Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Văn phòng Sở
​Ngày 03 tháng 3 năm 2016, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2016/TT-BTP quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của Ngành Tư pháp; trong đó, có quy định về chế độ, thời hạn báo cáo thống kê định kỳ của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Để thực hiện công tác báo cáo thống kê năm 2016 (thống kê năm lần một) theo quy định trên, Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị:1. Các sở, ban, ... 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 12/10/2016 
 
 
Ngày 23/01/2015, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2015. Ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có đại diện Văn phòng Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh, các Phó Giám đốc Sở; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, chuyên viên các phòng, trung tâm thuộc Sở; Trưởng Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp – Hộ tịch của 9 huyện, thành phố. 
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2015, đồng thời khắc phục và đẩy lùi tình trạng lãng phí, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng ngân sách, tài sản công tại cơ quan, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là vai trò người đứng đầu, đưa công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở thành nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan; ngày 07 tháng 01 năm 2015, Giám đốc Sở Tư pháp đã ký ban hành Kế hoạch số 23/KH-STP về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2015. 
 
Năm 2014, Sở Tư pháp Bến Tre hưởng ứng tích cực phong trào thi đua Toàn ngành Tư pháp đồng thuận, vượt khó, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao do Bộ Tư pháp, Khu vực thi đua Đồng bằng sông Cửu Long phát động và Kế hoạch số 6413/KH-UBND ngày 27/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND) tỉnh về thực hiện công tác cải cách hành chính (CCHC) năm 2014, góp phần đẩy mạnh CCHC, cải cách chế độ công vụ, công chức, viên chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành. Với nhiệm vụ vừa là đơn vị thực hiện công tác CCHC theo chỉ đạo của UBND tỉnh, đồng thời cũng là đơn vị tham mưu UBND tỉnh thực hiện đối với lĩnh vực cải cách thể chế và cải cách thủ tục hành chính (TTHC) của tỉnh; trong năm 2014 Sở Tư pháp đã không ngừng phấn đấu, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu nhiệm vụ đề ra, có những đóng góp thiết thực trong nâng cao chỉ số CCHC của tỉnh, đột phá trong một số lĩnh vực như: 
 
Ngày 28 tháng 10 năm 2014, Sở Tư pháp ban hành Công văn số 1958/STP-VP hướng dẫn xây dựng và bình xét điển hình tiên tiến (2010-2015), cụ thể: 
 
Ngày 04/9/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg quy định về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 – 2020. Quyết định này quy định một số chính sách hỗ trợ hộ chăn nuôi về phối giống nhân tạo gia súc, con giống vật nuôi, xử lý chất thải chăn nuôi nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ và bảo vệ môi trường. 
 
Để đảm bảo sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời giữa công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính với các phòng, đơn vị có liên quan; qua đó nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong phục vụ nhân dân, phát huy tính chủ động, tích cực của từng cá nhân, đơn vị có liên quan trong phối hợp thực hiện các hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại Sở Tư pháp; ngày 26 tháng 8 năm 2014, Giám đốc Sở Tư pháp đã ký Quyết định số 98/QĐ-STP ban hành Quy chế phối hợp kiểm soát thủ tục hành chính tại Sở Tư pháp. 
 
Ngày 28 tháng 8 năm 2014, Sở Tư pháp đã tổ chức họp mặt kỷ niệm ngày thành lập ngành Tư pháp 28/8, Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 02/9 và kết hợp tổ chức cuộc thi “Giới thiệu tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh” năm 2014. Tham dự buổi họp mặt có đại diện Ban Tuyên giáo Đảng uỷ Khối các cơ quan tỉnh; các đồng chí trong Đảng ủy, Ban lãnh đạo Sở, phóng viên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh và hơn 60 công chức, viên chức, người lao động tại cơ quan. Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp dự, chủ trì buổi họp mặt. 
 
 
Ngày 15 tháng 7 năm 2014, tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2014. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị; tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 huyện, thành phố và công chức, viên chức thuộc Sở.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 8Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 8
Thực hiện Kế hoạch số 824/KH-HĐND ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc tiếp xúc cử tri kỳ họp thứ 08 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Mỏ Cày Nam tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong Tổ tiếp xúc cử tri trước kỳ họp. Theo đó, việc tiế...

Thực hiện Kế hoạch số 824/KH-HĐND ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc tiếp xúc cử tri kỳ họp thứ 08 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Mỏ Cày Nam tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong Tổ tiếp xúc cử tri trước kỳ họp. Theo đó, việc tiếp xúc cử tri sẽ được tiến hành tại các địa điểm và thời gian cụ thể sau đây:

Điểm thứ nhất: Hội trường Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn Mỏ Cày (gồm cử tri thị trấn Mỏ Cày và cử tri xã Tân Hội). Thời gian: 7 giờ 30 phút ngày 14/11/2013;

Điểm thứ hai: Hội trường UBND xã An Thới (gồm cử tri xã An Thới và cử tri xã Ngãi Đăng). Thời gian: 7 giờ 30 phút ngày 15/11/2013;

Điểm thứ ba: Hội trường UBND xã Định Thủy (gồm cử tri xã Định Thủy và cử tri xã Phước Hiệp). Thời gian: 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2013;

Điểm thứ tư: Hội trường UBND xã Cẩm Sơn (gồm cử tri xã Cẩm Sơn và cử tri xã Tân Trung). Thời gian: 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2013.

Tại các cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh sẽ báo cáo với cử tri tình hình thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về kinh tế - xã hội và quốc phòng – an ninh năm 2013. Đồng thời thông báo nội dung, chương trình kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh, trên cơ sở đó tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Ngoài ra sẽ thông tin nội dung giải trình của UBND tỉnh, các sở, ngành đối với các ý kiến, kiến nghị của cử tri trước và sau kỳ họp thứ 6.

Để Hội đồng nhân dân tỉnh thực sự là cơ quan quyền lực đại diện cho nhân dân, để kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh là diễn đàn để nhân dân thể hiện ý chí, quyền làm chủ của mình; đề nghị quý cử tri tích cực tham dự các cuộc tiếp xúc cử tri để phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị của mình. Các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam sẽ tiếp thu, ghi nhận và phản ánh lại tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh lần thứ 8 sắp tới.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020

Ngày 21 tháng 6 năm 2017, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Nghị quyết 43/2017/QH14 về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020. Theo đó, trong giai đoạn 2016 - 2020, Quốc Hội giao Chính phủ tập trung thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp sau:

Khẩn trương rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm để sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan theo hướng quy định rõ các điều cấm và tăng chế tài xử lý; khắc phục tình trạng chồng chéo, không rõ trách nhiệm trong phân công quản lý an toàn thực phẩm; tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, đến hết năm 2020 cơ bản hoàn thành các quy chuẩn kỹ thuật chính về an toàn thực phẩm cho các nhóm đối tượng và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Đến hết năm 2018, kiện toàn cơ bản bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm các cấp theo hướng tập trung đầu mối, rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả. Ở cấp xã, phân công cán bộ theo dõi an toàn thực phẩm. Tăng cường năng lực, điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ quản lý an toàn thực phẩm ở các cấp, tạo sự chuyển biến rõ rệt về an toàn thực phẩm.

Phấn đấu giảm mạnh số vụ ngộ độc thực phẩm nhiều người, giảm tỷ lệ mẫu thực phẩm kiểm tra không đảm bảo an toàn, tăng tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản được kiểm tra đạt yêu cầu về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm so với giai đoạn trước. Có lộ trình và giải pháp giải quyết dứt điểm các vấn đề yếu kém: về dư lượng vượt ngưỡng cho phép của thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, kinh doanh thực phẩm; kiểm soát giết mổ nhỏ lẻ, thực phẩm có nguy cơ cao, thức ăn đường phố; ngộ độc thực phẩm cấp tính và mãn tính; kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, hàng nhập lậu và gian lận thương mại; kiểm soát môi trường đất, nước cho sản xuất thực phẩm an toàn.

Hoàn thiện chính sách về đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm đồng bộ với quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất an toàn; có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo chuỗi khép kín, áp dụng chương trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, hệ thống kiểm soát chất lượng tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ, bảo đảm an toàn thực phẩm, có lộ trình giảm tỷ trọng sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, kém chất lượng.

 Đẩy mạnh quản lý an toàn thực phẩm sang kiểm soát theo quá trình sản xuất, dựa trên phân tích nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm; tăng cường hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm; chỉ đạo các địa phương phát triển, nhân rộng chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn và kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ; tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống giám sát, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; tăng các biện pháp, chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng; tiếp tục thực hiện thí điểm thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm, đánh giá tổng kết và mở rộng mô hình khi có kết quả tích cực.

Bố trí đủ ngân sách cho công tác quản lý an toàn thực phẩm theo dự toán. Cho phép sử dụng kinh phí xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm để phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, trong đó được trích một tỷ lệ hợp lý khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích trong quản lý, tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm. Tăng cường xã hội hóa, đa dạng các nguồn lực tài chính và một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm; thực hiện tốt việc tổ chức đánh giá, công nhận các cơ sở thực hiện xã hội hóa quản lý an toàn thực phẩm và chỉ định các cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện kiểm nghiệm về an toàn thực phẩm tham gia kiểm định, giám định chất lượng thực phẩm. Phối hợp tích cực với hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp, đặc biệt là của người dân trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm.

Tăng cường công tác giáo dục truyền thông, thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm; biểu dương kịp thời những điển hình tiên tiến, công khai những tồn tại yếu kém, những hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm của tổ chức và cá nhân; tránh đưa thông tin không đúng sự thật gây hoang mang trong dư luận ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và phát triển các kỹ năng truyền thông; nâng cao số lượng, chất lượng các tài liệu và thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm. Thiết lập hệ thống thông tin hỏi đáp phục vụ người dân, cung cấp thông tin, phản ánh về an toàn thực phẩm; tiếp nhận và xử lý kịp thời các thông tin vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.

Chú trọng công tác đào tạo, tăng cường tập huấn chuyên môn nghiệp vụ; tổ chức đào tạo lại cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm tại các tuyến; từng bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tích cực vận động sự hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế cho công tác an toàn thực phẩm.

20/07/2017 3:00 CHĐã ban hành
Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bến Tre khóa VIII được tổ chức vào ngày 05 và ngày 06 tháng 12 năm 2013. Tham dự kỳ họp có: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội; các đồng chí lãnh đạo tỉnh; 48/52 đại biểu HĐND tỉnh; thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; thường trực HĐND và đại diện cử tri của các huyện, thành phố.

Kỳ họp đã nghe Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014;  Thông báo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Đại biểu HĐND tỉnh và những vấn đề cử tri quan tâm; Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh; Báo cáo tiếp thu và giải trình của UBND tỉnh về một số vấn đề nổi lên qua thảo luận ở Tổ đại biểu, ý kiến kiến nghị của cử tri và của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tại kỳ họp thứ 8. Ngoài ra, một số văn bản Thường trực HĐND tỉnh đã gửi cho đại biểu nghiên cứu, để làm cơ sở thảo luận, quyết định.

Tại kỳ họp, đại biểu HĐND tỉnh đã tập trung thảo luận vào những ý kiến còn khác nhau qua thảo luận tại tổ, xoay quanh một số nhóm vấn đề: nuôi thủy sản không theo quy hoạch; phát triển các mô hình sản xuất trong nông nghiệp; vốn đầu tư các chương trình, đề án; an ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Kỳ họp cũng đã dành ra một buổi để các đại biểu HĐND tỉnh thực hiện phiên chất vấn. Nội dung chất vấn liên quan đến việc nuôi tôm ngoài vùng quy hoạch; sử dụng đất không đúng theo hợp đồng thuê đất đối với Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre; đầu tư xây dựng và hoạt động của Cảng Giao Long; thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông thuộc Sở Thông tin và Truyền thông; tạm đình chỉ vụ án không đúng theo quy định; không đưa Đề án thành lập thị trấn Tiệm Tôm, xã An Thủy, huyện Ba Tri vào trong Nghị quyết HĐND tại kỳ họp 8; công trình kiên cố hóa Trường Trung học cơ sở Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc chưa được hoàn thành; giải quyết khiếu nại của công dân khu vực đất cù Lao Lá, huyện Ba Tri và các khiếu nại khác chậm giải quyết; cải cách hành chính (quản lý hộ tịch, hộ khẩu).

Đại diện cử tri huyện Châu Thành cũng đã có ý kiến phát biểu về việc tổ chức, điều hành, nội dung của kỳ họp thứ 8 - HĐND tỉnh Khóa VIII, đồng thời kiến nghị những vấn đề mà cử tri quan tâm.

Kỳ họp đã ban hành 17 Nghị quyết như sau:

Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2012;

Nghị quyết về dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về việc thông qua quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bến Tre đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc;

Nghị quyết về việc bãi bỏ một phần, bãi bỏ toàn bộ một số Nghị quyết của HĐND tỉnh;

Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2014 – 2016 và định hướng đến năm 2020;

Nghị quyết về Chương trình xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về Chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về dự toán kinh phí hoạt động của HĐND tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 8 – HĐND tỉnh Khóa VIII;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả cho thôi làm nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết xác nhận kết quả bầu bổ sung chức danh Phó Trưởng Ban Văn hóa Xã hội chuyên trách HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Qua đánh giá, kỳ họp đã thực hiện đúng chương trình và thành công tốt đẹp.

26/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
CUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNGCUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

CUỘC THI VIẾT TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

Mời quý đọc giả cùng tham gia cuộc thi viết tìm hiểu pháp luật về lao động trên Bản tin Tư pháp với những nội dung cụ thể như sau:

1. Đối tượng dự thi

- Công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

- Thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo, Tổ thư ký giúp việc cho Ban Tổ chức, Ban Giám khảo của cuộc thi không được tham gia dự thi.

2. Hình thức dự thi

- Mỗi cá nhân chỉ được gửi 01 bài dự thi, bài dự thi bằng tiếng Việt, có thể viết tay hoặc đánh máy trên giấy A4, đánh số trang theo thứ tự.

- Trang bìa bài dự thi phải ghi rõ họ; tên; ngày, tháng, năm sinh, giới tính; địa chỉ (nơi ở, nơi học tập hoặc nơi làm việc) của người dự thi. Ngoài phong bì của bài dự thi ghi rõ: "Bài dự thi tìm hiểu pháp luật về lao động".

3. Nội dung thi

Mỗi thí sinh phải trả lời 05 câu hỏi sau đây:

Câu 1: Quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động được pháp luật quy định như thế nào?

Câu 2: Người lao động, người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp nào?

Câu 3: Pháp luật lao động quy định chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ như thế nào?

Câu 4: Việc sử dụng lao động dưới 15 tuổi được pháp luật quy định ra sao?

Câu 5: Giải đáp tình huống:

Chị T là công nhân, con của chị T chưa được một tuổi, nhà lại xa nơi làm việc nên chị T hay đi làm muộn, mặc dù đã được Tổ trưởng sản xuất nhắc nhở nhiều lần nhưng chị T vẫn không khắc phục được. Vừa qua, lãnh đạo Công ty đã ra quyết định xử lý kỷ luật chị T bằng hình thức khiển trách, đồng thời quyết định nếu chị T còn tiếp tục vi phạm sẽ kéo dài thời hạn nâng lương thêm 01 năm.

Hỏi: Công ty xử lý kỷ luật chị T như vậy là đúng hay sai, giải thích tại sao?

4. Thời gian và địa điểm nhận bài dự thi

- Thời gian nhận bài dự thi: Từ nay đến hết 17 giờ, ngày 05/12/2016.

- Địa điểm nhận bài thi: Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp. Địa chỉ: Số 17, đường Cách mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Bài dự thi có thể gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện. Riêng đối với bài dự thi được gửi qua đường bưu điện, Ban Tổ chức sẽ tính thời gian theo dấu bưu điện.

5. Cơ cấu giải thưởng

01 giải nhất: 2.000.000 đồng.

02 giải nhì: 1.500.000 đồng/giải

03 giải ba: 1.000.000 đồng/giải.

05 giải khuyến khích: 500.000 đồng/giải.

BAN TỔ CHỨC CUỘC THI

18/10/2016 5:00 CHĐã ban hành
Quy định pháp luật về đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệpQuy định pháp luật về đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển, kéo theo nhu cầu mở rộng thị trường của doanh nghiệp ngày càng tăng, việc thành lập thêm các chi nhánh, văn phòng đại diện là điều cần thiết. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì việc đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp được thực hiện như sau:

Hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển, kéo theo nhu cầu mở rộng thị trường của doanh nghiệp ngày càng tăng, việc thành lập thêm các chi nhánh, văn phòng đại diện là điều cần thiết. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì việc đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp được thực hiện như sau:

Hồ sơ đăng ký chi nhánh, văn phòng đại diện

Khi thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, doanh nghiệp phải gửi thông báo lập chi nhánh, văn phòng đại diện tới Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi đặt chi nhánh, văn phòng đại diện. Nội dung thông báo gồm:

Mã số doanh nghiệp; tên và địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; tên chi nhánh, văn phòng đại diện dự định thành lập; địa chỉ trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện; nội dung, phạm vi hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện;

Họ, tên, nơi cư trú, số Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 24 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện; họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Kèm theo thông báo nêu trên phải có:

Quyết định bằng văn bản và bản sao biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai (02) thành viên trở lên, của chủ sở hữu công ty hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, của Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần, các thành viện hợp danh đối với công ty hợp danh về việc thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện;

Bản sao hợp lệ quyết định bổ nhiệm người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện; bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 24 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện.

Đối với chi nhánh kinh doanh các ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề thì phải có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của người đứng đầu chi nhánh hoặc của cá nhân khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp

Sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nhập thông tin vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để yêu cầu mã số chi nhánh, văn phòng đại diện. Sau đó, cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện cho doanh nghiệp.

Trường hợp doanh nghiệp lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại tỉnh, thành phố khác với nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính thì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện. Doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản tới Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để bổ sung vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Việc lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp ở nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật nước đó. Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày chính thức mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài, doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký. Kèm theo thông báo phải có bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc giấy tờ tương đương để bổ sung vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

20/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chínhNghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính
Ngày 14 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; trong đó có Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính.

Ngày 14 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; trong đó có Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính.

Theo quy định mới, Cục kiểm soát thủ tục hành chính được chuyển giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

Sở Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương. Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Sở Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở Tư pháp tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

Việc lấy ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính, Nghị định cũng đã quy định ngoài việc tham gia góp ý kiến về nội dung dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Sở Tư pháp có trách nhiệm cho ý kiến về nội dung quy định thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung cho ý kiến về quy định thủ tục hành chính chính chủ yếu xem xét các vấn đề về nguyên tắc và yêu cầu của việc quy định thủ tục hành chính.

Nghị định cũng quy định cụ thể về vấn đề thẩm định văn bản có quy định về thủ tục hành chính. Cơ quan thẩm định sẽ không tiếp nhận hồ sơ gửi thẩm định nếu dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính chưa có bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính và ý kiến góp ý của cơ quan cho ý kiến. Đồng thời, cơ quan thẩm định có trách nhiệm thẩm định quy định về thủ tục hành chính và thể hiện nội dung này trong Báo cáo thẩm định.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng sửa đổi thời hạn ban hành quyết định công bố thủ tục hành chính phải được ban hành chậm nhất trước 20 ngày làm việc tính đến ngày văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành thay vì thời hạn 10 ngày như quy định trước đây.

Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

20/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Đảng ủy Sở Tư pháp làm việc với Ban chấp hành Chi đoàn thanh niênĐảng ủy Sở Tư pháp làm việc với Ban chấp hành Chi đoàn thanh niên
Thực hiện Quy chế làm việc của Đảng ủy, Sáng ngày 19/6/2013, Đảng ủy Sở Tư pháp tổ chức làm việc với Ban Chấp hành Chi đoàn về kết quả thực hiện hoạt động của Ban chấp hành Chi đoàn Thanh niên 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2013. Đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy và các đồng chí trong Đảng ủy đã đến dự.

Thực hiện Quy chế làm việc của Đảng ủy, Sáng ngày 19/6/2013, Đảng ủy Sở Tư pháp tổ chức làm việc với Ban Chấp hành Chi đoàn về kết quả thực hiện hoạt động của Ban chấp hành Chi đoàn Thanh niên 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2013. Đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy; đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy và các đồng chí trong Đảng ủy đã đến dự.

Giao lưu với chi đoàn bạn

Tại cuộc họp, đồng chí Lê Thanh Bằng, Bí thư Chi đoàn Thanh niên báo cáo tình hình tư tưởng đoàn viên cơ bản ổn định, vững vàng, thực hiện tốt nội quy, quy chế cơ quan, không ngừng phấn đấu, rèn luyện phẩn chất, đạo đức, lối sống, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tham gia các phong trào do Chi đoàn và Đoàn cấp trên phát động, như: “Ngày thứ bảy tình nguyện” và “Ngày chủ nhật xanh”, tổ chức thăm và tặng quà các đối tượng chính sách, vì đàn em thân yêu, tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho người dân, nhất là trẻ em, người nghèo, người thuộc đối tượng chính sách, giới thiệu đoàn viên ưu tú tạo nguồn phát triển đảng viên mới.

Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy đánh giá cao kết quả hoạt động của Ban Chấp hành Chi đoàn; và đề nghị trong thời gian tới, Ban Chấp hành Chi đoàn phải thường xuyên giáo dục chính trị, tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên; tổ chức học tập nghiêm túc các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; củng cố lập trường tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên; tạo điều kiện để đoàn viên, thanh niên không ngừng rèn luyện đạo đức, lối sống, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; tham gia tích cực các phong trào do đoàn cấp trên phát động; chủ động, sáng tạo, năng động; thực hiện tốt phong trào văn thể mỹ để tạo sự phấn khởi trong lực lượng đoàn viên thanh niên; tiếp tục giới thiệu đoàn viên ưu tú để phát triển đảng viên.

19/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định về danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”Quy định về danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”
Ngày 22 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (Nghị định). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2013.

Ngày 22 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (Nghị định). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2013.

Nghị định quy định cụ thể về đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” như sau:

Những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”: Có 2 con trở lên là liệt sỹ; chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sỹ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sỹ; có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ; có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.

Người con là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật.

Người chồng là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó.

Thương binh quy định như trên là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần.

Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Đồng thời Nghị định còn quy định những trường hợp thõa điều kiện để được xét tăng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” nhưng phản bội, đầu hàng địch, có hành động gây nguy hại cho cách mạng hoặc vi phạm pháp luật bị Tòa án xét xử bằng hình thức phạt tù mà bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật (kể cả trường hợp được hưởng án treo) thì không được xét tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Bà mẹ hoặc thân nhân của bà mẹ khi có đủ điều kiện như trên liên hệ trực tiếp Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bà mẹ đăng ký hộ khẩu thường trú (đối với bà mẹ còn sống) hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người được ủy quyền kê khai để được hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục.

17/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luậtHội nghị triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật
Sáng ngày 05/6/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì Hội nghị, tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là thành viên...

Sáng ngày 05/6/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị triển khai Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật. Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì Hội nghị, tham dự Hội nghị có hơn 60 đại biểu là thành viên Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; cán bộ phụ trách công tác pháp chế, thanh tra các sở, ngành, ban, ngành tỉnh; lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố.

Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe những nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 59/2012/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật và các kế hoạch triển khai có liên quan.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trương Văn Nghĩa đề nghị lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tập trung nghiên cứu nắm chắc các nội dung quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Phổ biến giáo dục pháp luật; Nghị định 59/2012/NĐ-CP và các Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh để xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai, thực hiện ở ngành, địa phương mình một cách nghiêm túc và đạt hiệu quả cao. Trong đó, cần chú ý những nội dung quan trọng về nội dung, tiến độ thực hiện; thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các văn bản trên. Đặt biệt, chú ý đến việc bố trí cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ cho phù hợp với nhiệm vụ của ngành và địa phương; phân bổ kinh phí đầy đủ, kịp thời; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cán bộ tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ do cơ quan cấp trên tổ chức; từng ngành, đơn vị, địa phương chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành liên quan để tổ chức triển khai thực hiện các luật, văn bản quan trọng này.

10/06/2013 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện  Luật Hòa giải ở cơ sởỦy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện  Luật Hòa giải ở cơ sở
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Thực hiện Quyết định số 2611/QĐ-BTP ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở; nhằm triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở đồng bộ, thống nhất và hiệu quả; ngày 25 tháng 12 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành a href="kh%20hoagiai.pdf"Kế hoạch số 6352/KH-UBND/a triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh. /span/p

Thực hiện Quyết định số 2611/QĐ-BTP ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở; nhằm triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở đồng bộ, thống nhất và hiệu quả; ngày 25 tháng 12 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 6352/KH-UBND triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.

Mục đích nhằm tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Hòa giải ở cơ sở; nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức và nhân dân về vị trí, vai trò của hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới, tạo sự chuyển biến cơ bản, bền vững, hiệu quả trong hoạt động hòa giải ở cơ sở góp phần giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.

Nội dung tổ chức triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở tập trung vào những công việc như: Tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến công tác hoà giải ở cơ sở do Hồi đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành; tham mưu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với Luật Hòa giải ở cơ sở. Phổ biến, quán triệt Luật Hòa giải ở cơ sở. Củng cố, kiện toàn cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu quản lý công tác hòa giải ở địa phương; rà soát, củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, đội ngũ hòa giải viên; tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động hòa giải theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở. Biên soạn tài liệu; tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ về công tác hòa giải ở cơ sở. Hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Kiểm tra, báo cáo đánh giá tình hình thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở; thống kê số liệu về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; tổ chức sơ kết 03 năm thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở

Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện Kế hoạch và hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và địa phương triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tỉnh; các sở, ban, ngành tỉnh có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình chủ động, tích cực phối hợp với Sở Tư pháp thực hiện hiệu quả Kế hoạch. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch này ở địa phương.

07/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trúNghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú
Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu...

Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp; thời hạn đăng ký thường trú, điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 5 của Nghị định số 31/2014/NĐ-CP thì nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống. Và chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Đối với chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân, tổ chức tại thành phố trực thuộc trung ương phải bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố.

Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này, thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn.

Và chỗ ở hợp pháp theo Nghị định số 31/2014/NĐ-CP bao gồm: Nhà ở;  tàu, thuyền, phương tiện khác nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân; nhà khác nhưng được sử dụng nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.

Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ; giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất đó); hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn...

Trong đó đáng chú ý là quy định về điều kiện công dân tạm trú được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm: Có chỗ ở hợp pháp tại thành phố trực thuộc trung ương. Có thời gian tạm trú liên tục tại thành phố trực thuộc trung ương từ một năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương; từ hai năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương; trường hợp tạm trú liên tục tại nhiều chỗ ở khác nhau thì thời gian tạm trú liên tục được tính bằng tổng thời gian tạm trú tại các chỗ ở đó. Nơi đề nghị được đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú.

Cũng theo Nghị định này, trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới và có đủ điều kiện đăng ký thường trú, người thay đổi chỗ ở hợp pháp hoặc đại diện hộ gia đình phải làm thủ tục đăng ký thường trú tại chỗ ở mới.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/06/2014 và thay thế Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú; Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú.

28/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sởVai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở
 Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các ...

Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.

Luật Hoà giải ở cơ sở đã khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc giới thiệu danh sách bầu làm hoà giải viên ở cơ sở; chủ trì tổ chức bầu hoà giải viên; đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận hoà giải viên sau khi bầu. Cụ thể tại Điều 8 của Luật Hoà giải ở cơ sở về bầu, công nhận hòa giải viên quy định người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật Hoà giải ở cơ sở có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức: Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình. Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý; trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp; trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng; Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

 

Đối với việc thôi làm hòa giải viên được quy định tại Điều 11 của Luật Hoà giải ở cơ sở: Trường hợp thôi làm hòa giải viên quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Trường hợp thôi làm hòa giải viên đối với tổ trưởng tổ hòa giải thì Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Quyết định thôi làm hòa giải viên được gửi Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

Bên cạnh đó vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở, còn thể hiện ở quy định tại Điều 12 của Luật Hoà giải ở cơ sở như đề nghị số lượng tổ hoà giải, số hòa giải viên trong một tổ hòa giải ở địa phương để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định; rà soát, kiến nghị kiện toàn tổ hoà giải.  Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì phối hợp với tổ trưởng tổ hòa giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải và kiến nghị Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã để đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã kiện toàn tổ hòa giải.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở còn thể hiện ở vai trò chủ trì bầu tổ trưởng tổ hoà giải theo quy định tại Điều 14 của Luật Hoà giải ở cơ sở. Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn bản và gửi chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định công nhận.

Ngoài ra, Điều 22 và Điều 26 của Luật Hoà giải ở cơ sở quy định: Trường hợp các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau thì tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố đó phối hợp thực hiện việc hòa giải và thông báo với Trưởng ban công tác Mặt trận tại nơi đó cùng phối hợp thực hiện. Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời thông báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.

Bên cạnh việc quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận nêu trên, Điều 30 của Luật Hoà giải ở cở sở còn quy định Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểmHội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm
Chiều ngày 22/4/2014, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phối hợp tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm. Bà Nguyễn Thị Phương Đào, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh; ông Lê Phong Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ...

Chiều ngày 22/4/2014, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phối hợp tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm. Bà Nguyễn Thị Phương Đào, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh; ông Lê Phong Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy; ông Cao Văn Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Phó Trưởng thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh đến dự và đồng chủ trì hội nghị.

Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo: Ban Dân vận Tỉnh ủy, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn phòng điều phối xây dựng nông thôn mới tỉnh, Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Tỉnh đoàn; Thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các huyện, thành phố; lãnh đạo các đoàn thể cấp huyện, các xã điểm xây dựng nông thôn mới.

Thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 02/8/2011 của Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 14/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh ngày 9/12/2011 về việc thông qua Đề án tổng thể xây dựng nông thôn mới tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 29/HĐND ngày 8/12/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh về định mức hỗ trợ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010-2020.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 1235/QĐ-UBND ngày 18/7/2013 về ban hành Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Bến Tre (thay thế Quyết định số 1624/QĐ-UBND ngày 20/7/2011); Quyết định số 1436/QĐ-UBND ngày 20/8/2013 về việc ban hành thiết kế mẫu, thiết kế điển hình các công trình giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 1651/QĐ-UBND ngày 16/9/2013 về việc ban hành hướng dẫn cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư của nhà nước để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác lập quy hoạch xã nông thôn mới, thiết kế mẫu hội trường văn hóa trên địa bàn tỉnh, lồng ghép các nguồn vốn để xây dựng nông thôn mới,…


Qua 03 năm triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới đối với 25 xã điểm đã đạt được nhiều kết quả tốt, làm chuyển biến nhận thức, ý thức của cán bộ, đảng viên và người dân về xây dựng nông thôn mới; các đồ án quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới ở tất cả các xã đã được phê duyệt; các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hoàn thiện; các lĩnh vực chính trị, văn hóa xã hội đều có sự chuyển biến khá tốt, tác động tích cực đến đời sống của cư dân nông thôn.

Kết quả đến nay có 05 xã thực hiện từ 14 đến 16 tiêu chí, như: Châu Bình (huyện Giồng Trôm) đạt 16 tiêu chí; Phú Nhuận (Thành phố Bến Tre), Hữu Định (huyện Châu Thành) đạt 15 tiêu chí; Sơn Định (huyện Chợ Lách), Định Thủy (huyện Mỏ Cày Nam) đạt 14 tiêu chí; các xã đạt từ 10 đến 13 tiêu chí, như: Quới Sơn, Phú Sơn, Nhơn Thạnh, Thành Triệu, Cẩm Sơn, An Thới, Phú Thuận, Tân Thiềng; các xã còn lại đạt từ 05 đến 09 tiêu chí, như Tân Thủy, Tân Thành Bình, Sơn Đông, Mỹ Nhơn, Tân Phú Tây, Phú Long, Đại Điền, Hưng Lễ, Long Hòa, Quới Điền.

Để phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn  mới ở các xã điểm, trong đó vai trò của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức đoàn thể các cấp cần tập trung vận động thực hiện một số tiêu chí như: phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh, mỗi người trong gia đình đều có việc làm, có phương án, mô hình phát triển, nhất là các mô hình kinh tế hợp tác.

Vận động nhân dân xây dựng, sửa chữa làm đẹp nhà ở, cổng, ngõ, hàng rào, cột cờ, trồng cây xanh, hoa kiểng.  Xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc; mỗi gia đình có nhà tắm kính đáo, hố xí hợp vệ sinh, sử dụng nước sạch, điện an toàn, ăn ở, sinh hoạt sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng.

Có ý thức bảo vệ môi trường, không vứt rác thải bừa bãi, chất thải phải thu gom, chôn lấp, có cống rãnh thoát nước, khu chăn nuôi phải cách xa nhà ở, đảm bảo vệ sinh.

Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, trẻ em trong độ tuổi được đị học; tham gia các lớp dạy nghề nông thôn. Giữ gìn truyền thống đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, đùm bọc, tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giúp nhau giảm nghèo, thực hiện tốt nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang.

Tham gia bảo vệ an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh; mỗi thành viên gia đình tham gia sinh hoạt ít nhất một tổ chức đoàn, hội ở địa phương. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; tích cực tham gia xây dựng, quản lý, giám sát các công trình phúc lợi ở địa phương.

Kế hoạch cũng đã đề ra các bước thực hiện, phân công phụ trách địa bàn cụ thể, như: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh phụ trách xã Tân Thành Bình (Mõ Cày Bắc), hỗ trợ thực hiện tiêu chí 17 về môi trường tại xã Hữu Định (Châu Thành); Hội Cựu chiến binh tỉnh phụ trách xã Châu Bình (Giồng Trôm), xã Phú Thuận (Bình Đại); Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh phụ trách xã Tân Thủy (Ba Tri) và hỗ trợ thực hiện tiêu chí 17 về môi trường tại xã Cẩm Sơn (Mõ Cày Nam); Hội Nông dân tỉnh phụ trách xã Sơn Định (Chợ Lách), xã Định Thủy (Mỏ Cày Nam); Tỉnh đoàn phụ trách xã Phú Nhuận (Thành phố Bến Tre), xã Đại Điền (Thạnh Phú); Liên đoàn Lao động tỉnh phụ trách xã Hữu Định (Châu Thành).

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012
Sáng ngày 18 tháng 4 năm 2014, Sở Tư pháp phối hợp tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 cho Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo các Phòng Tư pháp, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thành phố. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hô...

Sáng ngày 18 tháng 4 năm 2014, Sở Tư pháp phối hợp tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 cho Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo các Phòng Tư pháp, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thành phố. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo Hội Luật gia tỉnh và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh. Ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp dự và khai mạc Hội nghị.


Tại Hội nghị báo cáo viên đã giới thiệu hai chuyên đề: Nội dung cơ bản của Luật Hoà giải ở cơ sở, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hoà giải ở cơ sở; hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở và những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012.

Hội nghị tập huấn Luật Hoà giải ở cơ sở và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 nhằm triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở theo Kế hoạch số 6352/KH-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở và thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bến Tre theo Kế hoạch số 1221/KH-UBND ngày 23 tháng 3 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh.


Phát biểu khai mạc, chỉ đạo tại Hội nghị, ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị Phòng Tư pháp các huyện thành phố phối hợp với Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tham mưu Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức triển khai thi hành có hiệu quả Luật Hoà giải ở cơ sở cũng như Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hoà giải ở cơ sở tại địa phương. Các Báo cáo viên pháp luật phát huy vai trò của mình trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung, Luật Hoà giải ở cơ sở và pháp luật Phòng, chống tham nhũng nói riêng đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị và trong nhân dân.

22/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Công văn về việc chuẩn bị Bài tham luận tại Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2013Công văn về việc chuẩn bị Bài tham luận tại Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2013
!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--
pspan style="font-size: small;" /span/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"Ngày 30 tháng 7 năm 2013, Sở Tư pháp sẽ tổ chức Hội nghị sơ kết công tác Tư pháp 6 tháng đầu năm 2013, triển khai công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2013. Để Hội nghị đi vào thảo luận chuyên sâu, có chất lượng các mặt công tác tư pháp thời gian qua, nhất là hoạt động tư pháp tại các địa phương, Giám đốc Sở yêu cầu Trưởng phòng Phòng Tư pháp các huyện, thành phố chuẩn bị Bài tham luận để phục vụ tại Hội nghị sơ kết./span/p

Ngày 30 tháng 7 năm 2013, Sở Tư pháp sẽ tổ chức Hội nghị sơ kết công tác Tư pháp 6 tháng đầu năm 2013, triển khai công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2013. Để Hội nghị đi vào thảo luận chuyên sâu, có chất lượng các mặt công tác tư pháp thời gian qua, nhất là hoạt động tư pháp tại các địa phương, Giám đốc Sở yêu cầu Trưởng phòng Phòng Tư pháp các huyện, thành phố chuẩn bị Bài tham luận để phục vụ tại Hội nghị sơ kết với các yêu cầu sau:

1. Phòng Tư pháp các huyện, thành phố: tham gia ý kiến phát biểu trong Hội nghị. Nội dung phát biểu phải trình bày một cách khái quát về những thuận lợi, khó khăn trong công tác tư pháp thời gian qua và đưa ra giải pháp, phương hướng để thực hiện trong thời gian tới.

2. Ngoài các ý kiến chung nêu trên, yêu cầu các Phòng Tư pháp sau nhấn mạnh một số nội dung sau:

- Phòng Tư pháp Mỏ Cày Nam: Đánh giá hiệu quả hoạt động Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật cấp xã và thực tiễn, giải pháp cho hoạt động hòa giải cơ sở của huyện;

- Phòng Tư pháp Bình Đại: Trình bày về hoạt động chứng thực tại cấp huyện và cấp xã thời gian qua, định hướng sắp tới cho công tác này;

- Phòng Tư pháp Giồng Trôm: Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, nhất là việc thực hiện ”Kế hoạch số 3941/KH-UBND ngày 28/8/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về đăng ký nuôi con nuôi thực tế trên địa bàn tỉnh” trên địa bàn huyện trong thời gian qua;

- Phòng Tư pháp Châu Thành: Trình bày thực tiễn công tác thẩm định, kiểm tra văn bản và công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn thời gian qua;

Lưu ý: Mỗi Bài tham luận trình bày không quá 10 phút.

Yêu cầu các đồng chí chuẩn bị tốt theo nội dung trên, để Hội nghị thành công tốt đẹp.

Nội dung công văn

26/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Cẩn trọng khi cho con sử dụng điện thoạiCẩn trọng khi cho con sử dụng điện thoại
  Thời gian trước đây, điện thoại di động không phải ai cũng có tiền mua sử dụng, nhưng hiện nay thị trường điện thoại di động rất phong phú với vô vàng chủng loại, có giá từ vài trăm đến vài triệu đồng, ai cũng có thể dễ dàng lựa chọn cho mình một chiếc điện thoại.

Thời gian trước đây, điện thoại di động không phải ai cũng có tiền mua sử dụng, nhưng hiện nay thị trường điện thoại di động rất phong phú với vô vàng chủng loại, có giá từ vài trăm đến vài triệu đồng, ai cũng có thể dễ dàng lựa chọn cho mình một chiếc điện thoại.

Để thuận tiện trong việc liên lạc, các em học sinh từ cấp 2 đã được cha mẹ trang bị cho con mình một chiếc điện thoại di động. Lợi ích của việc sử dụng điện thoại di động ai cũng có thể thấy rõ chỉ cần một cuộc gọi là có thể đón con mỗi giờ tan học, hỏi thăm khi con đi học xa… Tuy nhiên, tác hại thì không phải không có nếu việc sử dụng điện thoại vào mục đích không lành mạnh, cha mẹ không thể nào kiểm soát được khi lúc nào bên cạnh con cũng là chiếc điện thoại. Các em có thể dùng để trò chuyện nhắn tin với nhau, có thể kết nối internet từ điện thoại để xem phim, truyện không lành mạnh thì làm sao cha mẹ biết để mà ngăn cấm. Nguy hiểm hơn nữa, chính từ chiếc điện thoại mà có em học sinh đã vi phạm pháp luật chỉ đến khi cơ quan có thẩm quyền thông báo thì cha mẹ của em mới biết. Chẳng hạn trường hợp của em Tuấn được cha mẹ tặng cho chiếc điện thoại xịn khi em thi đậu vào lớp 10. Tuấn đi học được các bạn trong nhóm chỉ cách kết nối mạng bằng điện thoại để tìm tài liệu, đọc báo cũng như kết bạn. Vào một ngày nghỉ cuối tuần, Tuấn đi chơi cùng nhóm anh chị học lớp 12, cả nhóm đã có uống một ít rượu, sau đó có hai anh chị chắc vì men rượu nên có những cử chỉ thân mật nhau trước những người trong nhóm. Thấy vậy, mấy người bạn nói Tuấn lấy điện thoại ra quay phim coi chơi.

Thế là, tuần sau, đoạn phim trong máy điện thoại của Tuấn được các bạn trong nhóm thay phiên nhau chuyền cho người khác xem. Hai nhân vật chính trong đoạn phim bắt đầu nghe bạn bè xì xầm sau lưng mình, rồi họ cũng phát hiện ra, cả hai người vì xấu hổ đã mất ăn, mất ngủ, học hành sa sút và đã không dám đến trường. Sự việc mới xảy ra nên Ban giám hiệu nhà trường đã kịp thời ngăn chặn. Cha mẹ Tuấn và cha mẹ của các bạn trong nhóm Tuấn cũng được nhà trường mời lên. Tại đây, Giáo viên đã phân tích cho cha mẹ các em và các em thấy tác hại khi sử dụng điện thoại không đúng mục đích nhất là việc quay hình của người khác và phát tán hình ảnh đó đi sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, cuộc sống của họ. Ngoài ra hành động đó còn vi phạm pháp luật bởi pháp luật nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Qua đó, cha mẹ của các em cũng thấy được không nên quá nuông chiều con, nên cho con sử dụng điện thoại thông thường chỉ cần nghe và gọi là đủ, đồng thời giải thích cho con hiểu rõ sử dụng thế nào cho đúng.

26/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài Quy định mới về thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài

Hiện nay, nhiều chính sách liên quan đến việc đăng ký kết hôn với người nước ngoài có sự thay đổi, như: Luật Hộ tịch 2014Luật Hôn nhân gia đình 2014, Nghị định 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư 15/2015/TT-BTP của Bộ Tư pháp; nhằm tạo thuận lợi cho người nước ngoài làm ăn, sinh sống, kết hôn và học tập…tại Việt Nam, quy định việc đăng ký kết hôn với người nước ngoài không còn phải thực hiện ở Sở Tư pháp, mà thực hiện ở Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện.

 Thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài theo quy định mới được thực hiện như sau: Công dân Việt Nam với người nước ngoài; Công dân Việt Nam cư trú trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.

Các bước xem xét, giải quyết việc đăng ký kết hôn với người nước ngoài

Bước 1: Về điều kiện kết hôn

1. Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.

2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định.

3. Không bị mất năng lực hành vi dân sự.

4. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn sau:

- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo.

- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn.

- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ, bao gồm:

1. 01 Tờ khai đăng ký kết hôn. (theo mẫu đính kèm).

2. Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người Việt Nam và người nước ngoài.

Lưu ý: Đối với giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài:

Thông thường giấy này do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp, và giấy này phải còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc chồng.

Nếu không cấp giấy xác nhận này thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật nước đó.

Nếu giấy chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này chỉ có giá trị 06 tháng kể từ ngày cấp.

Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam và của nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình.

Nếu giấy xác nhận của cơ sở y tế này không có ghi thời hạn thì chỉ có giá trị 06 tháng kể từ ngày cấp.

3. Bản sao Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân của người Việt Nam.

4. Bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu.

Trường hợp người nước ngoài không có hộ chiếu để xuất trình theo yêu cầu thì có thể xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú.

Nếu bên kết hôn là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì còn phải nộp bảo sao trích lục hộ tịch về việc đã ghi vào sổ việc ly hôn hoặc hủy kết hôn.

Còn nếu là công chức, viên chức hoặc những người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang thì phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc kết hôn với người nước ngoài không trái với quy định của ngành đó.

Bước 3: Nộp hồ sơ đăng ký kết hôn với người nước ngoài

Địa điểm: tại Phòng Tư Pháp thuộc UBND cấp huyện.

Bước 4: Giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn

Thời hạn: 10 ngày làm việc sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp sẽ nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ và xác minh nếu thấy cần thiết.

Bước 5: Chủ tịch UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn

Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện ký 02 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

Bước 6: Trao Giấy chứng nhận kết hôn

Thời hạn: 03 ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn, Phòng Tư pháp trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Việc trao giấy này phải có mặt cả 2 bên nam, nữ. Công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý kiến 2 bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng 2 bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch.

Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn.

Giấy chứng nhận kết hôn có giá trị kể từ ngày được ghi vào sổ và trao cho các bên.

Một số lưu ý:

1. Nếu 01 trong 02 bên không thể có mặt cùng lúc để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì có thể đề nghị Phòng Tư pháp gia hạn thời gian, nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn.

Nếu hết 60 ngày mà không đến nhận thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký. Sau đó, nếu 2 bên nam, nữ muốn đăng ký kết hôn thì phải tiến hành thủ tục như ban đầu.

2. Nếu UBND cấp huyện từ chối đăng ký kết hôn thì Phòng Tư pháp thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho 2 bên nam, nữ.

24/03/2016 2:00 CHĐã ban hành
Từ rượu mà raTừ rượu mà ra
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
pspan style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;" /span/span/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} --span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;" /span/span!--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Luật Giao thông đường bộ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, Luật này quy định cấm hoàn toàn việc sử dụng rượu bia đối với lái xe ôtô khi tham gia giao thông và hạn chế đến mức rất thấp nồng độ cồn trong máu đối với người lái xe gắn máy. Đồng thời, Nghị định 71/2012/NĐ-CP ngày 19 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cũng quy định rõ mức xử phạt tăng nặng đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông có nồng độ cồn, cụ thể là phạt tiền từ 8 – 10 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; phạt tiền từ 10 – 15 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. /span/span/p

 

Luật Giao thông đường bộ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, Luật này quy định cấm hoàn toàn việc sử dụng rượu bia đối với lái xe ôtô khi tham gia giao thông và hạn chế đến mức rất thấp nồng độ cồn trong máu đối với người lái xe gắn máy. Đồng thời, Nghị định 71/2012/NĐ-CP ngày 19 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cũng quy định rõ mức xử phạt tăng nặng đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông có nồng độ cồn, cụ thể là phạt tiền từ 8 – 10 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; phạt tiền từ 10 – 15 triệu đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

Thực tế cho thấy trong thời gian qua người tham gia giao thông đường bộ vi phạm vẫn tồn tại và phổ biến. Tai nạn giao thông do nguyên nhân sử dụng rượu bia vẫn gia tăng. Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã xét xử vụ tại nạn giao thông xảy ra tại đường huyện 12 (xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri) hết sức thương tâm. Do không tuân thủ đúng các quy định của Luật Giao thông đường bộ, Mai Văn H đã điều khiển xe môtô trong trình trạng có sử dụng rượu và trong máu có nồng độ cồn 219mg/100ml và chạy lấn trái đường (vi phạm khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ), nên gây tai nạn làm ông Lâm Văn N tử vong do chấn thương sọ não. Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử Mai Văn H 02 năm tù giam và buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra cho gia đình bị hại với số tiền hơn 74 triệu đồng.

Để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản của mọi người, Nhà nước đã ban hành nhiều quy định pháp luật, bắt buộc mọi người khi tham gia giao thông đường bộ phải nghiêm chỉnh chấp hành. Nếu ai vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị xử lý thích đáng. Việc làm của bị cáo đã bị xử lý nghiêm nhưng nổi đau mà bị cáo đã gây ra cho người bị hại và người thân họ một sự mất mát to lớn, mất đi một người thân vĩnh viễn, không gì bù đắp được.

Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do sự thiếu ý thức của người tham gia giao thông. Thiết nghĩ, ngoài giáo dục quản lý và xử lý nghiêm khắc đối với các trường hợp vi phạm cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức của cộng đồng về tác hại của rượu, bia đối với sức khỏe. Điều này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cá nhân, gia đình, địa phương và các cơ quan chức năng. Nhưng trên hết, ý thức người tham gia giao thông là yếu tố quan trọng hàng đầu. Mỗi người tham gia giao thông phải nhận thức rõ được hậu quả của việc sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông, kiên quyết không uống rượu, bia nếu phải điều khiển phương tiện giao thông để bảo vệ chính mình và mọi người.


17/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Giấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹGiấy chứng minh nhân dân mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --span style="font-size: small;"Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND. /span/p

Ngày 17/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 106/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về chứng minh nhân dân (CMND). Theo Nghị định này, CMND mới bỏ phần ghi tên cha, mẹ trên giấy CMND.
Nghị định 106/2013/NĐ-CP quy định rút ngắn thời gian cấp mới, đổi, cấp lại CMND; cơ quan công an phải làm xong giấy CMND trong thời gian sớm nhất; kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định. Tại thị xã, thành phố, việc cấp mới không kéo dài quá 7 ngày làm việc, cấp lại là 15 ngày. Đối với các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo, thời gian giải quyết việc cấp CMND không quá 20 ngày làm việc; các khu vực còn lại không quá 15 ngày làm việc đối với tất cả các trường hợp.Hiện nay, thời gian cấp CMND tối đa không quá 15 ngày (ở thành phố, thị xã) và 30 ngày (ở địa bàn khác). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 02/11/2013. CMND được cấp trước đó vẫn có giá trị cho đến khi hết hạn sử dụng.

mặt trước giấy CMND


mặt sau giấy CMND

Mới đây, Bộ Công an vừa ban hành Thông tư số 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu CMND. Theo đó, mặt trước của CMND: Bên trái từ trên xuống là hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ảnh của người được cấp cỡ 20x30mm và có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống là cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; chữ "CHỨNG MINH NHÂN DÂN"; số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Ở mặt sau của CMND, trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: Vân tay ngón trỏ trái; vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống là đặc điểm nhận dạng; ngày tháng năm cấp CMND; chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

CMND sẽ được sản xuất bằng chất liệu nhựa, ngoài cùng của hai mặt có phủ lớp màng nhựa mỏng trong suốt. Thông tư cũng quy định, mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Số CMND gồm 12 số tự nhiên, do Bộ Công an cấp và quản lý thống nhất trên toàn quốc. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số ghi trên CMND được đổi, cấp lại vẫn giữ đúng theo số đã cấp lần đầu.

Thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/12/2013.

06/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 10/12/2013Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 10/12/2013

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 387

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và nhà của ông Võ Văn Châu, hiện cư ngụ tại: 314D, khu phố 3, phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

a) Về đất:

- Diện tích đề nghị bán đấu giá: 266,8 m2 (trong đó 100 m2 đất ODT và 166,8 m2 đất trồng cây lâu năm).

- Thuộc tờ bản đồ số 17, thửa số 09;

b) Công trình xây dựng trên đất:

* Nhà ở:

- Cấu trúc: Không rõ năm xây dựng, diện tích sử dụng 157 m2, dạng nhà cấp 4, móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 10cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, trần thạch cao, đòn tay gỗ, mái tole sóng vuông.

- Kết cấu: móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic (40x40)cm, tường bao xây gạch dày 10cm, tường ngăn xây gạch dày 10cm, tường phía trước ốp gạch men, phía trong ốp gạch cao 01m + sơn nước. Trần nhựa, đòn tay gỗ, mái tole sóng vuông. Cửa đi: khung sắt + kính, 04 cánh (01 bộ); cửa sổ khung sắt + kính.

- Phòng vệ sinh + phòng tắm: nền lát gạch ceramic nhám (30x30) cm, tường ốp gạch men. Trang thiết bị vệ sinh: bồn cầu, vòi nước..., cửa đi bằng nhựa 01 cánh.

* Hiện trạng: nhà đang ở bình thường;

* Tường rào:

- Kích thước: dài 36,7 m;

- Kết cấu: móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, cột trụ (20x20) cm, khoảng cột 2,5 m, tường xây gạch dày 10 cm, cao 1,5 m, tường không tô.

- Tài sản (a+b) tọa lạc tại: phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà của ông Võ Văn Châu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

*Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 752.449.000đ (bảy trăm năm mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi chín ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ / 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/ 01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 11/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 17/01/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 384

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng các thửa đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

 

STT

Số thửa

Số tờ

Loại đất

ĐNCQSDĐ

Diện tích sử dụng (m2)

Diện tích lộ giới (m2)

Diện tích tính giá (m2)

Giá khởi điểm

01

1909

02

ONT

289,9

89,9

200

500.000.000đ

02

1910

02

ONT

290,3

90,1

200,2

500.500.000đ

03

1911

02

ONT

290

90

200

500.000.000đ

04

1912

02

ONT

290

90

200

500.000.000đ

05

1913

02

ONT

290,3

90,2

200,1

500.250.000đ

06

Lô số 7 (một phần332)

02

ONT

81,0

0

81,0

137.000.000đ

07

Lô số 8 (một phần332)

02

ONT

81,0

0

81,0

137.000.000đ

Tổng cộng

1.612,5

450,2

1.162,3

2.774.750.000đ

 

* Tài sản tọa lạc tại: xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 2.774.750.000đ (hai tỷ bảy trăm bảy mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản (1+3+4+6+7): 200.000đ/01 hồ sơ;

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản (2+5): 500.000đ/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước tài sản (1+2+3+4+5): 50.000.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản (6+7): 13.000.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 17/01/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 386

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản thanh lý 01 xe Ôtô con 07 chỗ ngồi, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: ZACE GL KF80L-HRMNEU, màu sơn: xanh; số máy: 7K-0662911, số khung: KF3-6907613, biển số: 71B-0553. Năm sản xuất 2003 tại Việt Nam. Hiện xe đang hoạt động bình thường.

- Tài sản tọa lạc tại: Hội Thủy sản tỉnh Bến Tre - phường 3, thành phố Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Hội nghề cá tỉnh Bến Tre (nay là Hội Thủy sản tỉnh Bến Tre) không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 330.000.000đ (ba trăm ba mươi triệu đồng).

* Giá trên đã bao gồm thuế GTGT (phần thuế GTGT do Hội Thủy sản tỉnh Bến Tre chịu).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 20/12/2013 (thứ sáu); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Tiền đặt trước: 30.000.000đ/hồ sơ


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 391

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của hộ ông Hà Văn Nhiên ( là người có tài sản đảm bảo thế chấp cho bà Hà Thị Út Chính), địa chỉ: ấp Bình Lộc, xã Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm như sau:.

1. Về đất:

a. Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 154

- Diện tích: 300 m2

- Loại đất: đất thổ cư.

- Giá khởi điểm: 23.914.830 đ (Hai mươi ba triệu chin trăm mười bốn ngàn tám trăm ba mươi đồng).

b.Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 657

- Diện tích: 1.108 m2

- Loại đất: đất trồng cây lâu năm.

- Giá khởi điểm: 18.842.758 đ (mười tám triệu tám trăm bốn mươi hai ngàn bảy trăm năm mươi tám đồng).

c. Về đất thuộc tờ bản đồ số 3, thửa đất số 905

- Diện tích: 7.669 m2

- Loại đất: đất trồng lúa.

- Giá khởi điểm: 81.512.267 đ (Tám mươi mốt triệu năm trăm mười hai ngàn hai trăm sáu mươi bảy đồng).

d. Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 87

- Diện tích: 1.450 m2

- Loại đất: đất trồng lúa.

- Giá khởi điểm: 15.411.760 đ (mười lăm triệu bốn trăm mười một ngàn bảy trăm sáu mươi đồng).

e. Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 155

- Diện tích: 3.230 m2

- Loại đất: đất trồng lúa.

- Giá khởi điểm: 34.331.024 đ (Ba mươi bốn triệu ba trăm ba mươi mốt ngàn không trăm hai mươi bốn đồng).

g. Về đất thuộc tờ bản đồ số 4, thửa đất số 1523

- Diện tích: 4.230 m2

- Loại đất: đất trồng lúa.

- Giá khởi điểm: 44.959.824 đ (Bốn mươi bốn triệu chin trăm năm mươi chin ngàn tám trăm hai mươi bốn đồng).

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất N 025311, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 550617-001390 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại cấp ngày 03/11/1999.

2. Về nhà (nằm trên thửa đất số 154, bản đồ số 4).

- Diện tích: 166,25 m2

- Két cấu: Khung cột bêtông cốt thép, tường xây gạch ống, mái lợp tole, nền lát gạch ceramic +láng ximăng.

- Giá khởi điểm nhà: 64.304.361 đ (sáu mươi bốn triệu ba trăm lẻ bốn ngàn ba trăm sáu mươi mốt đồng).

- Tài sản tọa lạc tại: xã Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất của hộ ông Hà Văn Nhiên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp cho bà Hà Thị Út Chính), do Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

* Tài sản bán theo nhu cầu người sử dụng

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 283.276.824 đ (Hai trăm tám mươi ba triệu hai trăm bảy mươi sáu ngàn tám trăm hai mươi bốn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 17/01/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  150.000đ/hồ sơ (tài sản 1a+2), (tài sản 1c) , 100.000 đ/hs(tài sản g), (tài sản e), 50.000 đ/hs (tài sản 1d), (tài sản 1b)

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ (tài sản 1a+2), (tài sản c), 2.000.000 đ/hs (tài sản b), (tài sản d) (tài sản e), 3.000.000 đ/hs (tài sản g)


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 389

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà cấp 4) của ông Huỳnh Thanh Hoàng và bà Trương Thị Hương, địa chỉ: đường 30/4 phường 4, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tài sản có đặc điểm sau:

1) Về đất

- Diện tích đất: 40,6 m2 đất thổ cư, thuộc tờ bản đồ số 06, thửa đất 46;

* Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 709221 do UBND huyện thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 21/4/2003;

* Tài sản bán theo diện tích đo đạc thực tế (Theo hồ sơ kỷ thuật đo đạc thực tế thì diện tích là 40,4 m2)

2) Tài sản gắn liền trên đất:

- Nhà ở cấp 4 (nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà)

- Tài sản tọa lạc: phường 4, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà cấp 4) của ông Huỳnh Thanh Hoàng và bà Trương Thị Hương do Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long – Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 126.840.000 đ (Một trăm hai mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 17/01/2014;

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 10.000.000đ/01 hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 388

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của ông Nhan Hữu Thắng và bà Phạm Ngọc Thùy, địa chỉ: khu phố 1, phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có đặc điểm sau:

1. Về đất và tài sản trên đất thuộc tờ bản đồ 38, thửa đất số 77

a) Về đất:

- Diện tích: 3.770 m2;

- Loại đất: 300 m2 đất thổ cư và 3.470 m2 đất trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AP 722635 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm cấp ngày 20/7/2009.

- Giá khởi điểm: 902.180.000 đ (Chín trăm lẻ hai triệu một trăm tám mươi ngàn đồng).

b) Tài sản gắn liền trên đất:

- Nhà cấp 4: Diện tích xây dựng 160 m2. Kết cấu: nền, móng, đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic, tường bao và tường ngăn xây gạch dày 10cm, tường sơn nước, đòn tay gỗ, trần nhựa, mái tole sóng vuông...

* Theo đơn xin xác nhận chủ quyền nhà ở được UBND  xã Bình Hòa, huyện Giồng Trôm chứng ngày 30/7/2009.

- Giá khởi điểm: 288.000.000 đ (Hai trăm tám mươi tám triệu đồng)

- Tài sản (1) tọa lạc tại: xã Bình Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

2. Về đất thuộc tờ bản đồ 15, thửa đất số 11

- Diện tích: 1003,3 m2;

- Loại đất: 100 m2 đất thổ cư và 903,3 m2 đất vườn;

* Tài sản bán theo Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 738445 do UBND phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Giá khởi điểm (2): 633.980.000đ (sáu trăm ba mươi ba triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng);

- Tài sản (2) tọa lạc tại: phường 8, thành phố Bến Tre, tỉnh  Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà trên đất của ông Nhan Hữu Thắng và bà Phạm Ngọc Thùy do Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn - Chi nhánh thành phố Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.824.160.000 đ (Một tỷ tám trăm hai mươi bốn triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng).

* Tài sản bán theo nhu cầu người sử dụng

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 11/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 17/01/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  500.000đ/hồ sơ (Tài sản 1), (Tài sản 2)

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/hồ sơ (Tài sản 1), 60.000.000 đ/hồ sơ (Tài sản 2)

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667, fax số : 075-3512080 để biết thêm chi tiết.

 

11/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 29/11/2013Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 29/11/2013

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 380

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Đoàn Thị Kim Anh và ông Phùng Minh Hoàng; hiện cư ngụ tại: 170A Đoàn Hoàng Minh, phường 5, thành phố Bến Tre, Bến Tre;

1) Về đất:

- Diện tích: 6.695,7 m2; thuộc các thửa đất số 174, 175, 1107; tờ bản đồ số 3 (theo hồ sơ địa chính cũ). Hồ sơ địa chính mới thuộc thửa 118a; tờ bản đồ số 05.

- Loại đất: ONT+CLN.

2) Cây trồng trên đất (chủ yếu chôm chôm, bòn bon).

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: ấp Chánh, xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của bà Đoàn Thị Kim Anh và ông Phùng Minh Hoàng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 4.283.798.996đ (bốn tỷ hai trăm tám mươi ba triệu bảy trăm chín mươi tám ngàn chín trăm chín mươi sáu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 07/01/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 220.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 381

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản thanh lý xe Ôtô 04 chỗ ngồi, nhãn hiệu: TOYOTA CROWN, màu sơn: xanh; số máy: 4Y0408890, số khung: YS132-1002102, biển số: 71B-0305. Năm sản xuất 1994 tại Nhật bản, tỷ lệ còn lại 30%. Hiện trạng tài sản hỏng sử dụng không an toàn.

- Tài sản tọa lạc tại: Kho bạc Nhà nước Bến Tre - phường 3, thành phố Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Kho bạc Nhà nước Bến Tre không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 157.000.000đ (một trăm năm mươi bảy triệu đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 09/12/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 12/12/2013 (thứ năm); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ

* Tiền đặt trước: 15.000.000đ/hồ sơ


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 379

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Tèo và bà Dương Thị Tho, hiện cư trú tại: số 146/6 ấp 6, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

- Diện tích: 600 m2 đất ONT và 20.851,9 m2 đất lúa (hiện nay đào ao nuôi trồng thủy sản);

- Thuộc tờ bản đồ số 31, một phần thửa số 45 (số cũ là thửa 102, 103, 104 và 105 tờ bản đồ số 3).

- Tài sản tọa lạc tại: ấp 6, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn Tèo và bà Dương Thị Tho, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 344.433.540đ (ba trăm bốn mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi ba ngàn năm trăm bốn mươi đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 07/01/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 378

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út; hiện cư ngụ tại: ấp Bình Hòa, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

a) Thửa số 42, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  227,8 m2  (diện tích lộ giới 56,3m2);

- Loại đất: ODT;

b) Thửa số 44, tờ bản đồ số 6;

- Diện tích:  202 m2;

- Loại đất: TSL (nuôi trồng thủy sản);

2) Công trình xây dựng trên đất (nhà ở diện tích 337,541 m2).

- Tầng trệt: phòng massage, khu phòng massage, phòng xông hơi 1, phòng xông hơi 2, hồ thủy lực, khu vệ sinh.

- Tầng lầu: phòng karaoke, khu vệ sinh.

- Phần tài sản phụ: cổng rào, hàng rào, mái che, gác gỗ.

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất (nhà) của ông Trương Văn Linh và bà Lê Thị Út, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 2.049.944.165đ (hai tỷ không trăm bốn mươi chín triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn một trăm sáu mươi lăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 02/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 02/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 07/01/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 150.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667, fax số : 075-3512080 để biết thêm chi tiết.

04/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quạ kêuQuạ kêu
Người xưa thường có quan niệm cú mèo và quạ là hai con vật mang lại xui xẻo cho những ai nghe thấy, nhìn thấy hoặc khi chúng vô nhà, bởi tiếng kêu của chúng mang lại điều không may mắn. Và tiếng kêu của con quạ quả thật đã đem lại điều không may mắn cho hai gia đình vốn rất thân thiết khiến cho một phải nằm viện còn người kia phải đi tù.

Người xưa thường có quan niệm cú mèo và quạ là hai con vật mang lại xui xẻo cho những ai nghe thấy, nhìn thấy hoặc khi chúng vô nhà, bởi tiếng kêu của chúng mang lại điều không may mắn. Và tiếng kêu của con quạ quả thật đã đem lại điều không may mắn cho hai gia đình vốn rất thân thiết khiến cho một phải nằm viện còn người kia phải đi tù.

Số là, ông An và ông Biên là hàng xóm sát ranh nhau từ mười mấy năm nay, quan hệ rất thân thiết dù tư tưởng hai ông có phần khác nhau, như ông An hướng nội, mang đậm chất cổ truyền có chút gì đó mê tín còn ông Biên lại là người hướng ngoại, hiện đại và mang phong cách phương tây rõ ràng. Những điều ấy ai cũng biết, không vì thế mà hai ông xa lánh, trái lại rất thân thiết. Một tối nọ, ông An nằm võng ngoài hiên nhà thì nghe thấy tiếng quạ kêu. Ông thấy bất an trong lòng nên vào nhà thấp nén nhang cho tổ tiên để yên dạ. Trùng hợp hay sao mà hôm sau ông An đi vườn té bong gân, vết thương ở chân không nặng nhưng nổi lo trong lòng đã gợn sóng to. Sau mấy ngày vất vả với cái chân đau, ông An làm gà cúng đất đai mời ông Biên qua chén tạc chén thù. Liên tiếp hai ba ngày sau khi cúng, ông An luôn nghe tiếng quạ kêu vào ban đêm, thế là sáng ra ông tất bật cúng kiến, rầu rỉ cả ngày, ông than với ông Biên mong một lời chia sẽ. Mà ông Biên với tư tưởng thoáng hơn đâu có tin mấy chuyện mê tín này nên khuyên ông An đừng lo lắng và đừng có cúng kiến chi mà cứ bình tâm thì mọi chuyện sẽ qua. Vậy mà đã một tháng hơn ông An không nói tới ông Biên mà còn lời lẽ bóng gió bảo ông Biên đừng nhiều chuyện và quan hệ tốt đẹp mười mấy năm trời của hai ông bạn già đã thật sự trở nên tồi tệ và câu chuyện hai người đến cực điểm khi ông An mời thầy cúng về tụng suốt 3 ngày đêm để giải hạn. Ông Biên không bực mình vì thầy tụng mà bực mình về cái mê tín của ông An nên ông qua khuyên lần cuối còn ông An không nghe thì thôi. Thầy đang cúng ông Biên kêu ông An ra khuyên bảo thì ông An gạt phắt, gân cổ đuổi ông Biên về để thầy tụng tiếp, lời qua tiếng lại ông An bực tức lấy dao để ngoài hiên nhà chém ông Biên một phát vào lưng mang thương tích 28%.

Thế là tiếng quạ kêu đã mang lại xui xẻo cho cả hai ông bạn già. Một ông nằm viện chưa thể đi lại được, một ông chuẩn bị ra toà vì tội cố ý gây thương tích. Ông Biên nói trên giường bệnh: thiệt là tức, tức không phải vì ổng ghét mà chém tui mà vì quá mê tín đến nỗi giờ thân mang tội, tôi không truy cứu gì hết nhưng hành vi ổng là trái pháp luật nên sẽ bị pháp luật trừng trị, hy vọng nhận được sự khoan hồng của pháp luật, sau việc này mong ổng bớt tin vào những điều mê tín.

Thật là đáng tiếc cho hai người bạn, ông An không biết sẽ hối hận như thế nào khi cầm bản án trên tay, còn ông Biên mặc dù tha thứ, không yêu cầu bồi thường còn viết đơn xin toà giảm nhẹ hình phạt cho ông An nhưng cũng thở dài vì có cảm giác mất mát về tình bạn thân thiết của hai ông.

10/07/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 16/7/2013Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 16/7/2013

THÔNG BÁO Số 572

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà) của hộ bà Võ Thị Huỳnh Mai, địa chỉ tại: 72 Nguyễn Huệ, phường 1, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

1. Về Quyền sử dụng đất:

- Diện tích: 302,1 m2 (trong đó nằm trong lộ giới là 17,9m2); loại đất: ở đô thị; thuộc tờ bản đồ 11, thửa 89, 368, 375.

2. Công trình xây dựng trên đất:

a. Nhà ở chính: Xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2004

- Diện tích xây dựng 71,5 m2;

- Diện tích sử dụng: 150,2 m2

- Loại nhà: cấp 4  gồm 01 trệt, 01 lầu.

- Kết cấu chung:

+ Tầng trệt: Móng, khung cột bêtông cốt thép, nền láng xi măng, tường bao xây gạch dày 10cm, trần bêtông. Cầu thang lên xuống bêtông cốt thép, lát gạch ceramic (30x30)cm, tay vịnh bằng thép khung. Nhà vệ sinh được ốp gạch men (25x25) cm, cao 1,6m.

+ Tầng lầu: Gồm 01 phòng khách và 03 phòng ngủ: sàn lát gạch ceramic (30x30)cm, khung cột bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 10cm, cửa ra vào là cửa nhôm + kính, cửa sổ, trần thạch cao, mái lợp tole kẽm.

b. Nhà phụ (nhà kho): Xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2004

- Diện tích xây dựng và sử dụng: 158,9m2.

- Loại nhà: cấp 4, dạng nhà tiền chế

- Kết cấu chung:  Móng bêtông cốt thép, nền láng ximăng, khung cột tiền chế, tường bao xây gạch cao 2m dày 10cm và vách trên ốp tole kẽm, mái lợp tole kẽm.

c. Mái che: Xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2004

- Diện tích xây dựng và sử dụng: 64,39m2.

- Loại nhà: cấp 4, dạng nhà tiền chế

- Kết cấu chung:  Móng bêtông cốt thép, nền láng ximăng, khung cột tiền chế, tường bao xây gạch cao 1m, dày 10cm và vách trên ốp tole kẽm, mái lợp tole kẽm, cửa ra vào chính là cửa sắt cuốn.

- Tài sản(1+2) tọa lạc: 72 C Nguyễn Huệ, phường 1, thành phố Bến Tre, Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà) của hộ bà Võ Thị Huỳnh Mai, bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 5.535.000.000 đ (năm tỷ năm trăm ba mươi lăm triệu đồng chẳn)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/7/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/8/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 23/8/2013 tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  500.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trước: 250.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO Số 573

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của hộ bà Trương Thị Trúc Mai và nhà trên đất của ông Phan Hoài Thân và bà Trương Thị Trúc Mai (Công ty TNHH Thân Bến Thành), địa chỉ tại: 576/1 ấp 1, Quốc lộ 60, ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

1) Về đất thuộc  tờ bản đồ số 11, thửa đất 78

a. Về đất:

- Diện tích: 382,9 m2 ;

- Loại đất: 200m2 đất ONT và 182,9m2 đất lúa; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 953649, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận HSĐ/03654 do UBND thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) ký ngày 05/3/2008.

b. Về cây trồng trên đất:  có 11 (mười một) cây dừa khoản 5.5 tuổi

- Giá khởi điểm của tài sản (1): 200.000.000 đ (Hai trăm triệu đồng)

2) Về đất và nhà trên đất thuộc tờ bản đồ số 11, thửa đất 196;

a. Về đất:

- Diện tích: 335,2 m2;

- Loại đất: 300 m2 đất ở nông thôn và 35,2 m2 đất cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  số T 845222, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00864 QSDĐ/2303 QĐ-UB do UBND thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) ký ngày 26/12/2001

b.Về nhà (nhà nằm trên đất)

b1. Nhà chính: cấp 4, số tầng: 02 tầng + gác gổ, diện tích xây dựng 173,6 m2 và 34,4m2 gác gỗ, kết cấu: nền gạch ceramic, khung cột bêtông cốt thép, vách gạch, mái ngói, xây dựng năm 2004; theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 838292878300005, hồ sơ gốc số 436/QĐ-UBND-GCN do UBND thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 03/10/2008.

b2. Nhà phụ: xây dựng không có phép trong phạm vi lộ giới, diện tích 192,78m2, gạch ceramic, khung cột bêtông cốt thép, vách gạch, mái tole, nhà 01 tầng, xây dựng năm 2004.

- Giá khởi điểm của (2): 4.000.000.000 đ (Bốn tỷ đồng)

- Tài sản (1+2) tọa lạc tại: xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của hộ bà Trương Thị Trúc Mai và nhà trên đất của ông Phan Hoài Thân và bà Trương Thị Trúc Mai (Công ty TNHH Thân Bến Thành), bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 4.200.000.000 đ (Bốn tỷ hai trăm triệu đồng chẳn).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 17/7/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/8/2013.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 23/8/2013 tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  500.000đ/hồ sơ ;

* Khoản tiền đặt trước: 200.000.000đ/hồ sơ;

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (trong khuôn viên Sở Tư pháp) hoặc điện thoại : 075.3823667 – 0753512081- 0753512083, Fax: 0753512080, website: sotuphap.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

 

02/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2014 đạt nhiều kết quả khá tốtPhong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2014 đạt nhiều kết quả khá tốt
Năm 2014, thực hiện phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc đạt nhiều kết quả khá tốt, công tác phòng, chống các loại tội phạm có nhiều chuyển biến tích cực. Các ngành, địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chống ma túy, mại dâm,  mua bán người. Các ngành chức năng mở nhiều đợt cao điểm tấn công, trấn áp và truy quét các băng nhóm tội phạm có tính chuyên nghiệp. Các cơ quan tố tụng đã phối hợp chặt chẽ và đạt chất lượng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử . Các mô hình quần chúng tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc được nhân rộng; hiệu lực, hiệu quả quản lý về an ninh, trật tự được nâng lên, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội năm 2014 được giữ vững, ổn định.

Tuy nhiên, việc xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc cũng còn khó khăn, hạn chế; công tác nắm tình hình, tham mưu, đề xuất, chỉ đạo giải quyết một số vụ, việc chưa kịp thời. Công tác phòng ngừa tội phạm có mặt còn hạn chế, phạm pháp hình sự vẫn còn tăng. Băng, nhóm tội phạm chuyên nghiệp, nguy hiểm chưa được triệt phá; tội phạm buôn lậu, ma túy tuy không lớn, chưa nhiều nhưng còn tiềm ẩn diễn biến phức tạp; tai nạn giao thông tăng cả 3 mặt (437/359 vụ, 206/144 người chết, 436/392 người bị thương); tình hình người nghiện ma túy tiếp tục tăng cao (toàn tỉnh có 1047 người, tăng 43,03%).

Để tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong năm 2015, các cấp ủy đảng, chính quyền, phối hợp Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, lực lượng chức năng, các ngành, địa phương cần nâng cao nhận thức, xác định trách nhiệm, tham mưu, đề xuất, nghiêm túc triển khai, quán triệt và tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt công tác xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; các chương trình phòng chống tội phạm, ma túy, mại dâm, mua bán người; gắn với việc thực hiện các phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựng nông thôn mới, thực hiện chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo; góp phần kéo giảm tội phạm, xóa hết các băng, nhóm tội phạm chuyên nghiệp, nguy hiểm; nâng cao tỷ lệ xử lý tin báo, tố giác tội phạm (trên 90%), khám phá án các loại (trên 80%) đối với tội phạm nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (trên 90%); không để xảy ra oan sai.

22/05/2015 2:00 CHĐã ban hành
Hướng dẫn tăng cường quản lý về xây dựng, thực hiện quy ước ấp, khu phốHướng dẫn tăng cường quản lý về xây dựng, thực hiện quy ước ấp, khu phố

Thực hiện Công văn số 752/BTP-PBGDPL ngày 10/3/2017 của Bộ Tư pháp về việc tăng cường quản lý về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước; để nâng cao hiệu quả xây dựng và thực hiện thống nhất quy ước ấp, khu phố trên địa bàn tỉnh, Sở Tư pháp Bến Tre ban hành Công văn số 336/STP-PB ngày 29/3/2017 về việc tăng cường quản lý về xây dựng, thực hiện quy ước ấp, khu phố với các nội dung chủ yếu như sau:

Đề nghị Sở Nội vụ phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trao đổi thông tin với Sở Tư pháp trong quá trình thực hiện Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

Đề nghị Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin với Sở Tư pháp trong chỉ đạo, hướng dẫn về xây dựng, thực hiện quy ước thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở, ngành để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với quy định pháp luật về lĩnh vực này.

Đề nghị Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố quan tâm, chỉ đạo thực hiện một số nội dung sau đây:

Tiếp tục thực hiện các nội dung về công tác xây dựng và thực hiện quy ước ấp, khu phố theo Kế hoạch số 364/KH-UBND ngày 03 tháng 02 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng và thực hiện quy ước trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2017. Căn cứ điều kiện thực tế, chỉ đạo rà soát, kiểm tra việc xây dựng, thực hiện quy ước trên địa bàn; chấn chỉnh, rút kinh nghiệm, xử lý quy ước có nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức và thuần phong mỹ tục; hướng dẫn sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc tạm đình chỉ thi hành các nội dung vi phạm, bảo đảm tính hợp pháp, thống nhất, phát huy vai trò của quy ước trong quản lý nhà nước tại cộng đồng dân cư và thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Chỉ đạo, hướng dẫn bổ sung vào quy ước của ấp, khu phố nội dung về việc sử dụng phương tiện phát âm thanh trong sinh hoạt văn hóa và kinh doanh theo Quy định được ban hành tại Quyết định số 51/2016/QĐ-UBND ngày 03/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về ban hành quy định quản lý việc sử dụng phương tiện phát âm thanh trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng và kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Chú trọng công tác thẩm định quy ước để bảo đảm chất lượng, đúng trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật, phù hợp với tinh thần bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với thuần phong mỹ tục, quy định về nếp sống văn hóa. Nội dung quy ước cần gắn với đặc thù văn hóa, phong tục tập quán của địa phương.

Trong thời gian chờ các Bộ, ngành Trung ương nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế, chính sách về xây dựng, thực hiện quy ước, đề nghị chỉ đạo, hướng dẫn các xã, phường, thị trấn thực hiện đúng nguyên tắc về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề theo Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

04/04/2017 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/11/2015Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 25/11/2015

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 421/2015

Tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thị Nỉ, địa chỉ thường trú tại: ấp Thừa Long, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích: 2.426,4 m2 (trong đó: 113,0 m2 đất ở nông thôn, 200,0 m2 đất cơ sở sản xuất kinh doanh và 2.113,6 m2 đất nuôi trồng thủy sản).

- Thuộc thửa đất số 153, tờ bản đồ số 05.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 220201, số vào sổ CH 01242 do UBND huyện Bình Đại cấp ngày 12/9/2014.

2. Tài sản trên đất gồm: nhà ở, nhà tiền chế, kho, vật tư thiết bị xăng dầu (trụ bơm, bồn chứa nguyên liệu 3m3)

- Tài sản tọa lạc: xã ấp Thừa Long, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, Bến Tre.

* Lưu ý: Tài sản bán chung quyền sử dụng đất và tài sản trên đất.

          - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thị Nỉ do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre – Phòng Giao dịch Bình Đại xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

          - Giá khởi điểm tài sản bán đấu giá: 1.171.701.813 đ (Một tỷ, một trăm bảy mươi mốt triệu, bảy trăm lẻ một ngàn, tám trăm mười ba đồng).

Thời gian xem, kham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/11/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2015 (trong giờ làm việc).

        Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 31/12/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 100.000.000đ/hồ sơ.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 447/2015

Tài sản thanh lý hai Đài nước của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn như sau:

1. Đài nước + khung hàng rào P40 tại nhà máy Bảo Thuận, xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri ước khối lượng 2 tấn (2.000kg), đơn giá 2.500đ/kg.

2. Đài nước + khung hàng rào P40 tại nhà máy Hưng Nhượng, xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm ước khối lượng 0,5 tấn (500kg), đơn giá 2.500đ/kg.

* Lưu ý: Bán đấu giá thành khi bàn giao sẽ tiến hành cân thực tế nếu tài sản tăng hơn 2.500kg thì người mua sẽ nộp thêm tiền cho Trung tâm trên giá trị bán đấu giá thành, còn nếu giảm hơn 2.500kg thì Trung tâm sẽ hoàn trả số tiền cho khách hàng.

- Tài sản tọa lạc: tại xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri và xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

        - Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 6.250.000đồng (Sáu triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).

        * Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ.

        * Khoản tiền đặt trước: 900.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/11/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 03/12/2015 (trong giờ làm việc).

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 08/12/2015 (Thứ ba) tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG SỐ 444/2015

Tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước, gồm: 02 lô xe môtô 02 bánh các loại. Cụ thể như sau:

1. Lô số 01: gồm 79 (bảy mươi chín) chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng được phép đăng ký lại, giá khởi điểm: 94.800.000đ (Chín mươi bốn triệu, tám trăm ngàn đồng).

2. Lô số 02: gồm 31 (ba mươi mốt) chiếc xe mô tô 02 bánh các loại bán dạng phế liệu, giá khởi điểm: 18.600.000đ (Mười tám triệu, sáu trăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán theo từng lô (có bảng kê chi tiết kèmtheo). Đối với xe bán dạng phế liệu bán đấu giá thành, khi người trúng đấu giá nhận xe phải thực hiện việc cắt sườn, đục bỏ số máy, số khung.

- Tài sản tọa lạc tại: Kho Đội Cảnh sát Giao thông - Công an huyện Mỏ Cày Nam.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính của Công an huyện Mỏ Cày Nam bán nộp vào ngân sách nhà nước.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 113.400.000 đ (Một trăm mười ba triệu, bốn trăm ngàn đồng).

Thời gian xem, kham khảo hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 26/11/2015 đến 16 giờ 30 phút ngày 03/12/2015.

 Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 08/12/2015; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ (lô số 01); 50.000 đ/hồ sơ (lô số 02).

* Tiền đặt trước: 14.000.000 đồng/hồ sơ (lô số 01); 2.500.000 đ/hồ sơ (lô dố 02)

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 075-3823667; 075-3512081; 075-3512083

01/12/2015 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 20/12/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 20/12/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 373 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Huỳnh Thanh Đồng và bà Bùi Thị Bút, hiện cư ngụ tại: ấp Phú Thạnh, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1. Về đất:

- Diện tích: 799,9 m2 (trong đó 100 m2 đất thổ cư và 699,9 m2 đất CLN);

- Thửa số 476, 248, tờ bản đồ số 17;

2. Tài sản trên đất gồm: 62 cây ca cao khoảng 06 năm tuổi, 10 cây nhản khoảng 10 năm tuổi, 07 cây sầu riêng khoảng 10 năm tuổi, 35 cây bưởi khoảng 01 năm tuổi và 01 hồ nước bằng bêtông chu vi 5,04 m, chiều cao 1,5 m.

* Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phú Thạnh, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Huỳnh Thanh Đồng và bà Bùi Thị Bút, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 279.526.238đ (Hai trăm bảy mươi chín triệu, năm trăm hai mươi sáu ngàn, hai trăm ba mươi tám đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 55.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 21/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Ấp Phú Thạnh, Xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 21/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 25/01/2018 tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 374 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Lê Minh Phúc và bà Nguyễn Thị Cẩm Đào, hiện cư ngụ tại: ấp Chợ, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1. Quyền sử dụng đất

- Diện tích: 101,6m2;

- Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn;

- Thuộc thửa đất số 231, tờ bản đồ số 7.

2. Công trình xây dựng gắn liền với đất

a) Nhà ở: Không rõ năm xây dựng

- Diện tích: 89,98m2.

- Kết cấu chủ yếu: Nhà kiên cố cấp 4; Móng, khung, cột bê tông cốt thép; nền lót gạch men có lớp vữa lót; Tường xây gạch có trát vữa xi măng sơn nước hoàn thiện, phần tường mặt tiền trước nhà được ốp gạch men toàn bộ lên đến mái; Mái lợp tole sóng vuông + xà gồ gỗ; Cửa đi chính là cửa sắt kéo; Nhà không xây trần; Phòng ngủ: nền lót gạch men, cửa đi chính là cửa gỗ; Nhà vệ sinh: nền và tường ốp gạch men toàn bộ, cửa đi là cửa nhựa. Hệ thống điện, nước sinh hoạt được lắp đắt hoàn chỉnh.

- Hiện trạng: Công trình đã qua sử dụng và có một số dấu hiệu hư hỏng như: sơn tường bị bong tróc nhẹ, tường xuất hiện vết nứt; nền gạch men bị trầy xước; cửa sắt, mái tole bị gỉ sét nhẹ,… Hiện các kết cấu vẫn ổn định và đang dược sử dụng bình thường.

b) Mái che: Không rõ năm xây dựng

- Diện tích 11,62m2 (4,15m x 2,8m)

- Kết cấu chủ yếu: Cột sắt tròn, kèo và xà gồ bằng gỗ, mái lợp tole tráng kẽm sóng vuông.

- Hiện trạng: Mái tole và cột sắt bị gỉ sét, các kết cấu vận ổn định và sử dụng bình thường.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: xã Thành triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Lê Minh Phúc và bà Nguyễn Thị Cẩm Đào, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 902.176.770đ (Chín trăm lẻ hai triệu, một trăm bảy mươi sáu ngàn, bảy trăm bảy mươi đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Lệ phí bán hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

- Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 180.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi. Khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ hoàn trả lại cho khách hàng không trúng đấu giá sau khi kết thúc cuộc đấu giá; nếu khách hàng trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) sẽ chuyển thành tiền đặt cọc và được trừ vào giá mua tài sản.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 21/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Ấp Chợ, Xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 21/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 25/01/2018 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 376 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Em, bà Võ Thị Út và ông Lê Hoài Linh, hiện cư ngụ tại: ấp Giao Hòa A, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:

11. Về đất:

a) Thửa đất số 38, tờ bản đồ số 27, diện tích 10.512,2m2, mục đích sử dụng nuôi trồng thủy sản.

b) Thửa đất số 301, tờ bản đồ số 27, diện tích 774,3m2, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm.

2. Công trình xây dựng:

a) Nhà chính: Diện tích 107,65m2. Kết cấu: Móng cột BTCT, tường bao che, ngăn phòng, xây gạch dài 100mm, hoàn thiện sơn nước trần nhựa, nền lát gạch bông, mái tole Fibrô xi măng. Chất lượng còn lại 60%.

b) Nhà phụ: Diện tích: 55,3m2. Kết cấu: Móng cột BTCT, tường bao che, không trần, nến xi măng. Chất lượng còn lại 50%.

c) Nhà vệ sinh: Diện tích: 6,08m2. Kết cấu: Móng cột BTCT, nền lát gạch ceramic, tường ốp gạch. Chất lượng còn lại 50%.

d) Chuồng trại: Diện tích: 7,08m2. Kết cấu: Nền láng xi măng, mái lá. Chất lượng còn lại: 50%.

e) Sân lót gạch tàu: Diện tích: 57,49m2. Chất lượng còn lại 50%

g) Ống thoát nước: Kết cấu D x R x C (10 x 0,6 x 1,6)m.

3. Cây trồng trên đất:

- Xoài loại 2: 07 cây

- Xoài mới trồng: 01 cây

- Tre: 01 bụi (khoảng 20 cây)

- Vú sữa loại 4: 01 cây

- Mãng cầu loại 3: 24 cây

- Chanh mới trồng: 01 cây

- Bưởi loại 4: 01 cây

- Ổi loại 1: 02 cây

- Cóc loại 3: 01 cây

- Đu đủ dang cho trái: 02 cây

- Me loại 4: 01 cây

- Dừa loại 3: 05 cây

* Tài sản tọa lạc tại: ấp Giao Hòa A, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: tài sản là quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Em (Lê Văn Châu Em), bà Võ Thị Út và ông Lê Hoài Linh, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 1.275.325.000đ (Một tỷ, hai trăm bảy mươi lăm triệu, ba trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

- Phải nộp lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

 - Phải nộp khoản tiền đặt trước là 255.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72910000091403 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 21/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc ấp Giao Hòa A, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 21/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 10 giờ ngày 25/01/2018  (Trước khi mở cuộc bán  đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 378 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Loan, hiện cư ngụ tại: 63/2 ấp Thạnh A, xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản có các đặc điểm sau:

1. Về đất:

  - Diện tích: 562,8 m2 (trong đó 70 m2 đất ONT; 197,3 m2 đất CLN và 295,5 m2 đất HLLG);

- Thuộc thửa đất số 187, tờ bản đồ số 15.

  2. Công trình xây dựng:

  a) Nhà chính:

  - Nhà 2 tầng;

          - Diện tích xây dựng: 127,8 m2;

          - Diện tích sàn xây dựng: 255,6 m2;

          - Kết cấu chính:

              + Móng cột bêtông cốt thép;

              + Vách tường xây gạch bao che dày 10 cm, sơn nước;

              + Nền lát gạch bông;

              + Trần la phong bằng thạch cao;

              + Mái lợp tole tráng kẽm;

              + Cầu thang bêtông cốt thép, dán đá hoa cương, tay vịn bằng gỗ;

              + Cửa chính, cửa phụ là cửa nhôm kéo, cửa phòng, cửa xổ là cửa nhôm lắp kính;

              + Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, tường nhà có vài chỗ bị thấm và bị nứt, nền gạch và mái tole biến dạng so với màu sắc ban đầu, nền nhà có dấu hiệu bị lún, trần nhà có vài chỗ bị hư hỏng.

          b) Nhà tạm 1 (nhà tiền chế):

          - Diện tích xây dựng: 41,3 m2;

          - Kết cấu chính:

              + Nền láng ximăng;        

              + Mái lợp tole tráng kẽm;

              + Vách tole một bên, các bên khác không có vách;

              + Hiện trạng: Nền nhà có vài chỗ bị nứt, mái tole biến dạng so với màu sắc ban đầu.

          c) Mái che:

          - Diện tích xây dựng: 9,8 m2;

          - Kết cấu chính:

              + Nền đất, mái lợp tole;

          - Hiện trạng: Mái tole biến dạng so với màu sắc ban đầu và có nhiều chỗ bị hư hỏng nặng.

         d) Hồ nước loại lớn:

         - Số lượng: 02 hồ;

         - Diện tích: 7,93 m2;

         - Kết cấu: bằng bêtông;

         - Hiện trạng: Hồ nước có vài chỗ bị nứt.

         e) Hồ nước loại nhỏ:

         - Số lượng: 06 hồ;

         - Diện tích: 13,85 m2;

         - Kết cấu: bằng bêtông;

         - Hiện trạng: Hồ nước có vài chỗ bị nứt.

         f) Hàng rào gắn khung thép hình:

         - Số lượng: 45,8 m2;

         - Quy cách: Trụ rào bêtông cốt thép, tường lững < 0,8m gắn khung thép hình;

         - Hiện trạng: Tường và trụ rào có vài chỗ bị rạn nứt, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng.

         g) Hàng rào gắn lưới B40:

         - Số lượng: 122,94 m2;

         - Quy cách: Trụ rào bêtông cốt thép, tường lững < 0,8m gắn lưới B40;

         - Hiện trạng: Tường và trụ rào có vài chỗ bị rạn nứt, khung lưới B40 có nhiều chỗ bị rỉ sét.

         h) Đài nước:

         - Số lượng: 0,54 m3;

         - Quy cách: có 3 trụ bêtông tròn, chiều cao 4m, đường kính 12 cm;

         - Hiện trạng: Trụ bêtông có vài chỗ bị rạn nứt.

         i) Bồn chứa nước:

         - Số lượng: 01 cái;

         - Thể tích: 1000 lít;

         - Chất liệu: bằng nhựa;

         - Quy cách: loại bồn nằm ngang.

         j) Sân đan:

         - Diện tích: 284,61 m2;

         - Kết cấu: bằng bêtông không cốt thép;

         - Hiện trạng: sân đan bằng bêtông có nhiều chỗ bị rạn nứt.

         3. Cây trồng trên đất:

- Cây Xoài loại 2: 01 cây, cây trồng từ 4 đến dưới 7 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Mận loại 1: 02 cây, cây trồng từ 3 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Nhãn loại 2: 01 cây, cây trồng từ 4 đến dưới 8 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Cóc loại 1: 01 cây, cây trồng từ 5 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Me loại 1: 01 cây, cây trồng từ 10 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Mít loại 1: 01 cây, cây trồng từ 10 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Dừa loại 2: 02 cây, cây trồng từ 4 đến dưới 6 năm tuổi, đã cho trái.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Loan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 3.039.457.760đ (Ba tỷ, không trăm ba mươi chín triệu, bốn trăm năm mươi bảy ngàn, bảy trăm sáu mươi đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

   * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 600.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 21/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 21/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 25/01/2018 tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).

 

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

29/12/2017 11:00 SAĐã ban hành
Phát huy tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật  của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ Phát huy tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật  của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ

Để học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác về tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp Bến Tre trong thực hiện nhiệm vụ, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên viên ngành Tư pháp Bến Tre phải nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện tốt các yêu cầu như:

 Thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình với tinh thần thẳng thắn, trong sinh hoạt, học tập, công tác cũng như cuộc sống đời thường. Người phê bình phải có thái độ chân thành, người được phê bình phải thực sự cầu thị trong tiếp thu phê bình để sửa chữa, tiến bộ.  

Cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp nói phải đi đôi với làm, và làm gương trong chấp hành mọi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chế độ quy định của cơ quan; kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong sinh hoạt, học tập và công tác.

Không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nhân cách của người cán bộ, đảng viên; tích cực học tập nâng cao trình độ, góp phần thực hiện có hiệu quả mọi nhiệm vụ được giao, sống chan hoà, cởi mở và lành mạnh; thực hiện tốt việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.

 Tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp trong thực hiện nhiệm vụ, còn được thể hiện ở tinh thần và hành động như:

Tính tiền phong của người cán bộ, đảng viên: Trước hết là thể hiện về tư tưởng chính trị, ý chí, nghị lực vượt khó, thể hiện ở lập trường mục tiêu kiên định, lý tưởng cách mạng; không ngại khó khăn, tính tiền phong còn được thể hiện qua mỗi hành động của mọi người cán bộ, đảng viên phải là người đi trước dám làm, dám chịu trách nhiệm, khôn khéo xử lý có hiệu quả các tình huống nảy sinh; đồng thời, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống tiêu cực, bè phái.

Sự gương mẫu của người cán bộ, đảng viên: Là biểu hiện tập trung ở lòng trung thành với Đảng, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phải tiêu biểu về "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư".

Các biểu hiện cụ thể cho các đức tính đó là sự say mê, gắn bó hết mình với công việc, chức trách, nhiệm vụ được giao; có ý thức tiết kiệm của công, không tham nhũng, lãng phí; thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, phải là tấm gương về lòng nhân ái, có tinh thần đoàn kết, độ lượng, vị tha, không đố kỵ, ganh ghét. Trong công việc phải là người tiêu biểu về phong cách, nghiêm túc,  tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng gópphải gương mẫu trong cả lời nói và việc làm, v.v..

Ý thức tổ chức kỷ luật của người cán bộ, đảng viên: Phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, trong tổ chức và hoạt động của Đảng, luôn nêu cao tinh thần, ý thức tổ chức kỷ luật, tuyệt đối chấp hành sự phân công của tổ chức, cấp ủy Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của các cấp ủy Đảng, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước và các nội quy, quy chế của cơ quan, quy định của địa phương, phải tham gia đầy đủ các lớp học tập Nghị quyết của Đảng, gương mẫu thực hiện các chế độ, sinh hoạt Đảng, sinh hoạt chính quyền.

Để rèn luyện được tính tiền phong, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần duy trì và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo đó, trong tổ chức thực hiện nghị quyết, phải giao nhiệm vụ cho cấp ủy viên, đảng viên một cách cụ thể, rõ ràng; nhiệm vụ nào cũng phải có người chịu trách nhiệm chính; công việc nào cũng phải có người đứng đầu. Trong thực hiện nhiệm vụ, việc đề cao tinh thần trách nhiệm, tính tự giác phải đi đôi với đôn đốc, nhắc nhở, uốn nắn sai sót, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, việc rút kinh nghiệm, sơ kết, tổng kết công tác, phong trào của tổ chức đảng, chính quyền, cần được thực hiện thành nền nếp, là điều kiện để người cán bộ, đảng viên thấy được mình đã là người tiền phong, gương mẫu đến đâu, còn những gì hạn chế, yếu kém để tiếp tục phấn đấu, rèn luyện.

 Công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cần được duy trì nghiêm túc, thực chất; qua đó, kịp thời phát hiện sai sót, khuyết điểm, ngăn ngừa những cán bộ, đảng viên thiếu tính tiền phong, gương mẫu, ý thức kỷ luật trong công việc, nhiệm vụ được phân công vi phạm tư cách đảng viên, kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. Khi cán bộ, đảng viên làm sai, gây hậu quả xấu, phải kiểm điểm, quy trách nhiệm rõ ràng và có hình thức kỷ luật thích đáng; nếu vi phạm pháp luật, phải kiên quyết đưa ra để xử lý bằng luật pháp, với tinh thần thượng tôn pháp luật "phụng công thủ pháp, chí công vô tư".

Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp nghiêm túc thực hiện theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp:

"Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp khắc sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người cán bộ tư pháp, quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, phấn đấu thực hiện các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sau đây:

1. Với Tổ quốc - Trung thành, phấn đấu vì "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

2. Với nhân dân - Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân; phục vụ nhân dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân.

3. Với công tác tư pháp - Trách nhiệm, tận tụy, sáng tạo, kỷ cương, phụng công, thủ pháp, chí công vô tư.

4. Với đồng nghiệp - Đoàn kết, thân ái, hợp tác, cùng tiến bộ.

5. Với bản thân - Nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, thượng tôn pháp luật."

17/05/2017 4:00 CHĐã ban hành
Quyền và bổn phận của trẻ emQuyền và bổn phận của trẻ em

Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017. Luật có 07 Chương, 106 Điều, có nhiều nội dung mới, trong đó có các quy định mới về quyền và bổn phận của trẻ em.

 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung và được thể hiện cụ thể hơn như:

Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển.

Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.

Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện.

Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

 Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.

Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.

Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.

 Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

 Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

 Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.

Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

 Quyền của trẻ em khuyết tật: Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.

Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Về bổn phận của trẻ em, kế thừa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em.

Bổn phận của trẻ em đối với gia đình: Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ. Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác: Tôn trọng giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác. Thương yêu, đoàn kết, chia sẻ khó khăn, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè. Rèn luyện đạo đức, ý thức tự học, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Giữ gìn, bảo vệ tài sản và chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác.

Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội: Tôn trọng, lễ phép với người lớn tuổi; quan tâm, giúp đỡ người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người gặp hoàn cảnh khó khăn phù hợp với khả năng, sức khỏe, độ tuổi của mình. Tôn trọng quyền, danh dự, nhân phẩm của người khác; chấp hành quy định về an toàn giao thông và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ, giữ gìn, sử dụng tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng và độ tuổi của trẻ em. Phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật.

 Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước: Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước. Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em với bản thân: Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân. Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể. Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang. Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác. Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân.

15/12/2016 4:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn