Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Phổ biến, giáo dục pháp luật
​Ngày 23/01/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin. Theo đó, Nghị định này quy định chi tiết về các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin; tiếp cận thông tin... 
 
​Ngày 12/3/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 02/5/2018, thay thế Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp.Nghị định này quy định về hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp và quản lý hoạt động kinh doanh theo phương... 
 
​Ngày 21/02/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong công tác thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Quy chế này quy định nội dung và hình thức nhân dân bàn và quyết định; Nội dung và hình thức công khai, tham gia ý kiến, giám sát các vấn đề có liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ... 
 
​ Ngày 06/01/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai. Nghị định này sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 q... 
 
​Quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền cơ bản của con người, của công dân thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên. Quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được khẳng định trong nhiều điều ước quốc tế khác. Ở nước ta, Hiến pháp năm... 
 
Hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam được hình thành từ hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Theo quy định tại Điều 32 của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết là BLHS năm 2015), hình phạt chính bao gồm 7 loại hình phạt: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình. Hình phạt bổ sung gồm 7 lo... 
 
 
Đây là nội dung chỉ đạo của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh tại Hội nghị triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2018. Ngày 16/3/2018, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh (Hội đồng) tổ chức Hội nghị triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) năm 2018. Ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch ... 
Cạn tình (24/01/2018)
​ “Anh em như thể tay chân”Câu nói của người xưa thể hiện đầy đủ tình cảm của anh, chị, em ruột thịt với nhau, luôn gắn liền không thể tách rời nhau. Một bộ phận nào tổn thương dù lớn hay nhỏ cũng gây đau đớn và có thể nói không có gì thiêng liêng hơn tình cảm anh em trong gia đình. Ấy vậy mà trong cuộc sống, cũng có không ít trường hợp vì lợi ích riêng tư mà một số người đã đánh đổi cả tình huyế... 
 
Chuyện cây dừa (24/01/2018)
​ Hàng xóm láng giềng là một trong những mối quan hệ mật thiết, quan trọng của con người. Tại những vùng quê, mối quan hệ ấy càng được thắt chặt và thể hiện rất rỏ cái gọi là “tình làng nghĩa xóm”. Tuy nhiên, từ sự gần gũi đó đôi lúc cũng phát sinh những mâu thuẫn, có khi chỉ từ những chuyện nhỏ nhặt nhưng nếu không có sự tôn trọng về quyền và lợi ích của nhau thì sẽ dẫn đến tranh chấp, bất hòa.Ô... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Đại hội nhiệm kỳ VIIIĐoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Đại hội nhiệm kỳ VIII
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy; ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, cùng các đại biểu Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Hội Luật gia tỉnh và đông đủ các luật sư thành viên Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre/span /span/p

Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy; ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, cùng các đại biểu Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Hội Luật gia tỉnh và đông đủ các luật sư thành viên Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre.

Nhiệm kỳ VII (2008 - 2013), về tổ chức và hoạt động của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre còn nhiều khó khăn, nhất là về cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động. Nhưng với tinh thần quyết tâm cao, Ban Chủ nhiệm cùng các thành viên Đoàn Luật sư đã xác định đúng vị trí, chức năng của Đoàn Luật sư nói riêng và sự phát triển nghề luật sư tỉnh nhà nói chung nên đã tiếp tục phát huy những thành tích, những mặt tiến bộ của các nhiệm kỳ qua, rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế khuyết điểm; tích cực, chủ động bám sát các kế hoạch Chiến lược của Đoàn luật sư Việt Nam, các chủ trương, Nghị quyết của Tỉnh ủy, kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh và các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Luật sư nhiệm kỳ VII, tổ chức triển khai thực hiện đạt kết quả trên các lĩnh vực công tác. Bến Tre hiện có 24 tổ chức hành nghề luật sư; trong đó có 01 Công ty luật hợp danh, 23 Văn phòng Luật sư.


Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Đại hội, ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam ghi nhận những kết quả đạt được của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre trong nhiệm kỳ qua, nhất là việc phát triển đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật miễn phí, hoạt động trợ giúp pháp lý, … Bên cạnh thành tích, vẫn còn một số vấn đề tồn tại như chưa phát triển mạnh đội ngũ luật sư trẻ, giỏi kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Ông Lê Thúc Anh cũng đề nghị trong nhiệm kỳ VIII, Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre cần nỗ lực nhiều hơn, phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại, tiếp tục xây dựng Đoàn Luật sư đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và nâng cao năng lực tranh tụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, Đoàn Luật sư cũng cần  tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích của luật sư thành viên, đặc biệt là quyền hành nghề.

Thay mặt Tỉnh ủy, ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy biểu dương sự cố gắng phấn đấu của Đoàn Luật sư tỉnh, đã vượt qua khó khăn để đạt được những thành tích đáng kể trong nhiệm kỳ vừa qua. Tuy nhiên, tỷ lệ luật sư của tỉnh hiện nay còn rất thấp (37/1,3 triệu dân), chất lượng hành nghề luật sư chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và yêu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng cao của công dân. Do vậy, nhiệm kỳ tới, các luật sư cần nghiên cứu, học tập nhiều hơn để tự khẳng định mình, bồi dưỡng thường xuyên về lý luận chính trị cũng như kiến thức, kỹ năng hành nghề luật sư và đạo đức nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Phấn đấu thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu đề ra trong Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020.


Đại hội đã bầu Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh nhiệm kỳ VIII với 03 thành viên là Luật sư Võ Tấn Thành, Luật sư Lê Chiến Ly và Luật sư Nguyễn Thị Kim Hạnh. Luật sư Võ Tấn Thành được bầu làm Chủ nhiệm Đoàn Luật sư; đồng thời tại Đại hội cũng đã bầu Hội đồng khen thưởng – kỷ luật gồm 03 Luật sư và Đại biểu tham dự Đại hội cấp trên.

08/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 02/01/2014Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 02/01/2014

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 414

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy, hiện cư ngụ tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

- Diện tích: 500,1 m2 đất CLN;

- Thuộc tờ bản đồ 5, một phần thửa số 182;

b) Cây trồng trên đất: cây dừa, sakê, cây cau, cây chuối.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 85.182.700đ (tám mươi lăm triệu một trăm tám mươi hai ngàn bảy trăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 21/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 8.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 419

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, nhà và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, địa chỉ tại: ấp Vĩnh An 1, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

1) Về đất và nhà thuộc  tờ bản đồ số 3, thửa số 2949

a. Về đất:

- Diện tích: 630 m2 ;

- Loại đất: LNC; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AM 212096 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 08/4/2008.

b. Nhà trên đất:

+ Nhà ở chính có diện tích 78,3 m2, cột ximăng, đòn tay, xiêng, kèo bằng cây, lợp lá, vách lá và bê dừa, nền lót gạch bông. Không có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

+ Nhà tiền chế có diện tích 30 m2, cột bêtông, máy lợp tole lạnh, khung sắt, hai bên cháy bằng cây lợp lá, nền tráng ximăng.

+ Nhà kho có diện tích 99,8 m2.

+ Chuồng heo có 6 căn chia làm 12 chuồng có diện tích 180m2, cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

+ Tường rào xây tường cao 2 m, diện tích 260,6m2.

+ Cổng rào bằng thép có diện tích 5 m2.

* Tài sản 1 tọa lạc tại xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (1): 284.974.980đ (hai trăm tám mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi bốn ngàn chín trăm tám mươi đồng).

2) Thửa số 3342, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 959,6 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AO 593582 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 02/01/2009.

- Chuồng heo có diện tích 294 m2 đã xuống cấp không thể sử dụng được.

- Tường rào xây tường cao 0,6 m lắp lưới B40 có diện tích 50,4 m2.

- Tường rào xây tường cao 2 m có diện tích 178 m2.

- Cây trồng: 04 cây dừa trên 10 năm tuổi, 01 cây bưởi khoảng 3 năm tuổi và 01 bụi tre trên 3 năm tuổi.

* Tài sản 2 tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (2): 373.527.338đ (ba trăm bảy mươi ba triệu năm trăm hai mươi bảy ngàn ba trăm ba mươi tám đồng).

3) Thửa số 2784, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 957 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AN 550468 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 30/9/2008.

- Chuồng heo có diện tích 356,3 m2 cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

- Tường rào có diện tích 257,3 m2.

- Cây trồng: 02 cây dừa trên 5 năm tuổi, 02 cây dừa khoảng 01 năm tuổi và 02 cây nhãn trên 5 năm tuổi.

* Tài sản 3 tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (3): 335.302.133đ (ba trăm ba mươi lăm triệu ba trăm lẻ hai ngàn một trăm ba mươi ba đồng).

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, nhà và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm tính tròn của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 993.800.000đ (chín trăm chín mươi ba triệu tám trăm ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá (1+2+3): 200.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 1: 28.000.000 đ/ 01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản (2+3): 30.000.000 đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 21/02/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 413

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Hồng Sang và ông Nguyễn Văn Du, hiện cư ngụ tại: ấp Phước Thạnh 1, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1) Quyền sử dụng đất thửa số 106, tờ bản đồ số 8 của bà Nguyễn Thị Hồng Sang;

a) Về đất:

- Diện tích: 76,2 m2 ;

- Loại đất: ONT;

- Diện tích lộ giới: 76,2 m2;

b) Về nhà:

* Cấu trúc:

- Năm xây dựng: không rõ năm xây dựng;

- Diện tích sử dụng: 76,2 m2;

- Dạng nhà cấp 4 gồm 02 nhà liền kề, chung vách tường ngăn có kết cấu như nhau: 01 phòng khách + 01 phòng ngủ + 01 khu bếp + 01 nhà vệ sinh. Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, đòn tay gỗ, mái tole sóng vuông.

* Kết cấu:

- Phòng khách: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic (40x40) cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, sơn nước. Đòn tay gỗ, mái tole sóng vuông. Cửa đi: dạng cửa kéo lùa, bằng sắt, 02 cánh (01 bộ).

- Phòng ngủ: có kết cấu tương tự như phòng khách;

- Khu nhà bếp: có kết cấu tương tự như phòng khách. Bếp bằng bêtông cốt thép, lát gạch men.

- Phòng vệ sinh: nền lát gạch ceramic nhám (20x20) cm, tường ốp gạch men. Trang thiết bị vệ sinh; bồn cầu, vòi nước,... Cửa đi bằng nhựa, 01 cánh;

* Hiện trạng: nhà ở đang sử dụng bình thường.

* Giá khởi điểm của tài sản 1: 245.098.062đ (hai trăm bốn mươi lăm triệu không trăm chín mươi tám ngàn không trăm sáu mươi hai đồng).

2) Quyền sử dụng đất thửa số 45, tờ bản đồ số 2 của ông Nguyễn Văn Du;

- Diện tích: 2.045,5 m2;

- Loại đất: CLN;

- Hiện trạng: tại thời điểm và địa điểm thẩm định giá, trên đất trồng cây ăn trái (cây cam, dâu hiện đã cằn cõi cho năng suất trái thấp).

* Giá khởi điểm của tài sản 2: 255.864.436đ (hai trăm năm mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi bốn ngàn bốn trăm ba mươi sáu đồng).

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phước Thạnh 1, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Hồng Sang và ông Nguyễn Văn Du, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 500.962.498đ (năm trăm triệu chín trăm sáu mươi hai ngàn bốn trăm chín mươi tám đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 21/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 420

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Văn Bé và bà Hồ Kim Hoàng, hiện cư ngụ tại: 101/3B ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh An, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Thửa số 980, tờ bản đồ số 2, diện tích 900 m2 (theo số liệu đo đạc chính quy là thửa 399, tờ bản đồ số 5, diện tích 959,5 m2), loại đất: trồng cây hàng năm;

- Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.843,6 m2, loại đất trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số 465, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.900,9 m2, loại đất trồng cây lâu năm;

2) Tài sản trên đất là cây trồng các loại bao gồm: cây dừa, chôm chôm, bưởi, chuối, măng cụt, cây mận.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phú Hòa, xã Quới Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Văn Bé và bà Hồ Kim Hoàng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 578.590.000đ (năm trăm bảy mươi tám triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 21/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 403

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

- Thửa số 448, tờ bản đồ số 10;

- Diện tích sử dụng 356,1 m2 (trong đó 106,2 m2 diện tích lộ giới, diện tích tính vào giá bán 249,9 m2)

- Loại đất: ONT;

-  Tài sản tọa lạc tại: xã An Ngãi Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng).

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/02/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 21/02/2014 tại Hội trường Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 25.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 416

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

1) Thửa số 297, thuộc tờ bản đồ số 9.

- Diện tích tính vào giá bán: 81,2 m2;

- Loại đất: ONT;

- Giá khởi điểm: 219.240.000đ (hai trăm mười chín triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng).

2) Thửa số 200, thuộc tờ bản đồ số 10.

- Diện tích tính vào giá bán: 485,7 m2;

- Loại đất: ONT;

- Giá khởi điểm: 1.000.000.000đ (một tỷ đồng chẵn).

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.219.240.000đ (một tỷ hai trăm mười chín triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản 1: 200.000đ/01 hồ sơ;

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản 2: 500.000đ/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước tài sản 1: 20.000.000đ/ 01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước tài sản 2: 100.000.000đ/ 01 hồ sơ;

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/02/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 21/02/2014 tại Hội trường Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 415

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là là quyền sử dụng đất  và nhà ở trên đất của ông Bùi Văn Đấu, địa chỉ: ấp Giồng Hổ, xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm sau:

1. Về đất và tài sản trên đất (nhà) thuộc tờ bản đồ 02, thửa 2169;

a. Về đất:

- Diện tích đất: 300 m2; Loại đất: ở nông thôn

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 431967, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00339 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 05/7/2005.

b. Tài sản trên đất: (nhà ở) đã cũ không còn giá trị sử dụng. Tài sản bán theo Giấy xác nhận chủ quyền nhà ở do Ủy ban nhân dân xã Thới Lai cấp ngày 13/11/2009

- Giá khởi điểm (tài sản 1): 72.000.000 đ (Bảy mươi hai triệu đồng)

2. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2966;

- Diện tích đất: 800 m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 431968, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00340 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 05/7/2005.

- Giá khởi điểm (tài sản 2): 44.800.000 đ (Bốn mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng)

3. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2170;

- Diện tích đất: 1.335 m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 431969, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00341 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 05/7/2005.

- Giá khởi điểm (tài sản 3): 106.800.000 đ (Một trăm lẻ tám triệu tám trăm ngàn đồng)

4. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2714;

- Diện tích đất: 6.430 m2; Loại đất: trồng lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 651590, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00855 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 15/6/2007.

- Giá khởi điểm (tài sản 4): 160.750.000 đ (Một trăm sáu mươi triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng)

5. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2705;

- Diện tích đất: 5.400 m2; Loại đất: trồng lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 296266, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00582 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 16/3/2006.

- Giá khởi điểm (tài sản 5): 135.000.000 đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng)

6. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2718;

- Diện tích đất: 3.427 m2; Loại đất: trồng lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 651589, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00854 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 15/6/2007.

- Giá khởi điểm (tài sản 6): 85.675.000 đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng)

- Tài sản (1+2+3+4+5+6) tọa lạc tại: xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của ông Bùi Văn Đấu do Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3+4+5+6): 605.025.000 đ (Sáu trăm lẻ năm triệu không trăm hai mươi lăm ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 21/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  150.000đ/hồ sơ (tài sản 1), (tài sản 6), 100.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 200.000 đ/hồ sơ (tài sản 3), (tài sản 4), (tài sản 5), ;

* Khoản tiền đặt trước: 4.000.000đ/hồ sơ (tài sản 1), (tài sản 6), 2.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 5.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 3), 8.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), 6.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 5);


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 418

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Dãy lớp học 02 phòng. Diện tích 85,28 m2. Kết cấu: nền gạch men, vách ván, tole, cột gỗ, mái tole thiếc, không trần, đoàn tay gỗ, cửa đi gỗ, được xây dựng năm 1988. Tỷ lệ còn lại 10 %.

- Dãy lớp học 01 phòng. Diện tích 109,22 m2. Kết cấu: nền gạch men, vách tường, cột gạch, cột gỗ tròn, mái tole thiếc, không trần, đoàn tay sắt chữ C, kèo gỗ, cửa đi gỗ (phần mái tole và đoàn tay sắt được thay mới vào năm 2005 do cơn bão số 9 làm tốc mái nhà), được xây dựng năm 1980. Tỷ lệ còn lại 20 %.

* Lưu ý: Khi bán đấu giá thành, người mua chỉ được lấy từ mặt đất trở lên không cho lấy móng và đà.

- Tài sản tọa lạc tại: Trường Mầm non Mỹ Thạnh An (cơ sở cũ) - xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bến Tre không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 31.000.000đ (ba mươi một triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 4.500.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 17/01/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 417

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Diện tích 64,8 m2. Kết cấu: nền gạch men, vách tường, cột pêtông cốt thép, mái tole thiếc sóng vuông, cửa đi và cửa sổ khung sắt kính, trần nhựa, đoàn tay gỗ tạp (quy cách 3x5cm), được xây dựng năm 1980. Tỷ lệ còn lại 3 %.

* Lưu ý: Khi bán đấu giá thành, người mua chỉ được lấy từ mặt đất trở lên không cho lấy móng và đà.

- Tài sản tọa lạc tại: Trường Tiểu học Sơn Đông (điểm Tân Thành) - xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bến Tre không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 600.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 17/01/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 400

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Lương Thị Hồng Diễm, địa chỉ: 567/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có đặc điểm sau:

1) Về đất:

- Diện tích đất: 90 m2;

- Loại đất: 79 m2 đất ở tại nông thôn và 11 m2 đất cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 11, thửa 410;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB 073094 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 31/12/2004

2) Tài sản gắn liền trên đất:

Nhà ở: nhà cấp 4, xây dựng năm 2003. Kết cấu: móng cột đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic (40x40) cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch 10 cm, đòn tay gỗ, trần nhựa, mái tole sóng vuông. Cửa đi khung sắt + kính  04 cánh

- Tài sản tọa lạc tại: 567/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh  Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Lương Thị Hồng Diễm do Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn - Chi nhánh thành phố Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 330.710.000 đ (Ba trăm ba mươi triệu bảy trăm mười ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 20/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 16.000.000đ/hồ sơ

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667 – 0753512081 - 0753512080, fax số : 075-3512080 để biết thêm chi tiết.

 

03/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 26/12/2013Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 26/12/2013

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 407

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Dương Hoàng Khương (hiện ông Khương đã chết), tài sản có đặc điểm sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 56,1 m2 (trong đó: 46,3 m2 đất ở nông thôn, 9,8 m2 đất hàng năm khác);

- Thuộc tờ bản đồ số 08, thửa đất 215

* Tài sản bán theo diện tích đo đạc thực tế

2. Tài sản trên đất (nhà): đã bị cháy không còn giá trị

- Tài sản tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất  và tài sản trên đất của ông Dương Hoàng Khương do Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long – Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 243.826.200 đ (Hai trăm bốn mươi ba triệu tám trăm hai mươi sáu ngàn hai trăm đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 27/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 10/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/01 hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 406

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản thanh lý. Tài sản có các đặc điểm như sau:

I. Gói số 1

- Sắt ước lượng 8.562 kg, đơn giá 6.500đ/kg = 55.653.000đ

- Nhựa ước lượng 75kg, đơn giá 3.500đ/kg   =      262.500đ

* Tổng giá khởi điểm (I): 55.915.500đ (năm mươi lăm triệu chín trăm mười lăm ngàn năm trăm đồng).

II. Gói số 2

- Nhựa ước lượng 93kg, đơn giá 3.500đ/kg = 325.500đ

- Gang ước lượng 1.530kg, đơn giá 8.000đ/kg = 12.240.000đ

- Sắt ước lượng 93 kg, đơn giá 6.500đ/kg  =      604.500đ

- Bộ bơm bùn, máy nổ ước lượng 490kg, đơn giá 6.000đ/kg = 2.940.000đ

- Chất liệu cao su, khác ước lượng 104kg, đơn giá 1.000đ/kg =   104.000đ

* Tổng giá khởi điểm (II): 17.264.000đ (mười bảy triệu hai trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

III. Gói số 3

- Ống PVC D21* 1,4mm ước lượng 6.000 kg, đơn giá 3.500đ/kg = 21.000.000đ

- Đồng hồ cấp A ước lượng 763 cái, đơn giá 15.000đ/cái = 11.445.000đ

* Tổng giá khởi điểm (III): 32.445.000đ (ba mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán đấu giá theo từng gói (có danh mục tài sản kèm theo) và sau khi bán đấu giá thành, người trúng đấu giá nộp đủ tiền mua tài sản, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ phối hợp Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bến Tre tiến hành cân thực tế để bàn giao tài sản trên; nếu số lượng và khối lượng ước tính tăng hơn so với thực tế thì khách hàng trúng đấu giá phải thanh toán thêm tiền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tính trên giá trị tài sản mua được; ngược lại nếu giảm thì Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ hoàn tiền lại cho khách hàng trúng đấu giá.

- Tài sản tọa lạc tại: Số 456B, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Nhà máy nước Long Định và nhà máy mước Tân Mỹ ( Cầu xã Diệu, Cầu Vĩnh An, Cầu Ba Tri, Cầu Phú Lễ, Cầu Tân Xuân, Cầu Phước Tuy, Cầu Tân Hòa, Cầu Vàm Hồ, Cầu ba Si, Cầu Cây, Cầu Thầy Hội, Cầu Bà Chịu).

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bến Tre không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (I+II+III): 105.624.500đ (một trăm lẻ năm triệu sáu trăm hai mươi bốn ngàn năm trăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 27/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 09/01/2014 (thứ năm); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ/Gói số 1; 50.000đ/hồ sơ/Gói số 2 và 100.000đ/hồ sơ/Gói số 3.

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ/Gói số 1; 2.000.000đ/hồ sơ/Gói số 2 và 3.000.000đ/hồ sơ/Gói số 3.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 410

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ hội trường số 1 của Trường Chính trị tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích 345 m2. Kết cấu: nền gạch bông, vách gạch, cột pêtông cốt thép, mái tole tráng kẽm, trần nhựa, không ngăn phòng; Cửa đi bằng sắt loại 02 cánh: 03 bộ; Cửa đi bằng gỗ loại 01 cánh: 01 cái; Cửa sổ bằng gỗ loại 02 cánh: 05 bộ; Cửa nhà vệ sinh bằng gỗ: 04 cái. Tỷ lệ còn lại 5 %.

* Lưu ý: Khi bán đấu giá thành, người mua được lấy cả móng và đà trả lại mặt bằng sạch cho Trường Chính trị tỉnh Bến Tre.

- Tài sản tọa lạc tại: Trường Chính trị tỉnh Bến Tre - xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trường Chính trị tỉnh Bến Tre không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 29.600.000đ (hai mươi chín triệu sáu trăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 27/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 09/01/2014 (thứ năm); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/hồ sơ

* Tiền đặt trước: 4.000.000đ/hồ sơ

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667 – 0753512081 - 0753512080, fax số : 075-3512080 để biết thêm chi tiết.

03/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
DANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TREDANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TRE
23/03/2018 5:00 CHĐã ban hành
Nội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIIINội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh khóa VIII sẽ diễn ra trong 03 ngày, trong đó 01 ngày họp Tổ đại biểu thảo luận tài liệu kỳ họp (ngày 19/11/2013) và 02 ngày họp toàn thể tại hội trường (ngày 05, 06/12/2013). Kỳ họp lần này diễn ra với các nội dung chính sau đây:

Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ thông qua các báo cáo và tờ trình:

1. Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

2. Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2013, Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2014.

3. Báo cáo quyết toán ngân sách tỉnh năm 2012.

4. Báo cáo thu, chi ngân sách năm 2013, dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh năm 2014.

5. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 33/2012/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2012 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5.

6. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 12/2013/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2013 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6.

7. Báo cáo về việc tổng kết Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND về bổ sung một số chủ trương, biện pháp tiếp tục thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn tỉnh Bến Tre đến 2020 và Nghị quyết số 06/2009/NQ-HĐND về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND.

8. Báo cáo chuyên đề về kết quả thực hiện Nghị quyết số 14/2011/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2011 về công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

9. Báo cáo chuyên đề về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại năm 2013.

10. Báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh năm 2013.

11. Báo cáo với HĐND tỉnh về các nội dung đã thoả thuận giữa Thường trực HĐND và Ủy ban nhân dân năm 2013.

12. Báo cáo tiếp thu, giải trình về các ý kiến thảo luận Tổ đại biểu, ý kiến thẩm tra của các Ban và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

13. Các tờ trình của Ủy ban nhân dân tỉnh xin thông qua dự thảo:

- Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

- Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2014.

- Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2012.

- Nghị quyết về dự toán và phương án phân bổ ngân sách nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014.

- Nghị quyết về quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre áp dụng trong năm 2014.

- Nghị quyết Quy hoạch vùng tỉnh Bến Tre.

- Nghị quyết Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

- Nghị quyết thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc.

- Nghị quyết về việc bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

- Nghị quyết về đẩy mạnh và phát triển đô thị tỉnh Bến Tre đến năm 2020.

- Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh.

Các cơ quan tư pháp báo cáo:

1. Tình hình và kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp năm 2013 ở địa phương. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

2. Tình hình và kết quả hoạt động xét xử năm 2013 trên phạm vi toàn tỉnh. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

3. Tờ trình về việc cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh: thông báo về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến, kiến nghị của cử tri. Đồng thời sẽ giới thiệu nhân sự bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016.

Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh có nội dụng báo cáo, tờ trình gồm:

1. Báo cáo tổng kết hoạt động Thường trực, các Ban HĐND tỉnh năm 2013 và chương trình công tác năm 2014.

2. Báo cáo kết quả giám sát của HĐND về cải cách thủ tục hành chính và công tác xây dựng, nâng cao chất lương đội ngủ cán bộ, công chức trong chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 của tỉnh và kết quả giám sát khai thác cát sông trái phép trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

3. Báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát của HĐND, Thường trực HĐND tỉnh năm 2013 và dự kiến nội dung chương trình giám sát năm 2014.

4. Báo cáo thực hiện kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2013 và dự toán kinh phí năm 2014.

5. Báo cáo về tình hình thực hiện chương trình xây dựng nghị quyết năm 2013.

6. Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận Tổ đại biểu và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

7. Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh về các báo cáo, tờ trình, đề án trình tại kỳ họp thứ 8.

8. Các tờ trình của Thường trực HĐND tỉnh xin thông qua:

- Nghị quyết về chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về Chất vấn và trả lời chất vấn.

- Nghị quyết về cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

- Nghị quyết về xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân.

Kỳ họp lần thứ 8 - HĐND tỉnh khoá VIII sẽ được truyền hình trực tiếp phiên khai mạc, phiên chất vấn, trả lời chất vấn và phiên bế mạc để cử tri theo dõi và giám sát.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 369 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình gắn liền trên đất (không thể di dời được) của và bà Nguyễn Thị Sáng, cư ngụ tại: ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thửa 1257, tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 667 m2;

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665096 do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam cấp ngày 20/02/2013, số vào sổ cấp GCN: CH00648.

2. Quyền sử dụng đất thửa 860 tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 300m2;

- Loại đất: Đất ở tại nông thôn;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665095 cấp ngày 20/02/2013 tại Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, số vào sổ CH00647.

3. Tài sản, công trình (không thể di dời được) gắn liền trên đất: nhà ở, nhà trọ cho thuê.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: Ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, nhà ở, nhà trọ cho thuê; tài sản, công trình gắn liền trên đất của và bà Nguyễn Thị Sáng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 803.700.000đ (Tám trăm lẻ ba triệu, bảy trăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 160.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 18/01/2018, tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre), (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 375 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ 04 hạng mục (nhà điều hành, hồ nước, nhà vệ sinh, hàng rào) thuộc Trạm cấp nước Tân Thạch, huyện Châu Thành, cụ thể như sau:

1. Nhà điều hành Trạm Tân Thạch: Kết cấu: móng cột pêtông cốt thép, tường gạch, nền lát gạch bông, mái tole tráng kẽm, diện tích 77,28 m2. Tỷ lệ còn lại 20 %.

2. Hồ nước: Kết cấu: thành, nắp pêtông cốt thép, thể tích 68,88 m3. Tỷ lệ còn lại 10 %.

3. Nhà vệ sinh: Kết cấu: nền láng xi măng, tường gạch, mái fbro xi măng, không có cửa ra vào, diện tích 1,8 m2. Tỷ lệ còn lại 10 %.

4. Hàng rào:

a) Cổng chính: Kết cấu: trụ sơn nước cửa cổng bằng song sắt, diện tích 5m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

b) Hàng rào chính: Kết cấu: trụ đà pêtông cốt thép, tường xây gạch, phía trên tường lắp khung thép hình, diện tích 26 m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

c) Hàng rào phụ 1: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo lưới B40, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 10%.

d) Hàng rào phụ 2: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo dây chì gai, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 0%.

- Tài sản tại: Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ cho lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre.

            - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo cho Trạm cấp nước Tân Thạch, người dân qua lại và khu làm việc xung quanh.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3+4): 49.785.000đ (Bốn mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi lăm ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 9.900.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc) Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre..

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 27/12/2017 (Thứ tư). 


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 379 (Kèm QC)

  Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp), địa chỉ tại: 393C, khu phố 6, phường  Khú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 360,0 m2, đất ở tại đô thị;

- Thuộc thửa đất số 71; tờ bản đồ số 47.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

2. Tài sản trên đất (nhà ở):

- Loại nhà: Nhà ở riêng lẻ, nhà ở cấp 3, diện tích xây dựng 91,3 m2, diện tích sàn 299,3 m2.

- Tài sản tọa lạc: Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

* Lưu ý: Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên và  Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền hoặc người mua có yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạt, trường hợp diện tích đất thực tế tăng thì người mua được hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp) do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre – Phòng Giao dịch Mỏ Cày Nam xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

            - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 4.000.000.000 đ (Bốn tỷ đồng).

   - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

- Khoản tiền đặt trước là 800.000.000đ/hồ sơ,  nộp chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

      - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc: xã Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ ngày 29/12/2017.

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 - 0275.3512081 – 0275.3512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

15/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2017Sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2017

Ngày 29/6/2017, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng và thực hiện quy ước 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017. Ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị gồm đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể tỉnh là Thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; thành viên Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố và đại diện Lãnh đạo Phòng tư pháp các huyện, thành phố.

hoi-nghi-pbgdpl2.jpg

Hội nghị đã triển khai, quán triệt Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Kế hoạch số 2525/KH-UBND ngày 08/6/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021 được ban hành tại Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ.

Các đại biểu tham dự Hội nghị đã tập trung thảo luận, đánh giá những kết quả, hạn chế, khó khăn trong công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước 6 tháng đầu năm, đồng thời đề xuất phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017, đặc biệt trong công tác PBGDPL gắn với triển khai thực hiện Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021.

hoi-nghi-pbgdpl1.jpg

Kết luận, chỉ đạo Hội nghị, ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đánh giá cao những kết quả đạt được trong công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước trong thời gian qua; đặc biệt, công tác PBGDPL góp phần thực hiện tốt Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế-xã hội, chính sách an sinh xã hội, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội; công tác PBGDPL có những tác động hiệu quả tích cực đến việc xây dựng ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật trong nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể tỉnh; thành viên Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh; Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các huyện, thành phố nghiên cứu, triển khai thực hiện có hiệu quả các phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

03/07/2017 5:00 CHĐã ban hành
DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE (Đến tháng 6 năm 2017)DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE (Đến tháng 6 năm 2017)

​DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

 (Đến tháng 6 năm 2017)


STTHọ và tên Nơi hành nghềChứng chỉ hành nghề

Điện Thoại

 

01

Dương Thị Nhanh

 

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

224/TP-ĐGV

02/11/2006

02753.823.667
02Nguyễn Thị Như NgọcTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre397/TP/ĐG-CCHN02753.823.667
03Nguyễn Thị Bích ThủyTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

1732/TP/ĐG-CCHNN

20/3/2017

02753.823.667
04Lê Minh Thiện 398/TP/ĐG-CCHN02753.823.667
05Đào Minh ChíTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre826/TP/ĐG-CCHN02753.823.667
06Võ Thành KhởiCông ty  TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre

526/TP/ĐG/CCHN

15/12/2011

 
07Nguyễn Thị Hồng PhươngCông ty  TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre

668/TP/ĐG/CCHN

24/9/2012

02753.560.778

02753.818.444

08Trần Văn DuẩnChi nhánh Bến Tre - Công ty TNHH Trọng Pháp800/TP/ĐG-CCHN

02753.500.366

 

09Nguyễn Thị Thanh HuyềnCông ty TNHH Tư vấn bán đấu giá  Hoàng Anh636/TP/ĐG-CCHN 
10Liêu Quốc CườngCông ty TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản  Bến Tre

1084/TP/ĐG-CCHN

11/02/2015

 
11Phạm Hoài ThuậnVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

1161/TP/ĐG-CCHN

09/6/2015

 
12Nguyễn Văn PhướcVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

1202/TP/ĐG-CCHN

09/9/2015

 
13Trần Hoàng VũVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

174/TP/ĐGV

19/5/2006

 
14Nguyễn Thị Thanh TuyềnChi nhánh Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ phòng cháy chữa cháy và Điện công nghiệp Gia Duy

1291/TP/ĐG-CCHN

23/12/2015

0918.764.971
15Hoàng Thị Ngọc AnhChi nhánh Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ phòng cháy chữa cháy và Điện công nghiệp Gia Duy

1426/TP/ĐG-CCHN

27/4/2016

 
16Lê Nhật HoàngCt  Công ty Cổ phần Đầu tư - Bán đấu giá tài sản Hồng Phúc - Chi nhánh Bến Tre

1321/TP/ĐG-CCHN

02/02/2016

02753.701.357

hongphucauction

@gmail.com


27/06/2017 3:00 CHĐã ban hành
Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) và nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC, ngày 08/6/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2524/KH-UBND về tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC năm 2017. Thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 11/7/2017, Sở Tư pháp tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC cho gần 250 cán bộ, công chức đầu mối các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. Ông Nguyễn Đăng Minh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

kstthc2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên của Sở Tư pháp triển khai một số văn bản liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC, các nội dung cơ bản của công tác kiểm soát TTHC, kỹ năng dự thảo Quyết định công bố TTHC, công tác rà soát, kiến nghị đơn giản hóa TTHC.      

kstthc1.jpg

Thông qua Hội nghị, cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã được trang bị kỹ năng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ kiểm soát TTHC, góp phần thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh.

14/07/2017 9:00 SAĐã ban hành
Nguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tộiNguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1870, 1852 và 1853 thuộc tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Quới Tây A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1870, 1852 và 1853 thuộc tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Quới Tây A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhânTăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân

Ngày 04/7/2017, Bộ Y tế ban hành Chỉ thị số 04/CT-BYT về việc tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân.

Nội dung Chỉ thị nêu rõ trong thời gian qua, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trong toàn quốc đã đóng góp một phần quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người dân trong cộng đồng, góp phần giảm tải cho các bệnh viện công lập, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân. Đến nay, toàn quốc đã có 206 Bệnh viện tư nhân và trên 30.000 phòng khám tư nhân. Tuy nhiên, bên cạnh các đóng góp tích cực của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, hiện nay qua báo cáo của các Sở Y tế và thực tế Bộ Y tế kiểm tra cho thấy một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, đặc biệt là các phòng khám tư nhân còn vi phạm các quy định về pháp luật khám bệnh, chữa bệnh như: mời bác sỹ người nước ngoài hành nghề khi chưa có chứng chỉ hành nghề; hành nghề quá phạm vi chuyên môn cho phép; sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam; quảng cáo quá phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép; không công khai giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh hoặc có niêm yết giá nhưng thu phí cao hơn giá đã niêm yết; việc lưu đơn thuốc, hồ sơ bệnh án chưa đúng theo quy định của Bộ Y tế.

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế, chấn chỉnh các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn các tỉnh, thành phố, cung cấp các dịch vụ có chất lượng tốt, bảo đảm an toàn cho người bệnh, Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiêm túc thực hiện những nội dung sau đây:

Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và các quy chế chuyên môn cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý.

Tăng cường quản lý người hành nghề thông qua việc đăng ký hành nghề, bảo đảm tất cả người hành nghề phải được cấp chứng chỉ hành nghề và hành nghề đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép.

Đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của Sở Y tế danh sách các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân đã được cấp giấy phép hoạt động trên địa bàn, kèm theo phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động, danh sách và phạm vi hoạt động chuyên môn của người hành nghề tại các cơ sở này để người dân tiện tìm hiểu thông tin trước khi khám bệnh, chữa bệnh.

Yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở (nếu có) và tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh các thông tin sau: Giấy phép hoạt động bao gồm phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động; danh sách, văn bằng chuyên môn và phạm vi hoạt động chuyên môn của người chịu trách nhiệm chuyên môn và người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; tên và địa chỉ cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp để người dân biết và phản ánh khi có sai phạm.

Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất để kiểm tra hoạt động của các cơ sở hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

Thường xuyên kiểm tra biển hiệu quảng cáo, người hành nghề hoạt động chuyên môn của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, việc thực hiện các quy chế chuyên môn. Khi kiểm tra, thanh tra phát hiện cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có sai phạm phải xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật, không bao che sai phạm, thực hiện xử phạt hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, kết hợp với các hình thức phạt bổ sung theo quy định tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ như: tước chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, tước giấy phép hoạt động hoặc đình chỉ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân theo quy định của pháp luật.

Thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân có vi phạm pháp luật về y tế, tính chất, mức độ vi phạm, hình thức xử phạt để nhân dân biết nhằm tăng tính răn đe và phòng ngừa tái phạm.

Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện trong công tác quản lý, giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý, khuyến khích nhân dân cùng giám sát, phát hiện các sai phạm của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để thông báo cho Sở Y tế và chính quyền địa phương xử lý kịp thời.

Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thực hiện quản lý chặt chẽ việc quảng cáo về dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại địa phương. Khi thực hiện xác nhận nội dung quảng cáo phải thẩm định các nội dung quảng cáo, đối chiếu với phạm vi hoạt động chuyên môn do cơ quan có thẩm quyền cho phép, bảo đảm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không quảng cáo quá mức quy định, kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp quảng cáo khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép.

Tăng cường công tác truyền thông để người dân nêu cao cảnh giác khi nghe các quảng cáo quá mức về khả năng khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân.

20/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn  bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01

Luật

 

 15/2012/

QH13

20/6/2012Xử lý vi phạm hành chính
Hết hiệu lực một phần: Khoản 1 Điều 122; Đoạn đầu Khoản 1 Điều 123

Đã được sửa đổi

 bởi Luật Hải quan 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014

02Nghị định

81/2013/

NĐ-CP

19/7/2013Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Còn hiệu lực

Đính chính Khoản 2 Điều 10

Đã được đính chính  bởi Công văn 1500/TTg-PL của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/9/2013
03Nghị định

112/2013/

NĐ-CP

02/10/2013Quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuấtHết hiệu lựcĐã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016
04Nghị định

115/2013/

NĐ-CP

03/10/2013Quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
05Nghị định

165/2013/

NĐ-CP

12/11/2013Quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương  tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự , an toàn giao thông và bảo vệ môi trườngCòn hiệu lực 
​Nghị định
17/2016/NĐ-CP
17/3/2016​

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Còn hiệu lực
06Thông tư

26/2013/

TT-BCT

30/10/2013Quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi mục Đ Điều 3; bổ sung Điểm c Khoản 6 Điều 5; ban hành 07 mẫu ấn thay thế các mẫu ấn quy định tại các khoản 9, 11, 13, 15, 16 và 17 mục B và khoản 2 mục C Điều 3

Đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 13/2015/TT-BCT ngày 16/6/2015
07Thông tư

153/2013/

TT-BTC

31/10/2013Về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử  phạt vi phạm hành chính

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6  Điều 4; Sửa đổi Khoản 2 Điều 5; bổ sung Khoản 2a sau Khoản 2 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Điểm a Khoản 2 Điều 11

Được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư  105/2104/TT-BTC ngày 07/8/2014
08Thông tư

173/2013/

TT-BTC

20/11/2013Về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
09Thông tư

105/2014/

TT-BTC

07/8/2014Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chínhCòn hiệu lực  
10Thông tư

34/2014/

TT-BCA

15/8/2014Quy định về các biểu mẫu đê sử  dụng khi xử  phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Công an nhân dânCòn hiệu lực 
11Thông tư

149/2014/

TT-BTC

10/10/2014Quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để bổ sung vào ngân sách Nhà nướcCòn hiệu lực 
12Thông tư

47/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
13Thông tư

13/2015/

TT-BCT

16/6/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 26/2013/TT-BCT ngày 30/10/2013 của Bộ Công Thương quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trườngCòn hiệu lực  
14Thông tư liên tịch

27/2015/TTLT-BCT-BCA-VKSNDTC-TANDTC

17/8/2015Hướng dẫn chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện để truy cứu trách nhiệm hình sựChưa có hiệu lực 

 

 

08/06/2016 3:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến Tre
15/12/2017 4:00 CHĐã ban hành
Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bến Tre khóa VIII được tổ chức vào ngày 05 và ngày 06 tháng 12 năm 2013. Tham dự kỳ họp có: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội; các đồng chí lãnh đạo tỉnh; 48/52 đại biểu HĐND tỉnh; thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; thường trực HĐND và đại diện cử tri của các huyện, thành phố.

Kỳ họp đã nghe Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014;  Thông báo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Đại biểu HĐND tỉnh và những vấn đề cử tri quan tâm; Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh; Báo cáo tiếp thu và giải trình của UBND tỉnh về một số vấn đề nổi lên qua thảo luận ở Tổ đại biểu, ý kiến kiến nghị của cử tri và của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tại kỳ họp thứ 8. Ngoài ra, một số văn bản Thường trực HĐND tỉnh đã gửi cho đại biểu nghiên cứu, để làm cơ sở thảo luận, quyết định.

Tại kỳ họp, đại biểu HĐND tỉnh đã tập trung thảo luận vào những ý kiến còn khác nhau qua thảo luận tại tổ, xoay quanh một số nhóm vấn đề: nuôi thủy sản không theo quy hoạch; phát triển các mô hình sản xuất trong nông nghiệp; vốn đầu tư các chương trình, đề án; an ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Kỳ họp cũng đã dành ra một buổi để các đại biểu HĐND tỉnh thực hiện phiên chất vấn. Nội dung chất vấn liên quan đến việc nuôi tôm ngoài vùng quy hoạch; sử dụng đất không đúng theo hợp đồng thuê đất đối với Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre; đầu tư xây dựng và hoạt động của Cảng Giao Long; thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông thuộc Sở Thông tin và Truyền thông; tạm đình chỉ vụ án không đúng theo quy định; không đưa Đề án thành lập thị trấn Tiệm Tôm, xã An Thủy, huyện Ba Tri vào trong Nghị quyết HĐND tại kỳ họp 8; công trình kiên cố hóa Trường Trung học cơ sở Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc chưa được hoàn thành; giải quyết khiếu nại của công dân khu vực đất cù Lao Lá, huyện Ba Tri và các khiếu nại khác chậm giải quyết; cải cách hành chính (quản lý hộ tịch, hộ khẩu).

Đại diện cử tri huyện Châu Thành cũng đã có ý kiến phát biểu về việc tổ chức, điều hành, nội dung của kỳ họp thứ 8 - HĐND tỉnh Khóa VIII, đồng thời kiến nghị những vấn đề mà cử tri quan tâm.

Kỳ họp đã ban hành 17 Nghị quyết như sau:

Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2012;

Nghị quyết về dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về việc thông qua quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bến Tre đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc;

Nghị quyết về việc bãi bỏ một phần, bãi bỏ toàn bộ một số Nghị quyết của HĐND tỉnh;

Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2014 – 2016 và định hướng đến năm 2020;

Nghị quyết về Chương trình xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về Chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về dự toán kinh phí hoạt động của HĐND tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 8 – HĐND tỉnh Khóa VIII;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả cho thôi làm nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết xác nhận kết quả bầu bổ sung chức danh Phó Trưởng Ban Văn hóa Xã hội chuyên trách HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Qua đánh giá, kỳ họp đã thực hiện đúng chương trình và thành công tốt đẹp.

26/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Danh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnhDanh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh
07/02/2017 2:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/7/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/7/2017
24/07/2017 5:00 CHĐã ban hành
Ông, bà không được nhận cháu làm con nuôi và anh, chị, em không được nhận nhau làm con nuôi. Ông, bà không được nhận cháu làm con nuôi và anh, chị, em không được nhận nhau làm con nuôi.
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="text-align: justify;"Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là một trong các hành vi bị cấm trong lĩnh vực nuôi con nuôi được quy định tại Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Mục đích Luật Nuôi con nuôi đưa ra những quy định cấm nhằm để bảo đảm việc nuôi con nuôi được thực hiện đúng mục đích, trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi./span/p

Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là một trong các hành vi bị cấm trong lĩnh vực nuôi con nuôi được quy định tại Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Mục đích Luật Nuôi con nuôi đưa ra những quy định cấm nhằm để bảo đảm việc nuôi con nuôi được thực hiện đúng mục đích, trên tinh thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi. Việc cấm ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi, là một trong những quy định mới được đưa vào luật, song hành vi bị cấm này không phải là những hành vi mới. Hành vi này đã được quy định tại Thông tư 01/2008/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.

 

Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là việc nuôi con nuôi giữa những người có quan hệ huyết thống, nhưng nếu pháp luật thừa nhận thì vô hình chung sẽ dẫn đến làm đảo lộn trật tự ngôi thứ trong quan hệ gia đình, không phù hợp với truyền thống văn hóa, đạo lý của người Việt Nam. Chẳng hạn như, nếu pháp luật cho phép một người cháu được làm con nuôi của ông, bà nội hay ông, bà ngoại thì pháp luật sẽ phải công nhận người cháu lại trở thành “con”, ông bà trở thành “bố mẹ” và như vậy người cháu sẽ ngang hàng với các con đẻ của ông bà, tức là “con bằng vai bố mẹ”, “ cháu bằng vai của cô, cậu, chú , bác, dì” hoặc nếu pháp luật cho phép anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi thì anh, chị, em lại trở thành “cha mẹ và con”. Rõ ràng là, việc làm đảo lộn ngôi thứ, thứ bậc như vậy trong quan hệ gia đình và việc gây xáo trộn về quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau trong quan hệ gia đình sẽ không được chấp nhận trong xã hội Việt Nam. Do đó, pháp luật không công nhận quan hệ nuôi con nuôi giữa ông, bà và cháu; anh, chị, em với nhau.

Ở đây có sự khác biệt giữa việc nuôi con nuôi với việc nuôi dưỡng. Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con, còn việc nuôi dưỡng chỉ là nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình. Trường hợp cha mẹ bị chết, thì ông bà nội hay ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh, chị có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc em đây chỉ là quan hệ nuôi dưỡng hay nghĩa dưỡng mà không phải quan hệ nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Việc ông bà nội, ông bà ngoại nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh, chị nuôi dưỡng em đó là trách nhiệm nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, không cần phải xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì mới ràng buộc được trách nhiệm của các bên.

Nếu việc nuôi con nuôi vi phạm một trong những điều cấm được quy định tại Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì việc nuôi con nuôi sẽ  bị chấm dứt. Đồng thời, tùy theo mức độ vi phạm mà người có hành vi vi phạm sẽ còn bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc pháp luật về  xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp.

 

09/02/2012 12:00 SAĐã ban hành
Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niênHạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Con được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức để trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội có lẽ đó là niềm hạnh phúc lớn nhất của mỗi người. Quan hệ giữa cha, mẹ và con là quan hệ thiêng liêng, không những chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý mà còn thể hiện ở đó là ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ của những người làm cha, làm mẹ đối con cái của mình và càng có ý nghĩa quan trọng về mặt đạo đức, xã hội. Để điều chỉnh quan hệ cha mẹ và con, pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy định cụ thể nghĩa vụ, quyền của cha mẹ đối với con, cũng như quyền, nghĩa vụ của con đối với cha mẹ. Tuy nhiên trong thực tế cuộc sống nhiều bậc làm cha mẹ không những không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với con cái, mà còn vị phạm các quyền của con.

Nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, đặc biệt là con chưa thành niên, pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy định về việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, như là một biện pháp chế tài của luật đối với cha, mẹ do không làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của con.

Điều 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau: Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên  theo Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 gồm:

Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên: Người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; hội liên hiệp phụ nữ.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 86 của Luật này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Bên cạnh đó, Điều 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định về hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên:

Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau đây: Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên; một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con; một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.

Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

07/03/2016 11:00 SAĐã ban hành
Những điểm mới cơ bản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáoNhững điểm mới cơ bản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 09 Chương, 68 Điều. Luật có những điểm mới cơ bản như sau:

Mở rộng chủ thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Theo Hiến pháp năm 2013 "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào". Cụ thể hóa Hiến pháp Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào" (Khoản 1 Điều 6).  

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định này thể hiện tính nhân văn trong chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho những người bị hạn chế quyền công dân.

Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Quy định này thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người.

Bổ sung một Chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

 Để phản ánh rõ hơn phạm vi điều chỉnh của Luật cũng như thể hiện cơ bản nhất chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã bổ một Chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với 04 Điều quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung

Chủ thể thực hiện quyền này được mở rộng. Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung không xem là mốc khởi điểm để hình thành về tổ chức.

Một số nội dung theo quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ nay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở Trung ương

Theo quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, một số nội dung thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ nay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương (công nhận tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo; tiếp nhận thông báo giải thể trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo). Việc thay đổi này sẽ giảm tải công việc cho Thủ tướng Chính phủ, tăng thẩm quyền cho cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cũng như giúp cho việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo nhanh gọn, thuận lợi hơn khi các tổ chức, cá nhân liên quan có nhu cầu.

Thời gian được công nhận là tổ chức tôn giáo giảm còn 05 năm

Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 quy định tổng thời gian kể từ khi được Ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận sinh hoạt tôn giáo đến đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo là 23 năm. Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thời gian công nhận tổ chức tôn giáo được tính từ khi tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Đây là một quy định thuận lợi cho các tổ chức khi đề nghị công nhận tổ chức tôn giáo.

Vấn đề tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo

Điều 30 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Đối với tổ chức tôn giáo được công nhận trước ngày Luật có hiệu lực là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày Luật này có hiệu lực với điều kiện các tổ chức tôn giáo này có trách nhiệm điều chỉnh, đăng ký hiến chương tại đại hội gần nhất theo quy định.

Đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 21 của Luật còn phải được tổ chức tôn giáo đề nghị và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký mới trở thành pháp nhân phi thương mại.

 Tách nội dung phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc thành hai nội dung: phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc và bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tách bạch, phân định rõ chức sắc, chức việc. Trên cơ sở phân định rõ chức sắc, chức việc, Luật quy định cách thức thực hiện đối với việc phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc (Điều 33) khác với bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc (Điều 34).

Về cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo

Cơ sở đào tạo tôn giáo, trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Luật đã bổ sung làm mới các quy định liên quan đến cơ sở đào tạo tôn giáo bao gồm từ đổi tên trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo thành cơ sở đào tạo tôn giáo, điều kiện thành lập, thẩm quyền chấp thuận đến các nội dung liên quan đến hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo.

Mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định việc mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo và phân tách việc mở lớp cho hai đối tượng là người chuyên hoạt động tôn giáo đăng ký việc mở lớp với cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh và những người không chuyên hoạt động tôn giáo thì thông báo với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi mở lớp.

 Bổ sung nội dung phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Đây là một quy định hoàn toàn mới, phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo, với xu thế hội nhập quốc tế và thông lệ quốc tế. Quy định này đã tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được đề nghị phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị khi đáp ứng các điều kiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định, đó là: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; Được đào tạo tôn giáo tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam; Tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được thay đổi theo hướng chỉ đăng ký, thông báo lần đầu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những nội dung không có trong văn bản đăng ký hoặc thông báo sẽ đăng ký, thông báo bổ sung.

Bổ sung theo hướng tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 8 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, đó là được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với các quyền cụ thể như sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đối với chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.

Trên cơ sở các quy định mang tính nguyên tắc này, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có 7 Điều quy định về hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài, trong đó tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo tập trung có thể thuê, mượn địa điểm để sinh hoạt tôn giáo; người nước ngoài có thể được tổ chức tôn giáo ở Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị; tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có quyền gia nhập, chấm dứt tham gia tổ chức tôn giáo nước ngoài;…

 Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để các cơ quan này biết, thực hiện trách nhiệm phối hợp với các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc để các hoạt động tôn giáo diễn ra đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn, bảo vệ môi trường... Các nội dung theo quy định của Luật, người đại diện cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có trách nhiệm thông báo như thông báo lễ hội định kỳ; thông báo về khoản thu, mục đích sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng; thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo; thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử; thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành; thông báo cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc; thông báo hội nghị thường niên… Đây cũng là quy định phù hợp với xu hướng hiện nay nhằm nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tôn giáo trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.

Phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, Luật cũng có các quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Đề bảo đảm có đầy đủ công cụ pháp lý nhằm thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, đồng thời bảo đảm quyền phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định về thanh tra chuyên ngành tôn giáo; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và một số biện pháp chế tài khác như đình chỉ, thu hồi, giải thể.

13/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/3/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/3/2015
Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 120/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Tuyến; cư ngụ tại: Khu phố 3, Thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm như sau:

1. Về đất thuộc thửa đất số 204, tờ bản đồ số 20

- Diện tích: 100 m2;  Loại đất: ở đô thị (ODT);

- Giá khởi điểm tài sản 1 là: 290.790.600đ (Hai trăm chín mươi triệu, bảy trăm chín mươi ngàn, sáu trăm đồng).

2. Về đất thuộc thửa đất số 202, tờ bản đồ số 20

- Diện tích: 201,1 m2;  Loại đất: cây lâu năm;

- Giá khởi điểm tài sản 2 là: 260.600.000đ (Hai trăm sáu mươi triệu, sáu trăm ngàn đồng)

3. Công trình xây dựng

a) Nhà ở: Xây dựng năm 2010. Diện tích xây dựng: 68,68m2. Diện tích sàn: 144,68m2.

* Cấu trúc:

- Dạng nhà cấp IV. Gồm: Tầng trệt: (có 01 phòng khách, 01 phòng ngủ, phòng vệ sinh + khu nhà bếp (phòng chữ L + bếp + phòng vệ sinh). Tầng một: (có 01 phòng khách + 02 phòng ngủ + phòng vệ sinh).

- Kết cấu tầng trệt:

+ Hành lang: bậc thang tam cấp, bêtông cốt thép.

+ Phòng khách (01 phòng): Móng, đà kiềng, khung cột bêtông cốt thép. Nền lát gạch ceramic (50x50)cm, tường bao xây gạch dày 10cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, sơn nước, phía ngoài ốp đá grantte, phía trong tường ốp gạch men cao 1,2m. Trần bêtông. Cửa đi chính bằng gỗ, 04 cánh; cửa sổ khung sắt + kính, 04 cánh.

+ Phòng ngủ + phòng vệ sinh: kết cấu như phòng khách; tường không ốp gạch. Cửa phòng khung nhôm + kính, 01 cánh; cửa sổ khung sắt + kính, 02 cánh. Phòng vệ sinh: Nền lát gạch ceramic nhám (25x25)cm, tường xây gạch dày 10cm, ốp gạch men. Cửa phòng khung nhôm + kính mờ, 01 cánh. Trang thiết bị: bàn cầu, lavabo, vòi nước và gương soi.

+ Khu nhà bếp: Phòng cữ L, kết cấu tương tự như phòng khách. Cửa đi bằng gỗ, 02 cánh; cửa sau bằng gỗ, 01 cánh; cửa sổ khung sắt + kín, 04 cánh. Bếp: bằng bêtông cốt thép, tường, mặt bếp ốp gạch ceramic, tủ bếp bằng khung nhôm + kính. Phòng vệ sinh: Nền lát gạch ceramic nhám (25x25)cm; tường xây gạch dày 10cm, ốp gạch men. Cửa phòng khung nhôm + kính mờ, 01 cánh. Trang thiết bị: bàn cầu, lavabo, vòi nước và gương soi.

- Kết cấu tầng 2:

+ Hành lang: khung bảo vệ bằng sắt, sơn chống sét, cao < 1m.

+ Phòng khách (01 phòng): Móng, đà kiềng, khung cột bêtông cốt thép. Nền lát gạch ceramic (50x50)cm, tường bao xây gạch dày 10cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, sơn nước, phía ngoài ốp đá grantte, phía trong tường ốp gạch men cao 1,2m. Trần thạch cao. Cửa đi chính bằng gỗ, 02 cánh; cửa đi phụ khung nhôm + kính, 01 cánh; cửa sổ bằng gỗ, 02 cánh (01 bộ) và kung nhôm + kính, 04 cánh dạng lùa (02 bộ).

+ Phòng ngủ + phòng vệ sinh: kết cấu như phòng khách. Cửa phòng mặt chữ L bằng gỗ, 02 cánh; cửa sổ khung nhôm + kính, 02 cánh.

b) Nhà phụ: Xây dựng năm 2010, kích thước: 19,47m2;

- Kết cấu: Là mái che của nhà chính, nền lát gạch ceramic (40x40)cm, tường bao xây gạch dày 10cm, sơn nước. Đòn tay gỗ tạp, mái tole firô ximăng. Cửa đi bằng gỗ, 01 cánh.

c) Cổng + tường rào:

- Cổng rào: kích thước 8,8m2; trụ cổng bằng betông cốt thép (40x40)cm, quét vôi. Cánh cổng (02 cánh): khung bằng thép tròn tổ hợp hàn lại với nhau, cao 2,2m.

- Tường rào: Kích thước 12,06m2. Kết cấu: móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bêtông cốt thép, khoảng cột 2,8m, tường xây gạch dày 10cm, cao 2,5m.

d) Sân nền: Kích thước 90m2. Kết cấu: Sân bêtông đan, kông cốt thép, từng khối ghép lại với nhau.

- Giá khởi điểm tài sản 3 là: 547.669.400đ (Năm trăm bốn mươi bảy triệu, sáu trăm sáu mươi chín ngàn, bốn trăm đồng).

- Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: Khu phố 3, thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Tuyến, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 1.099.060.000đ (Một tỷ, không trăm chín mươi chín triệu, không trăm sáu mươi ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 07/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 104/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Kim Tùng và bà Hà Thị Thủy, hiện cư ngụ tại: ấp Chợ, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Diện tích: 727,9 m2 ;

- Loại đất: LNC;

- Thuộc tờ bản đồ 06, thửa  số 308;

2) Tài sản trên đất là cây trồng bao gồm: cây dừa, cây măng cụt.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Phước Hòa, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Kim Tùng và bà Hà Thị Thủy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 240.458.765đ (hai trăm bốn mươi triệu bốn trăm năm mươi tám ngàn bảy trăm sáu mươi lăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 07/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 105/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi gắn liền trên đất của ông Dương Văn Hy và bà Nguyễn Thị Nguyệt, cư ngụ tại: ấp Phú Hòa, xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

1) Về đất thuộc thửa số 174 và thửa số 145, tờ bản đồ số 19;

- Diện tích: 1.836,9 m2 (trong đó 300 m2 đất ONT và 1.536,9 m2 đất CLN);

- Diện tích 75,2 m2; loại đất CLN;

2) Công trình xây dựng;

a) nhà ở:

- Thời gian hoàn thành xây dựng năm 2008;

- Diện tích xây dựng: 339,1 m2;

- Diện tích sàn xây dựng: 404,52 m2;

- Số tầng: 02 tầng;

- Pháp lý: chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà

* tầng trệt:

- Số phòng; 02 phòng khách và 05 phòng ngủ;

- Kết cấu chính: khung cột bêtông cốt thép, vách tường xây gạch ống 10cm, sơn nước, tường ván gạch ceramic cao 1,6m, có ngăn phòng;

- Hệ thống cửa: cửa chính có 02 tầng cửa (cửa nhôm lắp kín và cửa nhôm kéo), cửa phụ, cửa phòng và cửa sổ là cửa nhôm lắp kính.

- Nền lát gạch bóng kính, nền các phóng lát gạch bông.

* Tầng 01:

- Số phòng: 01 phòng khách và 02 phòng ngủ;

- Kết cấu chính:

+ khung cột bêtông cốt thét;

+ Vách tường xây gạch ống, sơn nước, tường ván gạch ceramic cao 1,6m, có ngăn phòng;

+ Nến lát gạch bông;

+ Trần thạch cao;

+ Mái tole giã ngói;

+ Hệ thống cửa: cửa chính, cửa phụ và cửa phòng là cửa nhôm lắp kính;

+ Cầu thang bêtông cốt thép, lát gạch bông, tay vịn bằng inox;

+ Các tiện ích khác: điện kế riêng, hệ thống điện chiếu sáng đầu đủ;

- Hiện trạng; công trình đang sử dụng bình thường, nền bị lún, tường bị xé một vài chỗ, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

b) Tường rào:

- Kết cấu:

+ Trụ bêtông, kéo lưới B40, cao 1m, dài 31,64m;

+ Trụ bêtông, tường xây gạch < 80cm kéo lưới B40, cao 1m, dài 58,6 m;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng bình thường, lưới B40 đã bị rỉ sét, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

c) Cổng rào:

- Kết cấu:

+ Trụ xây gạch, dán gạch giã đá, cửa cổng bằng khung sắt, cao 2,5m, ngang 3,2m;

- Hiện trạng: Công trình đang sử dụng bình thường, cửa cổng bằng khung sắt đã rỉ sét, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

d) Sân lót đan:

- Kết cấu: đan bêtông cốt thét, diện tích 139,88m2; hiện trạng công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

đ) Hồ nước:

- kết cấu: Loại hồ bêtông tròn, số lượng 02, kích thước cao 3m, đường kính 2,8m;

- Hiện trạng: công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

e) Hồ cá:

- Kết cấu: loại hồ bêtông tròn, số lượng 01 ống, kích thước cao 0,5m, đường kính 3,5m;

- Hiện trạng: công trình đang sử dụng bình thường, ngoại quan không phát hiện hư hỏng nghiêm trọng;

3) Hoa lợi trên đất; Cây măng cụt, bòn bon, bưởi da xanh, sầu riêng, cây dâu, cây dừa, cây kiểng trồng làm cảnh ngoài đất

- Tài sản (1+2+3) toạ lạc tại: xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách,  tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi gắn liền trên đất của ông Dương Văn Hy và bà Nguyễn Thị Nguyệt, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 964.375.400đ (chín trăm sáu mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn bốn trăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 07/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 80.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 107/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất và hoa màu trên đất của bà Phạm Thị Phương Lan, hiện cư ngụ tại: 482C, ấp Phú Tự, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Diện tích: 1.300,8 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ 46, thửa  571;

2) Công trình xây dựng trên đất:

- Nhà văn phòng: diện tích 90,31 m2; (14,45 m x 6,25m), nền lát gạch ceramic vách tường, khung cột bêtông cốt thép, đòn tay gỗ, kèo gỗ, trần nhựa, mái lộp tole.

- Nhà xưởng: diện tích 178,63 m2 (28,58m x 6,25m), nền láng ximăng, cột bêtông cốt thép đúc sẵn, vách lá, khung kèo, đòn tay bằng gỗ, mái lá.

- Hàng rào:

+ Cổng  rào: Diện tích 7,2 m2 (3m x 2,4m). Kế cấu: trụ cổng bêtông cốt thép, cao 2,6 m; Cánh cổng: khung bằng thép hộp, song đứng bằng sắt tròn, sơn chống sét, 01 cánh.

+ Tường rào: móng cột, đà kiềng bêtông cốt thép, trụ bê tông cốt thép, khoảng cột 2,8 m, tường xây lững cao 0,6 m, trên lắp lưới B40.

3) Hoa màu trên đất gồm: 19 cây dừa và 01 cây me.

- Tài sản toạ lạc tại (1+2+3): xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất và hoa màu trên đất của bà Phạm Thị Phương Lan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 522.834.345đ (năm trăm hai mươi hai triệu tám trăm ba mươi bốn ngàn ba trăm bốn mươi lăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 9 giờ ngày 07/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 116/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, nhà và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, địa chỉ tại: ấp An Vĩnh 1, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

1. Về đất và nhà thuộc  tờ bản đồ số 3, thửa số 2949

a) Về đất:

- Diện tích: 630 m2 ;

- Loại đất: LNC; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AM 212096 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 08/4/2008.

b) Nhà trên đất:

+ Nhà ở chính có diện tích 78,3 m2, cột ximăng, đòn tay, xiêng, kèo bằng cây, lợp lá, vách lá và bê dừa, nền lót gạch bông. Không có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

+ Nhà tiền chế có diện tích 30 m2, cột bêtông, máy lợp tole lạnh, khung sắt, hai bên cháy bằng cây lợp lá, nền tráng ximăng.

+ Nhà kho có diện tích 99,8 m2.

+ Chuồng heo có 6 căn chia làm 12 chuồng có diện tích 180m2, cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

+ Tường rào xây tường cao 2 m, diện tích 260,6m2.

+ Cổng rào bằng thép có diện tích 5 m2.

* Tài sản 1 tọa lạc tại: xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (1): 197.907.642đ (Một trăm chín mươi bảy triệu, chín trăm lẻ bảy ngàn, sáu trăm bốn mươi hai đồng).

2. Thửa số 3342, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 959,9 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AO 593582 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 02/01/2009.

- Chuồng heo có diện tích 294 m2 đã xuống cấp không thể sử dụng được.

- Tường rào xây tường cao 0,6 m lắp lưới B40 có diện tích 50,4 m2.

- Tường rào xây tường cao 2 m có diện tích 178 m2.

- Cây trồng: 04 cây dừa trên 10 năm tuổi, 01 cây bưởi khoảng 3 năm tuổi và 01 bụi tre trên 3 năm tuổi.

* Tài sản 2 tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (2): 289.028.333đ (Hai trăm tám mươi chín triệu, không trăm hai mươi tám ngàn, ba trăm ba mươi ba đồng).

3. Thửa số 2784, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 957 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AN 550468 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 30/9/2008.

- Chuồng heo có diện tích 356,3 m2 cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

- Tường rào có diện tích 257,3 m2.

- Cây trồng: 02 cây dừa trên 5 năm tuổi, 02 cây dừa khoảng 01 năm tuổi và 02 cây nhãn trên 5 năm tuổi.

* Tài sản 3 tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (3): 245.795.116đ (Hai trăm bốn mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi lăm ngàn, một trăm mười sáu đồng).

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, nhà và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Tài sản trên bán từng thửa theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm tính tròn của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 732.731.091 đ (Bảy trăm ba mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi một ngàn, không trăm chín mươi một đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá (1+2+3): 200.000đ/ 01 hồ sơ/01 tài sản.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 1: 15.000.000 đ/ 01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản (2+3): 20.000.000 đ/ 01hồ sơ/01 tài sản.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/3/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút, ngày 07/5/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 117/2015

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, cây trồng và công trình xây dựng trên đất của bà Nguyễn Thị Ngọc Hiển, địa chỉ tại: ấp An Phong, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre và ông Nguyễn Văn Tân, địa chỉ số 16/7, khu phố 2, phường Tân Thuận Đông, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.

1. Về đất và công trình xây dựng thuộc tờ bản đồ số 02, thửa số 3016.

- Về đất: Diện tích 2.825,1 m2 (đất ONT và HNK). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ787791, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 03244 QSDĐ/2963/QĐ-UB (H) do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày (nay là huyện Mỏ Cày Nam) cấp ngày 31/8/2004. Trên đất có:

- 02 (hai) căn nhà tiền chế có kết cấu móng bêtông cốt thép, khung cốt thép vách tường xây gạch và tole, không trần.

+ Căn 1 có nền lót gạch ceramic, mái tole tráng kẽm diện tích 52,25 m2 và nền ximăng mái tole tráng kẽm diện tích 310,65 m2.

+ Căn 2 có nền lót gạch ceramic, mái tole tráng kẽm diện tích 333,3 m2.

+ Hầm nước thành xây gạch dày 200, không nắp gồm có 05 (năm) hầm tổng thể tích 31,32 m2.

+ Hồ tròn di chuyển được gồm 06 (sáu) hồ tổng thể tích 19,5 m3.

2. Về đất và cây trồng thuộc tờ bản đồ số 02, thửa số 1057.

Diện tích 1.498,3 m2 đất HNK. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 357510, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00327 do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày (nay là huyện Mỏ Cày Nam) cấp ngày 02/11/2005. Trên đất có 07 (bảy) bụi chuối trên 01 năm tuổi.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại ấp An Phong, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, cây trồng và công trình xây dựng trên đất của bà Nguyễn Thị Ngọc Hiển và ông Nguyễn Văn Tân, bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 2.552.611.145đ (Hai tỷ, năm trăm năm mươi hai triệu, sáu trăm mười một ngàn, một trăm bốn mươi lăm đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 200.000.000đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 26/3/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 07/5/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 119/2015

Tài sản thanh lý là:

1. Thanh lý khai thác củi đước để đào, đắp mới đê bao ngư trường của hộ ông Phan Văn Hoằng khối lượng ước tính 13,6 ster (bao gồm chi phí bốc xếp, vận chuyển)

- Tài sản 1 tọa lạc: tại Tiểu khu 15, Phân khu phục hồi sinh thái 2 (ấp Thạnh Thới Đông, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre).

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1): 13.040.000đồng (Mười ba triệu, không trăm bốn mươi ngàn đồng).

2. Thanh lý khai thác rừng bần để xây dựng Đồn biên phòng Hàm Luông với sản lượng lâm sản khai thác (theo thiết kế) khối lượng ước tính 264,4 m3 (giá bán cây đứng, cây còn trong rừng, chưa chặt hạ).

- Tài sản 2 tọa lạc: tại Lô 2, khoảnh 2, Tiểu khu 11, thuộc địa bàn xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (2): 28.350.000đồng (Hai mươi tám triệu, ba trăm năm mươi ngàn đồng).

* Lưu ý:

+ Tài sản bán theo từng mục 1, 2.

+ Giá trên đã bao gồm thuế VAT.

+ Khi bán đấu giá thành tiến hành bàn giao tài sản thực tế, nếu tăng hơn 264,4 m3 và 13,6 ster thì người mua nộp thêm tiền trên tổng tài sản mua được cho Trung tâm, còn ngược lại nếu giảm hơn 264,4 m3 và 13,6 ster thì Trung tâm sẽ hoàn lại tiền trên tổng tài sản mua được cho khách hàng.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ban quản lý Rừng phòng hộ và đặc dụng quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 41.390.000đồng (Bốn mươi một triệu, ba trăm chín mươi ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ (tài sản 1) và 100.000đ/01 hồ sơ (tài sản 2).

* Khoản tiền đặt trước: 1.500.000đ/01 hồ sơ (tài sản 1) và 3.000.000đ/01 hồ sơ (tài sản 2).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/03/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/04/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 06/04/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

27/03/2015 5:00 CHĐã ban hành
Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại trong tố tụng hành chínhPhiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại trong tố tụng hành chính

Ngày 25/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã thông qua Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 (sau đây gọi là Luật TTHC năm 2015). Đây là một trong những đạo luật quan trọng về tố tụng được Quốc hội thông qua theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, là đạo luật trực tiếp liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.     

  Theo đó, một trong những quy định mới được bổ sung trong Luật TTHC năm 2015 là quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại. Khi được Chánh án Toà án phân công giải quyết vụ án, Thẩm phán có nhiệm vụ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại, trừ vụ án theo thủ tục rút gọn và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri.  Việc tổ chức phiên họp này tạo điều kiện cho các đương sự tiếp cận tài liệu, chứng cứ của nhau và yêu cầu, phạm vi khởi kiện, yêu cầu độc lập, việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa...

Tại Điều 134 của Luật TTHC năm 2015 quy định về nguyên tắc đối thoại như sau:

 Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không tiến hành đối thoại được, vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri, vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn được quy định tại các điều 135, 198 và 246 của Luật này.

Việc đối thoại phải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây: Bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự; không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết vụ án hành chính trái với ý chí của họ; nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Những vụ án hành chính không tiến hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật TTHC năm 2015 gồm: Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia đối thoại được vì có lý do chính đáng; các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại.

Về việc thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại: Trước khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại giữa các đương sự, Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp. Trường hợp vụ án hành chính không tiến hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật này thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành việc đối thoại.

Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại:

Thành phần tham gia phiên họp gồm có: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký phiên họp ghi biên bản; đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); người phiên dịch (nếu có).

Trường hợp cần thiết, Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia phiên họp.

Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên họp để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp và thông báo bằng văn bản việc hoãn phiên họp, mở lại phiên họp cho các đương sự.

Về trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại quy định tại Điều 139 của Luật TTHC năm 2015 như sau:

Trước khi khai mạc phiên họp, Thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho đương sự biết quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này.

Khi tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và hỏi đương sự về những vấn đề sau đây: Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, sửa đổi, bổ sung, thay thế, rút yêu cầu khởi kiện; yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác; việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa; vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.

Sau khi các đương sự trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các đề nghị của đương sự quy định tại khoản 2 Điều này; trường hợp đương sự vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ.

Sau khi tiến hành xong việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều này, Thẩm phán tiến hành thủ tục đối thoại như sau:

Thẩm phán phổ biến cho đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc đối thoại để họ tự nguyện thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án;

Người khởi kiện trình bày bổ sung về yêu cầu khởi kiện, những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm của người khởi kiện về hướng giải quyết vụ án (nếu có);

Người bị kiện trình bày bổ sung ý kiến về yêu cầu của người khởi kiện, những căn cứ ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện và đề xuất hướng giải quyết vụ án (nếu có);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày bổ sung và đề xuất ý kiến giải quyết phần liên quan đến họ (nếu có);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người khác tham gia phiên họp đối thoại (nếu có) phát biểu ý kiến;

Tùy từng trường hợp, Thẩm phán yêu cầu đương sự nêu văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan để đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện, đồng thời kiểm tra hiệu lực pháp luật của văn bản đó. Thẩm phán có thể phân tích để các đương sự nhận thức đúng về nội dung văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan để họ có sự lựa chọn và quyết định việc giải quyết vụ án;

Sau khi các đương sự trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;

Thẩm phán kết luận về những vấn đề các bên đương sự đã thống nhất và những vấn đề chưa thống nhất.

Thư ký phiên họp ghi biên bản về diễn biến phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại.

 Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải có các nội dung sau đây: Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp; địa điểm tiến hành phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; ý kiến của đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 138 của Luật này; các nội dung khác; kết luận của Thẩm phán về việc chấp nhận, không chấp nhận các đề nghị của đương sự.

Biên bản đối thoại phải có các nội dung sau đây: Nội dung quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này; ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; nội dung đã được đương sự thống nhất, không thống nhất.

Đối với trường hợp không tiến hành đối thoại được quy định tại Điều 135 của Luật này thì lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký phiên họp ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản phiên họp ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên họp và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận.

Về xử lý kết quả đối thoại:

Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người bị kiện giữ nguyên quyết định, hành vi bị khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ nguyên yêu cầu thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án.

Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện thì Thẩm phán lập biên bản về việc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện. Người khởi kiện được quyền khởi kiện lại vụ án nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Trường hợp qua đối thoại mà người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện thì Tòa án lập biên bản về việc cam kết của đương sự. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện. Hết thời hạn này mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án .

Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì quyết định của Tòa án có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

18/10/2016 5:00 CHĐã ban hành
Quyền và bổn phận của trẻ emQuyền và bổn phận của trẻ em

Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017. Luật có 07 Chương, 106 Điều, có nhiều nội dung mới, trong đó có các quy định mới về quyền và bổn phận của trẻ em.

 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung và được thể hiện cụ thể hơn như:

Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển.

Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.

Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện.

Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

 Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.

Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.

Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.

 Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

 Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

 Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.

Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

 Quyền của trẻ em khuyết tật: Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.

Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Về bổn phận của trẻ em, kế thừa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em.

Bổn phận của trẻ em đối với gia đình: Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ. Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác: Tôn trọng giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác. Thương yêu, đoàn kết, chia sẻ khó khăn, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè. Rèn luyện đạo đức, ý thức tự học, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Giữ gìn, bảo vệ tài sản và chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác.

Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội: Tôn trọng, lễ phép với người lớn tuổi; quan tâm, giúp đỡ người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người gặp hoàn cảnh khó khăn phù hợp với khả năng, sức khỏe, độ tuổi của mình. Tôn trọng quyền, danh dự, nhân phẩm của người khác; chấp hành quy định về an toàn giao thông và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ, giữ gìn, sử dụng tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng và độ tuổi của trẻ em. Phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật.

 Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước: Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước. Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em với bản thân: Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân. Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể. Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang. Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác. Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân.

15/12/2016 4:00 CHĐã ban hành
Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2015Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2015

Sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) 6 tháng đầu năm 2015. Được sự ủy quyền của Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố; đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

hop-hoi-dong-pb1.gif 

Tại Hội nghị Trưởng ban Thư ký của Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh báo cáo tóm tắt dự thảo Báo cáo công tác PBGDPL 6 tháng đầu năm và phương hướng công tác 6 tháng cuối năm 2015. Hội nghị cũng đã nghe 11 ý kiến phát biểu của đại biểu tham dự. Hội nghị đã thống nhất đánh giá công tác PBGDPL trong 6 tháng đầu năm 2015 đã được các cơ quan, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp triển  thực hiện có hiệu quả. Nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động triển khai thực hiện công tác PBGDPL đúng theo kế hoạch. Hình thức PBGDPL phong phú, nội dung pháp luật phù hợp với từng đối tượng, địa bàn, đi vào chiều sâu, thực chất. Công tác phối hợp của một số cơ quan, đơn vị, thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL cấp tỉnh, cấp huyện đi vào nền nếp, phát huy được vai trò của từng cơ quan, đơn vị trong công tác phối hợp PBGDPL. Bước đầu triển khai hoạt động xã hội hóa công tác PBGDPL với những kết quả còn khiêm tốn, tuy nhiên, có thể thấy chủ trương xã hội hóa công tác PBGDPL là cần thiết và đúng đắn, được một số ngành, địa phương quan tâm triển khai thực hiện. Bên cạnh những kết quả đạt được, thì công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở và xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân ở cơ sở trong thời gian qua cũng còn những hạn chế và khó khăn. Để triển khai thực hiện có hiệu quả công tác PBGDPL trong 6 tháng cuối năm 2015, cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

Tiếp tục phối hợp tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả, đúng tiến độ công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, xây dựng và thực hiện quy ước theo Kế hoạch của UBND tỉnh về công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở, xây dựng và thực hiện quy ước trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2015.

Tiếp tục chú trọng đổi mới, đa dạng các hình thức PBGDPL, phát huy các hình thức PBGDPL đạt hiệu quả, phổ biến pháp luật sâu rộng đến nhóm đối tượng đặc thù; tổ chức Ngày pháp luật nước Công hòa xã hội chủ nghĩa việt nam năm 2015 (9/11) thiết thực và hiệu quả. Quan tâm củng cố, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, có chế độ chính sách cho phù hợp.

Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp năm 2013; tổng kết cuộc thi viết "Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" trên địa bàn tỉnh đúng tiến độ theo Kế hoạch UBND tỉnh.

Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh; tổ chức quán triệt, phổ biến, truyền thông để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, cộng đồng về xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; phối hợp rà soát các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật, đề xuất Bộ Tư pháp báo cáo Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở cho phù hợp với thực tiễn ở địa phương, cơ sở.

hop-hoi-dong-pb2.gif 

Tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật Hòa giải ở cơ sở, tổ chức kiện toàn tổ hòa giải, đội ngũ hòa giải viên; triển khai thực hiện Chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, phấn đấu tỷ lệ hòa giải thành đạt trên  85%; phải đảm bảo kinh phí hỗ trợ cho hoạt động của tổ hoà giải và chi thù lao hoà giải cho hoà giải viên; tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng các tổ hoà giải, hoà giải viên thực hiện hiệu quả công tác hoà giải theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Tiếp tục nâng cao hiệu quả mô hình Tủ sách pháp luật, phát huy hiệu quả tủ sách pháp luật trong công tác PBGDPL. Rà soát, đánh giá các quy định pháp luật về quy ước ấp, khu phố để phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo, những vấn đề mới phát sinh trong xây dựng và thực hiện quy ước; theo dõi, nắm bắt tình hình, kiểm tra việc xây dựng và thực hiện quy ước theo Kế hoạch UBND tỉnh.

25/06/2015 11:00 SAĐã ban hành
Nâng cao hơn nữa hiệu quả của Tủ sách pháp luậtNâng cao hơn nữa hiệu quả của Tủ sách pháp luật

Thực hiện Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật (Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bến Tre đã ban hành Chỉ thị số 07/2010/CT-UBND ngày 05 tháng 11 năm 2010 về việc tăng cường công tác xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Các sở, ngành, đoàn thể tỉnh, UBND các huyện, thành phố cũng đã triển khai quán triệt và thực hiện nghiêm túc chủ trương xây dựng Tủ sách pháp luật ở ngành, địa phương mình.

Sau 5 năm triển khai thực hiện, đến nay, toàn tỉnh có khoảng 1.275 Tủ sách pháp luật. Trong đó có: 164 Tủ sách pháp luật cấp xã; 275 Tủ sách pháp luật tại cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện;  446 Tủ sách pháp luật trong trường học; 385 Tủ sách pháp luật tại ấp, khu phố, chi tổ, hội; 05 Tủ sách pháp luật tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp phục vụ cho công nhân. Tủ sách pháp luật của các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện đặt tại văn phòng hay phòng nghiệp vụ cơ quan, đơn vị; Tủ sách pháp luật cấp xã đặt tại trụ sở UBND cấp xã hoặc Bưu điện văn hoá; Tủ sách pháp luật tại ấp, khu phố được đặt tại nhà của Trưởng ấp, nhà văn hóa ấp, khu phố; Tủ sách pháp luật trường học được đặt tại thư viện nhà trường; đối với doanh nghiệp thì Tủ sách pháp luật được đặt tại nhà ăn tập thể, nơi tiếp công nhân.

Các tài liệu trong Tủ sách pháp luật chủ yếu là các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực quản lý của ngành, đơn vị, liên quan mật thiết đối với đời sống người dân, công báo, sách pháp luật, các đề cương, sổ tay, tờ bướm tuyên truyền pháp luật, báo pháp luật, các loại tạp chí pháp luật, băng đĩa tuyên truyền pháp luật.

 Đa số các Tủ sách pháp luật đều có phân công cán bộ quản lý. Tủ sách pháp luật tại cơ quan, đơn vị do công chức tại phòng chuyên môn nơi đặt Tủ sách pháp luật quản lý; Tủ sách pháp luật cấp xã do công chức Tư pháp-Hộ tịch, công chức Văn phòng UBND xã, cán bộ phụ trách tại Bưu điện văn hoá cấp xã quản lý. Đa số UBND cấp xã, cơ quan, đơn vị có xây dựng quy chế khai thác, sử dụng Tủ sách pháp luật, có mở sổ theo dõi quản lý và cập nhật đầu sách. Việc ứng dụng công nghệ thông tin mới được áp dụng đối với Tủ sách pháp luật trong nhà trường (kết hợp việc quản lý sách trong thư viện nhà trường).

Đối tượng phục vụ của Tủ sách pháp luật đa số là cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị, công nhân lao động, học sinh tại các trường học và người dân. Hình thức khai thác Tủ sách pháp luật, ngoài việc đọc tại chỗ, các tài liệu trong Tủ sách pháp luật còn được cho mượn về khi có nhu cầu cần tham khảo, nghiên cứu. Số lượt người đọc, mượn tại Tủ sách pháp luật trung bình hàng năm tại cơ quan, đơn vị là 108 lượt/năm, tại Tủ sách pháp luật cấp xã là 280 lượt/năm. Thời gian phục vụ bạn đọc theo giờ hành chính từ 7 giờ đến 11 giờ, 13 giờ đến 17 giờ các ngày từ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần.

Qua 05 năm triển khai thực hiện Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg, xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật trên địa bàn tỉnh, bên cạnh một số kết quả như trên, cũng còn những khó khăn, hạn chế như:

Một số nơi, việc bố trí Tủ sách pháp luật, sách, tài liệu chưa thuận tiện, khoa học, chưa kịp thời cập nhật, loại bỏ các sách, tài liệu đã hết hiệu lực, chưa bổ sung sách mới, nguồn tài liệu bổ sung cho Tủ sách pháp luật chưa nhiều.  Nguồn kinh phí đầu tư cho Tủ sách pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu, do ngân sách địa phương, cũng như tại cơ quan, đơn vị còn khó khăn, chưa huy động được nhiều nguồn kinh phí hỗ trợ khác. Hàng năm, đa số UBND cấp xã bố trí được kinh phí hỗ trợ cho Tủ sách pháp luật, bổ sung thêm đầu sách, tài liệu pháp luật; số tiền đầu tư cho Tủ sách pháp luật cấp xã từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng/năm, phụ thuộc vào điều kiện ngân sách từng địa phương. Một số ít cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện bố trí kinh phí cho Tủ sách pháp luật, nhưng không nhiều, chủ yếu sử dụng nguồn kính phí khoán của cơ quan, đơn vị; một vài cơ quan, đơn vị cấp tỉnh bố trí kinh phí cho Tủ sách pháp luật từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/Tủ sách/năm. 

Địa điểm đặt Tủ sách pháp luật cấp xã và thời gian phục vụ như hiện nay chưa phù hợp. Thời gian phục vụ của Tủ sách pháp luật chủ yếu trong giờ hành chính, đây cũng là thời gian lao động của người dân, công nhân nên chưa thuận tiện cho người dân đến đọc, mượn sách.

Số lượt người dân đến đọc sách và nghiên cứu văn bản pháp luật chưa nhiều, một số ít người dân khi có vướng mắc về pháp luật, có quyền lợi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, mâu thuẩn thì họ đến Tủ sách pháp luật để tìm hiểu, nghiên cứu; còn phần lớn người dân họ tìm đến những người có hiểu biết pháp luật, hoặc liên hệ với cơ quan tư vấn pháp luật miễn phí, hoặc tìm hiểu trên mạng internet. Hiện nay, có nhiều dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí (như Trung tâm Trợ giúp pháp lý, Trung tâm tư vấn pháp luật hoặc Văn phòng Luật sư cũng có nhiệm vụ trợ giúp pháp lý miễn phí...), mặc khác do công nghệ thông tin phát triển cho nên người dân, người thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý có thể dể dàng tiếp cận pháp luật, không phải đến Tủ sách pháp luật để tìm hiểu, nghiên cứu.

Việc xây dựng Tủ sách pháp luật cấp xã, cơ quan, đơn vị là một trong các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật. Để duy trì, nâng cao hiệu quả xây dựng, quản lý, khai thác của Tủ sách pháp luật hiện có, trong thời gian tới cần phải tập trung thực hiện những giải pháp như:

Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp; đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về vai trò, vị trí Tủ sách pháp luật trong phổ biến, giáo dục pháp luật; từ đó quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp xây dựng, quản lý, khai thác của Tủ sách pháp.

Đổi mới trong việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật, có thể xây dựng mô hình Tủ sách pháp luật điện tử. Đối với Tủ sách pháp luật cấp xã, tùy tình hình thực tế địa phương, cơ sở, có thể tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả Tủ sách pháp luật hiện có, kết hợp việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật, xây dựng mô hình Tủ sách pháp luật điện tử.

Bên cạnh, cơ quan, đơn vị, địa phương quan tâm bố trí kinh phí hợp lý đầu tư cho Tủ sách pháp luật, thì Trung ương quan tâm cấp bổ sung, hỗ trợ kinh phí cho địa phương đối với địa phương nào chưa tự cân đối được ngân sách, để địa phương nâng cao chất lượng, hiệu quả khai thác Tủ sách pháp luật.

25/06/2015 11:00 SAĐã ban hành
Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp tham dự hội thi tiếng hát cán bộ, công chức, viên chức năm 2015Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp tham dự hội thi tiếng hát cán bộ, công chức, viên chức năm 2015

Thực hiện Kế hoạch của Công đoàn Viên chức tỉnh Bến Tre về việc tổ chức Hội thi tiếng hát cán bộ, công chức, viên chức, người lao động lần thứ IV năm 2015; nhằm tạo sân chơi bổ ích cho các cán bộ, công chức viên chức, người lao động trong khối các cơ quan tỉnh, Hội thi tiếng hát cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đã diễn ra sôi nổi trong 4 đêm thi, từ ngày 17 đến ngày 20 tháng 6 năm 2015 với sự tham gia của 25 đơn vị khối các cơ quan tỉnh. Năm nay các đội dự thi đã có sự đầu tư tốt về dàn dựng, trang phục, đa dạng về thể loại tham gia dự thi.

thi-van-nghe.gif 

Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp đã tham gia Hội thi với 4 tiết mục bao gồm múa, đơn ca – múa minh hoạ, song ca và tốp ca. Được sự quan tâm hỗ trợ của Ban lãnh đạo Sở, Ban Chấp hành Công đoàn Sở, sự tham gia nhiệt tình của các công đoàn viên, đội văn nghệ của Sở Tư pháp đã cố gắng tập luyện và tham gia cuộc thi. Kết quả Hội thi Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp đạt giải Ba tập thể, tiết mục song ca bài Mẹ Việt Nam anh hùng đạt giải A, tiết mục múa Ký ức và tiết mục đơn ca bài Lời ru cỏ non đạt giải B, và tiết mục tốp ca  Viết tiếp bài ca anh hùng đạt giải C.

25/06/2015 11:00 SAĐã ban hành
Tọa đàm “Tìm giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông”Tọa đàm “Tìm giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông”
Sáng ngày 19/6/2015, Ban Dân vận Tỉnh ủy và Ban An toàn giao thông tỉnh Bến Tre phối hợp tổ chức Tọa đàm “Tìm giải pháp kéo giảm tai nạn giao thông”. Ông  Trần Quang Diên, Phó trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy; ông Nguyễn Văn Hoàng, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giao thông -Vận tải, Phó Trưởng ban thường trực Ban An toàn giao thông tỉnh đồng chủ trì hội nghị.

Tại buổi Tọa đàm có 11 ý kiến tham luận. Các ý kiến đã tập trung phân tích, đánh giá tình hình, thực trạng tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua; tìm ra nguyên nhân và đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người khi tham gia giao thông, góp phần kiềm chế, kéo giảm tai  nạn giao thông trên địa bàn.

toa-dam-keo-giam-tai-nan-giao-thong.gif 

Kết luận buổi Tọa đàm, ông Nguyễn Văn Hoàng, Giám đốc Sở Giao thông -Vận tải đánh giá cao nội dung ý kiến tham luận của các đại biểu; đồng thời lưu ý, nhấn mạnh một số vấn đề cần quan tâm: Trước hết đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp triển khai thực hiện các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tập trung thực hiện giải pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật pháp luật về an toàn giao thông; đưa nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật pháp luật về an toàn giao thông vào sinh hoạt định kỳ tại các chi bộ đảng; các chi, tổ, hội thuộc tổ chức chính trị - xã hội; gắn việc xây dựng "Văn hóa giao thông"  vào nội dung cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"; xác định rõ trách nhiệm tôn trọng và chấp hành pháp luật là tiêu chí đánh giá chất lượng của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đoàn thể; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên; tiêu chuẩn đánh giá chuẩn mực đạo đức của học sinh, sinh viên hàng năm; biểu dương gương người tốt, việc tốt; đồng thời phê phán những hành vi cố ý vi phạm, coi thường kỹ cương, pháp luật về an toàn giao thông. Đưa nội dung sinh hoạt định kỳ về an toàn giao thông đối với các tổ nhân dân tự quản, tổ dân vận ấp, khu phố; để mọi nhà, mọi người có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật về an toàn giao thông; người lớn trong mỗi gia đình phải là tấm gương để con, cháu noi theo.

 toa-dam-keo-giam-tai-nan-giao-thong1.gif

Ban Giám hiệu các trường học chủ động nghiên cứu, đối mới hình thức, nội dung, phương pháp giảng dạy pháp luật về an toàn giao thông phù hợp với từng đối tượng. Mỗi thầy, cô giáo phải là tấm gương mẫu mực chấp hành pháp luật về an toàn giao thông. Phối hợp chặt chẽ giữa  đình, nhà trường với các đoàn thể, chính trị -xã hội quản lý, giáo dục các em chấp hành và đảm bảo trật tự, an toàn giao thông, không để xảy ra tai nạn giao thông. Lực lượng Cảnh sát giao thông phối hợp với các cơ quan chức năng vừa thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động; vừa tăng cường lực lượng, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, thường xuyên tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn giao thông.

24/06/2015 10:00 SAĐã ban hành
Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 23/6/2015Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 23/6/2015
23/06/2015 5:00 CHĐã ban hành
Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 19/6/2015Kết quả Lý lịch tư pháp ngày 19/6/2015
23/06/2015 5:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn