Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện
​Công văn số 845/CCTHADS ngày 09/10/2018 của Chi cục THADS huyện Giồng Trôm 
 
​Công văn số 409/CCTHADS ngày 10/10/2018 của Chi cục THADS huyện Chợ Lách 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 191 (Kèm QC)Nay Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo việc đấu giá tài sản tịch thu sung vào công quỹ nhà nước gồm 02 (hai) lô xe (danh sách chi tiết kèm theo). Cụ thể:1. Lô số 01: gồm 184 (một trăm tám mươi bốn) chiếc (trong đó có 20 xe mô tô 03 bánh, 01 xe máy kéo, 163 xe mô tô, xe gắn máy 02 bánh) bán dạng phế liệu. Giá khởi điểm: 454.100.000đ (... 
 
​Công văn số 830/CCTHADS ngày 03/10/2018 của Chi cục THADS huyện Giồng Trôm 
 
​Công văn số 815/CCTHADS ngày 28/9/2018 của Chi cục THADS huyện Giồng Trôm 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 145 (Kèm QC)Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Vĩnh Phúc và bà Hồ Thị Mỹ Phương, cư ngụ tại: ấp Hòa Lộc, xã Vĩnh Hòa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:1. Quyền sử dụng đất:- Diện tích: 500 m2; - Loại đất: đất trồng cây lâu năm;- Thuộc thửa đất số 153, ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Sở Tư pháp phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”Sở Tư pháp phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới”
Ngày 21/11/2012, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 1881/KH-STP về phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới” từ năm 2012 đến năm 2020.

 

Ngày 21/11/2012, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 1881/KH-STP về phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới” từ năm 2012 đến năm 2020.

Kế hoạch nêu rõ những vấn đề cần tập trung: Tham gia xây dựng 100% các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được giao; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh phong trào xây dựng và thực hiện Quy ước ở các ấp, khu phố... trên địa bàn cấp xã ở nông thôn, phát huy ý thức tự quản, tăng cường đoàn kết, chấp hành tốt pháp luật, phát huy phong tục tập quán, truyền thống, đạo đức tốt đẹp của các cộng đồng dân cư ở nông thôn; nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hoà giải ở cơ sở; giải quyết kịp thời và dứt điểm những mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật nhỏ trong các ấp, khu phố…góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở cơ sở; tăng chỉ tiêu đăng ký khai sinh cho trẻ em; Hoạt động công chứng, chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm, công tác luật sư đáp ứng kịp thời các nhu cầu của người dân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; Tăng cường củng cố, kiện toàn đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành bằng pháp luật của chính quyền cấp xã; phấn đấu đến năm 2015, 100% cấp xã loại 1 và loại 2 có từ 02 công chức Tư pháp - Hộ tịch trở lên và trên 90% công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã đạt trình độ trung cấp luật trở lên và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, theo Kế hoạch thì Phòng Tư pháp các huyện, thành phố có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động xây dựng xã nông thôn mới thuộc phạm vi, lĩnh vực mình quản lý trên địa bàn cấp huyện và xã.

 

03/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Một số điểm mới cần lưu ý khi cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịchMột số điểm mới cần lưu ý khi cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch
Ngày 16/2/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch (sau đây gọi là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP). Theo đó, quy định:

Về thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính (Điều 5)

Phòng Tư pháp thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ,văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam, cơ quan, tổ chức của nước ngoài, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam liên kết với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc chứng nhận (điểm a Khoản 1); còn UBND cấp xã thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận (điểm a Khoản 2 ).

Nghị định số 23/2015/NĐ-CP (Khoản 4) đã quy định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của Công chứng viên trong việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký tương đương thẩm quyền của Phòng Tư pháp, trừ việc công chứng bản dịch phải được thực hiện theo quy định của Luật công chứng.

Về thẩm quyền chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản

Phòng Tư pháp và UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực như nhau, không phân biệt ngôn ngữ của giấy tờ văn bản (điểm b Khoản 1, điểm b Khoản 2).

Về thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch

Phòng Tư pháp và UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến động sản như nhau, không giới hạn về giá trị của tài sản (điểm d Khoản 1, điểm c Khoản 2).

Việc chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 (điểm đ khoản 2). UBND cấp huyện tiếp tục thực hiện chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở tại đô thị theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở năm 2005 cho đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2015 (Khoản 2 Điều 47).

Về thời hạn thực hiện yêu cầu chứng thực (Điều 7)

Thời hạn thực hiện yêu cầu chứng thực phải được bảo đảm ngay trong ngày cơ quan, tổ chức tiếp nhận yêu cầu hoặc trong ngày làm việc tiếp theo, nếu tiếp nhận yêu cầu sau 15 giờ. Một số trường hợp quy định cụ thể tại Điều 21, 33 và Điều 37 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì được kéo dài thời hạn.

 Việc chứng thực bản sao từ bản chính

Người yêu cầu chứng thực bản sao phải chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp lệ, hợp pháp của bản chính giấy tờ, văn bản dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao. Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao đúng với bản chính (Điều 19).

Trong trường hợp bản chính giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật trước khi yêu cầu chứng thực bản sao; trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại (Khoản 1 Điều 20).

Trường hợp người yêu cầu chứng thực chỉ xuất trình bản chính thì cơ quan, tổ chức tiến hành chụp từ bản chính để thực hiện chứng thực, trừ trường hợp cơ quan, tổ chức không có phương tiện để chụp (Khoản 2 Điều 20).

Việc chứng thực chữ ký

Người yêu cầu chứng thực chữ ký phải chịu trách nhiệm về nội dung của giấy tờ, văn bản mà mình ký để yêu cầu chứng thực chữ ký. Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính xác thực về chữ ký của người yêu cầu chứng thực trong giấy tờ, văn bản (Điều 23).

Đối với trường hợp chứng thực chữ ký tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông thì công chức tiếp nhận hồ sơ kiểm tra các giấy tờ, nếu nhận thấy người yêu cầu chứng thực có đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 24 thì đề nghị người yêu cầu chứng thực ký vào giấy tờ cần chứng thực và chuyển cho người có thẩm quyền ký chứng thực (Khoản 3 Điều 24).

Thủ tục chứng thực chữ ký quy định tại Khoản 1, 2 và 3 Điều 24 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cũng được áp dụng đối với các trường hợp: chứng thực chữ ký của nhiều người trong cùng một giấy tờ, văn bản; chứng thực chữ ký của người khai lý lịch cá nhân; chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập theo quy định của pháp luật; chứng thực chữ ký trong Giấy ủy quyền đối với trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản (Khoản 4 Điều 24).

Người dịch và việc chứng thực chữ ký người dịch

Người dịch phải chịu trách nhiệm trước khách hàng, trước cơ quan thực hiện chứng thực về tính chính xác của nội dung bản dịch. Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính xác thực về chữ ký của người dịch trong bản dịch (Điều 30)

Việc chứng thực hợp đồng, giao dịch

 Người yêu cầu chứng thực phải chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; tính hợp lệ, hợp pháp của các giấy tờ quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 36 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch (Điều 35).

Chỉ thực hiện một thủ tục chứng thực chung về hợp đồng, giao dịch, mà không có quy định riêng về chứng thực một số hợp đồng, giao dịch như Nghị định số 75/2000/NĐ-CP. 

Đối với những địa bàn cấp huyện, cấp xã đã chuyển giao việc chứng thực hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng, mà hợp đồng, giao dịch trước đó được chứng thực tại UBND cấp huyện, cấp xã thì việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, sửa lỗi sai sót trong khi ghi chép, đánh máy, in hợp đồng, giao dịch vẫn được thực hiện tại UBND cấp huyện, cấp xã, nơi đã thực hiện chứng thực trước đây (Khoản 1 Điều 47).

Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 10/4/2015 và thay thế Nghị định số 79/2007/NĐ-CP; Nghị định số 04/2012/NĐ-CP; Điều 4 của Nghị định số 06/2012/NĐ-CP; các quy định về chứng thực hợp đồng, giao dịch tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP.

19/03/2015 2:00 CHĐã ban hành
Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 8Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị Mỏ Cày Nam tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 8
Thực hiện Kế hoạch số 824/KH-HĐND ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc tiếp xúc cử tri kỳ họp thứ 08 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Mỏ Cày Nam tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong Tổ tiếp xúc cử tri trước kỳ họp. Theo đó, việc tiế...

Thực hiện Kế hoạch số 824/KH-HĐND ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc tiếp xúc cử tri kỳ họp thứ 08 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Mỏ Cày Nam tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong Tổ tiếp xúc cử tri trước kỳ họp. Theo đó, việc tiếp xúc cử tri sẽ được tiến hành tại các địa điểm và thời gian cụ thể sau đây:

Điểm thứ nhất: Hội trường Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn Mỏ Cày (gồm cử tri thị trấn Mỏ Cày và cử tri xã Tân Hội). Thời gian: 7 giờ 30 phút ngày 14/11/2013;

Điểm thứ hai: Hội trường UBND xã An Thới (gồm cử tri xã An Thới và cử tri xã Ngãi Đăng). Thời gian: 7 giờ 30 phút ngày 15/11/2013;

Điểm thứ ba: Hội trường UBND xã Định Thủy (gồm cử tri xã Định Thủy và cử tri xã Phước Hiệp). Thời gian: 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2013;

Điểm thứ tư: Hội trường UBND xã Cẩm Sơn (gồm cử tri xã Cẩm Sơn và cử tri xã Tân Trung). Thời gian: 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2013.

Tại các cuộc tiếp xúc cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh sẽ báo cáo với cử tri tình hình thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về kinh tế - xã hội và quốc phòng – an ninh năm 2013. Đồng thời thông báo nội dung, chương trình kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh, trên cơ sở đó tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Ngoài ra sẽ thông tin nội dung giải trình của UBND tỉnh, các sở, ngành đối với các ý kiến, kiến nghị của cử tri trước và sau kỳ họp thứ 6.

Để Hội đồng nhân dân tỉnh thực sự là cơ quan quyền lực đại diện cho nhân dân, để kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh là diễn đàn để nhân dân thể hiện ý chí, quyền làm chủ của mình; đề nghị quý cử tri tích cực tham dự các cuộc tiếp xúc cử tri để phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, kiến nghị của mình. Các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đơn vị huyện Mỏ Cày Nam sẽ tiếp thu, ghi nhận và phản ánh lại tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh lần thứ 8 sắp tới.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016

Ngày 30 tháng 12 năm 2015, Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có hơn 40 đại biểu là lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp của 09/09 huyện, thành phố và một số công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Các đại biểu đã thảo luận, góp ý cho dự thảo Kế hoạch công tác tư pháp năm 2016, dự thảo Kế hoạch phát động phong trào thi đua năm 2016 và 03 tham luận của Phòng Tư pháp với nội dung xoay quanh các vấn đề nổi bật của công tác tư pháp như: Công tác triển khai thi hành Luật Hộ tịch; giải pháp nâng cao tỷ lệ hòa giải thành và thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại địa phương.

tong-ket-nganh4.gif

Tại Hội nghị, Giám đốc Sở Tư pháp trao Giấy khen cho 03 tập thể Phòng Tư pháp và 09 công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã có thành tích xuất sắc trong công tác tư pháp năm 2015. Ngoài ra, Sở Tư pháp còn tổ chức trao Giấy khen của Ban Tổ chức Trung ương cho cho 01 cá nhân đạt giải khuyến khích vòng chung khảo cuộc thi viết "Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

tong-ket-nganh3.gif

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu trong năm 2016, ngành Tư pháp cần quan tâm triển khai 06 nhóm nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, tiếp tục triển khai thực hiện các văn bản do Trung ương và tỉnh ban hành có liên quan đến phong trào thi đua "Nông thôn mới", "Đồng Khởi mới", "Cải cách hành chính", hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X trên lĩnh vực do Ngành phụ trách với phương châm "Dân chủ, kỷ cương, đoàn kết, năng động, đổi mới", gắn với thực hiện phong trào thi đua "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", tiếp tục phát động sâu rộng trong cán bộ, công chức bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng.

Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh; đặc biệt là nâng vị thế của cơ quan tư pháp trong công tác thẩm định. Tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính; tăng cường rà soát, kiến nghị đơn giản hóa thủ tục hành chính còn rườm rà, bất cập. Tiếp tục triển khai thực hiện công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật đảm bảo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu về công tác xử lý vi phạm hành chính của địa phương tích hợp với cơ sở dữ liệu của Trung ương.

tong-ket-nganh1.gif

Thứ ba, Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Hòa giải ở cơ sở, các đề án, chương trình, kế hoạch công tác PBGDPL, đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vào chiều sâu thực chất; nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở, phấn đấu tỷ lệ hòa giải thành năm sau cao hơn năm trước; tiếp tục phối hợp xây dựng và thực hiện quy ước ấp, khu phố, xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở.

tong-ket-nganh2.gif

Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động hành chính tư pháp, nhất là công tác hộ tịch ở cơ sở; triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Hộ tịch, việc liên thông các thủ tục hành chính trong đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 06 tuổi. Tập trung chuẩn bị tổng kết 05 năm thực hiện Luật Nuôi con nuôi, 05 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Thứ năm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về luật sư; chú trọng phát triển đội ngũ giám định viên tư pháp; củng cố kiện toàn các tổ chức hành nghề công chứng và chuyển đổi loại hình hoạt động công chứng; tăng cường đội ngũ đấu giá viên của tỉnh; tổ chức thực hiện công tác trợ giúp pháp lý đi vào chiều sâu, hiệu quả; thực hiện tốt các bước triển khai Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý theo từng giai đoạn.

Thứ sáu, tập trung kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, đảm bảo tinh gọn, hợp lý theo Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 16/9/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng; tập trung thanh, kiểm tra về nghiệp vụ chuyên ngành.

05/01/2016 9:00 SAĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1498, 1499, 2132 và 341 thuộc tờ bản đồ số 03 và số 01 tại xã Cẩm Sơn, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/11/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 27/11/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 334 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, cư ngụ tại: ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 123,3m2;

- Thuộc thửa đất số 442, tờ bản đồ số 01 (thửa mới 7-1, tờ bản đồ số 31);

- Loại đất: Đất ở nông thôn.

2. Công trình xây dựng: Nhà ở

- Diện tích xây dựng là 114,8 m2;

- Kết cấu căn nhà gồm 3 phần:

+ Phần thứ nhất diện tích 46m2, nhà một tầng, móng cột bê tông cốt thép, tường bao che, ngăn phòng, xây gạch dày 100mm, sơn nước, trần nhựa, nền gạch men, mái lợp tole tráng kẽm chiều ngang 3,5m, chiều dài 13,3m.

+ Phần thứ hai diện tích 32,9m2, nền gạch men, mái tole tráng kẽm, không trần, không tường ngăn phòng, móng cột bê tông cốt thép, tường bao che, chưa tô trắng, có gác gỗ diện tích 29,9m2.

+ Phần thứ ba diện tích 35,3m2 nhà một tầng, móng cột bê tông cốt thép, tường bao che, không ngăn phòng, chưa tô, nền xi măng, mái fibrô xi măng, không trần

Cửa chính của căn nhà là cửa sắt (loại cửa kéo) và cửa khung sắt lắp kính, cửa sổ là cửa khung sắt lắp kính.

Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, cột bê tông có nhiều chỗ bị rạn nứt, mái tole đã cũ và bị rỉ sét nhiều so với màu sắc ban đầu, tường bị thấm, gác gỗ bị mối mọt, các hiện trạng khác bình thường.

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp An Lộc Thị, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của ông Đặng Việt Hưng và bà Ngô Thị Bích Liễu, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 1.112.722.246đ (Một tỷ, một trăm mười hai triệu, bảy trăm hai mươi hai ngàn, hai trăm bốn mươi sáu đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 220.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 04/01/2018 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 354 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Dân và bà Nguyễn Thị Sương, cư ngụ tại: ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 1.872,5m2;

- Thuộc một phần thửa đất số 252B, tờ bản đồ số 02 (thửa mới 452, tờ bản đồ số 4);

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm.

2. Cây trồng trên đất

- Dừa loại I (6 năm tuổi trở lên): 77 cây

- Dừa loại II (từ 4 đến 6 năm tuổi): 03 cây;

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Văn Dân và bà Nguyễn Thị Sương, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 281.568.125đ (Hai trăm tám mươi mốt triệu, năm trăm sáu mươi tám ngàn, một trăm hai mươi lăm đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 56.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 04/01/2018 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).


 THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 355 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Thành và bà Nguyễn Thị Kim Loan, cư ngụ tại: ấp Phủ, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất: 

- Diện tích: 2018,6m2;

- Thửa đất số 1417, tờ bản đố số 02 (theo bản đồ đo đạc chính quy thuộc một phần thửa đất số 141, tờ bản đồ số 19 (141A);

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm.

2. Cây trồng trên đất

- Dừa loại I: 57 cây;

- Xoái loại I: 02 cây;

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại: Ấp Phủ, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Thành và bà Nguyễn Thị kim Loan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 188.030.000đ (Một trăm tám mươi tám triệu, không trăm ba mươi ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 37.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 08 giờ ngày 04/01/2018 (Trước khi mở cuộc bán đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 362(Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá toàn bộ vốn nhà nước do Công ty Cổ phần Dịch vụ và vận tải ô tô Bến Tre quản lý (không có giá trị đất) (có danh mục chi tiết kèm theo).

 - Tài sản tại: Công ty Cổ phần Dịch vụ và vận tải ô tô Bến Tre (địa chỉ: số 303ª4, Khu phố 3, Phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước giao Công ty Cổ phần Dịch vụ và vận tải ô tô Bến Tre điều hành quản lý, nay bán để thu hồi toàn bộ vốn nhà nước theo Quyết định số 1182/QĐ-UBND ngày 26/5/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 2.760.000.000đ (Hai tỷ, bảy trăm sáu mươi triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán chung, không bán riêng lẻ. Khách hàng trúng đấu giá, thời gian di dời tài sản trên đất không qua 03 tháng, ngoài ra khách hàng trúng đấu giá phải chịu trách nhiệm thu và trả các khoản như sau:

- Phải thu nợ khoán xe khách là: 88.500.000đ (có danh sách kèm theo).

- Phải trả nợ Bảo hiểm xe khách là: 43.100.000đ (có danh sách kèm theo).

- Phải trả tiền kê chân của xe khách là: 399.950.000đ (có danh sách kèm theo).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 550.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/12/2017 (trong giờ làm việc) tại Công ty Cổ phần Dịch vụ và vận tải ô tô Bến Tre (địa chỉ: số 303ª4, Khu phố 3, Phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 28/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/12/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 06/12/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 08/12/2017 (Thứ sáu).

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

04/12/2017 4:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến Tre
15/12/2017 4:00 CHĐã ban hành
Quyền có tài sản riêng của conQuyền có tài sản riêng của con

Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội, đó là điều mong muốn chung của tất cả những người con dù đã thành niên hay chưa thành niên. Thực tế cho thấy tuy con chưa thành niên sống phụ thuộc rất nhiều vào cha mẹ, nhưng hiện nay các em cũng có thể tham gia vào một số công việc phù hợp với năng lực, độ tuổi của mình để tạo ra thu nhập hay được thừa kế riêng, được tặng cho riêng một khối tài sản thậm chí là rất lớn. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, cha mẹ lại cho rằng dù con có tài sản riêng nhưng do con chưa thành niên nên việc quản lý, định đoạt tài sản riêng của con hoàn toàn là quyền của cha mẹ.

Nhằm để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự trong quan hệ hôn nhân và gia đình cũng như quan hệ giữa cha mẹ và con, Điều 75 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.

Con từ đủ 15 tuổi trở lên sống chung với cha mẹ phải có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nếu có thu nhập; con đã thành niên có nghĩa vụ đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của Luật này.

Việc quản lý tài sản riêng của con tại Điều 76 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.

Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự.

Theo đó việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 77 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.

Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.

23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII Kết quả Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bến Tre khóa VIII được tổ chức vào ngày 05 và ngày 06 tháng 12 năm 2013. Tham dự kỳ họp có: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội; các đồng chí lãnh đạo tỉnh; 48/52 đại biểu HĐND tỉnh; thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; thường trực HĐND và đại diện cử tri của các huyện, thành phố.

Kỳ họp đã nghe Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014;  Thông báo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Đại biểu HĐND tỉnh và những vấn đề cử tri quan tâm; Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh; Báo cáo tiếp thu và giải trình của UBND tỉnh về một số vấn đề nổi lên qua thảo luận ở Tổ đại biểu, ý kiến kiến nghị của cử tri và của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tại kỳ họp thứ 8. Ngoài ra, một số văn bản Thường trực HĐND tỉnh đã gửi cho đại biểu nghiên cứu, để làm cơ sở thảo luận, quyết định.

Tại kỳ họp, đại biểu HĐND tỉnh đã tập trung thảo luận vào những ý kiến còn khác nhau qua thảo luận tại tổ, xoay quanh một số nhóm vấn đề: nuôi thủy sản không theo quy hoạch; phát triển các mô hình sản xuất trong nông nghiệp; vốn đầu tư các chương trình, đề án; an ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Kỳ họp cũng đã dành ra một buổi để các đại biểu HĐND tỉnh thực hiện phiên chất vấn. Nội dung chất vấn liên quan đến việc nuôi tôm ngoài vùng quy hoạch; sử dụng đất không đúng theo hợp đồng thuê đất đối với Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre; đầu tư xây dựng và hoạt động của Cảng Giao Long; thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông thuộc Sở Thông tin và Truyền thông; tạm đình chỉ vụ án không đúng theo quy định; không đưa Đề án thành lập thị trấn Tiệm Tôm, xã An Thủy, huyện Ba Tri vào trong Nghị quyết HĐND tại kỳ họp 8; công trình kiên cố hóa Trường Trung học cơ sở Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc chưa được hoàn thành; giải quyết khiếu nại của công dân khu vực đất cù Lao Lá, huyện Ba Tri và các khiếu nại khác chậm giải quyết; cải cách hành chính (quản lý hộ tịch, hộ khẩu).

Đại diện cử tri huyện Châu Thành cũng đã có ý kiến phát biểu về việc tổ chức, điều hành, nội dung của kỳ họp thứ 8 - HĐND tỉnh Khóa VIII, đồng thời kiến nghị những vấn đề mà cử tri quan tâm.

Kỳ họp đã ban hành 17 Nghị quyết như sau:

Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2012;

Nghị quyết về dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về việc thông qua quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bến Tre đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;

Nghị quyết về việc thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc;

Nghị quyết về việc bãi bỏ một phần, bãi bỏ toàn bộ một số Nghị quyết của HĐND tỉnh;

Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2014 – 2016 và định hướng đến năm 2020;

Nghị quyết về Chương trình xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về Chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014;

Nghị quyết về dự toán kinh phí hoạt động của HĐND tỉnh Bến Tre năm 2014;

Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 8 – HĐND tỉnh Khóa VIII;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả cho thôi làm nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết về việc xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhiệm kỳ 2011 – 2016;

Nghị quyết xác nhận kết quả bầu bổ sung chức danh Phó Trưởng Ban Văn hóa Xã hội chuyên trách HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Qua đánh giá, kỳ họp đã thực hiện đúng chương trình và thành công tốt đẹp.

26/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREDANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CÔNG CHỨNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

(Đến tháng 11 năm 2017)


STTTên Tổ chức hành nghề công chứngTrưởng Văn phòng/Phòng công chứngCông chứng viên hợp danh/làm việc theo hợp đồngĐịa điểm đặt trụ sởĐiện Thoại
01Phòng Công chứng số 1 - Sở Tư pháp Bến TreNguyễn Văn Tứ

- Lê Thị Thanh Trang

- Huỳnh Đoàn Ngọc Hân

17 Đường CMT8, phường 3, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre02753.810.618
02Văn phòng Công chứng Đồng KhởiVõ Văn ThanhLê Duy Phúc Hải (Công chứng viên hợp danh)Số 89A1, đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0918256585

 

03Văn Phòng Công chứng Tín HữuNguyễn Thị Kim Phượng

Ngô Xuân Hoàng

(Công chứng viên hợp danh)

số 46, đường số 3, ấp An Thuận A, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

0983.626.700

0917.491.319

04Văn phòng Công chứng Kim CươngĐặng Thị Kim Cương

Nguyễn Thị Diễm Phương

(Công chứng viên hợp danh)

89A khu phố 3, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre0918.267.7570
02753.869.459
05Văn phòng Công chứng Bình ĐạiNgô Công Lợi

Nguyễn Văn Rậm

(Công chứng viên hợp danh)

08 đường Nguyễn Đình Chiểu, ấp Bình Thuận, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre0983.407.100
06Văn phòng Công chứng Ba TriPhan Văn Trung

Phạm Thị Minh Thủy

(Công chứng viên hợp danh)

27/A1, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

0918.813.969

02753.859.234

07Văn phòng Công chứng Hà Thị TiếnHà Thị Tiến 78A, quốc lộ 60, khu phố &, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

0978862448

02753.663.646

08Văn phòng Công chứng Thạnh PhúNguyễn Văn Mộng

Lê Văn Hòa

(Công chứng viên hợp danh)

ấp Thạnh Trị Hạ, thị trấn Thạnh phú, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre0753.870.771
09

Văn phòng Công chứng

Phan Đức Toàn

Phan Đức Toàn

Huỳnh Thị Kim Yến

(Công chứng viên hợp danh)

Số 50A, ấp Phước Hậu, xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre0912.223.045
10Văn phòng công chứng Nguyễn Văn MớiNguyễn Văn Mới

Nguyễn Minh Phương

(Công chứng viên hợp danh)

Số 1, ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre0918.262.633
11Văn phòng công chứng Lê Hùng DũngLê Hùng Dũng Số 59, ấp An Hòa, xã An Hiệp, Châu Thành, Bến Tre

0908.869.750

02753.626.626


09/11/2017 4:00 CHĐã ban hành
Quyền và bổn phận của trẻ emQuyền và bổn phận của trẻ em

Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017. Luật có 07 Chương, 106 Điều, có nhiều nội dung mới, trong đó có các quy định mới về quyền và bổn phận của trẻ em.

 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, với nhiều quyền được bổ sung và được thể hiện cụ thể hơn như:

Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển.

Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.

Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện.

Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

 Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.

Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.

Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

 Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.

 Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

 Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

 Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.

Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

 Quyền của trẻ em khuyết tật: Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.

Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Về bổn phận của trẻ em, kế thừa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các bổn phận của trẻ em được quy định cụ thể trong Luật Trẻ em phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em.

Bổn phận của trẻ em đối với gia đình: Kính trọng, lễ phép, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; yêu thương, quan tâm, chia sẻ tình cảm, nguyện vọng với cha mẹ và các thành viên trong gia đình, dòng họ. Học tập, rèn luyện, giữ gìn nề nếp gia đình, phụ giúp cha mẹ và các thành viên trong gia đình những công việc phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác: Tôn trọng giáo viên, cán bộ, nhân viên của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác. Thương yêu, đoàn kết, chia sẻ khó khăn, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè. Rèn luyện đạo đức, ý thức tự học, thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Giữ gìn, bảo vệ tài sản và chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác.

Bổn phận của trẻ em đối với cộng đồng, xã hội: Tôn trọng, lễ phép với người lớn tuổi; quan tâm, giúp đỡ người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người gặp hoàn cảnh khó khăn phù hợp với khả năng, sức khỏe, độ tuổi của mình. Tôn trọng quyền, danh dự, nhân phẩm của người khác; chấp hành quy định về an toàn giao thông và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ, giữ gìn, sử dụng tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng và độ tuổi của trẻ em. Phát hiện, thông tin, thông báo, tố giác hành vi vi phạm pháp luật.

 Bổn phận của trẻ em đối với quê hương, đất nước: Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước. Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.

Bổn phận của trẻ em với bản thân: Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân. Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể. Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang. Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác. Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của bản thân.

15/12/2016 4:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 10/10/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 10/10/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 302 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Loan, hiện cư ngụ tại: 63/2 ấp Thạnh A, xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tài sản có các đặc điểm sau:

1. Về đất:

  - Diện tích: 562,8 m2 (trong đó 70 m2 đất ONT; 197,3 m2 đất CLN và 295,5 m2 đất HLLG);

- Thuộc thửa đất số 187, tờ bản đồ số 15.

  2. Công trình xây dựng:

  a) Nhà chính:

  - Nhà 2 tầng;

          - Diện tích xây dựng: 127,8 m2;

          - Diện tích sàn xây dựng: 255,6 m2;

          - Kết cấu chính:

              + Móng cột bêtông cốt thép;

              + Vách tường xây gạch bao che dày 10 cm, sơn nước;

              + Nền lát gạch bông;

              + Trần la phong bằng thạch cao;

              + Mái lợp tole tráng kẽm;

              + Cầu thang bêtông cốt thép, dán đá hoa cương, tay vịn bằng gỗ;

              + Cửa chính, cửa phụ là cửa nhôm kéo, cửa phòng, cửa xổ là cửa nhôm lắp kính;

              + Hiện trạng: Công trình đang sử dụng, tường nhà có vài chỗ bị thấm và bị nứt, nền gạch và mái tole biến dạng so với màu sắc ban đầu, nền nhà có dấu hiệu bị lún, trần nhà có vài chỗ bị hư hỏng.

          b) Nhà tạm 1 (nhà tiền chế):

          - Diện tích xây dựng: 41,3 m2;

          - Kết cấu chính:

              + Nền láng ximăng;        

              + Mái lợp tole tráng kẽm;

              + Vách tole một bên, các bên khác không có vách;

              + Hiện trạng: Nền nhà có vài chỗ bị nứt, mái tole biến dạng so với màu sắc ban đầu.

          c) Mái che:

          - Diện tích xây dựng: 9,8 m2;

          - Kết cấu chính:

              + Nền đất, mái lợp tole;

          - Hiện trạng: Mái tole biến dạng so với màu sắc ban đầu và có nhiều chỗ bị hư hỏng nặng.

         d) Hồ nước loại lớn:

         - Số lượng: 02 hồ;

         - Diện tích: 7,93 m2;

         - Kết cấu: bằng bêtông;

         - Hiện trạng: Hồ nước có vài chỗ bị nứt.

         e) Hồ nước loại nhỏ:

         - Số lượng: 06 hồ;

         - Diện tích: 13,85 m2;

         - Kết cấu: bằng bêtông;

         - Hiện trạng: Hồ nước có vài chỗ bị nứt.

         f) Hàng rào gắn khung thép hình:

         - Số lượng: 45,8 m2;

         - Quy cách: Trụ rào bêtông cốt thép, tường lững < 0,8m gắn khung thép hình;

         - Hiện trạng: Tường và trụ rào có vài chỗ bị rạn nứt, ngoại quan khác không phát hiện hư hỏng.

         g) Hàng rào gắn lưới B40:

         - Số lượng: 122,94 m2;

         - Quy cách: Trụ rào bêtông cốt thép, tường lững < 0,8m gắn lưới B40;

         - Hiện trạng: Tường và trụ rào có vài chỗ bị rạn nứt, khung lưới B40 có nhiều chỗ bị rỉ sét.

         h) Đài nước:

         - Số lượng: 0,54 m3;

         - Quy cách: có 3 trụ bêtông tròn, chiều cao 4m, đường kính 12 cm;

         - Hiện trạng: Trụ bêtông có vài chỗ bị rạn nứt.

         i) Bồn chứa nước:

         - Số lượng: 01 cái;

         - Thể tích: 1000 lít;

         - Chất liệu: bằng nhựa;

         - Quy cách: loại bồn nằm ngang.

         j) Sân đan:

         - Diện tích: 284,61 m2;

         - Kết cấu: bằng bêtông không cốt thép;

         - Hiện trạng: sân đan bằng bêtông có nhiều chỗ bị rạn nứt.

         3. Cây trồng trên đất:

- Cây Xoài loại 2: 01 cây, cây trồng từ 4 đến dưới 7 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Mận loại 1: 02 cây, cây trồng từ 3 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Nhãn loại 2: 01 cây, cây trồng từ 4 đến dưới 8 năm tuổi, đã cho trái;

- Cây Cóc loại 1: 01 cây, cây trồng từ 5 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Me loại 1: 01 cây, cây trồng từ 10 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Mít loại 1: 01 cây, cây trồng từ 10 năm tuổi trở lên, cho trái ổn định;

- Cây Dừa loại 2: 02 cây, cây trồng từ 4 đến dưới 6 năm tuổi, đã cho trái.

- Tài sản (1+2+3) tọa lạc xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Kim Loan, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 3.101.487.510đ (Ba tỷ, một trăm lẻ một triệu, bốn trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm mười đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ (nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản).

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 600.000.000đ/01 hồ sơ (nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 7211 0000 200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre)

            - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 10/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 10/11/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 10/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 10/11/2017 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 10/11/2017 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 15/11/2017.

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 305 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý 02 (hai) chiếc xe ôtô, cụ thể như sau:

1. Xe ô tô 16 chỗ:  nhãn hiệu: Toyota, màu sơn: xanh, biển số: 71B-0509, số máy: 1RZ-2746061; số khung: RZH114-5001510; sản xuất năm 2002. Giá khởi điểm: 60.000.000 đ (Sáu mươi triệu đồng). Xe bán dạng phế liệu.

- Tài sản (1) tại: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 284 A1 Đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

2. Xe ô tô 04 chỗ: nhãn hiệu: Toyota Corona, màu sơn: xanh, biển số: 71B-0152, số máy: 1573179; số khung: 0029136; sản xuất năm 1993. Giá khởi điểm: 89.600.000 đ (Tám mươi chín triệu, sáu trăm ngàn đồng). Xe bán dạng đăng ký lại.

- Tài sản (2) tại: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Chợ Lách Bến Tre, địa chỉ: số 195/18B khu phố 2, thị trấn Chớ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

* Lưu ý:

+ Tài sản bán từng chiếc theo nhu cầu người sử dụng.

+ Trong 30 ngày khách hàng trúng đấu giá phải liên hệ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre để được xuất hóa đơn bán hàng theo quy định, nếu quá thời gian trên Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre không chịu trách nhiệm giải quyết.           

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

    - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 149.600.000đ (Một trăm bốn mươi chín triệu, sáu trăm ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000đ/01 hồ sơ (tài sản 01), (tài sản 02), nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 12.000.000đ/01 hồ sơ (tài sản 01), 17.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 02), chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc) tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre, địa chỉ: số 284 A1 Đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (tài sản 01) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Chợ Lách Bến Tre, địa chỉ: số 195/18B khu phố 2, thị trấn Chợ Lách, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (tài sản 02).

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 24/10/2017 (Thứ ba).        

 

THÔNG BÁO  HỢP ĐỒNG 246 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ các dãy nhà Trung tâm Y tế huyện Châu Thành cơ sở Hàm Long (Bệnh viện Đa khoa Hàm Long cũ) cụ thể như sau:

1. Một khu hành chính (nhà làm việc): Kết cấu: móng khung cột pêtông cốt thép, tường xây gạch sơn nước, ngăn phòng, nền gạch bông, mái tole fbroximăng có trần nhựa, phía hành lang trần pêtông, diện tích 177,02 m2. Cửa đi loại 01 cánh bằng gỗ: 07 cái và cửa sổ loại 02 cánh bằng gỗ: 03 bộ.

2. Khoa sản và phần còn lại của khoa sản (Khu kế hoạch hóa gia đình): Kết cấu: móng khung cột pêtông cốt thép, tường xây gạch sơn nước, ngăn phòng, nền gạch bông, mái tole fbroximăng có trần nhựa, phía hành lang trần pêtông, diện tích 292,48 m2. Cửa đi loại 01 cánh bằng gỗ: 03 cái, Cửa đi loại 02 cánh bằng gỗ: 03 bộ, Cửa đi loại 04 cánh bằng gỗ: 01 bộ, Cửa sổ loại 02 cánh bằng gỗ: 05 bộ, Cửa sổ loại 04 cánh bằng gỗ: 04 bộ.

3. Khu liên khoa (khoa khám bệnh, khoa hồi sức cấp cứu, khoa xét nghiệm): Kết cấu: móng khung cột pêtông cốt thép, tường xây gạch sơn nước, ngăn phòng, nền gạch bông, mái tole fbroximăng có trần nhựa, phía hành lang trần pêtông, diện tích 396 m2. Cửa đi loại 01 cánh bằng gỗ: 15 cái, Cửa đi loại 02 cánh bằng gỗ: 06 bộ, Cửa sổ loại 02 cánh bằng gỗ: 14 bộ, Cửa sổ loại 04 cánh bằng gỗ: 06 bộ.

4. Một phòng khám nha (một phần khoa điều trị nội trú B): Kết cấu: móng khung cột pêtông cốt thép, tường xây gạch sơn nước, ngăn phòng, nền gạch bông, mái tole fbroximăng có trần nhựa, phía hành lang trần pêtông, diện tích 45,01 m2. Cửa đi loại 01 cánh bằng gỗ khung kiếng: 02 cái, Cửa sổ loại 02 cánh bằng gỗ: 04 bộ.

5. Nhà vệ sinh dành cho nhân viên: Kết cấu: móng cột pêtông cốt thép, nền gạch bông, tường xây gạch sơn nước ốp gạch ceramic, mái tole fbroximăng, diện tích 21 m2.

6. Nhà ăn (căn tin cũ): Kết cấu: móng cột pêtông cốt thép, tường bao che, nền láng ximăng, mái tole fbroximăng, diện tích 21 m2.

7. Nhà nghỉ bảo vệ: Kết cấu: móng pêtông cốt thép, tường xây tô, không trần, mái tole fbroximăng, nền gạch bông, diện tích 24 m2. Cửa đi loại 02 cánh bằng gỗ: 02 cái, Cửa sổ loại 04 cánh bằng gỗ: 01 bộ.

8. Nhà xe: Kết cấu: móng pêtông cốt thép vách xây tường, không trần, mái tole fbroximăng, nền láng ximăng, diện tích 40 m2.

- Tài sản tọa lạc: tại Bệnh viện Đa khoa Hàm Long cũ; địa chỉ: xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Y tế huyện Châu Thành quản lý, do không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ cho lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Trung tâm Y tế huyện Châu Thành.

            - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo cho người bệnh qua lại, khu vực Bệnh viện và các khu làm việc xung quanh.

            - Khách hàng trúng đấu giá khoản tiền đặt trước sẽ được Trung tâm tạm giữ khi nào tháo dỡ xong trả lại mặt bằng sạch cho Trung tâm Y tế huyện Châu Thành và được sự chấp thuận của Trung tâm Y tế huyện Châu Thành, số tiền tạm giữ Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ hoàn lại cho khách hàng. 

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3+4+5+6+7+8): 119.436.000đ (Một trăm mười chín triệu, bốn trăm ba mươi sáu ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 23.000.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc) tại Bệnh viện Đa Khoa Hàm Long cũ , địa chỉ: xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh  Bến Tre.

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 11/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/10/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 24/10/2017 (Thứ ba).          

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá, nộp tiền đặt trước của và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 - 0275.3512081 – 0275.3512083 để biết thêm chi tiết.

13/10/2017 5:00 CHĐã ban hành
Chi đoàn Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức thành công cuộc thi “Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính” năm 2015Chi đoàn Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức thành công cuộc thi “Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính” năm 2015

Được sự cho phép của Đảng ủy Sở Tư pháp, ngày 11 tháng 9 năm 2015 tại Hội trường Sở Tư pháp, Chi đoàn Sở Tư pháp đã tổ chức cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015. Tham dự Cuộc thi có đồng chí Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Nguyễn Thị Yến, Phó Bí thư Đoàn Khối Các cơ quan tỉnh; đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, Chi hội Luật gia, Thủ trưởng các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp và 22 thí sinh là đoàn viên Chi đoàn Sở Tư pháp.

CCHC4.gif 

Thông qua cuộc thi "Tìm hiểu về công tác cải cách hành chính" năm 2015, giúp cho đoàn viên nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính; phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đoàn viên, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Chi đoàn và đoàn viên; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để đoàn viên phấn đấu, học tập, trao dồi kiến thức, rèn luyện, trưởng thành hơn trong công tác cũng như trong cuộc sống.

CCHC2.gif 

CCHC3.gif 

Các thí sinh tham dự cuộc thi đã trãi qua 02 vòng thi do Ban tổ chức đặt ra. Vòng 01, mỗi thí sinh cùng tham gia trả lời 20 câu hỏi trắc nghiệm trong thời gian 15 phút với nội dung liên quan đến công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính. Kết thúc vòng 01, chọn ra 10 thí sinh có số điểm cao nhất để tham gia trả lời câu hỏi tự luận theo hình thức bốc thăm với nội dung liên quan đến xử lý tình huống, kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử, kiến thức liên quan đến cải cách hành chính, thủ tục hành chính.

CCHC1.gif 

Kết quả cuộc thi, Ban tổ chức đã tặng Giấy chứng nhận và tiền thưởng cho 01 thí sinh đạt giải nhất, 01 thí sinh đạt giải nhì, 03 thí sinh đạt giải ba và 05 giải khuyến khích.

22/09/2015 5:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 22/6/2012Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 22/6/2012

THÔNG BÁO SỐ 513

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

1) Thửa đất số 34, thuộc tờ bản đồ số 11.

- Diện tích: 1.000 m2;

- Loại đất: CLN (đất trồng cây lâu năm).

- Giá khởi điểm: 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng).

2) Thửa đất số 30, thuộc tờ bản đồ số 19.

- Diện tích được sử dụng: 6.778,1 m2;

- Diện tích lộ giới: 416,5 m2;

- Diện tích tính vào giá bán: 6.361,6 m2;

- Loại đất: SKC (đất cơ sở sản xuất, kinh doanh);

- Giá khởi điểm: 6.400.000.000đ (sáu tỷ bốn trăm triệu đồng).

3) Nhà thuộc thửa số 30, tờ bản đồ số 19 (bán dạng phế liệu, người mua tự tháo dỡ).

- Kết cấu: móng cột bê tông cốt thép, tường xây, vì kèm gỗ, mái ngói, nền láng gạch bông, không trần, diện tích: 344,96m2, tỷ lệ còn lại 7%.

- Giá khởi điểm: 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

* Tài sản 1 tọa lạc tại: xã An Hóa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

* Tài sản (2+3) tọa lạc tại: thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: (1+2+3): 6.670.000.000đ (sáu tỷ sáu trăm bảy mươi triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản 1: 200.000đ/hồ sơ.

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản 2: 500.000đ/hồ sơ.

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản 3: 100.000đ/hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 1: 12.000.000đ/hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 2: 350.000.000đ/ hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 3: 5.000.000đ/ hồ sơ.

 

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ ngày 22/6/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 23/7/2012.

Thời gian đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ ngày 20/7/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 23/7/2012.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 25/7/2012 tại Hội trường Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

 

THÔNG BÁO SỐ 522

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Lũy và bà Nguyễn Thị Cẩm (Chủ DNTN Việt Hùng), địa chỉ tại: ấp 6A, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất thuộc tờ bản đồ số 08, thửa 845:

- Diện tích: 210 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Giá khởi điểm: 105.000.000đ (một trăm lẻ năm triệu đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AĐ 836179 do UBND thị xã Bến Tre cấp ngày 15/03/2006

- Tài sản tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

2) Về đất thuộc tờ bản đồ số 08, thửa 778:

- Diện tích: 980,1 m2 ;

- Loại đất: trồng lúa;

- Giá khởi điểm: 196.020.000 đ (một trăm chín mươi sáu triệu không trăm hai mươi ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 580801 do UBND thị xã Bến Tre cấp ngày 04/07/2005

- Tài sản tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

3) Về đất thuộc tờ bản đồ số 11, thửa 458:

- Diện tích: 78,7 m2 ;

- Loại đất: trồng cây hàng năm;

- Giá khởi điểm: 133.790.000đ (một trăm ba mươi ba triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 027113 do UBND thị xã Bến Tre cấp ngày 19/03/2007

- Tài sản tọa lạc tại: xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

4) Về đất thuộc tờ bản đồ số 12, thửa 328:

- Diện tích: 140,8 m2 ; trong đó:

- Loại đất: 100 m2 ONT; 40,8 m2 trồng cây lâu năm.

- Giá khởi điểm: 461.200.000đ (bốn trăm sáu mươi một triệu hai trăm ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 081120 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 21/08/2006

- Tài sản tọa lạc tại: xã Hữu Đinh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

5) Về đất thuộc tờ bản đồ số 04, thửa 1344:

- Diện tích: 2485,5 m2 ; trong đó:

- Loại đất: 300 m2 ONT; 2185,5 m2 trồng cây lâu năm.

- Giá khởi điểm: 4.833.900.000đ (bốn tỷ tám trăm ba mươi ba triệu chín trăm ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 193472 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 03/06/2008

- Tài sản tọa lạc tại: xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

6) Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 219:

- Diện tích: 610 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm.

- Giá khởi điểm: 244.000.000đ (hai trăm bốn mươi bốn triệu đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 081119 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 21/08/2006

- Tài sản tọa lạc tại: xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

7) Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 218:

- Diện tích: 300 m2 ;

- Loại đất: ONT;

- Giá khởi điểm: 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 081118 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 21/06/2006

- Tài sản tọa lạc tại: xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

8) Về đất thuộc tờ bản đồ số 03, thửa 32:

- Diện tích: 1396,1 m2 ; trong đó:

- Loại đất: 300 m2 ONT; 1096,1 m2 trồng cây lâu năm.

- Giá khởi điểm: 1.381.685.000đ (một tỷ ba trăm tám mươi một triệu sáu trăm tám mươi lăm ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BA 058289 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 07/06/2010

- Tài sản tọa lạc tại: xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

9) Về đất thuộc tờ bản đồ số 06, thửa 242:

- Diện tích: 300 m2 ;

- Loại đất: ONT;

- Giá khởi điểm: 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 537670 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 01/01/2005

- Tài sản tọa lạc tại: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

10) Về đất thuộc tờ bản đồ số 06, thửa 244:

- Diện tích: 3.400 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Giá khởi điểm: 850.000.000đ (tám trăm năm mươi triệu đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 537671 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 01/01/2005

- Tài sản tọa lạc tại: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

11) Về đất thuộc tờ bản đồ số 06, thửa 243:

- Diện tích: 300 m2 ;

- Loại đất: ONT;

- Giá khởi điểm: 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 537672 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 01/01/2005

- Tài sản tọa lạc tại: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

12) Về đất thuộc tờ bản đồ số 03, thửa 1408:

- Diện tích: 536 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Giá khởi điểm: 64.320.000đ (sáu mươi bốn triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 499846 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 24/05/2005

- Tài sản tọa lạc tại: xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

13) Về đất thuộc tờ bản đồ số 03, thửa 406:

- Diện tích: 2.439 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Giá khởi điểm: 292.680.000đ (hai trăm chín mươi hai triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 519311 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 20/06/2005

- Tài sản tọa lạc tại: xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

14) Về đất thuộc tờ bản đồ số 03, thửa 1350:

- Diện tích: 515 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Giá khởi điểm: 61.800.000đ (sáu mươi một triệu tám trăm ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 519312 do UBND huyện Châu Thành cấp ngày 20/06/2005

- Tài sản tọa lạc tại: xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

15) Về đất thuộc tờ bản đồ số 15, thửa 142:

- Diện tích: 1.951,9 m2 ;

- Loại đất: trồng lúa;

- Giá khởi điểm: 136.633.000đ (một trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi ba ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 286587 do UBND huyện Giồng Trôm cấp ngày 28/04/2005

- Tài sản tọa lạc tại: xã Phong Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

16) Về đất thuộc tờ bản đồ số 15, thửa 100:

- Diện tích: 5.699,1 m2 ;

- Loại đất: trồng cây lâu năm;

- Giá khởi điểm: 569.910.000đ (năm trăm sáu mươi chín triệu chín trăm mười ngàn đồng)

* Bán theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB 311043 do UBND huyện Giồng Trôm cấp ngày 15/02/2005

- Tài sản tọa lạc tại: xã Phong Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Lũy và bà Nguyễn Thị Cẩm (Chủ DNTN Việt Hùng) do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3+4+5+6+7+8+9+10+11+ 12+13+14+15+16): 10.050.938.000đ (mười tỷ không trăm năm mươi triệu chín trăm ba mươi tám ngàn đồng )

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 25/6/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/7/2012

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 01/8/2012 tại Hội trường Sở Tư Pháp tỉnh Bến Tre, số 17 đường Cách mạng tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ (thửa 845, 778, 458, 328, 219, 218, 242, 243, 406, 142), 500.000 đ/hồ sơ (thửa 1.344, 32, 244, 100), 100.000 đ/hồ sơ (thửa 1408, 1350, )

* Tiền đặt trước tham gia đấu giá: 5.000.000 đ/hồ sơ (thửa 845), 10.000.000 đ/hồ sơ (thửa 778, 243), 7.000.000 đ/ hồ sơ (thửa 458, 142), 23.000.000 đ/hồ sơ (thửa 328), 240.000.000 đ/hồ sơ (thửa 1344), 12.000.000 đ/hồ sơ (thửa 219), 15.000.000 đ/ hồ sơ (thửa 218, 406), 70.000.000 đ/hồ sơ (thửa 32), 10.000.000 đ/hồ sơ (thửa 242), 42.000.000 đ/hồ sơ (thửa 244), 3.000.000 đ/hồ sơ (thửa 1408, 1350), 28.000.000 đ/hồ sơ (thửa 100)

 

THÔNG BÁO Số 521

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và nhà gắn liền với đất của hộ bà Nguyễn Thị Hoa (là người có tài sản bảo lãnh thế chấp vay cho Công ty TNHH Thân Bến Thành) hiện cư ngụ tại: 190C khu phố 6, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

1) Về đất thuộc tờ bản đồ số 54, thửa đất 213;

- Diện tích đất: 180,6 m2, loại đất: T (thổ cư);

2) Về nhà (gắn liền với đất)

Nhà cấp 4 gồm nhà chính + nhà phụ có tổng diện tích 118 m2. Kết cấu: nền ximăng, vách tường, cột bêtông, mái tol, số tầng 01, năm xây dựng 1985.

* Bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số P555831, số vào sổ cấp giấu chứng nhận quyền sử dụng đất số 000631 QSDĐ/2635/QĐ-UB(T) do UBND tỉnh Bến Tre cấp ngày 17/8/2000 và đơn xin xác nhận chủ quyền nhà ở ngày 23/9/2009

- Tài sản tọa lạc tại: 190C khu phố 6, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà gắn liền với đất của hộ bà Nguyễn Thị Hoa (người có tài sản bảo lãnh thế chấp vay cho Công ty TNHH Thân Bến Thành) do Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 648.000.000 đ (Sáu trăm bốn mươi tám triệu đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 25/6/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/7/2012

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 01/8/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, số 17 đường Cách mạng tháng 8, phường 3, thành phố Bến tre, tỉnh BếnTtre

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000 đ/hồ sơ

* Tiền đặt trước tham gia đấu giá: 32.000.000 đ/hồ sơ


THÔNG BÁO Số 520

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Văn Lù, địa chỉ tại: ấp Thừa Long, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre;

- Diện tích: 23.957,6 m2 đất ao;

- Thuộc tờ bản đồ số 01, thửa 932;

* Bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00484 QSDĐ/3364/QĐ-UB do UBND huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre cấp ngày 22/12/2003

- Tài sản tọa lạc tại: ấp Thừa Long, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Lù do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 135.839.592 đ (Một trăm ba mươi lăm triệu tám trăm ba mươi chín ngàn năm trăm chín mươi hai đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 25/6/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/7/2012

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 01/8/2012 tại Hội trường Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, số 17 đường Cách mạng tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000 đ/hồ sơ

* Tiền đặt trước tham gia đấu giá: 7.000.000 đ/hồ sơ

 

THÔNG BÁO Số 59

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất bà Đào Thị Hồng Mai, địa chỉ tại: ấp Bảo Hòa, xã Vĩnh Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

- Diện tích: 4.691 m2 đất lúa;

- Thuộc tờ bản đồ số 04, thửa 298;

* Bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 479239, số vào sổ cấp giấy số H01775 do UBND huyện Ba Tri cấp ngày 15/6/2007

- Tài sản tọa lạc tại: ấp Bảo Hòa, xã Vĩnh Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của bà Đào Thị Hồng Mai do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 75.994.200 đ (Bảy mươi lăm triệu chín trăm chín mươi bốn ngàn hai trăm đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ ngày 25/6/2012 đến 16 giờ 30 phút ngày 25/7/2012

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ ngày 01/8/2012 tại Hội trường Sở Tư Pháp tỉnh Bến Tre, số 17 đường Cách mạng tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000 đ/hồ sơ

* Tiền đặt trước tham gia đấu giá: 4.000.000 đ/hồ sơ

04/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH VỰC HẢI QUANDANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH VỰC HẢI QUAN
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01Nghị định

 

127/2013/NĐ-CP

15/10/2103Quy định về xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quanCòn hiệu lực 
​02Nghị định​45/2016/NĐ-CP​26/5/2016sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan​Có hiệu lực kể từ ngày 01/8/2016
03
Thông tư190/2013/TT-BTC

12/12/2013

 

Về việc quy định chi tiết thi hành Nghị định 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan

Hết hiệu lực một phần

Bãi bỏ quy định tại Điều 25 

Bị bãi bỏ bởi Thông tư 05/2014/TT-BTC ngày 07/8/2014

04Thông tư105/2014/TT-BTC07/8/2014Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chínhCòn hiệu lực 

 

08/06/2016 5:00 CHĐã ban hành
Nội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIIINội dung kỳ họp thứ 8 – Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII

Kỳ họp thứ 8 - Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh khóa VIII sẽ diễn ra trong 03 ngày, trong đó 01 ngày họp Tổ đại biểu thảo luận tài liệu kỳ họp (ngày 19/11/2013) và 02 ngày họp toàn thể tại hội trường (ngày 05, 06/12/2013). Kỳ họp lần này diễn ra với các nội dung chính sau đây:

Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ thông qua các báo cáo và tờ trình:

1. Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

2. Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2013, Kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2014.

3. Báo cáo quyết toán ngân sách tỉnh năm 2012.

4. Báo cáo thu, chi ngân sách năm 2013, dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách tỉnh năm 2014.

5. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 33/2012/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2012 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5.

6. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 12/2013/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2013 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6.

7. Báo cáo về việc tổng kết Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND về bổ sung một số chủ trương, biện pháp tiếp tục thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn tỉnh Bến Tre đến 2020 và Nghị quyết số 06/2009/NQ-HĐND về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 05/2007/NQ-HĐND.

8. Báo cáo chuyên đề về kết quả thực hiện Nghị quyết số 14/2011/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2011 về công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

9. Báo cáo chuyên đề về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại năm 2013.

10. Báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh năm 2013.

11. Báo cáo với HĐND tỉnh về các nội dung đã thoả thuận giữa Thường trực HĐND và Ủy ban nhân dân năm 2013.

12. Báo cáo tiếp thu, giải trình về các ý kiến thảo luận Tổ đại biểu, ý kiến thẩm tra của các Ban và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

13. Các tờ trình của Ủy ban nhân dân tỉnh xin thông qua dự thảo:

- Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014.

- Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2014.

- Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách tỉnh Bến Tre năm 2012.

- Nghị quyết về dự toán và phương án phân bổ ngân sách nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014.

- Nghị quyết về quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre áp dụng trong năm 2014.

- Nghị quyết Quy hoạch vùng tỉnh Bến Tre.

- Nghị quyết Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

- Nghị quyết thông qua Đề án thành lập thị trấn Phước Mỹ Trung thuộc huyện Mỏ Cày Bắc.

- Nghị quyết về việc bãi bỏ toàn bộ, bãi bỏ một phần các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

- Nghị quyết về đẩy mạnh và phát triển đô thị tỉnh Bến Tre đến năm 2020.

- Nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh.

Các cơ quan tư pháp báo cáo:

1. Tình hình và kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp năm 2013 ở địa phương. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

2. Tình hình và kết quả hoạt động xét xử năm 2013 trên phạm vi toàn tỉnh. Những thuận lợi, khó khăn, các kiến nghị, đề xuất.

3. Tờ trình về việc cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh: thông báo về việc tham gia xây dựng chính quyền năm 2013, những kiến nghị, đề xuất với Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến, kiến nghị của cử tri. Đồng thời sẽ giới thiệu nhân sự bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016.

Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh có nội dụng báo cáo, tờ trình gồm:

1. Báo cáo tổng kết hoạt động Thường trực, các Ban HĐND tỉnh năm 2013 và chương trình công tác năm 2014.

2. Báo cáo kết quả giám sát của HĐND về cải cách thủ tục hành chính và công tác xây dựng, nâng cao chất lương đội ngủ cán bộ, công chức trong chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 của tỉnh và kết quả giám sát khai thác cát sông trái phép trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

3. Báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát của HĐND, Thường trực HĐND tỉnh năm 2013 và dự kiến nội dung chương trình giám sát năm 2014.

4. Báo cáo thực hiện kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2013 và dự toán kinh phí năm 2014.

5. Báo cáo về tình hình thực hiện chương trình xây dựng nghị quyết năm 2013.

6. Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận Tổ đại biểu và ý kiến, kiến nghị của cử tri.

7. Báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh về các báo cáo, tờ trình, đề án trình tại kỳ họp thứ 8.

8. Các tờ trình của Thường trực HĐND tỉnh xin thông qua:

- Nghị quyết về chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về chương trình hoạt động giám sát của HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về kinh phí hoạt động HĐND tỉnh năm 2014.

- Nghị quyết về Chất vấn và trả lời chất vấn.

- Nghị quyết về cho thôi giữ nhiệm vụ Hội thẩm nhân dân.

- Nghị quyết về xác nhận kết quả bầu cử bổ sung Hội thẩm nhân dân.

Kỳ họp lần thứ 8 - HĐND tỉnh khoá VIII sẽ được truyền hình trực tiếp phiên khai mạc, phiên chất vấn, trả lời chất vấn và phiên bế mạc để cử tri theo dõi và giám sát.

18/11/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 21/9/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 21/9/2017
02/10/2017 10:00 SAĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre: Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tư pháp Bến Tre tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp 6 tháng cuối năm 2017. Ông Phan Tuấn Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tư pháp và các Phó Giám đốc Sở dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo các phòng, trung tâm thuộc Sở Tư pháp, đại diện lãnh đạo Phòng Tư pháp các huyện, thành phố, Chủ tịch Hội Công chứng, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh dự, đưa tin.

so-ket-6-thang2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe Báo cáo sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017; tham gia thảo luận, trao đổi, đề xuất các giải pháp các lĩnh vực của công tác tư pháp như: Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật; hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp...

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp biểu dương kết quả đạt được của ngành Tư pháp tỉnh trong 6 tháng đầu năm, yêu cầu những tháng còn lại trong năm 2017, toàn ngành Tư pháp Bến Tre tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật góp phần đảm bảo tính ổn định, đồng bộ, minh bạch, khả thi của pháp luật. Phát huy vai trò của ngành Tư pháp trong việc theo dõi, đôn đốc, kiểm soát chặt chẽ tình hình soạn thảo, ban hành văn bản tại địa phương.

so-ket-6-thang3.jpg

Thứ hai, đối với những luật đã được thông qua (gồm 12 luật và 12 nghị quyết), trong đó có 3 luật liên quan đến Ngành (Luật Hình sự sửa đổi; Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi và Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước sửa đổi) căn cứ hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương, các phòng, trung tâm thuộc Sở có liên quan, Phòng Tư pháp các huyện, thành phố khẩn trương tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp có kế hoạch tổ chức thực hiện. Tập trung tổ chức Ngày Pháp luật định kỳ và Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017 đảm bảo thiết thực, hiệu quả. Tổ chức Hội thi Tuyên truyền viên pháp luật giỏi cấp tỉnh năm 2017 đạt kết quả tốt, đúng với yêu cầu, thời gian, kế hoạch đã đề ra. Khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021 và các Đề án phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp tình hình thực tế địa phương. Kịp thời tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả nhiệm vụ được giao tại Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (ban hành kèm theo Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ) và nhiệm vụ “Đánh giá, công nhận, xây dựng xã tiếp cận pháp luật; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân” theo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020.

Thứ ba, tiếp tục triển khai thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trọng tâm năm 2017 và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp; trong đó, tập trung vào theo dõi tình hình thi hành các quy định của pháp luật về tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong việc tiếp cận, khai thác các nguồn lực về vốn, khoa học kỹ thuật, đất đai, lao động

so-ket-6-thang1.jpg            

Thứ tư, tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chủ động hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở trong quá trình đăng ký hộ tịch. Sớm khắc phục tình trạng lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực khi thực hiện thủ tục hành chính theo Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính đảm bảo giải quyết đúng quy định pháp luật.

Thứ năm, Phòng Tư pháp tiếp tục chỉ đạo Công chức Tư pháp-Hộ tịch cấp xã theo nhiệm vụ của mình, phát hiện đối tượng, giới thiệu đối tượng trợ giúp pháp lý đến với hoạt động trợ giúp pháp lý, để đảm bảo quyền lợi cho đối tượng được nhà nước bảo trợ về mặt tư pháp. Nhất là qua hoạt động hòa giải ở cơ sở và hòa giải tranh chấp đất đai ở UBND cấp xã khi phát hiện đối tượng nên giới thiệu về quyền được trợ giúp pháp lý để đối tượng biết mà yêu cầu.

Thứ sáu, trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp tập trung triển khai thi hành có hiệu quả các quy định của Luật Đấu giá tài sản; thực hiện thiết thực, đồng bộ các đề án, văn bản trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp, trong đó chú trọng công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực luật sư, công chứng, bán đấu giá tài sản.

19/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
Danh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnhDanh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh
07/02/2017 2:00 CHĐã ban hành
Tìm hiểu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp QuốcTìm hiểu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc
23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018

Ngày 20 tháng 6 năm 2017, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, các bộ luật, luật sau đây có hiệu lực thi hành: Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH1(sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015); Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Các quy định tại Nghị quyết số 110/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 có ghi thời điểm “ngày 01 tháng 7 năm 2016” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2018”, thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2019” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2020”.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng như sau:

Tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;

Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;

Tội phạm mới quy định tại các điều 147, 154, 167, 187, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 217a, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 393 và 418 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; các điều luật quy định hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201để giải quyết;

Quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết này cũng được áp dụng đối với các điều luật mới quy định tội được tách ra từ các tội ghép trong Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 1999);

Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”“số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”“thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”“đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”“giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”“quy mô lớn” của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này;

Đối với hành vi hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, hành vi kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án thì không được căn cứ vào việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ, tội danh đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội danh kinh doanh trái phép, tội danh cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để kháng cáo, kháng nghị theo hướng không phạm tội. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về tội hoạt động phỉ, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội kinh doanh trái phép, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, tội kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội danh tương ứng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết này;

 Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại Bộ luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018;

Trường hợp chất thu giữ được nghi là chất ma túy ở thể rắn đã được hòa thành dung dịch, chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, xái thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải xác định hàm lượng chất ma túy làm cơ sở để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ được. Đối với các trường hợp khác thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.

Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sau đây gọi là Luật số 12/2017/QH14) được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định sau đây:

Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử;

Hình phạt tử hình đã tuyên đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này nhưng chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không thi hành án và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính; hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa. Nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Đối với các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 không quy định là tội phạm nữa: nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm các tội mà không được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015; nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

Người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết này thì đương nhiên được xóa án tích;

Thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này;

Áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 để thi hành quy định tại điểm b khoản Điều 2 Nghị quyết này và các quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi cho người phạm tội.

 Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 7 năm 2017. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành cho đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này, tiếp tục áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 30/2006/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 09/2009/PL-UBTVQH12.

20/07/2017 3:00 CHĐã ban hành
Nguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tộiNguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
23/01/2017 2:00 CHĐã ban hành
Hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017Hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017

Thực hiện Công văn số 2076/BTP-PBGDPL ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017 và Công văn số 3025/UBND-NC ngày 04 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017, Sở Tư pháp hướng dẫn hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017 (Ngày Pháp luật năm 2017) với nội dụng cụ thể như sau:

 Chủ đề Ngày Pháp luật năm 2017: "Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cải cách hành chính, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp".

Nội dung trọng tâm: Căn cứ điều kiện thực tiễn và nhiệm vụ chính trị, các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tập trung vào các nội dung sau:

 Về công tác hoàn thiện thể chế: Rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, quy định pháp luật về đầu tư, kinh doanh, xuất nhập khẩu, thuế, đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, tín dụng…; các chính sách tư vấn, hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp;

Về công tác tổ chức thi hành pháp luật: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; quán triệt, truyền thông, phổ biến nội dung chính sách, quy định mới ban hành; tác động, hiệu ứng của chính sách, pháp luật đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp; các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý; quyền, nghĩa vụ của công dân và biện pháp bảo đảm thực hiện; pháp luật về đất đai, vệ sinh, an toàn thực phẩm, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền biên giới lãnh thổ; phòng, chống tham nhũng, lãnh phí; bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền tài sản, sở hữu trí tuệ; các điều ước, thỏa thuận quốc tế nhất là các thỏa thuận hợp tác về pháp luật và tư pháp mà Việt Nam là thành viên.

 Thông tin về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động đầu tư kinh doanh; triển khai nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; tăng cường theo dõi thi hành pháp luật, các vấn đề pháp lý phát sinh trong bối cảnh hội nhập quốc tế; các vấn đề dư luận quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội.

 Giáo dục ý thức và lợi ích của việc tuân thủ, chấp hành pháp luật; xây dựng, bồi dưỡng, nhân rộng, khen thưởng, tôn vinh gương người tốt, việc tốt, điển hình trong xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; phê phán, đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn xã hội; nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân trong chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; phát huy tinh thần gương mẫu tuân thủ, chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để hình thành nhân cách con người Việt Nam phát triển toàn diện; củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào chế độ; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật để tạo đồng thuận xã hội; có các giải pháp cụ thể để tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

 Hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật năm 2017: Hưởng ứng Ngày Pháp luật là việc làm hàng ngày, thường xuyên của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người dân; trong đó tập trung vào đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến các luật, pháp lệnh và các văn bản mới liên quan đến chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hoặc liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp từ ngày 01/10 đến ngày 30/11/2017.

Các hình thức hưởng ứng Ngày Pháp luật phải phù hợp, thiết thực, hiệu quả, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, cụ thể là:

Tổ chức lễ hưởng ứng Ngày Pháp luật hoặc lồng ghép hưởng ứng thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm, qua hoạt động chính trị, chuyên môn phù hợp với điều kiện thực tiễn; lồng ghép trong triển khai hoạt động xây dựng, thi hành, bảo vệ pháp luật; tổ chức lễ ký kết chương trình phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; tổ chức đối thoại chính sách pháp luật; xây dựng, phát hiện, nhân rộng mô hình hay, cách làm mới, hiệu quả; tổ chức các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng để nâng cao năng lực xây dựng, thi hành thể chế, chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; ngày tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn phí; "Ngày Pháp luật" định kỳ hàng tháng; "Tiết học pháp luật"…

Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong phổ biến, giáo dục pháp luật; phát động, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật (trực tuyến, sân khấu hóa); sử dụng hiệu quả mạng lưới thông tin cơ sở, các phương tiện thông tin đại chúng; nhân rộng mô hình ngày hội pháp luật; thiết lập chuyên trang, chuyên mục phát thanh, truyền hình để bình luận, đối thoại chính sách, định hướng dư luận; áp phích, pa-nô, băng rôn, cờ, phướn trên đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; ra quân tình nguyện, hoạt động giáo dục ngoại khóa ngoài giờ lên lớp gắn với giáo dục khởi nghiệp; tư vấn pháp luật, thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, nhất là vụ việc tham gia tố tụng; mở phiên tòa xét xử lưu động; lồng ghép qua lễ hội, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, phòng, chống tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật có sự tham gia rộng rãi của Nhân dân.

Tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng, thi hành và bảo vệ pháp luật; tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động nhân dân tuân thủ, chấp hành chính sách, pháp luật, củng cố khối đoàn kết cộng đồng, gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", Phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Thời gian thực hiện Ngày Pháp luật năm 2017: Các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật cần tổ chức thường xuyên, liên tục trong cả năm, tập trung vào 02 tháng, bắt đầu từ ngày 01/10 đến hết ngày 30/11/2017, cao điểm từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2017.

Trong tuần lễ cao điểm từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2017, tổ chức tuyên truyền, cổ động trực quan chủ đề, khẩu hiệu về Ngày Pháp luật năm 2017 qua hệ thống áp phích, pa-nô, băng rôn, cờ, phướn trên các tuyến đường phố chính, khu trung tâm, cơ quan, đơn vị, trường học, địa điểm công cộng; chú ý lựa chọn khẩu hiệu phù hợp với đối tượng, địa bàn.

13/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020

Ngày 21 tháng 6 năm 2017, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Nghị quyết 43/2017/QH14 về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020. Theo đó, trong giai đoạn 2016 - 2020, Quốc Hội giao Chính phủ tập trung thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp sau:

Khẩn trương rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm để sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan theo hướng quy định rõ các điều cấm và tăng chế tài xử lý; khắc phục tình trạng chồng chéo, không rõ trách nhiệm trong phân công quản lý an toàn thực phẩm; tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, đến hết năm 2020 cơ bản hoàn thành các quy chuẩn kỹ thuật chính về an toàn thực phẩm cho các nhóm đối tượng và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Đến hết năm 2018, kiện toàn cơ bản bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm các cấp theo hướng tập trung đầu mối, rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả. Ở cấp xã, phân công cán bộ theo dõi an toàn thực phẩm. Tăng cường năng lực, điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ quản lý an toàn thực phẩm ở các cấp, tạo sự chuyển biến rõ rệt về an toàn thực phẩm.

Phấn đấu giảm mạnh số vụ ngộ độc thực phẩm nhiều người, giảm tỷ lệ mẫu thực phẩm kiểm tra không đảm bảo an toàn, tăng tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản được kiểm tra đạt yêu cầu về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm so với giai đoạn trước. Có lộ trình và giải pháp giải quyết dứt điểm các vấn đề yếu kém: về dư lượng vượt ngưỡng cho phép của thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, kinh doanh thực phẩm; kiểm soát giết mổ nhỏ lẻ, thực phẩm có nguy cơ cao, thức ăn đường phố; ngộ độc thực phẩm cấp tính và mãn tính; kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất xứ, vi phạm quy định ghi nhãn hàng hóa, hàng nhập lậu và gian lận thương mại; kiểm soát môi trường đất, nước cho sản xuất thực phẩm an toàn.

Hoàn thiện chính sách về đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm đồng bộ với quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất an toàn; có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo chuỗi khép kín, áp dụng chương trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, hệ thống kiểm soát chất lượng tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và sản xuất hàng hóa quy mô lớn gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ, bảo đảm an toàn thực phẩm, có lộ trình giảm tỷ trọng sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, kém chất lượng.

 Đẩy mạnh quản lý an toàn thực phẩm sang kiểm soát theo quá trình sản xuất, dựa trên phân tích nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm; tăng cường hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm; chỉ đạo các địa phương phát triển, nhân rộng chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn và kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ; tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống giám sát, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; tăng các biện pháp, chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng; tiếp tục thực hiện thí điểm thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm, đánh giá tổng kết và mở rộng mô hình khi có kết quả tích cực.

Bố trí đủ ngân sách cho công tác quản lý an toàn thực phẩm theo dự toán. Cho phép sử dụng kinh phí xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm để phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, trong đó được trích một tỷ lệ hợp lý khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích trong quản lý, tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm. Tăng cường xã hội hóa, đa dạng các nguồn lực tài chính và một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm; thực hiện tốt việc tổ chức đánh giá, công nhận các cơ sở thực hiện xã hội hóa quản lý an toàn thực phẩm và chỉ định các cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện kiểm nghiệm về an toàn thực phẩm tham gia kiểm định, giám định chất lượng thực phẩm. Phối hợp tích cực với hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp, đặc biệt là của người dân trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm.

Tăng cường công tác giáo dục truyền thông, thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm; biểu dương kịp thời những điển hình tiên tiến, công khai những tồn tại yếu kém, những hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm của tổ chức và cá nhân; tránh đưa thông tin không đúng sự thật gây hoang mang trong dư luận ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và phát triển các kỹ năng truyền thông; nâng cao số lượng, chất lượng các tài liệu và thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm. Thiết lập hệ thống thông tin hỏi đáp phục vụ người dân, cung cấp thông tin, phản ánh về an toàn thực phẩm; tiếp nhận và xử lý kịp thời các thông tin vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.

Chú trọng công tác đào tạo, tăng cường tập huấn chuyên môn nghiệp vụ; tổ chức đào tạo lại cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm tại các tuyến; từng bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao về an toàn thực phẩm; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tích cực vận động sự hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế cho công tác an toàn thực phẩm.

20/07/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1870, 1852 và 1853 thuộc tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Quới Tây A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1870, 1852 và 1853 thuộc tờ bản đồ số 03 tại ấp Tân Quới Tây A, xã Minh Đức, MCN, tỉnh Bến Tre
11/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhânTăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân

Ngày 04/7/2017, Bộ Y tế ban hành Chỉ thị số 04/CT-BYT về việc tăng cường quản lý hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân.

Nội dung Chỉ thị nêu rõ trong thời gian qua, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trong toàn quốc đã đóng góp một phần quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người dân trong cộng đồng, góp phần giảm tải cho các bệnh viện công lập, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân. Đến nay, toàn quốc đã có 206 Bệnh viện tư nhân và trên 30.000 phòng khám tư nhân. Tuy nhiên, bên cạnh các đóng góp tích cực của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, hiện nay qua báo cáo của các Sở Y tế và thực tế Bộ Y tế kiểm tra cho thấy một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, đặc biệt là các phòng khám tư nhân còn vi phạm các quy định về pháp luật khám bệnh, chữa bệnh như: mời bác sỹ người nước ngoài hành nghề khi chưa có chứng chỉ hành nghề; hành nghề quá phạm vi chuyên môn cho phép; sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam; quảng cáo quá phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép; không công khai giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh hoặc có niêm yết giá nhưng thu phí cao hơn giá đã niêm yết; việc lưu đơn thuốc, hồ sơ bệnh án chưa đúng theo quy định của Bộ Y tế.

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế, chấn chỉnh các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn các tỉnh, thành phố, cung cấp các dịch vụ có chất lượng tốt, bảo đảm an toàn cho người bệnh, Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiêm túc thực hiện những nội dung sau đây:

Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và các quy chế chuyên môn cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý.

Tăng cường quản lý người hành nghề thông qua việc đăng ký hành nghề, bảo đảm tất cả người hành nghề phải được cấp chứng chỉ hành nghề và hành nghề đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép.

Đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của Sở Y tế danh sách các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân đã được cấp giấy phép hoạt động trên địa bàn, kèm theo phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động, danh sách và phạm vi hoạt động chuyên môn của người hành nghề tại các cơ sở này để người dân tiện tìm hiểu thông tin trước khi khám bệnh, chữa bệnh.

Yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở (nếu có) và tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh các thông tin sau: Giấy phép hoạt động bao gồm phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian hoạt động; danh sách, văn bằng chuyên môn và phạm vi hoạt động chuyên môn của người chịu trách nhiệm chuyên môn và người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; tên và địa chỉ cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp để người dân biết và phản ánh khi có sai phạm.

Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất để kiểm tra hoạt động của các cơ sở hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

Thường xuyên kiểm tra biển hiệu quảng cáo, người hành nghề hoạt động chuyên môn của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, việc thực hiện các quy chế chuyên môn. Khi kiểm tra, thanh tra phát hiện cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có sai phạm phải xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật, không bao che sai phạm, thực hiện xử phạt hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, kết hợp với các hình thức phạt bổ sung theo quy định tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ như: tước chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, tước giấy phép hoạt động hoặc đình chỉ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân theo quy định của pháp luật.

Thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân có vi phạm pháp luật về y tế, tính chất, mức độ vi phạm, hình thức xử phạt để nhân dân biết nhằm tăng tính răn đe và phòng ngừa tái phạm.

Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện trong công tác quản lý, giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn quản lý, khuyến khích nhân dân cùng giám sát, phát hiện các sai phạm của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để thông báo cho Sở Y tế và chính quyền địa phương xử lý kịp thời.

Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thực hiện quản lý chặt chẽ việc quảng cáo về dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại địa phương. Khi thực hiện xác nhận nội dung quảng cáo phải thẩm định các nội dung quảng cáo, đối chiếu với phạm vi hoạt động chuyên môn do cơ quan có thẩm quyền cho phép, bảo đảm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không quảng cáo quá mức quy định, kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp quảng cáo khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép.

Tăng cường công tác truyền thông để người dân nêu cao cảnh giác khi nghe các quảng cáo quá mức về khả năng khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân.

20/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE (Đến tháng 6 năm 2017)DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE (Đến tháng 6 năm 2017)

​DANH SÁCH ĐẤU GIÁ VIÊN ĐANG HÀNH NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

 (Đến tháng 7 năm 2018)


STTHọ và tên Nơi hành nghềChứng chỉ hành nghề

Điện Thoại

 

Ghi chú
01

Dương Thị Nhanh

 

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

224/TP-ĐGV

02/11/2006

02753.823.667 
02Nguyễn Thị Như NgọcTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre397/TP/ĐG-CCHN02753.823.667 
03Nguyễn Thị Bích ThủyTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre

1732/TP/ĐG-CCHN

20/3/2017

02753.823.667 
05Đào Minh ChíTrung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản - Sở Tư pháp Bến Tre826/TP/ĐG-CCHN02753.823.667 
06Võ Thành KhởiCông ty  TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre

526/TP/ĐG/CCHN

15/12/2011

  
07Nguyễn Thị Hồng PhươngCông ty  TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản Bến Tre

668/TP/ĐG/CCHN

24/9/2012

02753.560.778

02753.818.444

 
08Trần Văn DuẩnChi nhánh Bến Tre - Công ty TNHH Trọng Pháp800/TP/ĐG-CCHN

02753.500.366

 

 
09Nguyễn Thị Thanh HuyềnCông ty TNHH Tư vấn bán đấu giá  Hoàng Anh636/TP/ĐG-CCHN  
10Liêu Quốc CườngCông ty TNHH Dịch vụ bán đấu giá tài sản  Bến Tre

1084/TP/ĐG-CCHN

11/02/2015

  
11Phạm Hoài ThuậnVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

1161/TP/ĐG-CCHN

09/6/2015

  
12Nguyễn Văn PhướcVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

1202/TP/ĐG-CCHN

09/9/2015

  
13Trần Hoàng VũVăn phòng Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ - Bán đấu giá tài sản Hoàng Vũ

174/TP/ĐGV

19/5/2006

  
14Lê Nhật HoàngCt  Công ty Cổ phần Đầu tư - Bán đấu giá tài sản Hồng Phúc - Chi nhánh Bến Tre

1321/TP/ĐG-CCHN

02/02/2016

02753.701.357

hongphucauction

@gmail.com

 


30/07/2018 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 14/12/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 369 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất và công trình gắn liền trên đất (không thể di dời được) của và bà Nguyễn Thị Sáng, cư ngụ tại: ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Quyền sử dụng đất thửa 1257, tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 667 m2;

- Loại đất: Đất trồng cây lâu năm;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665096 do Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam cấp ngày 20/02/2013, số vào sổ cấp GCN: CH00648.

2. Quyền sử dụng đất thửa 860 tờ bản đồ số 2

- Diện tích: 300m2;

- Loại đất: Đất ở tại nông thôn;

- Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 665095 cấp ngày 20/02/2013 tại Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, số vào sổ CH00647.

3. Tài sản, công trình (không thể di dời được) gắn liền trên đất: nhà ở, nhà trọ cho thuê.

* Tài sản (1+2+3) tọa lạc tại: Ấp Phú Quới, xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất, nhà ở, nhà trọ cho thuê; tài sản, công trình gắn liền trên đất của và bà Nguyễn Thị Sáng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 803.700.000đ (Tám trăm lẻ ba triệu, bảy trăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

           * Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

           * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 160.000.000đ/01 hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

           - Thời gian xem tài sản đấu giá: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Tân Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 (trong giờ làm việc).

- Tổ chức đấu giá: vào lúc 09 giờ ngày 18/01/2018, tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre), (Trước khi mở cuộc đấu giá một ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá).  

 

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 375 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ 04 hạng mục (nhà điều hành, hồ nước, nhà vệ sinh, hàng rào) thuộc Trạm cấp nước Tân Thạch, huyện Châu Thành, cụ thể như sau:

1. Nhà điều hành Trạm Tân Thạch: Kết cấu: móng cột pêtông cốt thép, tường gạch, nền lát gạch bông, mái tole tráng kẽm, diện tích 77,28 m2. Tỷ lệ còn lại 20 %.

2. Hồ nước: Kết cấu: thành, nắp pêtông cốt thép, thể tích 68,88 m3. Tỷ lệ còn lại 10 %.

3. Nhà vệ sinh: Kết cấu: nền láng xi măng, tường gạch, mái fbro xi măng, không có cửa ra vào, diện tích 1,8 m2. Tỷ lệ còn lại 10 %.

4. Hàng rào:

a) Cổng chính: Kết cấu: trụ sơn nước cửa cổng bằng song sắt, diện tích 5m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

b) Hàng rào chính: Kết cấu: trụ đà pêtông cốt thép, tường xây gạch, phía trên tường lắp khung thép hình, diện tích 26 m2. Tỷ lệ còn lại 15 %.

c) Hàng rào phụ 1: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo lưới B40, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 10%.

d) Hàng rào phụ 2: Kết cấu: trụ pêtông cốt thép chôn kéo dây chì gai, diện tích 29,9 m2. Tỷ lệ còn lại 0%.

- Tài sản tại: Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

        - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre quản lý, không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

          * Lưu ý:

            - Khách hàng trúng đấu giá khi nhận tài sản đập phá tháo dỡ cho lấy móng, đà trả lại mặt bằng sạch cho Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre.

            - Người mua được tài sản khi tháo dỡ phải có lưới bao an toàn để đảm bảo cho Trạm cấp nước Tân Thạch, người dân qua lại và khu làm việc xung quanh.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2+3+4): 49.785.000đ (Bốn mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi lăm ngàn đồng).

 * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

            * Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 9.900.000đ/01 hồ sơ, chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

            * Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc) Trạm cấp nước Tân Thạch; địa chỉ: xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre..

            * Thời gian tham khảo hồ sơ, bán hồ sơ và nhận hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

            * Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2017 (trong giờ làm việc).

  * Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 27/12/2017 (Thứ tư). 


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 379 (Kèm QC)

  Nay Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp), địa chỉ tại: 393C, khu phố 6, phường  Khú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

1. Về đất

- Diện tích: 360,0 m2, đất ở tại đô thị;

- Thuộc thửa đất số 71; tờ bản đồ số 47.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

2. Tài sản trên đất (nhà ở):

- Loại nhà: Nhà ở riêng lẻ, nhà ở cấp 3, diện tích xây dựng 91,3 m2, diện tích sàn 299,3 m2.

- Tài sản tọa lạc: Phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên.

* Lưu ý: Tài sản bán theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 484925, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03343 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 30/10/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên và  Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 483133, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03383 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/11/2015 cho bà Trần Hoàng Tiểu Quyên không thực hiện đo đạc lại. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền hoặc người mua có yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạt, trường hợp diện tích đất thực tế tăng thì người mua được hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

            - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Trần Hoàng Tiểu Quyên (là người có tài sản đảm bảo thế chấp vay cho Doanh nghiệp tư nhân in Trần Tiến, ông Trần Hoàng Vũ – Chủ doanh nghiệp) do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Bến Tre – Phòng Giao dịch Mỏ Cày Nam xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

            - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1+2): 4.000.000.000 đ (Bốn tỷ đồng).

   - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

- Khoản tiền đặt trước là 800.000.000đ/hồ sơ,  nộp chuyển vào Tài khoản số 7211 0000 200470 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

      - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc: xã Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2017 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ ngày 29/12/2017.

* Lưu ý: Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký và tham gia đấu giá tại: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: Số 15, đường Thủ Khoa Huân, Phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre; địa chỉ: số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, điện thoại: 0275.3823667 - 0275.3512081 – 0275.3512083 hoặc website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

15/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2017Sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 6 tháng đầu năm 2017

Ngày 29/6/2017, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng và thực hiện quy ước 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017. Ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị gồm đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể tỉnh là Thành viên Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; thành viên Ban Thư ký Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh; Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL các huyện, thành phố và đại diện Lãnh đạo Phòng tư pháp các huyện, thành phố.

hoi-nghi-pbgdpl2.jpg

Hội nghị đã triển khai, quán triệt Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Kế hoạch số 2525/KH-UBND ngày 08/6/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021 được ban hành tại Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ.

Các đại biểu tham dự Hội nghị đã tập trung thảo luận, đánh giá những kết quả, hạn chế, khó khăn trong công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước 6 tháng đầu năm, đồng thời đề xuất phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017, đặc biệt trong công tác PBGDPL gắn với triển khai thực hiện Chương trình PBGDPL giai đoạn 2017-2021.

hoi-nghi-pbgdpl1.jpg

Kết luận, chỉ đạo Hội nghị, ông Nguyễn Hữu Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh đánh giá cao những kết quả đạt được trong công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật, xây dựng, thực hiện quy ước trong thời gian qua; đặc biệt, công tác PBGDPL góp phần thực hiện tốt Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế-xã hội, chính sách an sinh xã hội, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội; công tác PBGDPL có những tác động hiệu quả tích cực đến việc xây dựng ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật trong nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể tỉnh; thành viên Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh; Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các huyện, thành phố nghiên cứu, triển khai thực hiện có hiệu quả các phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

03/07/2017 5:00 CHĐã ban hành
Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) và nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC, ngày 08/6/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2524/KH-UBND về tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC năm 2017. Thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 11/7/2017, Sở Tư pháp tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC cho gần 250 cán bộ, công chức đầu mối các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. Ông Nguyễn Đăng Minh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

kstthc2.jpg

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên của Sở Tư pháp triển khai một số văn bản liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC, các nội dung cơ bản của công tác kiểm soát TTHC, kỹ năng dự thảo Quyết định công bố TTHC, công tác rà soát, kiến nghị đơn giản hóa TTHC.      

kstthc1.jpg

Thông qua Hội nghị, cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC của các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã được trang bị kỹ năng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ kiểm soát TTHC, góp phần thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh.

14/07/2017 9:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn