thiết để đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung của Nghị định và Đề án.

Trên cơ sở biên chế hiện có, Giám đốc các sở, ngành tỉnh phân công ít nhất một công chức làm công tác pháp chế chuyên trách, có thể bố trí làm việc tại bộ phận Thanh tra hoặc Văn phòng sở. Tùy tình hình thực tế tại cơ quan, đơn vị mà bố trí công chức ở các bộ phận khác kiêm nhiệm công tác pháp chế để hỗ trợ công chức làm pháp chế chuyên trách. Giám đốc doanh nghiệp nhà nước căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị bố trí ít nhất một nhân viên pháp chế chuyên trách làm tại Phòng Hành chính –Tổng hợp hoặc Phòng Tổ chức cán bộ của đơn vị.

Công chức, viên chức làm công tác pháp chế chuyên trách  tại các sở, ngành tỉnh, doanh nghiệp nhà nước tỉnh phải có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 12 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Trường hợp các sở, doanh nghiệp nhà nước bố trí công chức hoặc nhân viên làm công tác pháp chế chưa có trình độ cử nhân luật thì phải cử tham gia chương trình đào tạo về pháp luật và bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế theo quy định.​​

28/10/2014 5:00 CHĐã ban hành
Lễ trao quyết định tuyển dụng công chứcLễ trao quyết định tuyển dụng công chức
Sáng ngày 20/5/2014, Sở Nội vụ tổ chức Lễ trao quyết định tuyển dụng công chức cho các thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013. Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ; ông Huỳnh Thanh Phương, Phó Gián đốc Sở Nội vụ đến dự và trao quyết định tuyển dụng công chức. 

Sáng ngày 20/5/2014, Sở Nội vụ tổ chức Lễ trao quyết định tuyển dụng công chức cho các thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013. Ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ; ông Huỳnh Thanh Phương, Phó Gián đốc Sở Nội vụ đến dự và trao quyết định tuyển dụng công chức.

Tham dự buổi Lễ có đại diện lãnh đạo và Trưởng phòng phụ trách công tác tổ chức – cán bộ: Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương, Sở Giao thông Vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Y tế, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân và Phòng Nội vụ các huyện, thành phố.


Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức kỳ thi tuyển dụng công chức năm 2013, gồm có 422 thí sinh tham dự kỳ thi. Kết quả có 124 thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức vào làm việc ở các cơ quan Đảng, đoàn thể; các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ( trong đó, có 41 thí sinh vào làm việc ở các cơ quan Đảng, đoàn thể). Các thí sinh sẽ trãi qua 5 phần thi viết và trắc nghiệm về kiến thức chung, nghiệp vụ chuyên ngành, văn phòng, tin học và ngoại ngữ.

Ngày 08/4/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 677/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả kỳ thi tuyển và công nhận danh sách thí sinh trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2012-2013; đã có 83 thí sinh được Sở Nội vụ trao quyết định tuyển dụng vào làm việc ở các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Trong đó, Sở Tư pháp được tuyển dụng 04 công chức: Nguyễn Thị Chuyền, Lê Thị Phượng, Lê Thị Hồng Diễm, Nguyễn Thị Nhiên.

Đây là lần đầu tiên, tỉnh Bến Tre tổ chức thi tuyển công chức có quy mô lớn với hình thức thi công khai, minh bạch, đã siết chặt việc coi thi, ra đề, chấm thi, nhằm tuyển chọn những công chức có phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực, kịp thời bổ sung đội ngũ công chức cho các cơ quan, đơn vị đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tại buổi Lễ, ông Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ chúc mừng các thí sinh được trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức năm 2013, Giám đốc Sở Nội vụ Nguyễn Hữu Lập yêu cầu các công chức mới được tuyển dụng cần nhanh chóng thích nghi, hòa nhập; chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị nơi công tác; vận dụng các kiến thức đã học vào công việc có hiệu quả nhất; không ngừng phấn đấu, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tin học, ngoại ngữ; học hỏi đồng nghiệp, làm tốt công tác tham mưu để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào thực hiện thành công nhiệm vụ chung của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, Giám đốc Sở Nội vụ cũng đề nghị lãnh đạo các cơ quan, đơn vị tiếp nhận công chức mới phân công nhiệm vụ đúng theo vị trí việc làm, tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn công chức mới làm quen với công việc, để công chức mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

20/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 17/4/2014Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 17/4/2014

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 104/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là các thửa đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

- Tổng diện tích được sử dụng: 3.945,1 m2 (trong đó diện tích lộ giới 1.390,2 m2, diện tích tính vào giá bán 2.554,9 m2), (gồm 13 thửa);

- Loại đất: ONT (có bảng kê chi tiết kèm theo).

-  Tài sản tọa lạc tại: xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 1.533.000.000đ (một tỷ năm trăm ba mươi ba triệu đồng).

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ ngày 18/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/5/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sàn từ 7 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 22/5/2014 tại Hội trường Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 115/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út; hiện cư ngụ tại: ấp Bình Hòa, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

a) Thửa số 42, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  227,8 m2  (diện tích lộ giới 56,3m2);

- Loại đất: ODT;

b) Thửa số 44, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  202 m2;

- Loại đất: TSL (nuôi trồng thủy sản);

2) Công trình xây dựng trên đất (nhà ở diện tích 337,541 m2).

- Tầng trệt: phòng massage, khu phòng massage, phòng xông hơi 1, phòng xông hơi 2, hồ thủy lực, khu vệ sinh.

- Tầng lầu: phòng karaoke, khu vệ sinh.

- Phần tài sản phụ: cổng rào, hàng rào, mái che, gác gỗ.

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.988.445.840đ (một tỷ chín trăm tám mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm bốn mươi đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 18/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 23/5/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 150.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 117/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

1. Thửa số 55, tờ bản đồ số 40

- Diện tích được sử dụng 109,9 m2;

- Diện tích lộ giới 6,0 m2;

- Diện tích tính vào giá bán 103,9 m2;

- Loại đất chuyển quyền sử dụng ODT.

- Giá khởi điểm: 436.380.000đ (bốn trăm ba mươi sáu triệu ba trăm tám mươi ngàn đồng).

2. Thửa số 56, tờ bản đồ số 40

- Diện tích được sử dụng 110,6 m2;

- Diện tích lộ giới 6,8 m2;

- Diện tích tính vào giá bán 103,8 m2;

- Loại đất chuyển quyền sử dụng ODT.

- Giá khởi điểm: 435.960.000đ (bốn trăm ba mươi lăm triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng).

3. Thửa số 57, tờ bản đồ số 40

- Diện tích được sử dụng 110,9 m2;

- Diện tích lộ giới 7,6 m2;

- Diện tích tính vào giá bán 103,3 m2;

- Loại đất chuyển quyền sử dụng ODT.

- Giá khởi điểm: 433.860.000đ (bốn trăm ba mươi ba triệu tám trăm sáu mươi ngàn đồng).

4. Thửa số 58, tờ bản đồ số 40

- Diện tích được sử dụng 111,6 m2;

- Diện tích lộ giới 8,4 m2;

- Diện tích tính vào giá bán 103,2 m2;

- Loại đất chuyển quyền sử dụng ODT.

- Giá khởi điểm: 433.440.000đ (bốn trăm ba mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi ngàn đồng).

5. Thửa đất số 59, tờ bản đồ số 40

- Diện tích được sử dụng 112,2 m2;

- Diện tích lộ giới 9,3 m2;

- Diện tích tính vào giá bán 102,9 m2;

- Loại đất chuyển quyền sử dụng ODT.

- Giá khởi điểm: 432.180.000đ (bốn trăm ba mươi hai triệu một trăm tám mươi ngàn đồng).

6. Thửa đất số 60, tờ bản đồ số 40

- Diện tích được sử dụng 108,8 m2;

- Diện tích lộ giới 10,0 m2;

- Diện tích tính vào giá bán 98,8 m2;

- Loại đất chuyển quyền sử dụng ODT.

- Giá khởi điểm: 414.960.000đ (bốn trăm mười bốn triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng).

* Tài sản (1+2+3+4+5+6) tọa lạc tại: thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng bán đấu giá nộp vào ngân sách nhà nước;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản (1+2+3+4+5+6): 2.586.780.000đ (hai tỷ năm trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản (1+2+3+4+5+6): 200.000đ/01 thửa/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước (1+2+3+4+5+6): 45.000.000đ/01 thửa/01 hồ sơ.

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 18/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/5/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 22/5/2014 tại Hội trường UBND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 118/2014

* Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng của ông Lê Quang Dái và bà Nguyễn Thị Huệ, cư ngụ tại: ấp 4, xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

1- Về đất và công trình xây dựng trên đất

a) Diện tích đất 433 m2 (trong đo 300 m2 đất  ONT và 133 m2 đất LNK), thửa số 133, tờ bản đồ số 02.

b) Công trình xây dựng

- Nhà ở: không rõ năm xây dựng, nhà dạng cấp 4;

+ Kết cấu: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic (40 x 40) cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm,  quét voi. Đòn tay gỗ, kèo gỗ, mái ngói. Cửa đi bằng gỗ bốn cánh.

+ Hiện trạng: Nhà ở đang sử dụng bình thường.

- Nhà phụ: Dạng nhà tiền chế

+ Kết cấu: Nền lát gạch ceramic (40 x 40) cm. Cột thép tròn, kèo thép V tổ hợp lại, xà gồ thép, mái tole sóng vuông.

+ Hiện trạng: Nhà phụ đang sử dụng bình thường.

* Giá khởi điểm tài sản 1: 290.839.000đ (hai trăm chín mươi triệu tám trăm ba mươi chín ngàn đồng).

2- Thửa số 266, tờ bản đồ số 02

- Diện tích 1.268,5 m2;

- Loại đất: Lúa;

* Giá khởi điểm tài sản 2: 69.767.500đ (sáu mươi chín triệu bảy trăm sáu mươi bảy ngàn năm trăm đồng).

3- Thửa số 221, tờ bản đồ số 02

- Diện tích 2.587,7 m2;

- Loại đất: Lúa;

* Giá khởi điểm tài sản 3: 155.262.000đ (một trăm năm mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi hai ngàn đồng).

4- Thửa số 303, tờ bản đồ số 02

- Diện tích 1.383,7 m2;

- Loại đất: Lúa;

* Giá khởi điểm tài sản 4: 83.022.000đ (tám mươi ba triệu không trăm hai mươi hai ngàn đồng).

* Tài sản (1+2+3+4) tọa lạc tại: xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng của ông Lê Quang Dái và bà Nguyễn Thị Huệ, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3+4): 598.890.500đ (năm trăm chín mươi tám triệu tám trăm chín mươi ngàn năm trăm đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản (1+3): 200.000đ/01hồ sơ.

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản (2+4): 150.000đ/01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 1: 25.000.000đ /01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 2: 6.000.000đ /01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 3: 15.000.000đ /01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 4: 8.000.000đ /01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 18/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 23/5/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 119/2014

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Bên và bà Võ Thị Nhãn, cư ngụ tại: ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

- Diện tích: 1.201,6 m2;

- Loại đất: trồng lúa;

- Tờ bản đồ số 24, một phần hai thửa số 388, 392;

- Tài sản tọa lạc tại: xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Bên và bà Võ Thị Nhãn, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 60.080.000đ (sáu mươi triệu không trăm tám mươi ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 6.000.000đ/01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 18/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 23/5/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 120

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Đặng Thanh Phong và bà Nguyễn Thị Thu Hồng; hiện cư ngụ tại: ấp Tân Phước, xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre;

1) Thửa số 164, tờ bản đồ số 27;

- Diện tích:  5.234,6 m2;

- Loại đất: Lúa;

2) Thửa số 217, tờ bản đồ số 27;

- Diện tích:  870,5 m2;

- Loại đất: CLN;

- Cây trồng trên đất có 34 cây dừa từ 01 đến 10 năm;

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: ấp Tân Phước, xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Đặng Thanh Phong và bà Nguyễn Thị Thu Hồng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 505.818.000đ (năm trăm lẻ năm triệu tám trăm mười tám ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 50.000.000 đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 18/4/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/5/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 23/5/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667 để biết thêm chi tiết.

28/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả 8 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư phápKết quả 8 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp
Sáng ngày 19/7/2013, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp (CCTP) tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Đồng chí Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy đến dự và chủ trì hội nghị.

Sáng ngày 19/7/2013, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp (CCTP) tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Đồng chí Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy đến dự và chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; Đoàn Luật sư; các đại biểu là thành viên Ban Chỉ đạo CCTP và Tổ giúp việc; thường trực các huyện ủy, thành ủy.


Hội nghị đã nghe bà Trịnh Thị Thanh Bình, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, Kiêm Phó ban Thường trực Ban Chỉ đạo CCTP báo cáo tóm tắt kết quả 08 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp, nêu rõ: Qua 08 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan tư pháp cấp tỉnh, cấp huyện được nâng lên; đã tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 49-NQ/TW; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra thường xuyên và có nhiều chuyển biến tích cực; xác định rõ hơn trách nhiệm; tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp được củng cố, kiện toàn; trình độ, năng lực được nâng lên; công tác quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm, điều động, luận chuyển cán bộ được quan tâm và thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình; chất lượng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án ngày càng hiệu quả và đúng pháp luật; thực hiện có hiệu quả việc tăng thẩm quyền xét xử về án hình sự, dân sự đối với Tòa án nhân dân cấp huyện; vai trò luật sư và các cơ quan bổ trợ tư pháp được đề cao; công tác xã hội hóa về hoạt động luật sư, công chứng…đang được triển khai đạt kết quả bước đầu; chất lượng đội ngũ cán bộ bổ trợ tư pháp được nâng lên; hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đạt kết quả tốt hơn trước; cơ sở vật chất, phương tiện làm việc được quan tâm đầu tư nhiều hơn.


Tuy nhiên, thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW ở một số ngành, địa phương cũng còn hạn chế, nhận thức chưa sâu, phối hợp chưa đồng bộ, chặt chẽ; còn có ý kiến khác nhau, chưa nhất quán giữa các cơ quan tố tụng; nhất là trong nhận thức và áp dụng pháp luật; án đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ, trả hồ sơ điều tra bổ sung, án hủy, án sửa tuy có giảm nhưng vẫn còn xảy ra; án dân sự và vụ việc thi hành án dân sự tuy có tập trung kéo giảm nhưng vẫn còn nhiều; công tác giám định pháp y còn nhiều khó khăn, do chưa được đầu tư đúng mức về cơ sở vật chất, máy móc thiết bị chuyên dùng; công tác thi hành án tư hình còn vướng mắc.

Kết luận hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo đánh giá cao kết quả 8 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp của các cấp ủy đảng, chính quyền, địa phương; nhất là vai trò chủ trì, phối hợp của các cơ quan tư pháp. Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị; trong thời gian tới, Ban Chỉ đạo CCTP và các cấp ủy đảng, các cơ quan tư pháp cần tập trung đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện nhiệm vụ CCTP; tiếp tục kiện toàn tổ chức, sắp xếp cán bộ; quan tâm bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị; rèn luyện phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp; nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp. Phó Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo đề nghị các huyện ủy, thành ủy quan tâm lãnh đạo các cơ quan tư pháp cấp mình hoạt động hiệu quả; chỉ đạo phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các cơ quan tư pháp cấp tỉnh; kịp thời cung cấp, trao đổi thông tin và giải quyết, xử lý tốt các vướng mắc, khó khăn; Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tỉnh thực hiện tốt công tác giám sát đối với các cơ quan tư pháp.

02/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại huyện Mỏ Cày NamĐăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại huyện Mỏ Cày Nam

Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, đã chuyển giao thẩm quyền đăng ký các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài cho Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết (trước đây do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết).

          Trong những ngày đầu năm 2016, tại huyện Mỏ Cày Nam giải quyết các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài khá nhiều, đã giải quyết 01 trường hợp nhận cha, con; 05 trường hợp đăng ký kết hôn; tư vấn nhiều trường hợp đăng ký kết hôn, ghi chú ly hôn, đăng ký lại khai sinh.

111111.jpg

          Ngày 05 tháng 02 năm 2016, Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tổ chức Lễ đăng ký kết hôn cho công dân Việt Nam (bên nữ) và công dân Úc (bên nam).

Tại buổi Lễ, ông Phan Văn Hợp,  Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, đại diện Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đã chứng kiến và trao Giấy chứng nhận kết hôn cho vợ, chồng. Đồng thời, chúc mừng hạnh phúc và cũng mong rằng trong thời gian tới, vợ chồng dù sống ở nơi đâu vẫn giữ được bản sắc văn hóa của người Việt Nam, cùng đóng góp xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp.

Phòng Tư pháp huyện Mỏ Cày Nam

07/03/2016 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 10/10/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 10/10/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 302 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Loan, hiện cư ngụ tại: 63/2 ấp Thạnh A, xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản có các đặc điểm sau:

1. Về đất:

  - Diện tích: 562,8 m2 (trong đó 70 m2 đất ONT; 197,3 m2 đất CLN và 295,5 m2 đất HLLG);

- Thuộc thửa đất số 187, tờ bản đồ số 15.

  2. Công trình xây dựng:

  a) Nhà chính:

  - Nhà 2 tầng;

          - Diện tích xây dựng: 127,8 m2;

          - Diện tích sàn xây dựng: 255,6 m2;

          - Kết cấu chính:

              + Móng cột bêtông cốt thép;

              + Vách tường xây gạch bao che dày 10 cm, sơn nước;

              + Nền lát gạch bông;

              + Trần la phong bằng thạch cao;

              + Mái lợp tole tráng kẽm;

              + Cầu thang bêtông cốt thép, dán đá hoa cương, tay vịn bằng gỗ;

              + Cửa chính, cửa phụ là cửa nhôm kéo, cửa phòng, cửa xổ là cửa nhôm lắp kính;

              + Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, tường nhà có vài chỗ bị thấm và bị nứt, nền gạch và mái tole biến dạng so với màu sắc ban đầu, nền nhà có dấu hiệu bị lún, trần nhà có vài chỗ bị hư hỏng.

          b) Nhà tạm 1 (nhà tiền chế):

          - Diện tích xây dựng: 41,3 m2;

          - Kết cấu chính:

              + Nền láng ximăng;        

              + Mái lợp tole tráng kẽm;

              + Vách tole một bên, các bên khác không có vách;

              + Hiện trạng: Nền nhà có vài chỗ bị nứt, mái tole biến dạng so với màu sắc ban đầu.

          c) Mái che:

          - Diện tích xây dựng: 9,8 m2;

          - Kết cấu chính:

              + Nền đất, mái lợp tole;

          - Hiện trạng: Mái tole biến dạng so với màu sắc ban đầu và có nhiều chỗ bị hư hỏng nặng.

         d) Hồ nước loại lớn:

         - Số lượng: 02 hồ;

         - Diện tích: 7,93 m2;

         - Kết cấu: bằng bêtông;

         - Hiện trạng: Hồ nước có vài chỗ bị nứt.

         e) Hồ nước loại nhỏ:

         - Số lượng: 06 hồ;

         - Diện tích: 13,85 m2;

         - Kết cấu: bằng bêtông;

         - Hiện trạng: Hồ nước có vài chỗ bị nứt.

         f) Hàng rào gắn khung thép hình:

         - Số lượng: 45,8 m2;

         - Quy cách: Trụ rào bêtông cốt thép, tường lững < 0,8m gắn khung thép hình;

         - Hiện trạng: Tường và trụ rào có vài chỗ bị rạn nứt, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng.

         g) Hàng rào gắn lưới B40:

         - Số lượng: 122,94 m2;

         - Quy cách: Trụ rào bêtông cốt thép, tường lững < 0,8m gắn lưới B40;

         - Hiện trạng: Tường và trụ rào có vài chỗ bị rạn nứt, khung lưới B40 có nhiều chỗ bị rỉ sét.

         h) Đài nước:

         - Số lượng: 0,54 m3;

         - Quy cách: có 3 trụ bêtông tròn, chiều cao 4m, đường kính 12 cm;

         - Hiện trạng: Trụ bêtông có vài chỗ bị rạn nứt.

         i) Bồn chứa nước:

         - Số lượng: 01 cái;

         - Thể tích: 1000 lít;

         - Chất liệu: bằng nhựa;

         - Quy cách: loại bồn nằm ngang.

         j) Sân đan:

         - Diện tích: 284,61 m2;

         - Kết cấu: bằng bêtông không cốt thép;

         - Hiện trạng: sân đan bằng bêtông có nhiều chỗ bị rạn nứt.

         3. Cây trồng trên đất:

- Cây Xoài loại 2: 01 cây, cây trồng từ 4 đến dưới 7 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Mận loại 1: 02 cây, cây trồng từ 3 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Nhãn loại 2: 01 cây, cây trồng từ 4 đến dưới 8 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Cóc loại 1: 01 cây, cây trồng từ 5 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Me loại 1: 01 cây, cây trồng từ 10 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Mít loại 1: 01 cây, cây trồng từ 10 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Dừa loại 2: 02 cây, cây trồng từ 4 đến dưới 6 năm tuổi, đã cho trái.

- Tài sản (1+2+3) tọa lạc xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Loan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 3.101.487.510đ (Ba tỷ, một trăm lẻ một triệu, bốn trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm mười đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản).

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 600.000.000đ/01 hồ sơ (nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre)

            - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 10/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 10/11/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 10/11/2017 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 10/11/2017 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 15/11/2017.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 305 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 02 (hai) chiếc xe ôtô, cụ thể như sau:

1. Xe ô tô 16 chỗ:  nhãn hiệu: Toyota, màu sơn: xanh, biển số: 71B-0509, số máy: 1RZ-2746061; số khung: RZH114-5001510; sản xuất năm 2002. Giá khởi điểm: 60.000.000 đ (Sáu mươi triệu đồng). Xe bán dạng phế liệu.

- Tài sản (1) tại: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 284 A1 Đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

2. Xe ô tô 04 chỗ: nhãn hiệu: Toyota Corona, màu sơn: xanh, biển số: 71B-0152, số máy: 1573179; số khung: 0029136; sản xuất năm 1993. Giá khởi điểm: 89.600.000 đ (Tám mươi chín triệu, sáu trăm ngàn đồng). Xe bán dạng đăng ký lại.

- Tài sản (2) tại: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Chợ Lách Bến Tre, địa chỉ: số 195/18B khu phố 2, thị trấn Chớ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Lưu ý:

+ Tài sản bán từng chiếc theo nhu cầu người sử dụng.

+ Trong 30 ngày khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá thời gian trên Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre không chịu trách nhiệm giải quyết.           

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 149.600.000đ (Một trăm bốn mươi chín triệu, sáu trăm ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000đ/01 hồ sơ (tài sản 01), (tài sản 02), nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 12.000.000đ/01 hồ sơ (tài sản 01), 17.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 02), chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc) tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 284 A1 Đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (tài sản 01) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Chợ Lách Bến Tre, địa chỉ: số 195/18B khu phố 2, thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (tài sản 02).

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 24/10/2017 (Thứ ba).        

 

THÔNG BÁO  HỢP ĐỒNG 246 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ các dãy nhà Trung tâm Y tế huyện Châu Thành cơ sở Hàm Long (Bệnh viện Đa khoa Hàm Long cũ) cụ thể như sau:

1. Một khu hành chính (nhà làm việc): Kết cấu: móng khung cột pêtông cốt thép, tường xây gạch sơn nước, ngăn phòng, nền gạch bông, mái tole fbroximăng có trần nhựa, phía hành lang trần pêtông, diện tích 177,02 m2. Cửa đi loại 01 cánh bằng gỗ: 07 cái và cửa sổ loại 02 cánh bằng gỗ: 03 bộ.

2. Khoa sản và phần còn lại của khoa sản (Khu kế hoạch hóa gia đình): Kết cấu: móng khung cột pêtông cốt thép, tường xây gạch sơn nước, ngăn phòng, nền gạch bông, mái tole fbroximăng có trần nhựa, phía hành lang trần pêtông, diện tích 292,48 m2. Cửa đi loại 01 cánh bằng gỗ: 03 cái, Cửa đi loại 02 cánh bằng gỗ: 03 bộ, Cửa đi loại 04 cánh bằng gỗ: 01 bộ, Cửa sổ loại 02 cánh bằng gỗ: 05 bộ, Cửa sổ loại 04 cánh bằng gỗ: 04 bộ.

3. Khu liên khoa (khoa khám bệnh, khoa hồi sức cấp cứu, khoa xét nghiệm): Kết cấu: móng khung cột pêtông cốt thép, tường xây gạch sơn nước, ngăn phòng, nền gạch bông, mái tole fbroximăng có trần nhựa, phía hành lang trần pêtông, diện tích 396 m2. Cửa đi loại 01 cánh bằng gỗ: 15 cái, Cửa đi loại 02 cánh bằng gỗ: 06 bộ, Cửa sổ loại 02 cánh bằng gỗ: 14 bộ, Cửa sổ loại 04 cánh bằng gỗ: 06 bộ.

4. Một phòng khám nha (một phần khoa điều trị nội trú B): Kết cấu: móng khung cột pêtông cốt thép, tường xây gạch sơn nước, ngăn phòng, nền gạch bông, mái tole fbroximăng có trần nhựa, phía hành lang trần pêtông, diện tích 45,01 m2. Cửa đi loại 01 cánh bằng gỗ khung kiếng: 02 cái, Cửa sổ loại 02 cánh bằng gỗ: 04 bộ.

5. Nhà vệ sinh dành cho nhân viên: Kết cấu: móng cột pêtông cốt thép, nền gạch bông, tường xây gạch sơn nước ốp gạch ceramic, mái tole fbroximăng, diện tích 21 m2.

6. Nhà ăn (căn tin cũ): Kết cấu: móng cột pêtông cốt thép, tường bao che, nền láng ximăng, mái tole fbroximăng, diện tích 21 m2.

7. Nhà nghỉ bảo vệ: Kết cấu: móng pêtông cốt thép, tường xây tô, không trần, mái tole fbroximăng, nền gạch bông, diện tích 24 m2. Cửa đi loại 02 cánh bằng gỗ: 02 cái, Cửa sổ loại 04 cánh bằng gỗ: 01 bộ.

8. Nhà xe: Kết cấu: móng pêtông cốt thép vách xây tường, không trần, mái tole fbroximăng, nền láng ximăng, diện tích 40 m2.

- Tài sản tọa lạc: tại Bệnh viện Đa khoa Hàm Long cũ; địa chỉ: xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Y tế huyện Châu Thành quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ cho lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Trung tâm Y tế huyện Châu Thành.

            - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo cho người bệnh qua lại, khu vực Bệnh viện và các khu làm việc xung quanh.

            - Khách hàng trúng đấu giá khoản tiền đặt trước sẽ được Trung tâm tạm giữ khi nào tháo dỡ xong trả lại mặt bằng sạch cho Trung tâm Y tế huyện Châu Thành và được sự chấp thuận của Trung tâm Y tế huyện Châu Thành, số tiền tạm giữ Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ hoàn lại cho khách hàng. 

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3+4+5+6+7+8): 119.436.000đ (Một trăm mười chín triệu, bốn trăm ba mươi sáu ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 23.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc) tại Bệnh viện Đa Khoa Hàm Long cũ , địa chỉ: xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh  Bến Tre.

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 24/10/2017 (Thứ ba).          

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá, nộp tiền đặt trước của và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 - 0275.3512081 – 0275.3512083 để biết thêm chi tiết.

13/10/2017 5:00 CHĐã ban hành
Kết thúc đợt kiểm tra Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bến TreKết thúc đợt kiểm tra Văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng, phát hiện những sai sót để kịp thời chấn chỉnh, đảm bảo hoạt động hành nghề công chứng tại Bến Tre diễn ra đúng quy định pháp luật, ngày 28 tháng 4 năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-STP về việc kiểm tra về tổ chức và hoạt động đối với 05 Văn phòng Công chứng trên địa bàn tỉnh

 

Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của các Văn phòng Công chứng, phát hiện những sai sót để kịp thời chấn chỉnh, đảm bảo hoạt động hành nghề công chứng tại Bến Tre diễn ra đúng quy định pháp luật, ngày 28 tháng 4 năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp Bến Tre đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-STP về việc kiểm tra về tổ chức và hoạt động đối với 05 Văn phòng Công chứng trên địa bàn tỉnh.

 

Nội dung kiểm tra các Văn phòng Công chứng tập trung vào các vấn đề như sau: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; di chúc; khai nhận di sản thừa kế; thỏa thuận phân chia di sản thừa kề (gọi chung là hợp đồng, giao dịch); việc thực hiện quy định về trụ sở, biển hiệu, niêm yết thù lao, việc thực hiện các quy định pháp luật về lao động; các loại sổ theo dõi hợp đồng, giao dịch; sổ sách kế toán, tình hình sử dụng hoá đơn, chứng từ liên quan đến việc thu phí công chứng và thù lao công chứng, việc nộp thuế theo quy định pháp luật; hồ sơ công chứng các hợp đồng, giao dịch, trong đó phân loại theo từng loại hợp đồng, giao dịch, việc thực hiện lưu trữ hồ sơ.

 

Qua kiểm tra cho thấy, mặc dù thời gian được thành lập và đi vào hoạt động của các Văn phòng Công chứng có khác nhau, nhưng các Văn phòng Công chứng đã thực hiện rất nghiêm chỉnh quy định của Luật Công chứng, các văn bản hướng dẫn thi hành, đáp ứng cơ bản được nhu cầu công chứng của người dân trên địa bàn. Vấn đề mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên được các Văn phòng Công chứng thực hiện một cách nghiêm túc và đúng theo quy định của pháp luật.

 

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của các Văn phòng Công chứng còn những hạn chế, thiếu sót về chuyên môn nghiệp vụ. Đoàn Kiểm tra đã nhắc nhỡ các Văn phòng Công chứng phải khắc phục những tồn tại, nghiêm túc thực hiện những quy định của pháp luật về hoạt động công chứng; nâng cao trách nhiệm hành nghề để đảm bảo cao hơn tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch; từng bước đưa hoạt động công chứng của tỉnh đi vào nền nếp.

16/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành T 008529 do UBND tỉnh Gia Lai cấp cho CTy TNHH Lâm nghiệp Tân Tiến Thông báo hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành T 008529 do UBND tỉnh Gia Lai cấp cho CTy TNHH Lâm nghiệp Tân Tiến
16/04/2018 5:00 CHĐã ban hành
Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp làm việc với Sở Tư pháp Bến Tre về hoạt động Trợ giúp pháp lýCục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp làm việc với Sở Tư pháp Bến Tre về hoạt động Trợ giúp pháp lý
 Ngày 26 tháng 3 năm 2014, Cục TGPL phối hợp Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị khảo sát về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) để phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL. Bà Nguyễn Thị Minh, Cục trưởng Cục TGPL – Bộ Tư pháp chủ trì Hội nghị. Cùng chủ trì Hội nghị có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt – Phó Giám đốc Sở Tư pháp. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hộ...

Ngày 26 tháng 3 năm 2014, Cục TGPL phối hợp Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị khảo sát về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) để phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL. Bà Nguyễn Thị Minh, Cục trưởng Cục TGPL – Bộ Tư pháp chủ trì Hội nghị. Cùng chủ trì Hội nghị có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt – Phó Giám đốc Sở Tư pháp. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hội luật gia tỉnh; đại diện các cơ quan: Tòa án nhân dân tỉnh; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh; Công an tỉnh; Sở Tài chính; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; Sở Nội vụ; lãnh đạo Trung tâm TGPL nhà nước; Phòng Tư pháp các huyện, thành phố; các Văn phòng Luật sư; Trung tâm Tư vấn pháp luật; các Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư Cộng tác viên, Cộng tác viên Tư vấn pháp luật.


Tại Hội nghị, Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động TGPL ở địa phương; có 12 ý kiến của các đại biểu phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phối hợp hoạt động TGPL; vẫn còn nhiều trường hợp bỏ sót, bỏ lọt đối tượng TGPL (nhất là các đối nghèo trong các vụ án dân sự, hành chính, hôn nhân gia đình...); vẫn còn một số ít cơ quan tố tụng chưa thực hiện tốt việc cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng; chưa gửi các văn bản, quyết định có liên quan đến hoạt động tố tụng cho Trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên, như: Kết luận điều tra, cáo trạng, bản sao bản án, chưa ghi rõ quan điểm, ý kiến bào chữa của Trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên trong bản án; trách nhiệm, chất lượng TGPL  của một số Trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên còn hạn chế; kinh phí trung ương hỗ trợ chậm giải ngân nên đã phần nào ảnh hưởng đến việc triển khai kế hoạch TGPL hàng năm; có ý kiến đề nghị nên có quy định đối tượng hộ cận nghèo được TGPL, tiếp tục thực hiện xã hội hóa trong hoạt động TGPL nhằm huy động nguồn lực của các tổ chức, cá nhân tham gia; không đồng ý việc thu phí TGPL đối với người không thuộc đối tượng.


Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Cục trưởng Cục TGPL – Bộ Tư pháp Nguyễn Thị Minh trân trọng cám ơn các đại biểu đã tham dự Hội nghị và ghi nhận ý kiến của các đại biểu rất thiết thực và trách nhiệm; trong đó đồng chí Cục trưởng đồng tình với ý kiến của quý đại biểu về những khó khăn, vướng mắc. Cục TGPL sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất bổ sung việc sửa đổi Luật TGPL theo hướng làm rõ hơn khái niệm về TGPL tránh chồng chéo chức năng hoạt động TGPL với phổ biến, giáo dục pháp luật; đối với Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL sẽ đề xuất theo hướng nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm TGPL, không thành lập mới Chi nhánh, tiếp tục củng cố các Chi nhánh hiện có, nơi nào Chi nhánh hoạt động không hiệu quả thì mạnh dạn đề xuất giải thể; tiếp tục củng cố các Câu lạc bộ TGPL; nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung chức danh Trợ giúp viên pháp lý theo hướng quy định chức danh Luật sư TGPL trong Luật TGPL; tiếp tục đề xuất về chính sách đối với viên chức hoạt động TGPL về phụ cấp công vụ, trang phục và chi phí hỗ trợ hoạt động cho Trợ giúp viên, Luật sư cộng tác viên.

31/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Di chúc và hiệu lực của di chúcDi chúc và hiệu lực của di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tuy nhiên, không phải cá nhân nào cũng có quyền lập di chúc, theo quy định tại Điều 647 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì chỉ những người sau đây mới được quyền lập di chúc: Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận t...

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tuy nhiên, không phải cá nhân nào cũng có quyền lập di chúc, theo quy định tại Điều 647 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì chỉ những người sau đây mới được quyền lập di chúc: Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau: người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 652 của Bộ luật Dân sự. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào. Trong trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ.

Di chúc có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế. Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; trong trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật.

Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật.

04/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre thành lập thêm ba Văn phòng Công chứngBến Tre thành lập thêm ba Văn phòng Công chứng
Tính đến tháng 4/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã quyết định thành lập thêm 03 Văn phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng Ba Tri (thuộc huyện Ba Tri); Văn phòng Công chứng Chợ Lách (thuộc huyện Chợ Lách) và Văn phòng Công chứng Mỏ Cày Nam (thuộc huyện Mỏ Cày Nam). Văn phòng Công chứng Chợ Lách khai trương và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 26 tháng 3 năm 2014, nâng tổng s...

Tính đến tháng 4/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã quyết định thành lập thêm 03 Văn phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng Ba Tri (thuộc huyện Ba Tri); Văn phòng Công chứng Chợ Lách (thuộc huyện Chợ Lách) và Văn phòng Công chứng Mỏ Cày Nam (thuộc huyện Mỏ Cày Nam). Văn phòng Công chứng Chợ Lách khai trương và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 26 tháng 3 năm 2014, nâng tổng số Văn phòng công chứng của tỉnh Bến Tre hiện nay là 07. Văn phòng Công chứng Ba Tri và Văn phòng Công chứng Mỏ Cày Nam đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đi vào hoạt động.


Văn phòng Công chứng Ba Tri được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân, có trụ sở  đặt tại đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Phan Văn Trung làm Trưởng Văn phòng; Văn phòng Công chứng Chợ Lách do một công chứng viên thành lập, có trụ sở  đặt tại số 806/10, ấp Bình An B, thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre do Công chứng viên Lê Phúc Vĩnh  làm Trưởng Văn phòng; Văn phòng Công chứng Mỏ Cày Nam do Công chứng viên Nguyễn Thanh Lương  làm Trưởng Văn phòng, có trụ sở  đặt tại số 78A, quốc lộ 60, khu phố 7, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.


Các tổ chức hành nghề công chứng hoạt động gắn kết với địa bàn dân cư, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020”, đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức, đảm bảo và tăng cường an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động công chứng, góp phần phục vụ hiệu quả cho quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre .

04/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tập trung kéo giảm hộ nghèo năm 2014 xuống còn 7%Tập trung kéo giảm hộ nghèo năm 2014 xuống còn 7%
Hiện nay, toàn tỉnh có 31.657 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 8,59%, 22.707 hộ cận nghèo, chiếm 6,16%. Có nhiều nguyên nhân; trong đó phần lớn do thiếu vốn, thiếu đất, thiếu phương tiện sản xuất, thiếu lao động, không biết cách làm ăn, không có tay nghề, chây lười lao động, ốm đau, bệnh tật kéo dài…

Hiện nay, toàn tỉnh có 31.657 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 8,59%, 22.707 hộ cận nghèo, chiếm 6,16%. Có nhiều nguyên nhân; trong đó phần lớn do thiếu vốn, thiếu đất, thiếu phương tiện sản xuất, thiếu lao động, không biết cách làm ăn, không có tay nghề, chây lười lao động, ốm đau, bệnh tật kéo dài…

Để góp phần kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo; nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nghèo cả về vật chất lẫn tinh thần, quan tâm cải thiện các dịch vụ xã hội về văn hóa, giáo dục, y tế, nhà ở, điện, nước sinh hoạt; các dịch vụ phúc lợi xã hội thiết yếu khác; phấn đấu nâng cao mức thu nhập của hộ nghèo, gia đình chính chính sách,

Trước hết, cần tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền; sự tham gia phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; đặc biệt là vai trò của Ban Chỉ đạo giảm nghèo các cấp; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, quyết tâm chính trị cao để kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 7%.

Trên cơ sở phân loại hộ nghèo để có các giải pháp tác động, hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập; hỗ trợ vốn vay, đảm bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu được vay vốn để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xuất khẩu lao động; học sinh, sinh viên đầu tư học tập; xây dựng các công trình thiết yếu về vệ sinh môi trường; hỗ trợ đối với các hộ sản xuất kinh doanh tại các vùng khó khăn xã bãi ngang ven biển. Khuyến khích hộ vay vốn theo dự án khả thi có thể đầu tư mức vốn tối đa và cho vay với thời gian trung hoặc dài hạn.

Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động; gắn với việc giới thiệu và giải quyết việc làm cho người học, phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 48%. Tư vấn, giới thiệu việc làm cho 5.000 người, xuất khẩu lao động cho 500 người; chú ý thị trường tiềm năng và có thu nhập ổn định.

Phối hợp triển khai chướng trình xây dựng mô hình giảm nghèo; chú ý mô hình làm ăn có hiệu quả, phù hợp với điều kiện sản xuất của từng địa phương nhằm sử dung nguồn vốn hỗ trợ đúng mục đích, tránh rủi ro, mất vốn.

Tổ chức thực hiện công tác khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư cho hộ nghèo; khuyến khích hộ nghèo, hộ cận nghèo mạnh dạn chuyển đổi vật nuôi, cây trồng có năng xuất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện, đặc điểm từng vùng, từng địa phương; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ; thành lập các tổ hợp tác làm đầu mối thu mua, đảm bảo tiêu thụ sản phẩm.

Tập trung thực hiện các chính sách xã hội như: hỗ trợ thẻ Bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; hỗ trợ về miễn giảm học phí, chi phí học tập; khuyến khích xây dựng và mở rộng Quỹ khuyến học; vận động hỗ trợ học bổng, học phẩm, dụng cụ học tập và phương tiện đi lại cho học sinh, sinh viên nghèo ở những vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bãi ngang ven biển; hỗ trợ về nhà ở, nước sinh hoạt;

Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo; hỗ trợ người nghèo tiếp cận văn hóa, thông tin; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội đối với người khuyết tật, trẻ mồ côi, người già cô đơn, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, gia đình bị thiên tai, rủi ro…; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ các xã bãi ngang ven biển; triển khai thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực công tác giảm nghèo; tăng cường công tác thông tin, truyền thông về các chính sách giảm nghèo; thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác giảm nghèo; đồng thời có kế hoạch quản lý, bình nghị hộ nghèo, đảm bảo chặt chẽ, chính xác, khách quan, dân chủ, công khai và công bằng.

04/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn