Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Trung tâm Trợ giúp pháp lý
Ngày 12/11/2016, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bến Tre phối hợp với Câu lạc bộ pháp luật 20+ Trường Đại học Kinh tế Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm tổ chức buổi trợ giúp pháp lý lưu động hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là hoạt động nhằm đưa công tác trợ giúp pháp lý theo hướng xã hội hóa thiết thực đến v... 
 
Thực hiện Kế hoạch về công tác tư pháp năm 2014 của Sở Tư pháp và Kế hoạch của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh về công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2014; ngày 27 tháng 6 năm 2014, Trung tâm TGPL đã Quyết định thành lập Đoàn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đợt 1 năm 2014. Đoàn đánh giá đã tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định tại Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL (theo Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).  
 
Ngày 07 tháng 8 năm 2014, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý tỉnh Bến Tre (Hội đồng) đã tổ chức hội nghị sơ kết sáu tháng đầu năm 2014 về hoạt động phối hợp trợ giúp pháp lý (TGPL) trong lĩnh vực tố tụng. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, kiêm Chủ tịch Hội đồng chủ trì Hội nghị. 
 
Làng quê vốn gắn liền với những gì đơn sơ, mộc mạc và người dân nơi đây cũng quen với nếp sống bình dị, chân chất, bà con lối xóm sống chan hòa, gắn bó với nhau. Chính vì thế, sự cảnh giác của người dân ở các vùng quê cũng có phần hạn chế. Họ luôn cho rằng ở quê không có hoặc ít có các trường hợp trộm, cướp và càng không cảnh giác đối với những người trong cùng xóm, ấp với nhau. Nếu ở thành thị, ... 
 
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người, nó tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân; việc giải quyết tốt các tranh chấp đất đai của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương sẽ góp phần rất lớn trong việc giải quyết những bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân, đảm bảo sự công bằng trong xã hội; đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thắt chặt tình làng, nghĩa xóm trong nhân dân. 
 
Ngày đám cưới vốn dĩ là ngày hạnh phúc với tất cả những người yêu nhau, là kết tinh tình yêu của đôi trai gái, là ngày hai con người được gắn kết bởi một sợi dây mang tên “gia đình”. Hạnh phúc đó phải trải qua bao khó khăn mới đạt được, thế nhưng gìn giữ hạnh phúc ấy trọn quãng đời còn lại càng khó khăn biết bao 
 
Với việc quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Để thực hiện đúng quyền khởi kiện và tham gia tố tụng trong vụ án hành chính của mình tại Tòa án, thì việc xác định người bị kiện trong vụ án là một yếu tố hết sức quan trọng; vì đó là cơ sở để Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của người khởi kiện, bởi nếu không xác định đúng người bị kiện là ai (cá nhân, cơ quan hay tổ chức), thì khi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, người khởi kiện sẽ không được Tòa án chấp nhận đơn để thụ lý và tiến hành giải quyết vụ án đó, dẫn đến việc giải quyết vụ án kéo dài và mất nhiều thời gian của người khởi kiện. 
 
Tất cả trẻ em vốn dĩ đều nên có một tuổi thơ trong sáng vui vẻ, được chăm sóc giáo dục với tình yêu thương của cha mẹ và gia đình. Thế nhưng cuộc đời ngoài kia nào chỉ có hoa thơm và trái ngọt, nào đâu phải đứa trẻ nào cũng được chăm sóc và yêu thương; ngoài kia còn rất nhiều những đứa trẻ không cha, không mẹ, không nơi nương tựa, không được sống trong tình thương gia đình, các em phải trải qua... 
 
“Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe” hay “Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi” những khẩu hiệu tuyên truyền về tác hại của thuốc lá có ở khắp mọi nơi, ngay cả trên bao bì của các loại thuốc lá. Điều đó cho thấy rằng thuốc lá là một sản phẩm độc hại, gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của con người. Chính vì lý do đó việc kinh doanh thuốc lá cũng có phần hạn chế hơn so với các mặt hàng thông ... 
 
Ngày 29/5/2014, Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý (TGPL) tỉnh kiểm tra hoạt động phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tại Mỏ Cày Nam; do ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch Hội đồng làm trưởng đoàn. Ông Nguyễn Hiệp Quốc, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Mỏ Cày Nam đến dự.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Nguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tộiNguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
Bến Tre “Ý Đảng – Lòng dân” từ việc xây dựng các mô hình trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốcBến Tre “Ý Đảng – Lòng dân” từ việc xây dựng các mô hình trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc
 Hiện nay, toàn tỉnh có 53 mô hình “Dân vận khéo” trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc (BVANTQ), những mô hình này đang ngày một phát huy hiệu quả, khẳng định được vai trò quan trọng, chủ thể của quần chúng nhân dân trong việc góp phần giữa gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT-TTXH) tại địa phương

Thời gian qua, cùng với chủ trương chung của các cấp uỷ đảng, sự phối hợp, hướng dẫn đồng bộ của lãnh đạo Công an tỉnh, hệ thống Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội từ tỉnh đến cơ sở, lực lượng công an các địa phương trong tỉnh đã tăng cương công tác phối hợp với các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xây dựng các mô hình “ Dân vận khéo” trong phòng trào quần chúng tham gia BVANTQ, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Với mục tiêu đặt ra là kéo giảm thấp nhất các tai tệ nan xã hội ở địa phương, xây dựng xóm làng yên vui, hoà thuận, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm, cảm hoá giáo dục người lầm lổi tại công đồng, từ đó, nhiều mô hình “ Dân vận khéo” trong phong trào này đã ra đời và lan toả đến khắp các xóm làng, tổ NDTQ ở các huyện, thành phố trong tỉnh; điển hình đến nay mô hình “ Liên tịch tứ trụ” có 100% xã, phường, thị trấn triển khai và duy trì hoạt động, hàng năm đều có sơ tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm, hiệu quả từ mô hình này là do công tác quản lý, cảm hoá, giáo dục người lầm lổi và người có nguy cơ vi phạp pháp lậut tại khu dân cư; nhiều địa phương đã làm tốt mô hình này và nhân rộng thành “6 trụ” ( có thêm Hội LH Phụ nữ, Hội Nông dân), như huyện Chợ Lách; Phường 5 thánh phố Bến Tre “ 8 trụ” ( thêm hội Phụ Nữ, Nông Dân, người cao tuổi, MTTQ); mô hình “ Tiếng mõ An ninh” hiện huyện Mỏ Cày Nam còn duy trì trong các trường hợp báo động, tập hợp lực lượng cứu hộ, cứu nạn, chết đuối, cháy và các trường hợp già neo đơn cần cấp cứu, hỗ trợ; huyện Mỏ Cày Bắc và huyện Bình Đại lồng ghép vào trong mô hình mới như “ Cổng rào nhân dân tự phòng, tự quản”, “ Chiếc gậy an ninh”…; hiện nay, trong toàn tỉnh có 53 mô hình đang duy trì hoạt động, cụ thể : Huyện Mỏ Cày Bắc có 10 mô hình như “ gặp gỡ đối thạoi với người lầm lỗi, người có nguy cơ vi phạp pháp luật tại cộng đồng dân cư”, “ An toàn giao thông”, “ Đội dân phòng cơ động”, “ CLB lưu trú an toàn về ANTT”, “ CLB hướng thiện”…; huyện Giồng Trôm 5 mô hình “ Nhóm tự phòng”, “ 5 tự quản”, “ đội dân phòng xung kích”…;huyện Mỏ Cày Nam có 7 mô hình “ Ba xây, ba chống”, “ thắp sáng đèn đường”, “ ATGT”, “ Tự phòng, tự quản”…; huyện Châu Thành có 4 mô hình “ Tổ Chống trộm”, “ Tổ công nhân tự quản”, “ Kéo giảm TNGT”…; huyện Bình Đại có 4 mô hình “Đội dân phòng ven sông”, Chiếc gậy an ninh”, “ Ánh sáng an ninh”…; huyện Ba Tri có 7 mô hình “ Cảm hoá TTN vi phạm GT”, “ Cảm hoá GD TTN chậm tiến”, “ Tổ NDTQ an toàn”…; huyện Chợ Lách có 8 mô hình “ Xóm đạo bình yên”, “ Xoá nạn cờ bạc, số đề”, “ Giáo dục cá biệt”, “ Chốt chặn”..và huyện Thạnh phú có 5 mô hình “ Văn hoá giao thông, bình yên sông nước”, “ ANTT”, “ ATGT”…, ngoài ra trong năm 2013, công an các địa phương đã phối hợp với Khối vận các cấp đăng ký nhiều mô hình “ Dân vận khéo” về “ An ninh trật tự”; trong đó, có 25 mô hình được đăng ký cấp tỉnh.

Có thể thấy, những mô hình trên được thành lập và duy trì hoạt động đã góp phần không nhỏ vào việc cùng với chính quyền, các ngành chức năng, nhất là lực lượng công an các địa phương đã kịp thời phát hiện ngăn chặn tại chổ, phát huy vai trò tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân, tăng cường hơn nữa ý thức trách nhiệm của người dân cùng tham gia giữ gìn ANTT tại nơi mình sinh sống và tại địa phương, nhiều mô hình đến nay đã phát huy hiệu quả và thật sự đi vào đời sống người dân, được các cấp uỷ đảng đánh giá cao và nhân rộng ra nhiều địa phương học tập, rút kinh nghiệm vận dụng như mô hình “ tự phòng, tự quản”, mô hình “ ánh sáng an ninh”, đặc biệt trong đó có những mô hình các tỉnh bạn đến học tập rút kinh nghiệm như mô hình “ xóm đạo bình yên”, “ Cổng rào tự phòng, tự quản”.

Hiện nay, Công an tỉnh đang phối hợp với Ban Dân vận Tỉnh uỷ và MTTQ tỉnh tiếp tục khẩn trương thực hiện công tác khảo sát, đánh giá lại hiệu quả từng mô hình cụ thể để từ đó kịp thời chấn chỉnh, bổ sung hoàn thiện các nhực điểm, khiếm khuyết, hạn chế của từng mô hình, hỗ trợ các địa phương trong việc xây dựng các nội quy, quy chế hoạt động cho phù hợp, trên nguyên tắc đảm bảo sự đồng tình hưởng ứng của người dân, đồng thời đi đôi với việc chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật hiện hành. Việc phát động nhân dân cùng tham gia “phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ” trên khắp các địa bàn trong tỉnh, đã và đang là chủ trương có tinh chiến lược của Đảng ta, và là việc làm thường xuyên, lâu dài, bền bỉ của các cấp chính quyền và toàn hệ thống chính trị trong tỉnh, thể hiện rất rõ “ Ý Đảng hợp lòng dân”; từ đó làm chuyển biến nhận thức và hành động của người dân trong công đồng dân cư; ngày càng nhiều mô hình trong phong trào này được ra đời và đi vào cuộc sống, làm cho đại bộ phận quần chúng nhân cùng tham gia góp phần xây dựng một xã hội đồng thuận, dân chủ và an toàn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội ở từng địa phương.

08/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIIINội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh khóa VIII sẽ diễn ra trong 03 ngày, trong đó 01 ngày họp Tổ đại biểu thảo luận tài liệu kỳ họp (ngày 19/11/2013) và 02 ngày họp toàn thể tại hội trường (ngày 05, 06/12/2013). Kỳ họp lần này diễn ra với các nội dung chính sau đây:

Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ thông qua các báo cáo và tờ trình:

1. Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

2. Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2013, Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2014.

3. Báo cáo quyết toán ngân sách tỉnh năm 2012.

4. Báo cáo thu, chi ngân sách năm 2013, dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh năm 2014.

5. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 33/2012/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2012 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5.

6. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 12/2013/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2013 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6.

7. Báo cáo về việc tổng kết Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND về bổ sung một số chủ trương, biện pháp tiếp tục thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn tỉnh Bến Tre đến 2020 và Nghị quyết số 06/2009/NQ-HĐND về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND.

8. Báo cáo chuyên đề về kết quả thực hiện Nghị quyết số 14/2011/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2011 về công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

9. Báo cáo chuyên đề về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại năm 2013.

10. Báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh năm 2013.

11. Báo cáo với HĐND tỉnh về các nội dung đã thoả thuận giữa Thường trực HĐND và Ủy ban nhân dân năm 2013.

12. Báo cáo tiếp thu, giải trình về các ý kiến thảo luận Tổ đại biểu, ý kiến thẩm tra của các Ban và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

13. Các tờ trình của Ủy ban nhân dân tỉnh xin thông qua dự thảo:

- Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

- Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2014.

- Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2012.

- Nghị quyết về dự toán và phương án phân bổ ngân sách nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014.

- Nghị quyết về quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre áp dụng trong năm 2014.

- Nghị quyết Quy hoạch vùng tỉnh Bến Tre.

- Nghị quyết Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

- Nghị quyết thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc.

- Nghị quyết về việc bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

- Nghị quyết về đẩy mạnh và phát triển đô thị tỉnh Bến Tre đến năm 2020.

- Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh.

Các cơ quan tư pháp báo cáo:

1. Tình hình và kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp năm 2013 ở địa phương. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

2. Tình hình và kết quả hoạt động xét xử năm 2013 trên phạm vi toàn tỉnh. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

3. Tờ trình về việc cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh: thông báo về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến, kiến nghị của cử tri. Đồng thời sẽ giới thiệu nhân sự bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016.

Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh có nội dụng báo cáo, tờ trình gồm:

1. Báo cáo tổng kết hoạt động Thường trực, các Ban HĐND tỉnh năm 2013 và chương trình công tác năm 2014.

2. Báo cáo kết quả giám sát của HĐND về cải cách thủ tục hành chính và công tác xây dựng, nâng cao chất lương đội ngủ cán bộ, công chức trong chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 của tỉnh và kết quả giám sát khai thác cát sông trái phép trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

3. Báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát của HĐND, Thường trực HĐND tỉnh năm 2013 và dự kiến nội dung chương trình giám sát năm 2014.

4. Báo cáo thực hiện kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2013 và dự toán kinh phí năm 2014.

5. Báo cáo về tình hình thực hiện chương trình xây dựng nghị quyết năm 2013.

6. Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận Tổ đại biểu và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

7. Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh về các báo cáo, tờ trình, đề án trình tại kỳ họp thứ 8.

8. Các tờ trình của Thường trực HĐND tỉnh xin thông qua:

- Nghị quyết về chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về Chất vấn và trả lời chất vấn.

- Nghị quyết về cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

- Nghị quyết về xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân.

Kỳ họp lần thứ 8 - HĐND tỉnh khoá VIII sẽ được truyền hình trực tiếp phiên khai mạc, phiên chất vấn, trả lời chất vấn và phiên bế mạc để cử tri theo dõi và giám sát.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH LAO ĐỘNG, BHXH, ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VN  ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HĐ LAO ĐỘNGDANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH LAO ĐỘNG, BHXH, ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VN  ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HĐ LAO ĐỘNG
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01Nghị định95/2013/NĐ-CP22/8/2013Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động.

Còn hiệu lực

Đính chính Khoản 2 Điều 3; Điều 4; Điểm d Khoản 5 Điều 17

 

Đã được đính chính bởi Công văn 1605
/TTg-KGVX ngày 09/10/2013
02Nghị định 88/2015/NĐ-CP07/10/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Ngày có hiệu lực

25/11/2015

 
03Thông tư liên tịch
32/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNG
06/12/2013Về việc hướng dẫn trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 35 của Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/08/2013 của Chính phủCòn hiệu lực 
12/11/2015 9:00 SAĐã ban hành
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊADANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏGhi chú
01Nghị định132/2015/NĐ-CP25/12/2015Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa01/7/2016  
16/02/2016 2:00 CHĐã ban hành
Tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhânTăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân

Ngày 04/7/2017, Bộ Y tế ban hành Chỉ thị số 04/CT-BYT về việc tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân.

Nội dung Chỉ thị nêu rõ trong thời gian qua, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trong toàn quốc đã đóng góp một phần quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người dân trong cộng đồng, góp phần giảm tải cho các bệnh viện công lập, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân. Đến nay, toàn quốc đã có 206 Bệnh viện tư nhân và trên 30.000 phòng khám tư nhân. Tuy nhiên, bên cạnh các đóng góp tích cực của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, hiện nay qua báo cáo của các Sở Y tế và thực tế Bộ Y tế kiểm tra cho thấy một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, đặc biệt là các phòng khám tư nhân còn vi phạm các quy định về pháp luật khám bệnh, chữa bệnh như: mời bác sỹ người nước ngoài hành nghề khi chưa có chứng chỉ hành nghề; hành nghề quá phạm vi chuyên môn cho phép; sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam; quảng cáo quá phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép; không công khai giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh hoặc có niêm yết giá nhưng thu phí cao hơn giá đã niêm yết; việc lưu đơn thuốc, hồ sơ bệnh án chưa đúng theo quy định của Bộ Y tế.

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế, chấn chỉnh các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn các tỉnh, thành phố, cung cấp các dịch vụ có chất lượng tốt, bảo đảm an toàn cho người bệnh, Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiêm túc thực hiện những nội dung sau đây:

Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và các quy chế chuyên môn cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý.

Tăng cường quản lý người hành nghề thông qua việc đăng ký hành nghề, bảo đảm tất cả người hành nghề phải được cấp chứng chỉ hành nghề và hành nghề đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép.

Đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của Sở Y tế danh sách các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân đã được cấp giấy phép hoạt động trên địa bàn, kèm theo phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động, danh sách và phạm vi hoạt động chuyên môn của người hành nghề tại các cơ sở này để người dân tiện tìm hiểu thông tin trước khi khám bệnh, chữa bệnh.

Yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở (nếu có) và tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh các thông tin sau: Giấy phép hoạt động bao gồm phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động; danh sách, văn bằng chuyên môn và phạm vi hoạt động chuyên môn của người chịu trách nhiệm chuyên môn và người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; tên và địa chỉ cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp để người dân biết và phản ánh khi có sai phạm.

Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất để kiểm tra hoạt động của các cơ sở hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

Thường xuyên kiểm tra biển hiệu quảng cáo, người hành nghề hoạt động chuyên môn của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, việc thực hiện các quy chế chuyên môn. Khi kiểm tra, thanh tra phát hiện cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có sai phạm phải xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật, không bao che sai phạm, thực hiện xử phạt hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, kết hợp với các hình thức phạt bổ sung theo quy định tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ như: tước chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, tước giấy phép hoạt động hoặc đình chỉ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân theo quy định của pháp luật.

Thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân có vi phạm pháp luật về y tế, tính chất, mức độ vi phạm, hình thức xử phạt để nhân dân biết nhằm tăng tính răn đe và phòng ngừa tái phạm.

Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện trong công tác quản lý, giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý, khuyến khích nhân dân cùng giám sát, phát hiện các sai phạm của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để thông báo cho Sở Y tế và chính quyền địa phương xử lý kịp thời.

Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thực hiện quản lý chặt chẽ việc quảng cáo về dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại địa phương. Khi thực hiện xác nhận nội dung quảng cáo phải thẩm định các nội dung quảng cáo, đối chiếu với phạm vi hoạt động chuyên môn do cơ quan có thẩm quyền cho phép, bảo đảm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không quảng cáo quá mức quy định, kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp quảng cáo khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép.

Tăng cường công tác truyền thông để người dân nêu cao cảnh giác khi nghe các quảng cáo quá mức về khả năng khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân.

20/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
Danh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnhDanh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh
07/02/2017 2:00 CHĐã ban hành
Xã Tân Thủy, huyện Ba Tri ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lýXã Tân Thủy, huyện Ba Tri ra mắt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý
Ngày 04 tháng 3 năm 2014, Ủy ban nhân dân xã Tân Thủy phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Ba Tri, Chi nhánh số 01 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức Lễ công bố Quyết định thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Tân Thủy. Tham dự buổi Lễ có ông Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh; đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp huyện Ba Tri, Ủy ban nhân dân xã...

Ngày 04 tháng 3 năm 2014, Ủy ban nhân dân xã Tân Thủy phối hợp với Phòng Tư pháp huyện Ba Tri, Chi nhánh số 01 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức Lễ công bố Quyết định thành lập Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Tân Thủy. Tham dự buổi Lễ có ông Võ Vũ Liêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh; đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp huyện Ba Tri, Ủy ban nhân dân xã Tân Thủy; chuyên viên Chi nhánh số 01 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh và người dân của xã.

Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Tân Thủy có 16 thành viên, ông Nguyễn Văn Triết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Chủ nhiệm. Tại buổi Lễ, ông Nguyễn Văn Triết đã thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã; thông qua kế hoạch hoạt động và dự trù kinh phí sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã năm 2014. Theo đó, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý xã Tân Thủy sẽ tiếp tục tổ chức sinh hoạt ở 02 điểm, gồm: ấp Tân Bình và ấp Tân Định.

Sau buổi Lễ, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh tổ chức buổi trợ giúp pháp lý lưu động cho đối tượng được trợ giúp pháp lý và đông đảo người dân địa phương tham dự. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh đã báo cáo hai chuyên đề về Trợ giúp pháp lý, Hôn nhân gia đình và thực hiện tư vấn pháp luật tại chỗ. Tại buổi trợ giúp pháp lý có rất nhiều người dân đặt câu hỏi liên quan đến nhiều lĩnh vực như hộ tịch, hôn nhân gia đình, dân sự, đất đai,…

Đến nay, huyện Ba Tri đã có 09 Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý. Các câu lạc bộ được thành lập không chỉ giúp cho địa phương trong việc tuyên truyền pháp luật mà còn trợ giúp pháp lý cho người dân đặc biệt là người nghèo, người có công, gia đình chính sách…

19/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) và nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC, ngày 08/6/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2524/KH-UBND về tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC năm 2017. Thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 11/7/2017, Sở Tư pháp tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC cho gần 250 cán bộ, công chức đầu mối các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. Ông Nguyễn Đăng Minh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

kstthc2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên của Sở Tư pháp triển khai một số văn bản liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC, các nội dung cơ bản của công tác kiểm soát TTHC, kỹ năng dự thảo Quyết định công bố TTHC, công tác rà soát, kiến nghị đơn giản hóa TTHC.      

kstthc1.jpg

Thông qua Hội nghị, cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã được trang bị kỹ năng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ kiểm soát TTHC, góp phần thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh.

14/07/2017 9:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2017. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp và các Phó Giám đốc Sở dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố, Chủ tịch Hội Công chứng, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh dự, đưa tin.

so-ket-6-thang2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe Báo cáo sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017; tham gia thảo luận, trao đổi, đề xuất các giải pháp các lĩnh vực của công tác tư pháp như: Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật; hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp...

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp biểu dương kết quả đạt được của ngành Tư pháp tỉnh trong 6 tháng đầu năm, yêu cầu những tháng còn lại trong năm 2017, toàn ngành Tư pháp Bến Tre tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật góp phần đảm bảo tính ổn định, đồng bộ, minh bạch, khả thi của pháp luật. Phát huy vai trò của ngành Tư pháp trong việc theo dõi, đôn đốc, kiểm soát chặt chẽ tình hình soạn thảo, ban hành văn bản tại địa phương.

so-ket-6-thang3.jpg

Thứ hai, đối với những luật đã được thông qua (gồm 12 luật và 12 nghị quyết), trong đó có 3 luật liên quan đến Ngành (Luật Hình sự sửa đổi; Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi và Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước sửa đổi) căn cứ hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương, các phòng, trung tâm thuộc Sở có liên quan, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố khẩn trương tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp có kế hoạch tổ chức thực hiện. Tập trung tổ chức Ngày Pháp luật định kỳ và Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017 đảm bảo thiết thực, hiệu quả. Tổ chức Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi cấp tỉnh năm 2017 đạt kết quả tốt, đúng với yêu cầu, thời gian, kế hoạch đã đề ra. Khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021 và các Đề án phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp tình hình thực tế địa phương. Kịp thời tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả nhiệm vụ được giao tại Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (ban hành kèm theo Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ) và nhiệm vụ “Đánh giá, công nhận, xây dựng xã tiếp cận pháp luật; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân” theo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020.

Thứ ba, tiếp tục triển khai thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trọng tâm năm 2017 và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp; trong đó, tập trung vào theo dõi tình hình thi hành các quy định của pháp luật về tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong việc tiếp cận, khai thác các nguồn lực về vốn, khoa học kỹ thuật, đất đai, lao động

so-ket-6-thang1.jpg            

Thứ tư, tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chủ động hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở trong quá trình đăng ký hộ tịch. Sớm khắc phục tình trạng lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực khi thực hiện thủ tục hành chính theo Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính đảm bảo giải quyết đúng quy định pháp luật.

Thứ năm, Phòng Tư pháp tiếp tục chỉ đạo Công chức Tư pháp-Hộ tịch cấp xã theo nhiệm vụ của mình, phát hiện đối tượng, giới thiệu đối tượng trợ giúp pháp lý đến với hoạt động trợ giúp pháp lý, để đảm bảo quyền lợi cho đối tượng được nhà nước bảo trợ về mặt tư pháp. Nhất là qua hoạt động hòa giải ở cơ sở và hòa giải tranh chấp đất đai ở UBND cấp xã khi phát hiện đối tượng nên giới thiệu về quyền được trợ giúp pháp lý để đối tượng biết mà yêu cầu.

Thứ sáu, trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp tập trung triển khai thi hành có hiệu quả các quy định của Luật Đấu giá tài sản; thực hiện thiết thực, đồng bộ các đề án, văn bản trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp, trong đó chú trọng công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực luật sư, công chứng, bán đấu giá tài sản.

19/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018

Ngày 20 tháng 6 năm 2017, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, các bộ luật, luật sau đây có hiệu lực thi hành: Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH1(sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015); Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Các quy định tại Nghị quyết số 110/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 có ghi thời điểm “ngày 01 tháng 7 năm 2016” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2018”, thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2019” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2020”.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng như sau:

Tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;

Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;

Tội phạm mới quy định tại các điều 147, 154, 167, 187, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 217a, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 393 và 418 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; các điều luật quy định hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201để giải quyết;

Quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết này cũng được áp dụng đối với các điều luật mới quy định tội được tách ra từ các tội ghép trong Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 1999);

Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”“số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”“thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”“đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”“giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”“quy mô lớn” của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này;

Đối với hành vi hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, hành vi kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án thì không được căn cứ vào việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ, tội danh đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội danh kinh doanh trái phép, tội danh cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để kháng cáo, kháng nghị theo hướng không phạm tội. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về tội hoạt động phỉ, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội kinh doanh trái phép, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, tội kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội danh tương ứng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết này;

 Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại Bộ luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;

Trường hợp chất thu giữ được nghi là chất ma túy ở thể rắn đã được hòa thành dung dịch, chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, xái thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải xác định hàm lượng chất ma túy làm cơ sở để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ được. Đối với các trường hợp khác thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.

Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sau đây gọi là Luật số 12/2017/QH14) được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định sau đây:

Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử;

Hình phạt tử hình đã tuyên đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này nhưng chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không thi hành án và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính; hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa. Nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Đối với các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 không quy định là tội phạm nữa: nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm các tội mà không được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015; nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này thì đương nhiên được xóa án tích;

Thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này;

Áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 để thi hành quy định tại điểm b khoản Điều 2 Nghị quyết này và các quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi cho người phạm tội.

 Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 7 năm 2017. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành cho đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này, tiếp tục áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 30/2006/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 09/2009/PL-UBTVQH12.

20/07/2017 3:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 21/9/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 21/9/2017
02/10/2017 10:00 SAĐã ban hành
Tìm hiểu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp QuốcTìm hiểu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc
23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/02/2016Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 03/02/2016

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 29/2016

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, địa chỉ tại: ấp An Vĩnh 1, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Thửa số 2784, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 957 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AN 550468 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 30/9/2008.

- Chuồng heo có diện tích 356,3 m2 cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

- Tường rào có diện tích 257,3 m2.

- Cây trồng: 02 cây dừa trên 5 năm tuổi, 02 cây dừa khoảng 01 năm tuổi và 02 cây nhãn trên 5 năm tuổi.

* Tài sản tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

 * Tổng giá khởi điểm tính tròn của tài sản bán đấu giá: 172.736.431đ (một trăm bảy mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi sáu ngàn, bốn trăm ba mươi mốt đồng).

 * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ/01 tài sản.

 * Khoản tiền đặt trước tài sản: 15.000.000 đ/ 01hồ sơ.

 Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 04/02/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 04/3/2016 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 11/3/2016 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 32/2016

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của bà Phan Thị Thu Thủy, địa chỉ: Số nhà 241/C, Khu phố 6, Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích: 989,6m2;

- Thuộc thửa đất số 251; tờ bản đồ số 13.

- Mục đích sử dụng: 300m2 đất ở tại nông thôn và 689,6m2 đất trồng cây lâu năm (trong đó lộ giới là 150,9m2);

- Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0838414, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00005 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 26/3/2009.

- Tài sản tọa lạc: mặt tiền đường tỉnh lộ 883 thuộc xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

 - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của bà Phan Thị Thu Thủy do không có nhu cầu sử dụng cần bán.

* Lưu ý: Tài sản trên có xác nhận của UBND xã An Khánh hiện tại không có tranh chấp; hiện tại có hàng rào bao quanh khi bán được bàn giao tài sản không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua trúng đấu giá có yêu cầu đo đạc lại thì phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại có tăng hơn diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu diện tích đất giảm thì người mua phải chịu không khiếu nại.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 1.630.000.000đ (Một tỷ, sáu trăm ba mươi triệu đồng).

      Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 04/02/2016 đến 16 giờ 30 phút ngày 16/02/2016 (trong giờ làm việc).

      Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 17/02/2016; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 150.000.000đ/ 01 hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667; 075-3512081; 075-3512083

03/02/2016 3:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến Tre
15/12/2017 4:00 CHĐã ban hành
DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE (Đến tháng 6 năm 2017)DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE (Đến tháng 6 năm 2017)

​DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

 (Đến tháng 6 năm 2017)


STTHọ và tên Nơi hành nghềChứng chỉ hành nghề

Điện Thoại

 

01

Dương Thị Nhanh

 

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

224/TP-ĐGV

02/11/2006

02753.823.667
02Nguyễn Thị Như NgọcTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre397/TP/ĐG-CCHN02753.823.667
03Nguyễn Thị Bích ThủyTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

1732/TP/ĐG-CCHNN

20/3/2017

02753.823.667
04Lê Minh Thiện 398/TP/ĐG-CCHN02753.823.667
05Đào Minh ChíTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre826/TP/ĐG-CCHN02753.823.667
06Võ Thành KhởiCông ty  TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre

526/TP/ĐG/CCHN

15/12/2011

 
07Nguyễn Thị Hồng PhươngCông ty  TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre

668/TP/ĐG/CCHN

24/9/2012

02753.560.778

02753.818.444

08Trần Văn DuẩnChi nhánh Bến Tre - Công ty TNHH Trọng Pháp800/TP/ĐG-CCHN

02753.500.366

 

09Nguyễn Thị Thanh HuyềnCông ty TNHH Tư vấn bán đấu giá  Hoàng Anh636/TP/ĐG-CCHN 
10Liêu Quốc CườngCông ty TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản  Bến Tre

1084/TP/ĐG-CCHN

11/02/2015

 
11Phạm Hoài ThuậnVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

1161/TP/ĐG-CCHN

09/6/2015

 
12Nguyễn Văn PhướcVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

1202/TP/ĐG-CCHN

09/9/2015

 
13Trần Hoàng VũVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

174/TP/ĐGV

19/5/2006

 
14Nguyễn Thị Thanh TuyềnChi nhánh Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ phòng cháy chữa cháy và Điện công nghiệp Gia Duy

1291/TP/ĐG-CCHN

23/12/2015

0918.764.971
15Hoàng Thị Ngọc AnhChi nhánh Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ phòng cháy chữa cháy và Điện công nghiệp Gia Duy

1426/TP/ĐG-CCHN

27/4/2016

 
16Lê Nhật HoàngCt  Công ty Cổ phần Đầu tư - Bán đấu giá tài sản Hồng Phúc - Chi nhánh Bến Tre

1321/TP/ĐG-CCHN

02/02/2016

02753.701.357

hongphucauction

@gmail.com


27/06/2017 3:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 16/5/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 16/5/2017
17/05/2017 5:00 CHĐã ban hành
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020

Ngày 21 tháng 6 năm 2017, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Nghị quyết 43/2017/QH14 về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020. Theo đó, trong giai đoạn 2016 - 2020, Quốc Hội giao Chính phủ tập trung thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp sau:

Khẩn trương rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm để sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan theo hướng quy định rõ các điều cấm và tăng chế tài xử lý; khắc phục tình trạng chồng chéo, không rõ trách nhiệm trong phân công quản lý an toàn thực phẩm; tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, đến hết năm 2020 cơ bản hoàn thành các quy chuẩn kỹ thuật chính về an toàn thực phẩm cho các nhóm đối tượng và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Đến hết năm 2018, kiện toàn cơ bản bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm các cấp theo hướng tập trung đầu mối, rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả. Ở cấp xã, phân công cán bộ theo dõi an toàn thực phẩm. Tăng cường năng lực, điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ quản lý an toàn thực phẩm ở các cấp, tạo sự chuyển biến rõ rệt về an toàn thực phẩm.

Phấn đấu giảm mạnh số vụ ngộ độc thực phẩm nhiều người, giảm tỷ lệ mẫu thực phẩm kiểm tra không đảm bảo an toàn, tăng tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản được kiểm tra đạt yêu cầu về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm so với giai đoạn trước. Có lộ trình và giải pháp giải quyết dứt điểm các vấn đề yếu kém: về dư lượng vượt ngưỡng cho phép của thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, kinh doanh thực phẩm; kiểm soát giết mổ nhỏ lẻ, thực phẩm có nguy cơ cao, thức ăn đường phố; ngộ độc thực phẩm cấp tính và mãn tính; kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, hàng nhập lậu và gian lận thương mại; kiểm soát môi trường đất, nước cho sản xuất thực phẩm an toàn.

Hoàn thiện chính sách về đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm đồng bộ với quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất an toàn; có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo chuỗi khép kín, áp dụng chương trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, hệ thống kiểm soát chất lượng tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ, bảo đảm an toàn thực phẩm, có lộ trình giảm tỷ trọng sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, kém chất lượng.

 Đẩy mạnh quản lý an toàn thực phẩm sang kiểm soát theo quá trình sản xuất, dựa trên phân tích nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm; tăng cường hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm; chỉ đạo các địa phương phát triển, nhân rộng chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn và kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ; tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống giám sát, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; tăng các biện pháp, chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng; tiếp tục thực hiện thí điểm thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm, đánh giá tổng kết và mở rộng mô hình khi có kết quả tích cực.

Bố trí đủ ngân sách cho công tác quản lý an toàn thực phẩm theo dự toán. Cho phép sử dụng kinh phí xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm để phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, trong đó được trích một tỷ lệ hợp lý khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích trong quản lý, tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm. Tăng cường xã hội hóa, đa dạng các nguồn lực tài chính và một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm; thực hiện tốt việc tổ chức đánh giá, công nhận các cơ sở thực hiện xã hội hóa quản lý an toàn thực phẩm và chỉ định các cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện kiểm nghiệm về an toàn thực phẩm tham gia kiểm định, giám định chất lượng thực phẩm. Phối hợp tích cực với hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp, đặc biệt là của người dân trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm.

Tăng cường công tác giáo dục truyền thông, thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm; biểu dương kịp thời những điển hình tiên tiến, công khai những tồn tại yếu kém, những hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm của tổ chức và cá nhân; tránh đưa thông tin không đúng sự thật gây hoang mang trong dư luận ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và phát triển các kỹ năng truyền thông; nâng cao số lượng, chất lượng các tài liệu và thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm. Thiết lập hệ thống thông tin hỏi đáp phục vụ người dân, cung cấp thông tin, phản ánh về an toàn thực phẩm; tiếp nhận và xử lý kịp thời các thông tin vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.

Chú trọng công tác đào tạo, tăng cường tập huấn chuyên môn nghiệp vụ; tổ chức đào tạo lại cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm tại các tuyến; từng bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tích cực vận động sự hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế cho công tác an toàn thực phẩm.

20/07/2017 3:00 CHĐã ban hành
DANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TREDANH SÁCH CÔNG CHỨNG VIÊN HÀNH NGHỀ TẠI BẾN TRE
15/06/2018 5:00 CHĐã ban hành
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREDANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

(Đến tháng 11 năm 2017)


STTTên Tổ chức hành nghề công chứngTrưởng Văn phòng/Phòng công chứngCông chứng viên hợp danh/làm việc theo hợp đồngĐịa điểm đặt trụ sởĐiện Thoại
01Phòng Công chứng số 1 - Sở Tư pháp Bến TreNguyễn Văn Tứ

- Lê Thị Thanh Trang

- Huỳnh Đoàn Ngọc Hân

17 Đường CMT8, phường 3, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre02753.810.618
02Văn phòng Công chứng Đồng KhởiVõ Văn ThanhLê Duy Phúc Hải (Công chứng viên hợp danh)Số 89A1, đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0918256585

 

03Văn Phòng Công chứng Tín HữuNguyễn Thị Kim Phượng

Ngô Xuân Hoàng

(Công chứng viên hợp danh)

số 46, đường số 3, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0983.626.700

0917.491.319

04Văn phòng Công chứng Kim CươngĐặng Thị Kim Cương

Nguyễn Thị Diễm Phương

(Công chứng viên hợp danh)

89A khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre0918.267.7570
02753.869.459
05Văn phòng Công chứng Bình ĐạiNgô Công Lợi

Nguyễn Văn Rậm

(Công chứng viên hợp danh)

08 đường Nguyễn Đình Chiểu, ấp Bình Thuận, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre0983.407.100
06Văn phòng Công chứng Ba TriPhan Văn Trung

Phạm Thị Minh Thủy

(Công chứng viên hợp danh)

27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

0918.813.969

02753.859.234

07Văn phòng Công chứng Hà Thị TiếnHà Thị Tiến 78A, quốc lộ 60, khu phố &, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

0978862448

02753.663.646

08Văn phòng Công chứng Thạnh PhúNguyễn Văn Mộng

Lê Văn Hòa

(Công chứng viên hợp danh)

ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre0753.870.771
09

Văn phòng Công chứng

Phan Đức Toàn

Phan Đức Toàn

Huỳnh Thị Kim Yến

(Công chứng viên hợp danh)

Số 50A, ấp Phước Hậu, xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre0912.223.045
10Văn phòng công chứng Nguyễn Văn MớiNguyễn Văn Mới

Nguyễn Minh Phương

(Công chứng viên hợp danh)

Số 1, ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre0918.262.633
11Văn phòng công chứng Lê Hùng DũngLê Hùng Dũng Số 59, ấp An Hòa, xã An Hiệp, Châu Thành, Bến Tre

0908.869.750

02753.626.626


09/11/2017 4:00 CHĐã ban hành
Hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017Hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017

Thực hiện Công văn số 2076/BTP-PBGDPL ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017 và Công văn số 3025/UBND-NC ngày 04 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017, Sở Tư pháp hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017 (Ngày Pháp luật năm 2017) với nội dụng cụ thể như sau:

 Chủ đề Ngày Pháp luật năm 2017: "Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cải cách hành chính, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp".

Nội dung trọng tâm: Căn cứ điều kiện thực tiễn và nhiệm vụ chính trị, các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tập trung vào các nội dung sau:

 Về công tác hoàn thiện thể chế: Rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, quy định pháp luật về đầu tư, kinh doanh, xuất nhập khẩu, thuế, đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, tín dụng…; các chính sách tư vấn, hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp;

Về công tác tổ chức thi hành pháp luật: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; quán triệt, truyền thông, phổ biến nội dung chính sách, quy định mới ban hành; tác động, hiệu ứng của chính sách, pháp luật đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp; các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý; quyền, nghĩa vụ của công dân và biện pháp bảo đảm thực hiện; pháp luật về đất đai, vệ sinh, an toàn thực phẩm, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền biên giới lãnh thổ; phòng, chống tham nhũng, lãnh phí; bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền tài sản, sở hữu trí tuệ; các điều ước, thỏa thuận quốc tế nhất là các thỏa thuận hợp tác về pháp luật và tư pháp mà Việt Nam là thành viên.

 Thông tin về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động đầu tư kinh doanh; triển khai nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; tăng cường theo dõi thi hành pháp luật, các vấn đề pháp lý phát sinh trong bối cảnh hội nhập quốc tế; các vấn đề dư luận quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội.

 Giáo dục ý thức và lợi ích của việc tuân thủ, chấp hành pháp luật; xây dựng, bồi dưỡng, nhân rộng, khen thưởng, tôn vinh gương người tốt, việc tốt, điển hình trong xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; phê phán, đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn xã hội; nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân trong chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; phát huy tinh thần gương mẫu tuân thủ, chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để hình thành nhân cách con người Việt Nam phát triển toàn diện; củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào chế độ; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật để tạo đồng thuận xã hội; có các giải pháp cụ thể để tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

 Hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017: Hưởng ứng Ngày Pháp luật là việc làm hàng ngày, thường xuyên của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người dân; trong đó tập trung vào đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến các luật, pháp lệnh và các văn bản mới liên quan đến chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hoặc liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp từ ngày 01/10 đến ngày 30/11/2017.

Các hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật phải phù hợp, thiết thực, hiệu quả, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, cụ thể là:

Tổ chức lễ hưởng ứng Ngày Pháp luật hoặc lồng ghép hưởng ứng thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm, qua hoạt động chính trị, chuyên môn phù hợp với điều kiện thực tiễn; lồng ghép trong triển khai hoạt động xây dựng, thi hành, bảo vệ pháp luật; tổ chức lễ ký kết chương trình phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; tổ chức đối thoại chính sách pháp luật; xây dựng, phát hiện, nhân rộng mô hình hay, cách làm mới, hiệu quả; tổ chức các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng để nâng cao năng lực xây dựng, thi hành thể chế, chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; ngày tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn phí; "Ngày Pháp luật" định kỳ hàng tháng; "Tiết học pháp luật"…

Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong phổ biến, giáo dục pháp luật; phát động, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật (trực tuyến, sân khấu hóa); sử dụng hiệu quả mạng lưới thông tin cơ sở, các phương tiện thông tin đại chúng; nhân rộng mô hình ngày hội pháp luật; thiết lập chuyên trang, chuyên mục phát thanh, truyền hình để bình luận, đối thoại chính sách, định hướng dư luận; áp phích, pa-nô, băng rôn, cờ, phướn trên đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; ra quân tình nguyện, hoạt động giáo dục ngoại khóa ngoài giờ lên lớp gắn với giáo dục khởi nghiệp; tư vấn pháp luật, thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, nhất là vụ việc tham gia tố tụng; mở phiên tòa xét xử lưu động; lồng ghép qua lễ hội, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, phòng, chống tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật có sự tham gia rộng rãi của Nhân dân.

Tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động nhân dân tuân thủ, chấp hành chính sách, pháp luật, củng cố khối đoàn kết cộng đồng, gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", Phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Thời gian thực hiện Ngày Pháp luật năm 2017: Các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tổ chức thường xuyên, liên tục trong cả năm, tập trung vào 02 tháng, bắt đầu từ ngày 01/10 đến hết ngày 30/11/2017, cao điểm từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2017.

Trong tuần lễ cao điểm từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2017, tổ chức tuyên truyền, cổ động trực quan chủ đề, khẩu hiệu về Ngày Pháp luật năm 2017 qua hệ thống áp phích, pa-nô, băng rôn, cờ, phướn trên các tuyến đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; chú ý lựa chọn khẩu hiệu phù hợp với đối tượng, địa bàn.

13/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 29 tháng 03 năm 2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 29 tháng 03 năm 2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 74 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản thanh lý 01 (một) chiếc xe ôtô con 05 chỗ màu xám, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: COROLLA, biển số 71B-0409, số máy: 4AM335775; số khung: AE111-9546846; sản xuất năm 1998, tại Việt Nam. Xe bán dạng đăng ký lại.

 * Lưu ý:

- Khách hàng trúng đấu giá phải chịu các loại thuế và phí liên quan khi sang tên chuyển quyền sở hữu theo quy định.

- Trong 30 ngày tính từ ngày bàn giao tài sản, khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Hội Nông dân tỉnh Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá thời gian trên Trung tâm dịch vụ bán đấu giá Bến Tre và Hội Nông dân tỉnh Bến Tre không chịu trách nhiệm giải quyết khiếu nại về sau.           

- Tài sản tọa lạc tại: Hội Nông dân tỉnh Bến Tre; (địa chỉ: phường 2, thành phố Bến Tre, Bến Tre).

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Hội Nông dân tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

            - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng).

            * Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

            * Khoản tiền đặt trước: 13.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 31/3/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 07/4/2017 (trong giờ làm việc).

   Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 12/4/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   * Lưu ý: Thông báo này thay thư mời


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 91 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Cao Minh Hùng và bà Huỳnh Ngọc Thương, địa chỉ thường trú tại: ấp Phước Hòa, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Thửa đất số 62, tờ bản đồ số 13

- Diện tích: 156,4 m2 (trong đó: 100,0 m2 đất ONT, 56,4 m2 đất CLN);

- Giá khởi điểm tài sản (1): 414.618.000đ (Bốn trăm mười bốn triệu, sáu trăm mười tám ngàn đồng).

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 439700 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 01/8/2011.

2. Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 13;

- Diện tích: 150,1 m2 (trong đó: 128,7 m2 đất ONT, 21,4 m2 đất CLN);

- Giá khởi điểm tài sản (2): 465.214.000đ (Bốn trăm sáu mươi lăm triệu, hai trăm mười bốn ngàn đồng)

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 481176 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 28/5/2012.

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

       - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Cao Minh Hùng và bà Huỳnh Ngọc Thương do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Lưu ý: Tài sản bán theo từng thửa theo nhu cầu người sử dụng.

- Giá khởi điểm tài sản bán đấu giá (1+2): 879.832.000 đ (Tám trăm bảy mươi chín triệu, tám trăm ba mươi hai ngàn đồng).

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 31/3/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/4/2017 (trong giờ làm việc).

        Tổ chức bán đấu giá vào lúc  08 giờ ngày 19/4/2017; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ (Tài sản 01),(tài sản 02), nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/hồ sơ (Tài sản 01), (Tài sản 02), nộp vào tài khoản 72110000200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 95 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Lê Quang Qưới, địa chỉ thường trú: Ấp Phú Mỹ, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm cụ thể như sau:

  - Diện tích đất:1.341,8m2;

  - Loại đất: CLN;

  - Thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 07.

  - Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 932930, số vào sổ cấp giấy CH02545 do UBND huyện Mỏ Cày Bắc cấp ngày 26/11/2012 cho ông Lê Quang Qưới và theo họa đồ đo đạc hiện trạng thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Mỏ Cày Bắc ngày 16/3/2017 cùng diện tích là 1.341,8m2.

- Tài sản tọa lạc tại: xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

   - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Lê Quang Quới do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Mỏ Cày Bắc Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

 - Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 150.000.000 đ (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 31/3/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/4/2017 (trong giờ làm việc).

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 19/4/2017 (thứ tư); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ nộp  vào tài khoản 7100201003417 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre

* Lưu ý: Thông báo này thay thư mời.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 96 (Kèm NQ)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất công thuộc thửa số 11 (thửa cũ số 6 và 7), tờ bản đồ số 1 tại phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre phê duyệt, cụ thể như sau:

- Diện tích đất: 2.248,0m2;

- Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị;

- Vị trí thửa đất: Thửa đất số 11 (thửa cũ số 6 và 7); thuộc tờ bản đồ số 1;

- Hình thức sử dụng: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất;

- Thời gian sử dụng đất: 50 năm (theo dự án);

- Tài sản tọa lạc tại: Phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công giao Trung tâm phát triển đất Bến Tre quản lý do không có nhu cầu sử dụng, được Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre phê duyệt bán đấu giá nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 40.464.000.000đ (Bốn mươi tỷ, bốn trăm sáu mươi bốn triệu đồng).

- Thời gian xem tài sản và tham khảo hồ sơ từ: 7 giờ 30 phút ngày 31/3/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/4/2017 (trong giờ làm việc).

          - Thời gian đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 14/4/2017  đến 16 giờ 30 phút ngày 17/4/2017 tại Trung tâm dịch vụ bán đấu gia tài sản tỉnh Bến Tre.

- Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 19/4/2017 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ, nộp bằng tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Khoản tiền đặt trước: 6.000.000.000đ/ 01 hồ sơ, chuyển vào tài khoản số 729100000911403 tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đồng Khởi.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 90 (Kèm NQ)

          Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và công trình xây dựng trên đất của ông Nguyễn Văn Dũng và bà Trình Thị Thúy, địa chỉ tại: ấp 1, xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm sau:

      1. Về đất:

      a) Thuộc thửa số 71,  tờ bản đồ số 04 (theo số cũ thửa 86, tờ bản đồ số 04):

          - Diện tích: 383,8 m2,  đất ONT (trong đó diện tích lộ giới 164,6 m2)

      b) Thuộc thửa số 73, tờ bản đồ số 04 (theo số cũ thửa 86, tờ bản đồ số 04):

          - Diện tích:  493,1 m2; Loại đất: TSL.

      2. Tài sản trên đất:

      a) Nhà ở chính: Diện tích:  115,47 m2. Kết cấu: Móng cột bêtông cốt thép; mái tole fbrô ximăng; trần thạch cao, tường xây gạch dày 10,0 cm, cửa chính bằng gỗ, cửa ngăn phòng bằng nhôm lắp kính, nền gạch bông.

      b) Nhà ở phụ: Diện tích: 31,16 m2. Kết cấu: khung cột bằng gỗ tạp, mái  tole fbrôximăng; vách bằng tol tráng kẽm (01 vách), nền tráng ximăng.

      c) Nhà vệ sinh: Diện tích 5,94m2. Kết cấu: Móng cột bêtông cốt thép; mái tole fbrô ximăng, của nhựa, tường xây gạch dày 10,0 cm, dán gạch cao 1,6 m nền gạch bông.

      d) Hồ nước tròn: đường kính 1,7 m, cao 1,3 m  (cái)

- Tài sản (1+2) tọa lạc: xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở chính, nhà ở phụ, nhà vệ sinh và hồ nước) của ông Nguyễn Văn Dũng và bà Trình Thị Thúy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 408.350.268đ (Bốn trăm lẻ tám triệu, ba trăm năm mươi ngàn, hai trăm sáu mươi tám đồng).

       Thời gian xem, tham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 31/3/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 03/5/2017 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 17/5/2017; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/ 01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

* Khoản tiền đặt trước: 40.000.000đ/ 01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

 

   Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 để biết thêm chi tiết. 

 

07/04/2017 10:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 89, 131, tờ bản đồ số 06  tại xã Thành Triệu, Châu Thành, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 89, 131, tờ bản đồ số 06  tại xã Thành Triệu, Châu Thành, tỉnh Bến Tre

​Công văn số 322/CTHADS ngày 16/5/2018 của Chi cục THADS huyện Châu Thành

24/05/2018 5:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH VỰC HẢI QUANDANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH VỰC HẢI QUAN
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01Nghị định

 

127/2013/NĐ-CP

15/10/2103Quy định về xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quanCòn hiệu lực 
​02Nghị định​45/2016/NĐ-CP​26/5/2016sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan​Có hiệu lực kể từ ngày 01/8/2016
03
Thông tư190/2013/TT-BTC

12/12/2013

 

Về việc quy định chi tiết thi hành Nghị định 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan

Hết hiệu lực một phần

Bãi bỏ quy định tại Điều 25 

Bị bãi bỏ bởi Thông tư 05/2014/TT-BTC ngày 07/8/2014

04Thông tư105/2014/TT-BTC07/8/2014Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chínhCòn hiệu lực 

 

08/06/2016 5:00 CHĐã ban hành
Chi đoàn Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức thành công cuộc thi “Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính” năm 2015Chi đoàn Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức thành công cuộc thi “Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính” năm 2015

Được sự cho phép của Đảng ủy Sở Tư pháp, ngày 11 tháng 9 năm 2015 tại Hội trường Sở Tư pháp, Chi đoàn Sở Tư pháp đã tổ chức cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015. Tham dự Cuộc thi có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Thị Yến, Phó Bí thư Đoàn Khối Các cơ quan tỉnh; đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, Chi hội Luật gia, Thủ trưởng các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp và 22 thí sinh là đoàn viên Chi đoàn Sở Tư pháp.

CCHC4.gif 

Thông qua cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015, giúp cho đoàn viên nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính; phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đoàn viên, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Chi đoàn và đoàn viên; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để đoàn viên phấn đấu, học tập, trao dồi kiến thức, rèn luyện, trưởng thành hơn trong công tác cũng như trong cuộc sống.

CCHC2.gif 

CCHC3.gif 

Các thí sinh tham dự cuộc thi đã trãi qua 02 vòng thi do Ban tổ chức đặt ra. Vòng 01, mỗi thí sinh cùng tham gia trả lời 20 câu hỏi trắc nghiệm trong thời gian 15 phút với nội dung liên quan đến công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính. Kết thúc vòng 01, chọn ra 10 thí sinh có số điểm cao nhất để tham gia trả lời câu hỏi tự luận theo hình thức bốc thăm với nội dung liên quan đến xử lý tình huống, kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử, kiến thức liên quan đến cải cách hành chính, thủ tục hành chính.

CCHC1.gif 

Kết quả cuộc thi, Ban tổ chức đã tặng Giấy chứng nhận và tiền thưởng cho 01 thí sinh đạt giải nhất, 01 thí sinh đạt giải nhì, 03 thí sinh đạt giải ba và 05 giải khuyến khích.

22/09/2015 5:00 CHĐã ban hành
Sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2017Sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2017

Ngày 29/6/2017, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng và thực hiện quy ước 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017. Ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị gồm đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể tỉnh là Thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; thành viên Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố và đại diện Lãnh đạo Phòng tư pháp các huyện, thành phố.

hoi-nghi-pbgdpl2.jpg

Hội nghị đã triển khai, quán triệt Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Kế hoạch số 2525/KH-UBND ngày 08/6/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021 được ban hành tại Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ.

Các đại biểu tham dự Hội nghị đã tập trung thảo luận, đánh giá những kết quả, hạn chế, khó khăn trong công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước 6 tháng đầu năm, đồng thời đề xuất phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017, đặc biệt trong công tác PBGDPL gắn với triển khai thực hiện Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021.

hoi-nghi-pbgdpl1.jpg

Kết luận, chỉ đạo Hội nghị, ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đánh giá cao những kết quả đạt được trong công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước trong thời gian qua; đặc biệt, công tác PBGDPL góp phần thực hiện tốt Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế-xã hội, chính sách an sinh xã hội, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội; công tác PBGDPL có những tác động hiệu quả tích cực đến việc xây dựng ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật trong nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể tỉnh; thành viên Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh; Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các huyện, thành phố nghiên cứu, triển khai thực hiện có hiệu quả các phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

03/07/2017 5:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1870, 1852 và 1853 thuộc tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Quới Tây A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1870, 1852 và 1853 thuộc tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Quới Tây A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/4/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/4/2015
Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 141/2015

 

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi trên đất của ông Lê Thanh Phong và bà Nguyễn Thị Tâm, địa chỉ tại: 143A6, khu phố 1, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

1. Về quyền sử dụng đất:

a) Thửa số 760, tờ bản đồ số 03;

- Diện tích: 463,8 m2, loại đất trồng cây lâu năm;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00131 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 10/02/2010;

- Giá là 383.701.740đ (Ba trăm tám mươi ba triệu, bảy trăm lẻ một ngàn, bảy trăm bốn mươi đồng).

b) Thửa số 968, tờ bản đồ số 02;

- Diện tích: 604,2 m2, loại đất lúa;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00132 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 10/02/2010;

- Giá là 221.922.660đ (Hai trăm hai mươi một triệu, chín trăm hai mươi hai ngàn, sáu trăm sáu mươi đồng).

2. Công trình xây dựng:

- Nhà ở: Diện tích 117 m2, móng cột bêtông cốt thép, vách tường xây gạch ống 10 cm, sơn nước, mặt tiền ốp gạch trang trí, nền gạch ceramic, hệ thống đèn chiếu sáng đầy đủ, cửa đi chính, cửa phụ là cửa gỗ cao cấp, cửa sổ bằng gỗ thường, 02 phòng khách, 02 phòng ngủ, 01 phòng bếp và 01 tolet, mái lợp tole tráng kẽm không có trần, kiểu nhà: nhà cửa L; Giá là 274.365.000đ (Hai trăm bảy mươi bốn triệu, ba trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

- Nhà tạm: Diện tích 40 m2, cột bêtông, kèo gỗ, vách tường xây gạch ống 10 cm, không tô ximăng, nền láng ximăng, mái lợp lá, không có trần; Giá là 10.080.000đ (Mười triệu, không trăm tám mươi ngàn đồng).

- Tường rào xây tường: Diện tích 17,22 m2, chiều dài 8,2m, chiều cao 2,1 m, kết cấu cột bêtông cốt thép, xây tường cao 2,1 m, không quét vôi; Giá là 3.797.010đ (Ba triệu, bảy trăm chín mươi bảy ngàn, không trăm mười đồng).

- Tường rào lưới B40 trước nhà: Diện tích 26,18 m2, chiều dài 11,9 m, chiều cao 2,2 m, kết cấu cột bêtông cốt thép, xây tường cao 0,55 m, kéo lưới; Giá là 4.783.086đ (Bốn triệu, bảy trăm tám mươi ba ngàn, không trăm tám mươi sáu đồng).

- Tường rào lưới B40 sau nhà: Diện tích 131,6 m2, chiều dài 65,8 m, chiều cao 2,1 m, kết cấu cột bêtông cốt thép, xây tường cao 0,6 m, kéo lưới; Giá là 24.043.320đ (Hai mươi bốn triệu, không trăm bốn mươi ba ngàn, ba trăm hai mươi đồng).

- Cổng rào: Diện tích 8,38 m2, chiều dài 3,35 m, chiều cao 2,5 m, kết cấu: móng trụ cột bêtông cốt thép, chưa sơn, cửa cổng bằng song sắt. Giá là 3.844.125đ (Ba triệu, tám trăm bốn mươi bốn ngàn, một trăm hai mươi lăm đồng).

- Sân xi măng: Diện tích 80,33m2. Giá là 9.719.930đ (Chín triệu, bảy trăm mười chín ngàn, chín trăm ba mươi đồng).

- Ống nước: Thể tích 9,42 m3/ống, số lượng 2, kết cấu: Dạng ống, bêtông cốt thép D1.000 mm.Giá là 5.652.000đ (Năm triệu, sáu trăm năm mươi hai ngàn đồng).

3. Cây trồng trên đất: 34 Cây dừa trên 4 năm tuổi, 05 cây bưởi da xanh trên 4 năm tuổi, 06 cây mít khoảng 4 năm tuổi và 02 cây táo khoảng 5 năm tuổi; Giá là: 28.450.000đ (Hai mươi tám triệu, bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc: phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và hoa lợi trên đất của ông Lê Thanh Phong và bà Nguyễn Thị Tâm, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 970.358.871đ (Chín trăm bảy mươi triệu, ba trăm năm mươi tám ngàn, tám trăm bảy mươi một đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút, ngày 27/4/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 29/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 80.000.000đ/ 01 hồ sơ;

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 145/2015

 

- Tài sản bán đấu giá là một phần quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Nết, hiện cư ngụ tại: ấp 5, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích 3.999,8m2;

- Loại đất: LUC;

- Một phần thửa đất số  189, tờ bản đồ số 5;

- Tài sản toạ lạc tại: ấp ấp 5, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Nết, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 239.988.000đ (Hai trăm ba mươi chín triệu, chín trăm tám mươi tám ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản: 10.000.000đ /01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 27/4/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 29/5/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 147/2015

 

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Võ Khắc Đạt và bà Võ Thị Thanh Vân, hiện cư ngụ tại: ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

1. Về quyền sử dụng đất:

- Một phần thửa đất số  38a, tờ bản đồ số 31;

- Diện tích 1.494,5 m2;

- Loại đất: LNC;

2. Cây trồng trên đất: cây dừa loại 1: 26 cây, loại 3: 05 cây, mận 02 cây, nhãn 03 cây.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phú Chiến, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Võ Khắc Đạt và bà Võ Thị Thanh Vân, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 281.476.212đ (hai trăm tám mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi sáu ngàn hai trăm mười hai đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng)/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 27/4/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 29/5/2015 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 149/2015

 

Tài sản bán đấu giá là một phần quyền sử dụng đấtvà cây trồng trên đất của ông Võ Văn Hà (Ông Hà là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho hộ bà Võ Thị Thanh Thủy - hiện ông Hà đã chết), địa chỉ: ấp Thanh Sơn 2, xã  Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

1. Căn cứ vào biên bản làm việc thống nhất của các con ông Hà, sẽ lấy phần đất mà ông Hà chia cho Bà Thủy quản lý và sử dụng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng bán đấu giá thu hồi nợ vay, cụ thể:

- Theo giấy chứng nhận QSDĐ số T538426, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 2150/QĐ-UB do UBND huyện Mỏ Cày cấp ngày 10/9/2001.

- Diện tích: 5.778m2;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 04, một phần thửa đất số 204;

- Giá khởi điểm: 638.932.000đ (Sáu trăm ba mươi tám triệu, chín trăm ba mươi hai ngàn đồng).

2. Theo diện tích đo đạc thực tế của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Mỏ Cày Bắc ngày 12/12/2014:

- Diện tích là 5.933m2; thuộc thửa đất số 81 (mới), tờ bản đồ 25(mới).

- Loại đất: đất CLN;

- Tài sản tọa lạc tại: ấp Thanh Sơn 2, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, Bến Tre.

* Sau khi tiến hành đo đạc thực tế diện tích đất tăng 155m2, phần diện tích đất tăng là của bà Võ Lệ Quyên (con Ông Hà), trước đây ông Hà cho bà Quyên quản lý và sử dụng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng. Nay bà Quyên đồng ý giao phần đất tăng cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre bán đấu giá, phần tiền thu được Ngân hàng sẽ Hoàn lại cho bà Quyên, và thống nhất giá khởi điểm phần đất tăng là 120.000đ/m2  x 155m2 x = 18.600.000đ

* Lưu ý:  Tài sản bán theo diện tích đã đo đạc thực tế là 5.933m2

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là một phần quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Võ Văn Hà (Ông Hà là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho hộ bà Võ Thị Thanh Thủy - hiện ông Hà đã chết) do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 657.532.000 đồng (Sáu trăm năm mươi bảy triệu, năm trăm ba mươi hai ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 27/4/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2015.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 29/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/hồ sơ

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 150/2015

 

Tài sản bán đấu giá là một phần quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Văn Trải, địa chỉ: ấp Tân Thông 4, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; tài sản có đặc điểm sau:

- Diện tích đất: theo giấy chứng nhận QSDĐ là 3.820 m2 (theo diện tích đo đạc thực tế 4.156,7m2); Loại đất: đất CLN;

- Thuộc tờ bản đồ 01 (cũ), 07 (mới); thửa đất 1072, 1057 (cũ), 325, 307 (mới);

- Tài sản tọa lạc: ấp Tân Thông 4, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, Bến Tre.

- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 550421-001164 QSDĐ/69/QĐ-UB (số 076780), ngày 21/01/1999.

* Lưu ý: tài sản bán theo diện tích đo đạc thực tế.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là một phần quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Trải do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 288.513.890 đồng (Hai trăm tám mươi tám triệu, năm trăm mười ba ngàn, tám trăm chín mươi đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 27/4/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 29/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/hồ sơ

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 155/2015

 

Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của bà Phan Thị Thu Thủy, địa chỉ: Số nhà 241/C, Khu phố 6, Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích: 989,6m2;

- Thuộc thửa đất số 251; tờ bản đồ số 13.

- Mục đích sử dụng: 300m2 đất ở tại nông thôn và 689,6m2 đất trồng cây lâu năm (trong đó lộ giới là 150,9m2);

- Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0838414, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00005 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 26/3/2009.

- Tài sản tọa lạc: mặt tiền đường tỉnh lộ 883 thuộc xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của bà Phan Thị Thu Thủy do không có nhu cầu sử dụng cần bán.

* Lưu ý: Tài sản trên có xác nhận của UBND xã An Khánh hiện tại không có tranh chấp; hiện tại có hàng rào bao quanh khi bán được bàn giao tài sản không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp người mua trúng đấu giá có yêu cầu đo đạc lại thì phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất đo lại có tăng hơn diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng, nếu diện tích đất giảm thì người mua phải chịu không khiếu nại.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 1.600.000.000đ (Một tỷ, sáu trăm triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 27/4/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/5/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 21/5/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/ 01 hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/ 01 hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15, đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre hoặc điện thoại: 075.3823667 – 0753512081 - 0753512083 để biết thêm chi tiết.

27/04/2015 4:00 CHĐã ban hành
Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bến Tre khóa VIII được tổ chức vào ngày 05 và ngày 06 tháng 12 năm 2013. Tham dự kỳ họp có: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội; các đồng chí lãnh đạo tỉnh; 48/52 đại biểu HĐND tỉnh; thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; thường trực HĐND và đại diện cử tri của các huyện, thành phố.

Kỳ họp đã nghe Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014;  Thông báo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Đại biểu HĐND tỉnh và những vấn đề cử tri quan tâm; Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh; Báo cáo tiếp thu và giải trình của UBND tỉnh về một số vấn đề nổi lên qua thảo luận ở Tổ đại biểu, ý kiến kiến nghị của cử tri và của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tại kỳ họp thứ 8. Ngoài ra, một số văn bản Thường trực HĐND tỉnh đã gửi cho đại biểu nghiên cứu, để làm cơ sở thảo luận, quyết định.

Tại kỳ họp, đại biểu HĐND tỉnh đã tập trung thảo luận vào những ý kiến còn khác nhau qua thảo luận tại tổ, xoay quanh một số nhóm vấn đề: nuôi thủy sản không theo quy hoạch; phát triển các mô hình sản xuất trong nông nghiệp; vốn đầu tư các chương trình, đề án; an ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Kỳ họp cũng đã dành ra một buổi để các đại biểu HĐND tỉnh thực hiện phiên chất vấn. Nội dung chất vấn liên quan đến việc nuôi tôm ngoài vùng quy hoạch; sử dụng đất không đúng theo hợp đồng thuê đất đối với Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre; đầu tư xây dựng và hoạt động của Cảng Giao Long; thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông thuộc Sở Thông tin và Truyền thông; tạm đình chỉ vụ án không đúng theo quy định; không đưa Đề án thành lập thị trấn Tiệm Tôm, xã An Thủy, huyện Ba Tri vào trong Nghị quyết HĐND tại kỳ họp 8; công trình kiên cố hóa Trường Trung học cơ sở Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc chưa được hoàn thành; giải quyết khiếu nại của công dân khu vực đất cù Lao Lá, huyện Ba Tri và các khiếu nại khác chậm giải quyết; cải cách hành chính (quản lý hộ tịch, hộ khẩu).

Đại diện cử tri huyện Châu Thành cũng đã có ý kiến phát biểu về việc tổ chức, điều hành, nội dung của kỳ họp thứ 8 - HĐND tỉnh Khóa VIII, đồng thời kiến nghị những vấn đề mà cử tri quan tâm.

Kỳ họp đã ban hành 17 Nghị quyết như sau:

Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2012;

Nghị quyết về dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về việc thông qua quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bến Tre đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc;

Nghị quyết về việc bãi bỏ một phần, bãi bỏ toàn bộ một số Nghị quyết của HĐND tỉnh;

Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2014 – 2016 và định hướng đến năm 2020;

Nghị quyết về Chương trình xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về Chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về dự toán kinh phí hoạt động của HĐND tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 8 – HĐND tỉnh Khóa VIII;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả cho thôi làm nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết xác nhận kết quả bầu bổ sung chức danh Phó Trưởng Ban Văn hóa Xã hội chuyên trách HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Qua đánh giá, kỳ họp đã thực hiện đúng chương trình và thành công tốt đẹp.

26/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn