Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 11/10/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 17/10/2017 
 
​Kết quả lý lịch tư pháp ngày 20/10/2017 
 
THÔNGBÁO HỢP ĐỒNG 311 (Kèm QC)Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất của hộ ông Nguyễn Hữu Hiếu và bà Nguyễn Thị Cúc, hiện cư ngụ tại: 231B, Khu phố 2, phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:1. Về đất:- Diện tích: 98,2 m2;- Loại đất: ODT;- Thuộc thửa đấ... 
 
THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 306 (Kèm QC) Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của hộ ông Huỳnh Văn Triêm và hộ bà Trần Thị Thảo; hiện cư ngụ tại:ấp Tân Lễ 2, xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre; tài sản cụ thể như sau:A. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của hộ ông Huỳnh Văn Triêm:1. Đ... 
 
Phiếu chuyển số 18 ngày 12/10/2017 của UBND phường Phú Khương 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHDANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn  bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01

Luật

 

 15/2012/

QH13

20/6/2012Xử lý vi phạm hành chính
Hết hiệu lực một phần: Khoản 1 Điều 122; Đoạn đầu Khoản 1 Điều 123

Đã được sửa đổi

 bởi Luật Hải quan 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014

02Nghị định

81/2013/

NĐ-CP

19/7/2013Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Còn hiệu lực

Đính chính Khoản 2 Điều 10

Đã được đính chính  bởi Công văn 1500/TTg-PL của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/9/2013
03Nghị định

112/2013/

NĐ-CP

02/10/2013Quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuấtHết hiệu lựcĐã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016
04Nghị định

115/2013/

NĐ-CP

03/10/2013Quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
05Nghị định

165/2013/

NĐ-CP

12/11/2013Quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương  tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự , an toàn giao thông và bảo vệ môi trườngCòn hiệu lực 
​Nghị định
17/2016/NĐ-CP
17/3/2016​

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Còn hiệu lực
06Thông tư

26/2013/

TT-BCT

30/10/2013Quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi mục Đ Điều 3; bổ sung Điểm c Khoản 6 Điều 5; ban hành 07 mẫu ấn thay thế các mẫu ấn quy định tại các khoản 9, 11, 13, 15, 16 và 17 mục B và khoản 2 mục C Điều 3

Đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 13/2015/TT-BCT ngày 16/6/2015
07Thông tư

153/2013/

TT-BTC

31/10/2013Về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử  phạt vi phạm hành chính

Hết hiệu lực một phần

Sửa đổi Khoản 3, Khoản 5, Khoản 6  Điều 4; Sửa đổi Khoản 2 Điều 5; bổ sung Khoản 2a sau Khoản 2 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 5; sửa đổi, bổ sung Điểm a Khoản 2 Điều 11

Được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư  105/2104/TT-BTC ngày 07/8/2014
08Thông tư

173/2013/

TT-BTC

20/11/2013Về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
09Thông tư

105/2014/

TT-BTC

07/8/2014Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chínhCòn hiệu lực  
10Thông tư

34/2014/

TT-BCA

15/8/2014Quy định về các biểu mẫu đê sử  dụng khi xử  phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Công an nhân dânCòn hiệu lực 
11Thông tư

149/2014/

TT-BTC

10/10/2014Quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để bổ sung vào ngân sách Nhà nướcCòn hiệu lực 
12Thông tư

47/2014/

TT-BCA

17/10/2014Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chínhCòn hiệu lực 
13Thông tư

13/2015/

TT-BCT

16/6/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 26/2013/TT-BCT ngày 30/10/2013 của Bộ Công Thương quy định về mẫu biên bản, quyết định sử dụng trong hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trườngCòn hiệu lực  
14Thông tư liên tịch

27/2015/TTLT-BCT-BCA-VKSNDTC-TANDTC

17/8/2015Hướng dẫn chuyển hồ sơ vụ trộm cắp điện để truy cứu trách nhiệm hình sựChưa có hiệu lực 

 

 

08/06/2016 3:00 CHĐã ban hành
Kết quả lý lịch tư pháp ngày 06/10/2017Kết quả lý lịch tư pháp ngày 06/10/2017
23/10/2017 2:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 57 thuộc tờ bản đồ số 11 tại ấp Phước Lý, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến Tre
15/12/2017 4:00 CHĐã ban hành
Thông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 216 thuộc tờ bản đồ số 1 tại ấp Phước Tân, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến TreThông tin ngăn chặn đối quyền sử dụng đất thuộc thửa số 216 thuộc tờ bản đồ số 1 tại ấp Phước Tân, xã Bình Khánh Đông, MCN, tỉnh Bến Tre
15/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Kết quả kỳ họp thứ 10 - Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre khóa VIIIKết quả kỳ họp thứ 10 - Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre khóa VIII

Kỳ họp thứ 10 - Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre khóa VIII được tổ chức 03 ngày, trong đó 01 ngày họp Tổ đại biểu thảo luận tài liệu kỳ họp và 02 ngày (ngày 09 và ngày 10 tháng 7 năm 2014) họp toàn thể tại hội trường.

Kỳ họp đã nghe Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và những nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2014, báo cáo thẩm tra của các Ban thuộc Hội đồng nhân dân tỉnh, thông báo của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về tham gia xây dựng chính quyền, báo cáo giải trình của Ủy ban nhân dân tỉnh đối với các nhóm vấn đề nổi lên qua giám sát, thẩm tra của các Ban, thảo luận Tổ đại biểu và ý kiến, kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 10.

Tại kỳ họp này, các đại biểu tập trung thảo luận về những giải pháp để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối năm, cụ thể như: giải pháp để nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp như mô hình liên kết 4 nhà, cánh đồng mẫu lớn, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… để nâng cao giá trị, tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa nông nghiệp, thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh; giải pháp kiểm soát chặt chẽ, xử lý các nguồn gây ô nhiễm, nhất là các hoạt động sản xuất, chăn nuôi để bảo vệ môi trường sống của người dân; giải pháp bảo đảm tình hình an ninh trật tự, phòng chống tội phạm.

Kỳ họp đã dành 01 buổi để chất vấn và trả lời chất vấn. Trong phiên chất vấn, có 07 đại biểu chất vấn đối với Ủy ban nhân dân tỉnh và 05 cơ quan, tập trung vào một số nội dung như: định hướng mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, tránh sự phụ thuộc của kinh tế tỉnh nhà vào thị trường Trung Quốc trong điều kiện tranh chấp biển đảo gay gắt hiện nay; về các vướng mắc trong công nhận danh hiệu xã Văn hóa nông thôn mới và tính hài hòa giữa 02 danh hiệu xã Văn hóa nông thôn mới và xã Nông thôn mới; việc chậm trễ xây dựng Dự án Khu Ứng dụng công nghệ sinh học Cái Mơn tại xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách; về các công trình, dự án hoàn thành chưa quyết toán, tất toán; việc tạm định chỉ vụ án của Tòa án nhân dân; về quy định mức phụ cấp ưu đãi kiêm nhiệm 40% đối với công chức, viên chức tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế; việc Công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Thy, thuộc huyện Châu Thành lập bến thủy nội địa đổ đất lấn sông Ba Lai. Các câu hỏi chất vấn của đại biểu đặt ra đã nêu được những vấn đề quan trọng, bức xúc của địa phương, được cử tri quan tâm. Các cá nhân, đơn vị có tinh thần, trách nhiệm cao trong việc trả lời chất vấn, đề ra các giải pháp, thời gian cụ thể để thực hiện các nội dung mà đại biểu chất vấn.

Kỳ họp đã ban hành 17 Nghị quyết như sau:

1. Nghị quyết về việc bổ sung một số giải pháp tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 6 tháng cuối năm 2014.

2. Nghị quyết về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tỉnh Bến Tre năm 2014.

3. Nghị quyết về kế hoạch biên chế công chức, hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ, số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh Bến Tre năm 2014.

4. Nghị quyết về việc quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

5. Nghị quyết về việc điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác cát lòng sông đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

6. Nghị quyết về việc thông qua Đề án thành lập thị trấn Tiên Thủy thuộc huyện Châu Thành và Đề án thành lập thị trấn Tiệm Tôm thuộc huyện Ba Tri.

7. Nghị quyết về quy định mức thu phí, lệ phí lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

8. Nghị quyết về việc quy định mức chi bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

9. Nghị quyết về việc đặt tên một số tuyến đường trên địa bàn thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

10. Nghị quyết về quy định mức thù lao đối với thành viên Đội công tác xã hội tình nguyện tại xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

11. Nghị quyết về quy định mức thu, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

12. Nghị quyết về kết quả giám sát việc quản lý đất công, đất bãi bồi ven sông, ven biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

13. Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 10 - Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII.

14. Nghị quyết về việc cho thôi giữ chức vụ Ủy viên Thường trực Hội đồng nhân dân  tỉnh Bến Tre khóa VIII (nhiệm kỳ 2011-2016) đối với ông Đỗ Minh Đức.

15. Nghị quyết về việc xác nhận kết quả bầu cử bổ sung chức vụ Ủy viên Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre khoá VIII (Nhiệm kỳ 2011 - 2016) đối với ông Lê Vĩnh Bình.

16. Nghị quyết về việc cho thôi giữ chức danh Uỷ viên Uỷ ban nhân dân tỉnh và thôi làm nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre khóa VIII (Nhiệm kỳ 2011-2016) đối với ông Hồ Quốc Việt.

17. Nghị quyết về việc xác nhận kết quả bầu bổ sung chức danh Uỷ viên Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (Nhiệm kỳ 2011-2016) đối với ông Nguyễn Văn Hoàng.

Kỳ họp đã thực hiện đúng nội dung, chương trình đề ra và thành công tốt đẹp.

18/08/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 02/11/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 02/11/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 331 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất ông Lâm Chiêu Trí và bà Phạm Thị Hồng Cúc, địa chỉ: 64 đường Hùng Vương, phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm cụ thể như sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 94,7 m2;

- Loại đất: ở tại đô thị;

- Thuộc tờ bản đố 06, thửa đất số 533;

2. Nhà ở trên đất: nhà cấp 3, diện tích xây dựng 90,9  m2, diện tích sàn: 227,1 m2, số tầng 3 tầng gồm tầng 01, tầng 02, tầng 03, gác bê tông cốt thép và gác gỗ.

- Tài sản tọa lạc: phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Tài sản bán theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 537556, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00254 do Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre cấp ngày 27/10/2014 cho ông Lâm Chiêu TRí và bà Phạm Thị Hồng Cúc, không thực hiện việc đo đạc lại. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền hoặc người mua có yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạc, nếu diện tích đất trong Giấy chứng nhận tăng thì người mua được hưởng, nếu giảm thì phải chịu không được khiếu nại.

  - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và nhà trên đất ông Lâm Chiêu Trí và bà Phạm Thị Hồng Cúc, do Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 4.400.000.000 đ (Bốn tỷ, bảy trăm triệu đồng).

* Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

* Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 880.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Bến Tre.

   - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 06/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/11/2017 (trong giờ làm việc). Địa điểm tại: phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: : 07 giờ 30 phút ngày 06/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/11/2017 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 20/11/2017 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 22/11/2017.

 

 THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 335 (Kèm QC)

Nay Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và nhà trên đất của ông Lê Bá Thọ và bà Nguyễn Thị Nhỏ Công an tỉnh Bến Tre giao cho bà Lê Thị Minh Pha quản lý, hiện cư ngụ tại: phường 7, thành phó Bến Tre, tỉnh Bến Tre; Tài sản cụ thể như sau:

Quyền sử dụng đất:

Diện tích đất: 1.049,6m2 (trong đó: 100 m2 đất ODT và 949,6 m2 đất CLN);

Thửa đất số: 77, tờ bản đồ số 11.

2. Tài sản trên đất (nhà):

- Diện tích (7,5 x 16,2)m và nhà chữ L (11,8 x 6)m, kết cấu dạng nhà cấp 4, hình dáng nhà chữ L;

- Tài sản (1) và (2) tọa lạc tại:  Khu phố 4, Phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Lê Bá Thọ và bà Nguyễn Thị Nhỏ Công an tỉnh Bến Tre giao cho bà Lê Thị Minh Pha quản lý, bị xử lý để thu hồi nợ của Viễn thông Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản đấu giá (1) + (2): 1.600.000.000đ (Một tỷ, sáu trăm triệu đồng).

* Lưu ý: Tài sản trên đã bao gồm 2% thuế thu nhập, riêng thuế giá trị gia tăng (nếu có) và các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến thủ tục cấp đổi, đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng người mua trúng đấu giá phải chịu.

  - Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 500.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Khoản lệ phí này không được hoàn lại.

  - Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá là 320.000.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre.

  - Thời gian xem tài sản đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 06/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/11/2017 (trong giờ làm việc); địa điểm: tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc Phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút ngày 06/11/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 20/11/2017 (trong giờ làm việc);

 - Thời gian thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 20/11/2017 (trong giờ làm việc);

 - Tổ chức đấu giá vào lúc: 09 giờ ngày 22/11/2017 .

  * Lưu ý:  Khách hàng tham khảo, mua hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tham gia đấu giá: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 và website: stp.bentre.gov.vn để biết thêm chi tiết.

17/11/2017 4:00 CHĐã ban hành
DANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH VỰC GIÁO DỤCDANH MỤC VBQPPL XỬ PHẠT VPHC LĨNH VỰC GIÁO DỤC
STTTên văn bảnSố, ký hiệu văn bảnNgày, tháng, năm ban hành văn bảnTrích yếu/nội dung văn bảnHiệu lực văn bảnVăn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ
01Nghị định138/2013/NĐ-CP22/10/2013Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

Hết hiệu lực 1 phần


Được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2015/NĐ-CP ngày 07/8/2015; sửa đổi bởi Nghị định 79/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015.
02Nghị định65/2015/NĐ-CP07/8/2015Sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước liên quan đến hành vi đăng, phát, cung cấp đưa tin, công bố thông tin sai sự  thậtCòn hiệu lực  
 Nghị định 79/2015/NĐ-CP​14/9/2015Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệpCòn hiệu lực 
12/05/2016 4:00 CHĐã ban hành
Quyết định thu hồi thẻ công chứng viên của Ông Nguyễn Văn Biên và Ông Huỳnh Thanh TânQuyết định thu hồi thẻ công chứng viên của Ông Nguyễn Văn Biên và Ông Huỳnh Thanh Tân
30/08/2017 2:00 CHĐã ban hành
Triển khai kênh thông tin tương tác giữa Chính phủ với người dân, doanh nghiệpTriển khai kênh thông tin tương tác giữa Chính phủ với người dân, doanh nghiệp

Ngày 06/4/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công văn số 475/TTg-KSTT về việc tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Theo đó, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Hệ thống tiếp nhận, trả lời kiến nghị của doanh nghiệp trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tại địa chỉ: http://doanhnghiep.chinhphu.vn đã được đưa vào vận hành từ ngày 01/10/2016, bước đầu thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp. Nhằm gắn kết giữa Chính phủ với người dân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và các vấn đề thiết thực của đời sống, Thủ tướng Chính phủ đã giao Văn phòng Chính phủ mở kênh thông tin tương tác giữa Chính phủ với người dân để lắng nghe, tiếp nhận và xử lý kịp thời những vướng mắc, phản ánh, kiến nghị của người dân qua Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tại địa chỉ http://nguoidan.chinhphu.vn.

Để tổ chức thực hiện có kết quả công tác này, đáp ứng được kỳ vọng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, quán triệt tới người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp thực hiện nghiêm túc việc tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính; kịp thời tiếp nhận và xử lý đúng quy định những phản ánh, kiến nghị thuộc thẩm quyền do Văn phòng Chính phủ chuyển đến, gồm: Hành vi chậm trễ, gây phiền hà hoặc không thực hiện, thực hiện không đúng quy định của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết thủ tục hành chính; những cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính không phù hợp với thực tế, không đồng bộ, không thống nhất, không hợp pháp, trái với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; những giải pháp, sáng kiến ban hành mới quy định về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân.

Giao đơn vị và cán bộ, công chức đang làm nhiệm vụ đầu mối tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp tại các bộ, ngành, địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của Văn phòng Chính phủ trong việc tiếp nhận, cập nhật tình hình, kết quả xử lý phản ánh, kiến nghị và trả lời người dân, doanh nghiệp qua Hệ thống thông tin điện tử tại địa chỉ http://nguoidan.chinhphu.vnhttp://doanhnghiep.chinhphu.vn.

Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức nghiên cứu để đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xử lý dứt điểm những phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính liên quan đến hai hay nhiều cơ quan hành chính nhà nước và đã được các cơ quan này xử lý nhưng không thống nhất được phương án xử lý; đã được các bộ, ngành, địa phương xử lý nhưng người dân, doanh nghiệp vẫn tiếp tục phản ánh, kiến nghị; thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Trong quá trình xử lý, Văn phòng Chính phủ cần kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ về sự né tránh, thiếu hợp tác, chậm trễ, không thực hiện của các bộ, ngành, địa phương; huy động sự tham gia của các hiệp hội, các chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan thông tấn, báo chí để bảo đảm khách quan, trung thực, tránh hình thức, đối phó.

Văn phòng Chính phủ cùng các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc việc tiếp nhận, xử lý và trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp qua Hệ thống thông tin tiếp nhận, trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ; công khai, minh bạch tình hình, kết quả xử lý phản ánh, kiến nghị trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày phản ánh, kiến nghị được tiếp nhận trên Hệ thống hoặc từ ngày cung cấp thông tin về tình hình xử lý trước đó; nghiên cứu ứng dụng chữ ký số và việc sử dụng các kết quả trả lời phản ánh, kiến nghị trên Hệ thống trong quá trình chuyển xử lý phản ánh, kiến nghị để rút ngắn thời gian xử lý, giải quyết công việc, giảm văn bản giấy, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp. Định kỳ hàng quý, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình, kết quả tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp.

19/04/2017 3:00 CHĐã ban hành
Một số điểm mới của Luật Đấu giá tài sảnMột số điểm mới của Luật Đấu giá tài sản

Ngày 17/11/2016, Quốc hội khóa XIV đã biểu quyết thông qua Luật Đấu giá tài sản với nhiều nội dung quan trọng quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản; đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản; thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản; xử lý vi phạm, hủy kết quả đấu giá tài sản, bồi thường thiệt hại; quản lý nhà nước về đấu giá tài sản.

Luật Đấu giá tài sản quy định tài sản bán đấu giá bao gồm tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá và tài sản do tổ chức, cá nhân tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, Luật liệt kê cụ thể các loại tài sản này trên cơ sở rà soát quy định tại pháp luật chuyên ngành nhằm bảo đảm công khai, minh bạch, làm cơ sở cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đấu giá tài sản khi bán đấu giá các loại tài sản đó, ví dụ như tài sản là quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai, tài sản nhà nước theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, tài sản thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự, tài sản của doanh nghiệp phá sản theo Luật Phá sản...Đồng thời, để đảm bảo tính thống nhất, ổn định, lâu dài Luật Đấu giá tài sản có quy định mở trong trường hợp pháp luật chuyên ngành sau này có quy định tài sản phải bán thông qua đấu giá thì cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật, ví dụ như pháp luật chuyên ngành quy định biển số xe, quyền sở hữu trí tuệ, quyền khai thác cảng biển, sân bay... phải bán thông qua đấu giá thì được thực hiện theo trình tự, thủ tục của Luật Đấu giá tài sản.

Về tiêu chuẩn Đấu giá viên: Luật Đấu giá tài sản quy định người muốn trở thành đấu giá viên phải tham gia khóa đào tạo nghề đấu giá với thời gian là 06 tháng (người có ít nhất 03 năm công tác trong lĩnh vực được đào tạo mới được tham gia khóa đào tạo nghề); tập sự hành nghề đấu giá trong thời gian 06 tháng và đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá.

Bên cạnh đó, Luật Đấu giá tài sản quy định về người tham gia đấu giá phải nộp tiền đặt trước, khoản tiền này do tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá thỏa thuận nhưng tối thiểu là 5% và tối đa là 20% giá khởi điểm của tài sản đấu giá (trước đây quy định khoản tiền đặt trước chỉ tối thiểu là 1% và tối đa 15% giá khởi điểm). Tổ chức đấu giá tài sản chỉ được thu tiền đặt trước trong 3 ngày làm việc trước ngày mở cuộc đấu giá và không được sử dụng tiền đặt trước vào bất kỳ mục đích nào khác. Khoản tiền đặt trước này và tiền lãi (nếu có) sẽ được hoàn trả cho người tham gia đấu giá không trúng đấu giá trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá hoặc thời hạn khác do các bên thỏa thuận.

Luật Đấu giá tài sản đã rút ngắn thời gian niêm yết thông báo việc đấu giá bất động sản. Cụ thể, tổ chức đấu giá phải niêm yết việc đấu giá tài sản là bất động sản tại trụ sở của tổ chức mình, nơi tổ chức cuộc đấu giá và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản đấu giá ít nhất là 15 ngày trước ngày mở cuộc đấu giá (trước đây là 30 ngày). Thời gian niêm yết thông báo việc đấu giá động sản vẫn được giữ nguyên như quy định trước đây là 7 ngày trước khi tiến hành đấu giá.

Đáng chú ý, trong quá trình tổ chức đấu giá, người có tài sản đấu giá có quyền yêu cầu dừng việc tổ chức đấu giá nếu phát hiện hành vi vi phạm trình tự, thủ tục đấu giá; yêu cầu đấu giá viên dừng cuộc đấu giá nếu có hành vi thông đồng, móc nối để dìm giá.

Như vậy, Luật Đấu giá tài sản 2016 đã quy định những nội dung quan trọng về nguyên tắc, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản; đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản; thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản; xử lý vi phạm, hủy kết quả đấu giá tài sản, bồi thường thiệt hại; quản lý nhà nước về đấu giá tài sản. Đồng thời, Luật này khắc phục những tồn tại, bất cập của hoạt động đấu giá tài sản hiện nay, bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan; quy định trình tự, thủ tục đấu giá tài sản theo hướng hạn chế tối đa tình trạng móc nối, thông đồng, dìm giá; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, tránh gây thất thoát tài sản Nhà nước.

Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2017.

19/04/2017 3:00 CHĐã ban hành
Quy định kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chínhQuy định kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Ngày 28/02/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 19/2017/TT-BTC quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước cho công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính (gọi tắt là Thông tư), Thông tư này quy định một số nội dung chi và mức chi như sau:

          Nội dung chi: Chi công tác phí cho những người thực hiện công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi điều tra, khảo sát, kiểm tra tình hình thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi hoạt động thống kê về xử lý vi phạm hành chính theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Chi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính: soạn thảo, góp ý, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; báo cáo theo dõi thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi cho công tác hệ thống hóa, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong theo dõi thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi cho công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; Chi cho công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, tọa đàm trao đổi nghiệp vụ công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi tiền lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ cho những người làm công tác theo dõi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; Chi tổ chức nghiên cứu khoa học về theo dõi thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi sơ kết, tổng kết tình hình thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính; Chi tổ chức cuộc thi, hội thi công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi mua sắm, thuê trang thiết bị phục vụ cho quản lý công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Chi công bố kết quả xử lý hồ sơ xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng; Chi hỗ trợ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, đánh giá các văn bản, tài liệu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có nội dung phức tạp, phạm vi rộng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều cá nhân, tổ chức. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể về thẩm quyền và cách thức xác định các hồ sơ phức tạp tại Bộ, ngành, địa phương mình; Các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến quản lý công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính (nếu có).

          Mức chi: Đối với các nội dung chi quy định tại khoản 1 đến khoản 13 Điều 3 của Thông tư này đã có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi thực hiện theo chế độ hiện hành.

          Ngoài ra, Thông tư hướng dẫn thêm một số khoản chi có tính chất đặc thù trong thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính, gồm:

          - Chi tổ chức cuộc thi, hội thi công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/01/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở;

          - Chi mua, thuê trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính thực hiện theo tiêu chuẩn, định mức quy định tại Quyết định số 58/2015/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng máy móc, thiết bị của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập.

          Việc thanh toán căn cứ vào hóa đơn, chứng từ chi tiêu hợp pháp, hợp lệ được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong dự toán ngân sách hàng năm; trường hợp thuộc diện phải đấu thầu mua sắm thì thực hiện theo các quy định của pháp luật đấu thầu;

          - Chi công bố kết quả xử lý hồ sơ xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện theo định mức, đơn giá của các ngành có công việc tương tự và theo chứng từ chi thực tế hợp pháp và phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện;

          - Chi hỗ trợ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, đánh giá các văn bản, tài liệu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính có nội dung phức tạp, phạm vi rộng, ảnh hưởng đến nhiều đối tượng: Mức chi tối đa 500.000 đồng/hồ sơ;

          - Các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính (nếu có), theo hóa đơn, chứng từ chi thực tế hợp pháp, hợp lệ được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong dự toán ngân sách hàng năm.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 4 năm 2017.

Phòng Quản lý XLVPHC và Theo dõi THPL

19/04/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 06/10/2017Thông báo bán đấu giá tài sản ngày 06/10/2017

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 301 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Lê Quang Qưới và bà Võ Thị Hường, địa chỉ thường trú: địa chỉ thường trú: Ấp Phú Mỹ, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm cụ thể như sau:

  * Theo hồ sơ trích đo ngày 20/9/2017 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Mỏ Cày Bắc:

  - Diện tích đất: 1.844,3 m2;

  - Loại đất: 300 m2 đất ở nông thôn và 1.544,3 m2 đất trồng cây lâu năm;

  - Thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 01.

  * Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 932853, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02445 do UBND huyện Mỏ Cày Bắc cấp ngày 16/11/2012 cho ông Lê Quang Qưới và bà Võ Thị Hường (diện tích 1.884,9 m2).

  * Lưu ý: Tài sản bán theo diện tích đo đạc thực tế.

- Tài sản tọa lạc tại: ấp Phú Mỹ, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

   - Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất quyền sử dụng đất của ông Lê Quang Qưới và bà Võ Thị Hường do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Mỏ Cày Bắc Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

   - Giá khởi điểm của tài sản đấu giá: 282.735.000 đ (Hai trăm tám mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi lăm ngàn đồng).

   * Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.

* Khoản tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá: 56.500.000đ/hồ sơ, nộp vào tài khoản của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre theo số 72110000200470 được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Bến Tre.

   - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 09/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 23/10/2017 (trong giờ làm việc). Địa điểm tại nơi có tài sản tọa lạc thuộc xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian kham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 09/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 23/10/2017 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 23/10/2017 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 26/10/2017.


  THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 304 (Kèm QC)

Nay Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre thông báo đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Tình, địa chỉ tại: số 1C2 khóm 3, phường 7, thành phố Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

            - Diện tích: 260,3 m2, loại đất: trồng cây lâu năm;

            - Thuộc thửa đất số 845; tờ bản đồ số 08.

- Tài sản tọa lạc: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

* Lưu ý: Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 253481, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01002 do UBND thành phố Bến Tre cấp ngày 17/8/2012 cho ông Nguyễn Văn Tình, không thực hiện việc đo đạc lại, nếu người mua hoặc cơ quan có thẩm quyền có yêu cầu đo đạc lại thì người mua phải chịu chi phí đo đạc, trường hợp đo lại diện tích đất thực tế có tăng hơn diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua được hưởng và ngược lại nếu diện tích có giảm người mua phải chịu không được khiếu nại.

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Tình do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

  - Giá khởi điểm tài sản đấu giá là: 171.696.000 đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu, sáu trăm chín mươi sáu ngàn đồng).

- Lệ phí hồ sơ tham gia đấu giá là 200.000đ/hồ sơ, nộp tiền mặt tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản.

- Khoản tiền đặt trước là 34.000.000đ/hồ sơ,  nộp chuyển vào Tài khoản số 72910000091403 của Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Khởi.

   - Thời gian xem tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 09/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 23/10/2017 (trong giờ làm việc) tại nơi có tài sản tọa lạc: phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

   - Thời gian tham khảo, bán hồ sơ và đăng ký mua tài sản từ: 07 giờ 30 phút ngày 09/10/2017 đến 16 giờ 30 phút ngày 23/10/2017 (trong giờ làm việc).

   - Thời gian thu tiền đặt trước của khách hàng tham gia đấu giá từ: 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 23/10/2017 (trong giờ làm việc).

   - Tổ chức đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 26/10/2017.

 * Lưu ý:  Khách hàng tham khảo hồ sơ, mua hồ sơ, đăng ký mua tài sản và tham gia đấu giá: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (địa chỉ: số 15, Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số: 0275.3823667 để biết thêm chi tiết. 

12/10/2017 11:00 SAĐã ban hành
Kết quả rà soát quy định, thủ tục hành chính năm 2013 Kết quả rà soát quy định, thủ tục hành chính năm 2013
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;" Toàn tỉnh có 176 thủ tục hành chính được rà soát kiến nghị đơn giản hoá, trong đó: Thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban ngành tỉnh (cấp tỉnh) là 146 thủ tục, gồm có: Thông tin và Truyền thông (18 thủ tục); Xây dựng (09 thủ tục); Văn hóa, thể thao và Du lịch (08 thủ tục); Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (12 thủ tục); Tài nguyên và Môi trường (16 thủ tục); Công Thương (04 thủ tục); Tư pháp (03 thủ tục); Ban Quản lý các Khu công nghiệp (11 thủ tục); Trung tâm Xúc tiến Đầu tư (04 thủ tục); Lao động - Thương binh và Xã hội (35 thủ tục); Nội vụ (17 thủ tục); Giáo dục và Đào tạo (07 thủ tục); Công Thương (04 thủ tục); Trung tâm Xúc tiến Đầu tư (04 thủ tục); Tư pháp (03 thủ tục); Kế hoạch và Đầu tư (02 thủ tục). /span/span/p

Toàn tỉnh có 176 thủ tục hành chính được rà soát kiến nghị đơn giản hoá, trong đó: Thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban ngành tỉnh (cấp tỉnh) là 146 thủ tục, gồm có: Thông tin và Truyền thông (18 thủ tục); Xây dựng (09 thủ tục); Văn hóa, thể thao và Du lịch (08 thủ tục); Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (12 thủ tục); Tài nguyên và Môi trường (16 thủ tục); Công Thương (04 thủ tục); Tư pháp (03 thủ tục); Ban Quản lý các Khu công nghiệp (11 thủ tục); Trung tâm Xúc tiến Đầu tư (04 thủ tục); Lao động - Thương binh và Xã hội (35 thủ tục); Nội vụ (17 thủ tục); Giáo dục và Đào tạo (07 thủ tục); Công Thương (04 thủ tục); Trung tâm Xúc tiến Đầu tư (04 thủ tục); Tư pháp (03 thủ tục); Kế hoạch và Đầu tư (02 thủ tục).

Thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện: 26 thủ tục, gồm các lĩnh vực: Đất đai, nội vụ, tư pháp, bảo trợ xã hội, công thương, giáo dục đào tạo, xây dựng.

Thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp xã: 04 thủ tục, gồm các lĩnh vực: Tư pháp, người có công.

Ngoài ra, các cơ quan, địa phương rà soát 24 mẫu đơn, mẫu tờ khai     thuộc các lĩnh vực như: Đất đai, văn hoá, xây dựng, công thương.

Tuy nhiên, sau khi tổng hợp đánh giá chất lượng và rà soát độc lập, Sở Tư pháp chọn 28 thủ tục hành chính có nội dung đơn giản hóa đạt chất lượng và tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định thông qua Phương án đơn giản hoá thủ tục hành chính năm 2013 thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, trong đó: Thủ tục hành chính  thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh là 25 thủ tục, gồm: Xây dựng (09 thủ tục), Văn hóa, thể thao và Du lịch (02 thủ tục), Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (05 thủ tục), Tài nguyên và Môi trường (04 thủ tục), Công Thương (02 thủ tục), Tư pháp (03 thủ tục); 02 thủ tục lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân cấp huyện; 01 thủ tục lĩnh vực người có công thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân cấp xã.

Tỷ lệ chi phí cắt giảm đạt 37,8% (tương ứng với số tiền 2.877.752.700 đồng/năm). Trong đó: Xây dựng cắt giảm 50%; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 34%; Tài nguyên và Môi trường (cấp tỉnh) 21%; Công Thương 32%; Tài nguyên và Môi trường (cấp huyện) 21%; Lao động, Thương binh và Xã hội (cấp xã) 78%...

Ngày 24 tháng 12 năm 2013, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 2406/QĐ-UBND phê duyệt Phương án đơn giản hoá 28 thủ tục hành chính năm 2013 thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh và báo cáo Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét. Nhìn chung, kết quả rà soát quy định thủ tục hành chính năm 2013 trên địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đặt ra, cụ thể là những thủ tục hành chính có kiến nghị thực thi nhằm cắt giảm thành phần hồ sơ, số lượng hồ sơ; giảm chi phí thời gian và tài chính của người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.

09/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 Hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Nhằm tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành trong công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) trên địa bàn tỉnh, đồng thời tiếp tục triển khai nghiêm túc, có hiệu quả các phương án đơn giản hóa TTHC để nâng cao chất lượng phục vụ cho người dân và doanh nghiệp; bảo đảm công khai, minh bạch các thông tin về TTHC, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho cá nhân, tổ chức tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thực hiện TTHC; Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (theo Kế hoạch số 6293/KH-UBND ngày 23/12/2013). /span/span/p

Nhằm tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành trong công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) trên địa bàn tỉnh, đồng thời tiếp tục triển khai nghiêm túc, có hiệu quả các phương án đơn giản hóa TTHC để nâng cao chất lượng phục vụ cho người dân và doanh nghiệp; bảo đảm công khai, minh bạch các thông tin về TTHC, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho cá nhân, tổ chức tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thực hiện TTHC; Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre (theo Kế hoạch số 6293/KH-UBND ngày 23/12/2013).

Theo đó, Sở Tư pháp có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc triển khai việc thực hiện Kế hoạch; tham mưu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh kiện toàn hệ thống cán bộ, công chức đầu mối làm nhiệm vụ kiểm soát TTHC của các sở, ban, ngành tỉnh, cấp huyện, cấp xã; tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC cho cán bộ, công chức đầu mối làm nhiệm vụ kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh; xây dựng dự thảo văn bản thay thế Quyết định số 71/QĐ-UBND ngày 15/01/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế hoạt động của hệ thống cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh Bến Tre; dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung Quyết định số 30/2011/QĐ-UBND ngày  24/10/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và Quyết định số 31/2011/QĐ-UBND ngày 24/10/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quy chế công bố, công khai thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre; tăng cường công tác truyền thông về cải cách TTHC, kiểm soát TTHC; tổng hợp, xây dựng phương án đơn giản hoá TTHC thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh; tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch kiểm tra và tổ chức kiểm tra hoạt động kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh;…

Đồng thời, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố xây dựng Kế hoạch hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 của cơ quan, địa phương, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh trước ngày 15 tháng 01 năm 2014 và tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính tại cơ quan, địa phương mình.

08/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch rà soát quy định, thủ tục hành chính năm 2014Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch rà soát quy định, thủ tục hành chính năm 2014
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"span style="font-size: small;"Căn cứ Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Kế hoạch hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre; ngày 23 tháng 12 năm 2013, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 6294/KH-UBND về rà soát quy định, thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh năm 2014. /span/span/p

Căn cứ Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Kế hoạch hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bến Tre; ngày 23 tháng 12 năm 2013, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 6294/KH-UBND về rà soát quy định, thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh năm 2014.

Mục tiêu rà soát quy định, thủ tục hành chính (TTHC) nhằm kịp thời phát hiện để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ quy định, TTHC không cần thiết, không phù hợp, không đáp ứng được các nguyên tắc về quy định và thực hiện TTHC; cắt giảm chi phí về thời gian và tài chính thực hiện thủ tục của người dân, tổ chức và doanh nghiệp trong việc tuân thủ TTHC; góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

Cắt giảm các TTHC hiện hành, trong đó chú trọng cắt giảm các quy định, thủ tục liên quan nhiều đến người dân và doanh nghiệp, thủ tục có chi phí tuân thủ cao, có nhiều phản ánh, kiến nghị về vướng mắc, bất cập đối với các quy định hành chính. Thực hiện công khai, minh bạch và lấy ý kiến của người dân, doanh nghiệp trong việc rà soát, cắt giảm các quy định, TTHC…

Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng đã chỉ đạo Thủ trưởng các cơ quan, địa phương xây dựng kế hoạch rà soát quy định, thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, địa phương mình gửi về Uỷ ban nhân dân tỉnh trước ngày 15 tháng 01 năm 2014 (thông qua Sở Tư pháp tổng hợp, theo dõi, báo cáo); đồng thời, trực tiếp chỉ đạo sâu sát, quyết liệt công tác rà soát quy định, TTHC; tập trung nhân lực và phương tiện cần thiết để hoàn thành đúng thời hạn quy định (kết quả rà soát của các cơ quan, địa phương gửi về Sở Tư pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá độc lập trước ngày 15 tháng 7 năm 2014); trong quá trình triển khai thực hiện, kịp thời động viên, khen thưởng đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác rà soát quy định, TTHC; xử lý nghiêm những cán bộ, công chức, viên chức không thực hiện hoặc thực hiện không tốt nhiệm vụ rà soát quy định, TTHC.

Bên cạnh đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ rà soát, đánh giá quy định, TTHC theo Nghị định số 63/2010/NĐ-CP; tổ chức kiểm tra, giám sát việc rà soát, thực thi TTHC tại các cơ quan, địa phương trên địa bàn tỉnh; tổng hợp, phân tích kết quả rà soát của các cơ quan, địa phương; tổ chức các hoạt động tham vấn ý kiến của các bên có liên quan và tổ chức rà soát độc lập đối với các quy định, TTHC có phạm vi tác động lớn; xây dựng dự thảo Quyết định và Phương án đơn giản hoá TTHC, sáng kiến cải cách TTHC kèm theo Quyết định trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ký ban hành gửi về Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo; đồng thời, Sở Tài chính có trách nhiệm phối hợp Sở Tư pháp hướng dẫn các cơ quan, đơn vị xây dựng kinh phí rà soát theo quy định tại Thông tư số 167/2012/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2012 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện các hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính và Nghị quyết số 07/2013/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh về quy định mức chi đảm bảo công tác cải cách hành chính và công tác kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

08/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá công tác năm 2013Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá công tác năm 2013
Chiều ngày 02/01/2014, Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (Dự án DBRP Bến Tre) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ thực hiện năm 2014. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị.

Chiều ngày 02/01/2014, Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (Dự án DBRP Bến Tre) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ thực hiện năm 2014. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì Hội nghị.

Ông Nguyễn Trúc Sơn, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư, Giám đốc Dự án DBRP Bến Tre báo cáo kết quả hoạt động năm 2013 và triển khai kế hoạch công tác 2014.

Dự án DBRP Bến Tre chính thức có hiệu lực từ ngày 06 tháng 5 năm 2008 với mục tiêu tổng quát là góp phần giảm nghèo bền vững và công bằng thông qua sự năng động của người dân nông thôn. Theo đánh giá chung công tác điều phối, thực hiện Dự án DBRP năm 2013 là ở mức đạt yêu cầu, có nhiều thành tựu hướng đến giảm nghèo mang tính sáng tạo, phù hợp và bền vững.

Năm 2013, tỉ lệ giảm nghèo tại 50 xã của Dự án trung bình đạt 2,45%, trong khi mức trung bình của cả tỉnh là 2,06%; Dự án DBRP tiếp tục tác động theo chiều hướng tích cực đối với chương trình giảm nghèo của tỉnh; môi trường đầu tư kinh doanh đã được cải thiện thông qua xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) hạng 26/63 tỉnh, thành (tăng 4 bậc so với năm 2012); 100 công trình phục vụ giao thông nông thôn, sản xuất (thủy lợi) và thương mại (chợ) đã được xây dựng và đưa vào sử dụng; có 11.530 lượt người từ các cơ quan thực hiện, các nhóm cộng đồng tham gia vào các hoạt động do dự án hỗ trợ bao gồm hoạt động đào tạo nghề, hội thảo chuyên đề, tham quan học tập kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, nghiên cứu thị trường, hội chợ triển lãm, khởi sự kinh doanh và các sự kiện đầu tư …Nhìn chung, các mô hình này được đánh giá là phù hợp, mang tính bền vững cao và có khả năng nhân rộng; Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cung cấp 899 món vay với số tiền 52,2 tỷ VND, kết quả nổi bậc là có sự chuyển biến tốt về thời hạn cho vay. Hiện nay, có 1.276 nhóm tiết kiệm – tín dụng được vay vốn với dư nợ lũy kế là 35,7 tỷ đồng; trong năm 2013, dự án giải ngân 95 tỷ, đạt 80% so với kế hoạch và ngân sách năm 2013, tỷ lệ giải ngân đã được nâng lên đạt mức tốt.

Phát biểu kết luận Hội nghị, ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh biểu dương Ban quản lý Dự án DBRP cấp tỉnh, huyện, xã và đề nghị Ban quản lý Dự án DBRP, các tổ chức cùng quan tâm đẩy nhanh xóa đói, giảm nghèo ở các xã có Dự án; ở mỗi huyện cần rà lại chất lượng của từng mô hình giảm nghèo, quan tâm đến hiệu quả của từng mô hình để giảm nghèo toàn diện hơn; tập trung thanh quyết toán, giải ngân các chương trình hoàn thành và chuẩn bị báo cáo đánh giá và bàn giao Dự án.

07/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tổ chức tổng kết đánh giá hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên năm 2013Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tổ chức tổng kết đánh giá hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư cộng tác viên năm 2013
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal"span style="font-size: small;"Chiều ngày 27/12/2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm) tổ chức tổng kết đánh giá hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý (TGV) và Luật sư cộng tác viên (LS-CTV) năm 2013; đồng thời đề ra phương hướng hoạt động năm 2014; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự. /span/p

Chiều ngày 27/12/2013, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre (Trung tâm) tổ chức tổng kết đánh giá hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý (TGV) và Luật sư cộng tác viên (LS-CTV) năm 2013; đồng thời đề ra phương hướng hoạt động năm 2014; ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Tấn Nhứt, Phó Giám đốc Sở Tư pháp đã đến dự.


Trong năm 2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã bổ nhiệm 03 Trợ giúp viên, miễn nhiệm 01 Trợ giúp viên, hiện tại Trung tâm có 13 Trợ giúp viên. Giám đốc Trung tâm đã ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với 02 luật sư, nâng số lượng LS - CTV lên 17 luật sư. Trung tâm đã tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý, nhằm đáp ứng tốt hơn quyền được lựa chọn người đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; đồng thời giảm áp lực đối với TGV, LS-CTV trong hoạt động tham gia tố tụng.

Trung tâm đã cử TGV và LS-CTV tham gia tố tụng 300 vụ việc, cho 300 đối tượng được trợ giúp pháp lý (gồm 200 nam, 100 nữ). Trong đó, có 161 vụ án hình sự, 28 vụ dân sự, 53 vụ đất đai, 55 vụ hôn nhân gia đình; 03 vụ hành chính; đối tượng chưa thành niên là 93, hộ nghèo 87; người có công 56; người già cô đơn không nơi nương tựa 04, đối tượng phụ nữ ly hôn là 52; người khuyết tật 01; phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi là 04, người dân tộc thiểu số 01, trường hợp khác là 02. Trong đó: TGV thực hiện bào chữa, bảo vệ 179 vụ việc được trợ giúp pháp lý, đã hoàn thành 98 vụ việc, còn lại 81 vụ việc đang tiếp tục thực hiện; LS-CTV thực hiện 121 vụ việc được trợ giúp pháp lý, đã thực hiện hoàn thành 07 vụ việc, còn lại  114 vụ việc vẫn tiếp tục thực hiện.


Phát biểu kết luận tại Hội nghị, ông Phan Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu: Trung tâm tiếp tục tăng cường bồi dưỡng, đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ tham gia tố tụng cho đội ngũ TGV, LS – CTV; thực hiện tốt việc đánh giá và quản lý chất lượng trợ giúp pháp lý của TGV, LS - CTV theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý của Bộ Tư pháp; xây dựng kế hoạch giám sát hoạt động tham gia tố tụng của TGV, LS-CTV (đặc biệt là trong tố tụng hình sự); tiếp tục phối hợp Đoàn Luật sư tỉnh khuyến khích, vận động các Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư đăng ký tham gia cộng tác viên, thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh theo quy định của Luật Luật sư và chủ trương xã hội hóa trợ giúp pháp lý mà Ngành Tư pháp đã đề ra; tham mưu Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện Thông tư liên tịch số 11 về công tác phối hợp liên ngành trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; phát huy những thành tích đã đạt được, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để hoạt động tham gia tố tụng trong thời gian tới đạt hiệu quả hơn.

07/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Đại hội nhiệm kỳ VIIIĐoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Đại hội nhiệm kỳ VIII
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:WordDocument w:ViewNormal/w:View w:Zoom0/w:Zoom w:PunctuationKerning / w:ValidateAgainstSchemas / w:SaveIfXMLInvalidfalse/w:SaveIfXMLInvalid w:IgnoreMixedContentfalse/w:IgnoreMixedContent w:AlwaysShowPlaceholderTextfalse/w:AlwaysShowPlaceholderText w:Compatibility w:BreakWrappedTables / w:SnapToGridInCell / w:WrapTextWithPunct / w:UseAsianBreakRules / w:DontGrowAutofit / /w:Compatibility w:BrowserLevelMicrosoftInternetExplorer4/w:BrowserLevel /w:WordDocument /xml![endif]--/p
p style="text-align: justify;"!--[if gte mso 9]xml w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156" /w:LatentStyles /xml![endif]--!--[if gte mso 10] mce:style!   /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} -- !--[endif] --/p
p class="MsoNormal" style="text-align: justify;"span style="font-size: small;"span style="font-family: arial,helvetica,sans-serif;"Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy; ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, cùng các đại biểu Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Hội Luật gia tỉnh và đông đủ các luật sư thành viên Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre/span /span/p

Ngày 05 tháng 01 năm 2014, tại hội trường Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư tỉnh  Bến Tre đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VIII (2013-2018). Tham dự Đại hội về phía Liên đoàn Luật sư Việt Nam có ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, ông Phan Thông Anh - Trưởng Cơ quan Đại diện phía Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam; về đại biểu địa phương có ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy; ông Lê Minh Hiền, Phó Giám đốc Sở Tư pháp, cùng các đại biểu Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Hội Luật gia tỉnh và đông đủ các luật sư thành viên Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre.

Nhiệm kỳ VII (2008 - 2013), về tổ chức và hoạt động của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre còn nhiều khó khăn, nhất là về cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động. Nhưng với tinh thần quyết tâm cao, Ban Chủ nhiệm cùng các thành viên Đoàn Luật sư đã xác định đúng vị trí, chức năng của Đoàn Luật sư nói riêng và sự phát triển nghề luật sư tỉnh nhà nói chung nên đã tiếp tục phát huy những thành tích, những mặt tiến bộ của các nhiệm kỳ qua, rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế khuyết điểm; tích cực, chủ động bám sát các kế hoạch Chiến lược của Đoàn luật sư Việt Nam, các chủ trương, Nghị quyết của Tỉnh ủy, kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh và các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Luật sư nhiệm kỳ VII, tổ chức triển khai thực hiện đạt kết quả trên các lĩnh vực công tác. Bến Tre hiện có 24 tổ chức hành nghề luật sư; trong đó có 01 Công ty luật hợp danh, 23 Văn phòng Luật sư.


Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Đại hội, ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam ghi nhận những kết quả đạt được của Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre trong nhiệm kỳ qua, nhất là việc phát triển đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật miễn phí, hoạt động trợ giúp pháp lý, … Bên cạnh thành tích, vẫn còn một số vấn đề tồn tại như chưa phát triển mạnh đội ngũ luật sư trẻ, giỏi kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Ông Lê Thúc Anh cũng đề nghị trong nhiệm kỳ VIII, Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre cần nỗ lực nhiều hơn, phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại, tiếp tục xây dựng Đoàn Luật sư đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và nâng cao năng lực tranh tụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, Đoàn Luật sư cũng cần  tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích của luật sư thành viên, đặc biệt là quyền hành nghề.

Thay mặt Tỉnh ủy, ông Nguyễn Văn Lấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy biểu dương sự cố gắng phấn đấu của Đoàn Luật sư tỉnh, đã vượt qua khó khăn để đạt được những thành tích đáng kể trong nhiệm kỳ vừa qua. Tuy nhiên, tỷ lệ luật sư của tỉnh hiện nay còn rất thấp (37/1,3 triệu dân), chất lượng hành nghề luật sư chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và yêu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng cao của công dân. Do vậy, nhiệm kỳ tới, các luật sư cần nghiên cứu, học tập nhiều hơn để tự khẳng định mình, bồi dưỡng thường xuyên về lý luận chính trị cũng như kiến thức, kỹ năng hành nghề luật sư và đạo đức nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Phấn đấu thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu đề ra trong Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020.


Đại hội đã bầu Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh nhiệm kỳ VIII với 03 thành viên là Luật sư Võ Tấn Thành, Luật sư Lê Chiến Ly và Luật sư Nguyễn Thị Kim Hạnh. Luật sư Võ Tấn Thành được bầu làm Chủ nhiệm Đoàn Luật sư; đồng thời tại Đại hội cũng đã bầu Hội đồng khen thưởng – kỷ luật gồm 03 Luật sư và Đại biểu tham dự Đại hội cấp trên.

08/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 02/01/2014Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 02/01/2014

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 414

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy, hiện cư ngụ tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

a) Về đất:

- Diện tích: 500,1 m2 đất CLN;

- Thuộc tờ bản đồ 5, một phần thửa số 182;

b) Cây trồng trên đất: cây dừa, sakê, cây cau, cây chuối.

- Tài sản toạ lạc tại: ấp Phước Thiện, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất của ông Lê Văn Bảy, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (a+b): 85.182.700đ (tám mươi lăm triệu một trăm tám mươi hai ngàn bảy trăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 21/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 8.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 419

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, nhà và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, địa chỉ tại: ấp Vĩnh An 1, xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

1) Về đất và nhà thuộc  tờ bản đồ số 3, thửa số 2949

a. Về đất:

- Diện tích: 630 m2 ;

- Loại đất: LNC; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AM 212096 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 08/4/2008.

b. Nhà trên đất:

+ Nhà ở chính có diện tích 78,3 m2, cột ximăng, đòn tay, xiêng, kèo bằng cây, lợp lá, vách lá và bê dừa, nền lót gạch bông. Không có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

+ Nhà tiền chế có diện tích 30 m2, cột bêtông, máy lợp tole lạnh, khung sắt, hai bên cháy bằng cây lợp lá, nền tráng ximăng.

+ Nhà kho có diện tích 99,8 m2.

+ Chuồng heo có 6 căn chia làm 12 chuồng có diện tích 180m2, cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

+ Tường rào xây tường cao 2 m, diện tích 260,6m2.

+ Cổng rào bằng thép có diện tích 5 m2.

* Tài sản 1 tọa lạc tại xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (1): 284.974.980đ (hai trăm tám mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi bốn ngàn chín trăm tám mươi đồng).

2) Thửa số 3342, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 959,6 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AO 593582 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 02/01/2009.

- Chuồng heo có diện tích 294 m2 đã xuống cấp không thể sử dụng được.

- Tường rào xây tường cao 0,6 m lắp lưới B40 có diện tích 50,4 m2.

- Tường rào xây tường cao 2 m có diện tích 178 m2.

- Cây trồng: 04 cây dừa trên 10 năm tuổi, 01 cây bưởi khoảng 3 năm tuổi và 01 bụi tre trên 3 năm tuổi.

* Tài sản 2 tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (2): 373.527.338đ (ba trăm bảy mươi ba triệu năm trăm hai mươi bảy ngàn ba trăm ba mươi tám đồng).

3) Thửa số 2784, tờ bản đồ số 2;

- Diện tích: 957 m2;

- Loại đất: HNK; theo sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: AN 550468 do UBND huyện Mỏ Cày Nam ký ngày 30/9/2008.

- Chuồng heo có diện tích 356,3 m2 cột bêtông, xiêng kèo bằng cây, lợp lá.

- Tường rào có diện tích 257,3 m2.

- Cây trồng: 02 cây dừa trên 5 năm tuổi, 02 cây dừa khoảng 01 năm tuổi và 02 cây nhãn trên 5 năm tuổi.

* Tài sản 3 tọa lạc tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản (3): 335.302.133đ (ba trăm ba mươi lăm triệu ba trăm lẻ hai ngàn một trăm ba mươi ba đồng).

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, nhà và cây trồng trên đất của ông Nguyễn Ngọc Dũng, bị kê biên theo quyết định của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm tính tròn của tài sản bán đấu giá (1+2+3): 993.800.000đ (chín trăm chín mươi ba triệu tám trăm ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá (1+2+3): 200.000đ/ 01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản 1: 28.000.000 đ/ 01hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước tài sản (2+3): 30.000.000 đ/ 01hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 21/02/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 413

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Hồng Sang và ông Nguyễn Văn Du, hiện cư ngụ tại: ấp Phước Thạnh 1, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

1) Quyền sử dụng đất thửa số 106, tờ bản đồ số 8 của bà Nguyễn Thị Hồng Sang;

a) Về đất:

- Diện tích: 76,2 m2 ;

- Loại đất: ONT;

- Diện tích lộ giới: 76,2 m2;

b) Về nhà:

* Cấu trúc:

- Năm xây dựng: không rõ năm xây dựng;

- Diện tích sử dụng: 76,2 m2;

- Dạng nhà cấp 4 gồm 02 nhà liền kề, chung vách tường ngăn có kết cấu như nhau: 01 phòng khách + 01 phòng ngủ + 01 khu bếp + 01 nhà vệ sinh. Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, đòn tay gỗ, mái tole sóng vuông.

* Kết cấu:

- Phòng khách: Móng, cột, đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic (40x40) cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch dày 10 cm, sơn nước. Đòn tay gỗ, mái tole sóng vuông. Cửa đi: dạng cửa kéo lùa, bằng sắt, 02 cánh (01 bộ).

- Phòng ngủ: có kết cấu tương tự như phòng khách;

- Khu nhà bếp: có kết cấu tương tự như phòng khách. Bếp bằng bêtông cốt thép, lát gạch men.

- Phòng vệ sinh: nền lát gạch ceramic nhám (20x20) cm, tường ốp gạch men. Trang thiết bị vệ sinh; bồn cầu, vòi nước,... Cửa đi bằng nhựa, 01 cánh;

* Hiện trạng: nhà ở đang sử dụng bình thường.

* Giá khởi điểm của tài sản 1: 245.098.062đ (hai trăm bốn mươi lăm triệu không trăm chín mươi tám ngàn không trăm sáu mươi hai đồng).

2) Quyền sử dụng đất thửa số 45, tờ bản đồ số 2 của ông Nguyễn Văn Du;

- Diện tích: 2.045,5 m2;

- Loại đất: CLN;

- Hiện trạng: tại thời điểm và địa điểm thẩm định giá, trên đất trồng cây ăn trái (cây cam, dâu hiện đã cằn cõi cho năng suất trái thấp).

* Giá khởi điểm của tài sản 2: 255.864.436đ (hai trăm năm mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi bốn ngàn bốn trăm ba mươi sáu đồng).

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phước Thạnh 1, xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và cây trồng trên đất của bà Nguyễn Thị Hồng Sang và ông Nguyễn Văn Du, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 500.962.498đ (năm trăm triệu chín trăm sáu mươi hai ngàn bốn trăm chín mươi tám đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 21/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 420

- Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Văn Bé và bà Hồ Kim Hoàng, hiện cư ngụ tại: 101/3B ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh An, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

1) Về đất:

- Thửa số 980, tờ bản đồ số 2, diện tích 900 m2 (theo số liệu đo đạc chính quy là thửa 399, tờ bản đồ số 5, diện tích 959,5 m2), loại đất: trồng cây hàng năm;

- Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.843,6 m2, loại đất trồng cây lâu năm;

- Thửa đất số 465, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.900,9 m2, loại đất trồng cây lâu năm;

2) Tài sản trên đất là cây trồng các loại bao gồm: cây dừa, chôm chôm, bưởi, chuối, măng cụt, cây mận.

- Tài sản (1+2) toạ lạc tại: ấp Phú Hòa, xã Quới Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (cây trồng các loại) của ông Nguyễn Văn Bé và bà Hồ Kim Hoàng, bị kê biên để thi hành án theo quyết định của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 578.590.000đ (năm trăm bảy mươi tám triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 21/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 500.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 50.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 403

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

- Thửa số 448, tờ bản đồ số 10;

- Diện tích sử dụng 356,1 m2 (trong đó 106,2 m2 diện tích lộ giới, diện tích tính vào giá bán 249,9 m2)

- Loại đất: ONT;

-  Tài sản tọa lạc tại: xã An Ngãi Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất công của Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng).

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/02/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sản từ 7 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 21/02/2014 tại Hội trường Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 25.000.000đ/hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 416

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cụ thể như sau:

1) Thửa số 297, thuộc tờ bản đồ số 9.

- Diện tích tính vào giá bán: 81,2 m2;

- Loại đất: ONT;

- Giá khởi điểm: 219.240.000đ (hai trăm mười chín triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng).

2) Thửa số 200, thuộc tờ bản đồ số 10.

- Diện tích tính vào giá bán: 485,7 m2;

- Loại đất: ONT;

- Giá khởi điểm: 1.000.000.000đ (một tỷ đồng chẵn).

* Tài sản (1+2) tọa lạc tại xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;

* Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre quản lý không có nhu cầu sử dụng;

* Tài sản trên bán theo nhu cầu người sử dụng.

* Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 1.219.240.000đ (một tỷ hai trăm mười chín triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản 1: 200.000đ/01 hồ sơ;

* Lệ phí tham gia đấu giá tài sản 2: 500.000đ/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước tài sản 1: 20.000.000đ/ 01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước tài sản 2: 100.000.000đ/ 01 hồ sơ;

Thời gian xem tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/02/2014.

Thời gian đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 21/02/2014 tại Hội trường Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 415

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là là quyền sử dụng đất  và nhà ở trên đất của ông Bùi Văn Đấu, địa chỉ: ấp Giồng Hổ, xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tài sản có các đặc điểm sau:

1. Về đất và tài sản trên đất (nhà) thuộc tờ bản đồ 02, thửa 2169;

a. Về đất:

- Diện tích đất: 300 m2; Loại đất: ở nông thôn

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 431967, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00339 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 05/7/2005.

b. Tài sản trên đất: (nhà ở) đã cũ không còn giá trị sử dụng. Tài sản bán theo Giấy xác nhận chủ quyền nhà ở do Ủy ban nhân dân xã Thới Lai cấp ngày 13/11/2009

- Giá khởi điểm (tài sản 1): 72.000.000 đ (Bảy mươi hai triệu đồng)

2. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2966;

- Diện tích đất: 800 m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 431968, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00340 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 05/7/2005.

- Giá khởi điểm (tài sản 2): 44.800.000 đ (Bốn mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng)

3. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2170;

- Diện tích đất: 1.335 m2; Loại đất: trồng cây lâu năm;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 431969, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00341 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 05/7/2005.

- Giá khởi điểm (tài sản 3): 106.800.000 đ (Một trăm lẻ tám triệu tám trăm ngàn đồng)

4. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2714;

- Diện tích đất: 6.430 m2; Loại đất: trồng lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 651590, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00855 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 15/6/2007.

- Giá khởi điểm (tài sản 4): 160.750.000 đ (Một trăm sáu mươi triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng)

5. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2705;

- Diện tích đất: 5.400 m2; Loại đất: trồng lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 296266, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00582 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 16/3/2006.

- Giá khởi điểm (tài sản 5): 135.000.000 đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng)

6. Về đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 2718;

- Diện tích đất: 3.427 m2; Loại đất: trồng lúa;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AI 651589, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00854 do Ủy ban nhân dân huyện  Bình Đại cấp ngày 15/6/2007.

- Giá khởi điểm (tài sản 6): 85.675.000 đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng)

- Tài sản (1+2+3+4+5+6) tọa lạc tại: xã Thới Lai, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của ông Bùi Văn Đấu do Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2+3+4+5+6): 605.025.000 đ (Sáu trăm lẻ năm triệu không trăm hai mươi lăm ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 21/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá:  150.000đ/hồ sơ (tài sản 1), (tài sản 6), 100.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 200.000 đ/hồ sơ (tài sản 3), (tài sản 4), (tài sản 5), ;

* Khoản tiền đặt trước: 4.000.000đ/hồ sơ (tài sản 1), (tài sản 6), 2.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 2), 5.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 3), 8.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 4), 6.000.000 đ/hồ sơ (tài sản 5);


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 418

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Dãy lớp học 02 phòng. Diện tích 85,28 m2. Kết cấu: nền gạch men, vách ván, tole, cột gỗ, mái tole thiếc, không trần, đoàn tay gỗ, cửa đi gỗ, được xây dựng năm 1988. Tỷ lệ còn lại 10 %.

- Dãy lớp học 01 phòng. Diện tích 109,22 m2. Kết cấu: nền gạch men, vách tường, cột gạch, cột gỗ tròn, mái tole thiếc, không trần, đoàn tay sắt chữ C, kèo gỗ, cửa đi gỗ (phần mái tole và đoàn tay sắt được thay mới vào năm 2005 do cơn bão số 9 làm tốc mái nhà), được xây dựng năm 1980. Tỷ lệ còn lại 20 %.

* Lưu ý: Khi bán đấu giá thành, người mua chỉ được lấy từ mặt đất trở lên không cho lấy móng và đà.

- Tài sản tọa lạc tại: Trường Mầm non Mỹ Thạnh An (cơ sở cũ) - xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bến Tre không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 31.000.000đ (ba mươi một triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 4.500.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 17/01/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 417

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản như sau:

- Diện tích 64,8 m2. Kết cấu: nền gạch men, vách tường, cột pêtông cốt thép, mái tole thiếc sóng vuông, cửa đi và cửa sổ khung sắt kính, trần nhựa, đoàn tay gỗ tạp (quy cách 3x5cm), được xây dựng năm 1980. Tỷ lệ còn lại 3 %.

* Lưu ý: Khi bán đấu giá thành, người mua chỉ được lấy từ mặt đất trở lên không cho lấy móng và đà.

- Tài sản tọa lạc tại: Trường Tiểu học Sơn Đông (điểm Tân Thành) - xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bến Tre không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

* Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

* Lệ phí tham gia đấu giá: 50.000đ/01 hồ sơ.

* Khoản tiền đặt trước: 600.000đ/01 hồ sơ.

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 17/01/2014 tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 400

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Lương Thị Hồng Diễm, địa chỉ: 567/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tài sản có đặc điểm sau:

1) Về đất:

- Diện tích đất: 90 m2;

- Loại đất: 79 m2 đất ở tại nông thôn và 11 m2 đất cây lâu năm;

- Thuộc tờ bản đồ số 11, thửa 410;

* Tài sản bán theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AB 073094 do Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) cấp ngày 31/12/2004

2) Tài sản gắn liền trên đất:

Nhà ở: nhà cấp 4, xây dựng năm 2003. Kết cấu: móng cột đà kiềng bêtông cốt thép, nền lát gạch ceramic (40x40) cm, tường bao xây gạch dày 10 cm, tường ngăn xây gạch 10 cm, đòn tay gỗ, trần nhựa, mái tole sóng vuông. Cửa đi khung sắt + kính  04 cánh

- Tài sản tọa lạc tại: 567/1 ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh  Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất (nhà ở) của bà Lương Thị Hồng Diễm do Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn - Chi nhánh thành phố Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 330.710.000 đ (Ba trăm ba mươi triệu bảy trăm mười ngàn đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 06/01/2014 đến 16 giờ 30 phút ngày 17/02/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 20/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre (số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).

* Lệ phí tham gia đấu giá:  200.000đ/hồ sơ

* Khoản tiền đặt trước: 16.000.000đ/hồ sơ

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667 – 0753512081 - 0753512080, fax số : 075-3512080 để biết thêm chi tiết.

 

03/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 26/12/2013Thông báo bán đâu giá tài sản ngày 26/12/2013

THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 407

Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Dương Hoàng Khương (hiện ông Khương đã chết), tài sản có đặc điểm sau:

1. Về đất:

- Diện tích đất: 56,1 m2 (trong đó: 46,3 m2 đất ở nông thôn, 9,8 m2 đất hàng năm khác);

- Thuộc tờ bản đồ số 08, thửa đất 215

* Tài sản bán theo diện tích đo đạc thực tế

2. Tài sản trên đất (nhà): đã bị cháy không còn giá trị

- Tài sản tọa lạc tại: xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sử dụng đất  và tài sản trên đất của ông Dương Hoàng Khương do Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long – Chi nhánh Bến Tre xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (1+2): 243.826.200 đ (Hai trăm bốn mươi ba triệu tám trăm hai mươi sáu ngàn hai trăm đồng)

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 27/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 10/02/2014; địa điểm: tại Hội trường Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 200.000 đ/01 hồ sơ;

* Khoản tiền đặt trước: 20.000.000đ/01 hồ sơ;


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 406

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản thanh lý. Tài sản có các đặc điểm như sau:

I. Gói số 1

- Sắt ước lượng 8.562 kg, đơn giá 6.500đ/kg = 55.653.000đ

- Nhựa ước lượng 75kg, đơn giá 3.500đ/kg   =      262.500đ

* Tổng giá khởi điểm (I): 55.915.500đ (năm mươi lăm triệu chín trăm mười lăm ngàn năm trăm đồng).

II. Gói số 2

- Nhựa ước lượng 93kg, đơn giá 3.500đ/kg = 325.500đ

- Gang ước lượng 1.530kg, đơn giá 8.000đ/kg = 12.240.000đ

- Sắt ước lượng 93 kg, đơn giá 6.500đ/kg  =      604.500đ

- Bộ bơm bùn, máy nổ ước lượng 490kg, đơn giá 6.000đ/kg = 2.940.000đ

- Chất liệu cao su, khác ước lượng 104kg, đơn giá 1.000đ/kg =   104.000đ

* Tổng giá khởi điểm (II): 17.264.000đ (mười bảy triệu hai trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

III. Gói số 3

- Ống PVC D21* 1,4mm ước lượng 6.000 kg, đơn giá 3.500đ/kg = 21.000.000đ

- Đồng hồ cấp A ước lượng 763 cái, đơn giá 15.000đ/cái = 11.445.000đ

* Tổng giá khởi điểm (III): 32.445.000đ (ba mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

* Lưu ý: Tài sản bán đấu giá theo từng gói (có danh mục tài sản kèm theo) và sau khi bán đấu giá thành, người trúng đấu giá nộp đủ tiền mua tài sản, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ phối hợp Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bến Tre tiến hành cân thực tế để bàn giao tài sản trên; nếu số lượng và khối lượng ước tính tăng hơn so với thực tế thì khách hàng trúng đấu giá phải thanh toán thêm tiền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tính trên giá trị tài sản mua được; ngược lại nếu giảm thì Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sẽ hoàn tiền lại cho khách hàng trúng đấu giá.

- Tài sản tọa lạc tại: Số 456B, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Nhà máy nước Long Định và nhà máy mước Tân Mỹ ( Cầu xã Diệu, Cầu Vĩnh An, Cầu Ba Tri, Cầu Phú Lễ, Cầu Tân Xuân, Cầu Phước Tuy, Cầu Tân Hòa, Cầu Vàm Hồ, Cầu ba Si, Cầu Cây, Cầu Thầy Hội, Cầu Bà Chịu).

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bến Tre không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Tổng giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (I+II+III): 105.624.500đ (một trăm lẻ năm triệu sáu trăm hai mươi bốn ngàn năm trăm đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 27/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 08 giờ ngày 09/01/2014 (thứ năm); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 150.000đ/hồ sơ/Gói số 1; 50.000đ/hồ sơ/Gói số 2 và 100.000đ/hồ sơ/Gói số 3.

* Khoản tiền đặt trước: 5.000.000đ/hồ sơ/Gói số 1; 2.000.000đ/hồ sơ/Gói số 2 và 3.000.000đ/hồ sơ/Gói số 3.


THÔNG BÁO HỢP ĐỒNG 410

Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre xin thông báo bán đấu giá tài sản thanh lý tháo dỡ hội trường số 1 của Trường Chính trị tỉnh Bến Tre. Tài sản cụ thể như sau:

- Diện tích 345 m2. Kết cấu: nền gạch bông, vách gạch, cột pêtông cốt thép, mái tole tráng kẽm, trần nhựa, không ngăn phòng; Cửa đi bằng sắt loại 02 cánh: 03 bộ; Cửa đi bằng gỗ loại 01 cánh: 01 cái; Cửa sổ bằng gỗ loại 02 cánh: 05 bộ; Cửa nhà vệ sinh bằng gỗ: 04 cái. Tỷ lệ còn lại 5 %.

* Lưu ý: Khi bán đấu giá thành, người mua được lấy cả móng và đà trả lại mặt bằng sạch cho Trường Chính trị tỉnh Bến Tre.

- Tài sản tọa lạc tại: Trường Chính trị tỉnh Bến Tre - xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

- Nguồn gốc và tình trạng pháp lý: là tài sản thuộc quyền sở hữu của Trường Chính trị tỉnh Bến Tre không có nhu cầu sử dụng cần thanh lý.

- Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá: 29.600.000đ (hai mươi chín triệu sáu trăm ngàn đồng).

Thời gian xem và đăng ký mua tài sản từ: 7 giờ 30 phút ngày 27/12/2013 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/01/2014.

Tổ chức bán đấu giá vào lúc 09 giờ ngày 09/01/2014 (thứ năm); địa điểm: tại Hội trường Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre.

* Lệ phí tham gia đấu giá: 100.000đ/hồ sơ

* Tiền đặt trước: 4.000.000đ/hồ sơ

Quý khách có nhu cầu mua liên hệ và đăng ký tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, địa chỉ số 15 đường Thủ Khoa Huân, phường 3, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoặc điện thoại số : 075-3823667 – 0753512081 - 0753512080, fax số : 075-3512080 để biết thêm chi tiết.

03/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng thángĐiều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng

Ngày 30/6/2017, Chính phủ ban hành Nghị định 76/2017/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng.

Theo đó, từ ngày 01/7/2017, tăng thêm 7,44% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6 năm 2017 đối với 8 nhóm đối tượng:

Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.

Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định  121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.

Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 91/2000/QĐ-TTg ngày 04/8/2000, Quyết định 613/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008, Quyết định 38/2010/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.

Nghị định 76/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2017. Các chế độ quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 01/7/2017.

10/07/2017 10:00 SAĐã ban hành
Quy chế hoạt động của hệ thống cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy chế hoạt động của hệ thống cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 10 tháng 4 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 07/2014/QĐ-UBND kèm theo Quy chế hoạt động của hệ thống cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre (có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2014). Quy chế này quy định về cơ cấu, chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ ...

Ngày 10 tháng 4 năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 07/2014/QĐ-UBND kèm theo Quy chế hoạt động của hệ thống cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre (có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2014). Quy chế này quy định về cơ cấu, chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre, cụ thể:

Về cơ cấu cán bộ đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính (gọi tắt là cán bộ đầu mối)

Các sở, ban, ngành tỉnh không (hoặc chưa) thành lập tổ chức pháp chế, bố trí ở mỗi đơn vị không quá 03 cán bộ đầu mối, trong đó phải đảm bảo bố trí có 01 lãnh đạo sở, ban, ngành và 01 lãnh đạo cấp phòng hoặc tương đương; đối với các sở, ban, ngành đã thành lập Phòng Pháp chế phải đảm bảo bố trí có 01 lãnh đạo sở, ban, ngành và 01 lãnh đạo Phòng Pháp chế.

Riêng đối với Sở Tư pháp, ngoài việc bố trí cán bộ đầu mối phải đảm bảo như các sở, ban, ngành khác, cán bộ đầu mối bao gồm Công chức Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính; đối với Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh bố trí không quá 05 cán bộ đầu mối.

Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố: Bố trí 03 cán bộ đầu mối, trong đó phải đảm bảo có 01 lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp huyện, 01 lãnh đạo Phòng Tư pháp và 01 chuyên viên Phòng Nội vụ.

Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn: Bố trí 01 cán bộ đầu mối là Công chức Tư pháp - Hộ tịch.

Phân cấp công nhận cán bộ đầu mối: Cán bộ đầu mối tại các sở, ban, ngành tỉnh (cán bộ đầu mối cấp tỉnh) do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận; Cán bộ đầu mối cấp huyện, cấp xã do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định công nhận.

Chế độ làm việc của cán bộ đầu mối: Ngoài công chức Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính, cán bộ đầu mối làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.

Về nhiệm vụ của cán bộ đầu mối

Tham mưu chỉ đạo, điều hành hoạt động cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính tại cơ quan, đơn vị.

Hướng dẫn các tổ chức, cá nhân trong đơn vị thực hiện các nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính và tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của cơ quan, đơn vị.

Theo dõi, đôn đốc các phòng, ban, đơn vị trực thuộc thực hiện nghiêm túc việc niêm yết, công khai thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết theo đúng quy định; kiểm tra việc công khai địa chỉ cơ quan, hộp thư điện tử, số điện thoại chuyên dùng của cơ quan tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính tại các phòng, ban, đơn vị trực thuộc có nhiệm vụ tham mưu, giải quyết thủ tục hành chính.

Triển khai, thực hiện việc rà soát, đơn giản hoá thủ tục hành chính theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền và kế hoạch của cơ quan, đơn vị.

Tuyên truyền, phổ biến, tập huấn nghiệp vụ về kiểm soát thủ tục hành chính; phối hợp với cơ quan thông tấn, báo chí và cơ quan có thẩm quyền thực hiện công tác truyền thông về cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính.

Định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm hoặc theo yêu cầu đột xuất, tham mưu xây dựng báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính và tình hình tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính theo quy định.

Đối với cán bộ đầu mối cấp tỉnh: Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trên (khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 3 Quy chế), còn phải tham mưu, thực hiện nhiệm vụ kiểm soát quy định về thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do đơn vị được giao chủ trì soạn thảo theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính, Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính và hướng dẫn của Bộ Tư pháp; thống kê thủ tục hành chính, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính do cấp có thẩm quyền ban hành thuộc phạm vi, chức năng quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, đơn vị mình (kể cả thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã) để lập thủ tục trình công bố thủ tục hành chính theo đúng quy định.

Đối với cán bộ đầu mối cấp huyện, cấp xã: Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 3 Quy chế, còn phải chủ động thống kê, rà soát hoặc phối hợp với các phòng, ban chuyên môn cấp huyện thống kê và kịp thời kiến nghị bằng văn bản gửi sở, ban, ngành có chức năng để lập thủ tục trình công bố thủ tục hành chính mới, thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ nhưng chưa được công bố hoặc đã công bố nhưng chưa đầy đủ, chính xác so với các quy định của cấp có thẩm quyền ban hành.

Cán bộ đầu mối có quyền: Phối hợp với các bộ phận có liên quan của đơn vị tổ chức triển khai, thực hiện các nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính do Thủ trưởng giao; tham gia phối hợp thực hiện các hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính về các vấn đề có liên quan đến phạm vi chức năng quản lý của đơn vị khi có yêu cầu; tham gia tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về kiểm soát thủ tục hành chính do Bộ, ngành, địa phương tổ chức và phối hợp tổ chức, tập huấn cho cán bộ, công chức, viên chức các phòng, ban, đơn vị trực thuộc; đồng thời được hưởng chế độ hỗ trợ cán bộ đầu mối theo quy định tại Nghị quyết số 07/2013/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre về quy định mức chi đảm bảo công tác cải cách hành chính và công tác kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre và được xem xét khen thưởng khi hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Quy chế này cũng quy định rõ trách nhiệm của Sở Tư pháp, Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã trong  bố trí, phân công nhiệm vụ cho cán bộ đầu mối và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định.

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trúNghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú
Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu...

Ngày 18/04/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú. Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nơi cư trú của công dân; giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp; thời hạn đăng ký thường trú, điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 5 của Nghị định số 31/2014/NĐ-CP thì nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống. Và chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Đối với chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân, tổ chức tại thành phố trực thuộc trung ương phải bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố.

Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này, thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn.

Và chỗ ở hợp pháp theo Nghị định số 31/2014/NĐ-CP bao gồm: Nhà ở;  tàu, thuyền, phương tiện khác nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân; nhà khác nhưng được sử dụng nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.

Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ; giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất đó); hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn...

Trong đó đáng chú ý là quy định về điều kiện công dân tạm trú được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm: Có chỗ ở hợp pháp tại thành phố trực thuộc trung ương. Có thời gian tạm trú liên tục tại thành phố trực thuộc trung ương từ một năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương; từ hai năm trở lên đối với trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương; trường hợp tạm trú liên tục tại nhiều chỗ ở khác nhau thì thời gian tạm trú liên tục được tính bằng tổng thời gian tạm trú tại các chỗ ở đó. Nơi đề nghị được đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú.

Cũng theo Nghị định này, trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới và có đủ điều kiện đăng ký thường trú, người thay đổi chỗ ở hợp pháp hoặc đại diện hộ gia đình phải làm thủ tục đăng ký thường trú tại chỗ ở mới.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/06/2014 và thay thế Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú; Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú.

28/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhTiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thời gian qua, việc tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện khá nghiêm túc. Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức nhận thức được tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đã đăng ký và thực hiện nội dung làm theo một cách cụ thể, tạo ý thức tự giác rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống c...

Thời gian qua, việc tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện khá nghiêm túc. Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức nhận thức được tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đã đăng ký và thực hiện nội dung làm theo một cách cụ thể, tạo ý thức tự giác rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người cán bộ, công chức, viên chức. Trong đó, đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao hiệu quả công tác; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực; quy định cụ thể trách nhiệm gương mẫu của người đứng đầu; góp phần xây dựng bộ máy các cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, công tác triển khai học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở một số ngành, địa phương chưa đồng đều; nhận thức và hành động của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa chuyển biến rõ nét. Việc vận dụng nội dung học tập để làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh còn chưa cụ thể, nên những biểu hiện tiêu cực, quan liêu, xa rời quần chúng vẫn còn xuất hiện ở một số cơ quan, đơn vị.

Để tiếp tục thực hiện việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 1973/CT-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ; ngày 21 tháng 4 năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh có Công văn số 1702/UBND-VHXH yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tập trung chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt nội dung chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh tại Công văn số 933/UBND-VHXH ngày 06 tháng 3 năm 2013 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Công văn số 1873-CV/TU ngày 10/01/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tổ chức học tập chuyên đề  tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2014. Chú ý các cách làm sinh động, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với điều kiện, đặc thù và nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; phát huy tốt hơn trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; nhân rộng gương điển hình tiên tiến của tập thể và cá nhân; những cách làm hay, sáng tạo trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; lồng ghép với các giải thưởng sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn học nghệ thuật, báo chí về chủ đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.


Gắn việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI  “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Thường xuyên theo dõi, nắm tình hình dư luận xã hội và định hướng thông tin để kịp thời ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; lấy kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá, bình xét, khen thưởng cán bộ, công chức, viên chức hàng năm.

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sởVai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở
 Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các ...

Nhằm tiếp tục phát huy và khẳng định vị trí vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hoà giải ở cơ sở, Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 có nhiều quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.

Luật Hoà giải ở cơ sở đã khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc giới thiệu danh sách bầu làm hoà giải viên ở cơ sở; chủ trì tổ chức bầu hoà giải viên; đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận hoà giải viên sau khi bầu. Cụ thể tại Điều 8 của Luật Hoà giải ở cơ sở về bầu, công nhận hòa giải viên quy định người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật Hoà giải ở cơ sở có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức: Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình. Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý; trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp; trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng; Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

 

Đối với việc thôi làm hòa giải viên được quy định tại Điều 11 của Luật Hoà giải ở cơ sở: Trường hợp thôi làm hòa giải viên quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Trường hợp thôi làm hòa giải viên đối với tổ trưởng tổ hòa giải thì Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Quyết định thôi làm hòa giải viên được gửi Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

Bên cạnh đó vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở, còn thể hiện ở quy định tại Điều 12 của Luật Hoà giải ở cơ sở như đề nghị số lượng tổ hoà giải, số hòa giải viên trong một tổ hòa giải ở địa phương để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định; rà soát, kiến nghị kiện toàn tổ hoà giải.  Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì phối hợp với tổ trưởng tổ hòa giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải và kiến nghị Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã để đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã kiện toàn tổ hòa giải.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hoà giải ở cơ sở còn thể hiện ở vai trò chủ trì bầu tổ trưởng tổ hoà giải theo quy định tại Điều 14 của Luật Hoà giải ở cơ sở. Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn bản và gửi chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định công nhận.

Ngoài ra, Điều 22 và Điều 26 của Luật Hoà giải ở cơ sở quy định: Trường hợp các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau thì tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố đó phối hợp thực hiện việc hòa giải và thông báo với Trưởng ban công tác Mặt trận tại nơi đó cùng phối hợp thực hiện. Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời thông báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.

Bên cạnh việc quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận nêu trên, Điều 30 của Luật Hoà giải ở cở sở còn quy định Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểmHội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm
Chiều ngày 22/4/2014, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phối hợp tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm. Bà Nguyễn Thị Phương Đào, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh; ông Lê Phong Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ...

Chiều ngày 22/4/2014, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phối hợp tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới ở các xã điểm. Bà Nguyễn Thị Phương Đào, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh; ông Lê Phong Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy; ông Cao Văn Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Phó Trưởng thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh đến dự và đồng chủ trì hội nghị.

Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo: Ban Dân vận Tỉnh ủy, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn phòng điều phối xây dựng nông thôn mới tỉnh, Sở Tài nguyên – Môi trường, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Tỉnh đoàn; Thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các huyện, thành phố; lãnh đạo các đoàn thể cấp huyện, các xã điểm xây dựng nông thôn mới.

Thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 02/8/2011 của Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 14/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh ngày 9/12/2011 về việc thông qua Đề án tổng thể xây dựng nông thôn mới tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 29/HĐND ngày 8/12/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh về định mức hỗ trợ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010-2020.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 1235/QĐ-UBND ngày 18/7/2013 về ban hành Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Bến Tre (thay thế Quyết định số 1624/QĐ-UBND ngày 20/7/2011); Quyết định số 1436/QĐ-UBND ngày 20/8/2013 về việc ban hành thiết kế mẫu, thiết kế điển hình các công trình giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 1651/QĐ-UBND ngày 16/9/2013 về việc ban hành hướng dẫn cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư của nhà nước để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác lập quy hoạch xã nông thôn mới, thiết kế mẫu hội trường văn hóa trên địa bàn tỉnh, lồng ghép các nguồn vốn để xây dựng nông thôn mới,…


Qua 03 năm triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới đối với 25 xã điểm đã đạt được nhiều kết quả tốt, làm chuyển biến nhận thức, ý thức của cán bộ, đảng viên và người dân về xây dựng nông thôn mới; các đồ án quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới ở tất cả các xã đã được phê duyệt; các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hoàn thiện; các lĩnh vực chính trị, văn hóa xã hội đều có sự chuyển biến khá tốt, tác động tích cực đến đời sống của cư dân nông thôn.

Kết quả đến nay có 05 xã thực hiện từ 14 đến 16 tiêu chí, như: Châu Bình (huyện Giồng Trôm) đạt 16 tiêu chí; Phú Nhuận (Thành phố Bến Tre), Hữu Định (huyện Châu Thành) đạt 15 tiêu chí; Sơn Định (huyện Chợ Lách), Định Thủy (huyện Mỏ Cày Nam) đạt 14 tiêu chí; các xã đạt từ 10 đến 13 tiêu chí, như: Quới Sơn, Phú Sơn, Nhơn Thạnh, Thành Triệu, Cẩm Sơn, An Thới, Phú Thuận, Tân Thiềng; các xã còn lại đạt từ 05 đến 09 tiêu chí, như Tân Thủy, Tân Thành Bình, Sơn Đông, Mỹ Nhơn, Tân Phú Tây, Phú Long, Đại Điền, Hưng Lễ, Long Hòa, Quới Điền.

Để phối hợp tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn  mới ở các xã điểm, trong đó vai trò của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức đoàn thể các cấp cần tập trung vận động thực hiện một số tiêu chí như: phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh, mỗi người trong gia đình đều có việc làm, có phương án, mô hình phát triển, nhất là các mô hình kinh tế hợp tác.

Vận động nhân dân xây dựng, sửa chữa làm đẹp nhà ở, cổng, ngõ, hàng rào, cột cờ, trồng cây xanh, hoa kiểng.  Xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc; mỗi gia đình có nhà tắm kính đáo, hố xí hợp vệ sinh, sử dụng nước sạch, điện an toàn, ăn ở, sinh hoạt sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng.

Có ý thức bảo vệ môi trường, không vứt rác thải bừa bãi, chất thải phải thu gom, chôn lấp, có cống rãnh thoát nước, khu chăn nuôi phải cách xa nhà ở, đảm bảo vệ sinh.

Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, trẻ em trong độ tuổi được đị học; tham gia các lớp dạy nghề nông thôn. Giữ gìn truyền thống đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, đùm bọc, tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giúp nhau giảm nghèo, thực hiện tốt nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang.

Tham gia bảo vệ an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh; mỗi thành viên gia đình tham gia sinh hoạt ít nhất một tổ chức đoàn, hội ở địa phương. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; tích cực tham gia xây dựng, quản lý, giám sát các công trình phúc lợi ở địa phương.

Kế hoạch cũng đã đề ra các bước thực hiện, phân công phụ trách địa bàn cụ thể, như: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh phụ trách xã Tân Thành Bình (Mõ Cày Bắc), hỗ trợ thực hiện tiêu chí 17 về môi trường tại xã Hữu Định (Châu Thành); Hội Cựu chiến binh tỉnh phụ trách xã Châu Bình (Giồng Trôm), xã Phú Thuận (Bình Đại); Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh phụ trách xã Tân Thủy (Ba Tri) và hỗ trợ thực hiện tiêu chí 17 về môi trường tại xã Cẩm Sơn (Mõ Cày Nam); Hội Nông dân tỉnh phụ trách xã Sơn Định (Chợ Lách), xã Định Thủy (Mỏ Cày Nam); Tỉnh đoàn phụ trách xã Phú Nhuận (Thành phố Bến Tre), xã Đại Điền (Thạnh Phú); Liên đoàn Lao động tỉnh phụ trách xã Hữu Định (Châu Thành).

25/04/2014 12:00 SAĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức họp Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và Ban Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tỉnhỦy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức họp Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và Ban Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tỉnh
Chiều ngày 10/9/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức họp Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh và Ban Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tỉnh. Ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới; ông Cao Văn Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đến dự và chủ trì cuộc họp.

Tham dự cuộc họp có thành viên Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và Ban Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tỉnh; Trưởng ban Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và Ban Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa các huyện, thành phố.

nong-thon-moi1.gif

Ông Cao Minh Đức, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó Trưởng ban chuyên trách Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh báo cáo kết quả thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 9 tháng đầu năm 2014, và thông qua Dự thảo Hướng dẫn tạm thời về trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận, công bố xã đạt chuẩn nông thôn mới; nêu rõ: đến nay có 05/124 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí (như xã: Phú Nhuận, thành phố Bến Tre đạt 18/19 tiêu chí; Châu Bình, huyện Giồng Trôm đạt 17/19 tiêu chí; Hữu Định, huyện Châu Thành; Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam; Sơn Định, huyện Chợ Lách đạt 15/19 tiêu chí),  05 /124 xã đạt từ 13 đến 14 tiêu chí, 11/124 xã đạt từ 10 đến 12 tiêu chí.


Tuy nhiên, ngoài kết quả đạt được, việc huy động sức dân đầu tư các công trình xây dựng nông thôn mới ở các xã còn gặp nhiều khó khăn; nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu; một số công trình tiến độ thi công chậm, chất lượng kém; vốn Chương trình mục tiêu rất khó khăn, chỉ tạm ứng không quá 30%, phải đối ứng 70%; nguồn nhân lực thực hiện công tác xây dựng nông thôn mới chưa đáp ứng yêu cầu; công tác tổng hợp báo cáo của một số sở, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố còn chậm, chưa đầy đủ nội dung quy định, nhất là đánh giá, phản ảnh những khó khăn, vướng mắc.


nong-thon-moi2.gif


19/09/2014 5:00 CHĐã ban hành
Bến Tre: Sơ kết công tác phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm 6 tháng đầu năm 2014Bến Tre: Sơ kết công tác phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm 6 tháng đầu năm 2014
Sáng ngày 24/9/2014, Ban chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS, tội phạm, tệ nạn xã hội và xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phòng, chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm 6 tháng đầu năm 2014 và triển khai Kết luận số 95-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Kế hoạch số 94-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới”. Ông Nguyễn Quốc Bảo, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Hội nghị đã nghe bà Lê Thị Kim Thoa, Giám đốc Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh báo cáo kết quả thực hiện phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và báo cáo kết quả hoạt động điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone; bà Trần Thị Thanh Lam, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và xã hội báo cáo kết quả phòng, chống mại dâm và cai nghiện phục hồi quản lý sau cai nghiện 6 tháng đầu năm 2014; Đại tá Võ Thành Đồng, Phó Giám đốc Công an tỉnh báo cáo tình hình, kết quả công tác phòng, chống ma túy 6 tháng đầu năm 2014 và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014; triển khai Kết luận số 95-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Kế hoạch số 94-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới”.

Hội nghị thảo luận thống nhất đánh giá kết quả thực hiện phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm 6 tháng đầu năm 2014 theo Kết luận số 95-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 94-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới” trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong năm năm qua đã đạt được một số kết quả quan trọng. Đã xây dựng được cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp, huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân tham gia; lực lượng chuyên trách được tăng cường, chủ động ngăn chặn không để xảy ra điểm nóng, phức tạp về ma túy. Theo thống kê, cuối năm 2013, toàn tỉnh có 795 người nghiện (747 nam, 48 nữ); 6 tháng đầu năm 2014, phát hiện nghiện mới 53 người, tái nghiện 17 người; người nghiện đang sống ngoài cộng đồng 479 người; trại tạm giam, tạm giữ 163 người, cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục- Lao động xa hội 153 người; trong đó, thành phố Bến Tre có 259 người, Châu Thành 165 người, Bình Đại 78 người, Ba Tri có 36 người. Qua khảo sát, có 106/164 xã, phường, thị trấn có ma túy. Lực lượng chức năng phát hiện, đấu tranh làm rõ 25/23 vụ tội phạm về ma túy (tăng 02 vụ so năm 2013), khởi tố 23 vụ, 24 bị can.

Lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS, mại dâm cũng được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt. Từ năm 1993 đến tháng 6/2014, số người nhiễm HIV được phát hiện là 2.115 người, chuyển sang AIDS là 1.271 người và tử vong 780 người; trong đó, giới nam có 57,97%, giới nữ 42,03%; gần 2/3 trường hợp nhiễm HIV do qua đường tình dục 65,22%, lây nhiễm qua đường máu chiếm 18,84%, từ mẹ sang con 4,35%, chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi từ 25 – 48 tuổi; thành phố Bến Tre có số người nhiễm cao nhất là 577 người (chiếm gần 1/3 số người nhiễm trong toàn tỉnh), kế đó là Châu Thành 408 người, Mỏ Cày Nam 286 người, Giồng Trôm 187 người, thấp nhất là Thanh Phú 94 người. Hiện có 162/164 xã, phường phát hiện có người nhiễm HIV.

Tình hình hoạt động mại dâm hiện đang diễn biến phức tạp; hiện có 113 đối tượng hoạt động mại dâm có hồ sơ quản lý (tăng 14 đối tượng so năm 2013) và khoảng 80 đối tượng có biểu hiện nghi vấn hoạt động mại dâm dưới hình thức nhân viên, tiếp viên các nhà hàng, khách sạn, karaoke, quán rượu bia, cơ sở cắt tóc gội đầu thanh nữ. Kết quả phát hiện 06 tụ điểm, nhà nghĩ hoạt động mại dâm, phạt hành chính 25 đối tượng, gồm 14 người bán dâm, 10 người mua dâm, 01 chủ chứa, với số tiền gần 28 triệu đồng.


Hoạt động điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone đạt được kết quả bước đầu, hầu hết các bệnh nhân đã cắt được cơ nghiện. Đã thành lập Khoa Điều trị Methadone thuộc Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS và đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2014. Kết quả đã tiếp nhận 45 đơn, bệnh nhân được điều trị 30 người (có 01 người bỏ điều trị)​

Kết luận chỉ đạo Hội nghị, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo đánh giá cao các ngành, các địa phương đã có nhiều cố gắng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, tăng cường các giải pháp phòng, chống nhằm kéo giảm HIV AIDS, ma túy, mại dâm trên địa bàn tỉnh đạt nhiều kết quả.

Để tiếp tục tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Quốc Bảo yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các ngành, các cấp tiếp tục quán triệt Kết luận số 95-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Kế hoạch số 94-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới” cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; xác định rõ công tác phòng, chống  HIV AIDS, ma túy, mại dâm là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục và lâu dài; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy đảng, sự quản lý của chính quyền, sự phối hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia. Đẩy mạnh công tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm; nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ, đảng viên và nhân dân phòng ngừa, ngăn chặn phát sinh HIV/AIDS, ma túy, mại dâm. Triển khai các biện pháp đồng bộ phòng, chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm, quản lý, giáo dục đối tượng HIV/AIDS, ma túy, mại dâm; thường xuyên rà soát, thống kê, phân loại đối tượng. Củng cố lực lượng chuyên trách làm công tác phòng, chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm; nâng cao hiệu quả công tác theo dõi, nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn kéo giảm HIV/AIDS, ma túy, mại dâm trên địa bàn.​



29/09/2014 5:00 CHĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch tổ chức Ngày Pháp luật năm 2014Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch tổ chức Ngày Pháp luật năm 2014
Thực hiện Công văn số 3642/BTP-PBGDPL ngày 25 tháng 8 năm 2014 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hànhKế hoạch số 4575/KH-UBND ngày 19 tháng 9 năm 2014 tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2014 (sau đây gọi tắt là Ngày Pháp luật).

Mục đích nhằm tiếp tục tổ chức Ngày Pháp luật một cách thiết thực, hiệu quả theo đúng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần tạo chuyển biến mới về chất trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng, theo dõi, tổ chức thi hành pháp luật. Thông qua các hoạt động tổ chức Ngày Pháp luật, tiếp tục tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Hiến pháp, các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định... quan trọng mới ban hành, liên quan thiết thực đến cơ quan, đơn vị, người dân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành Hiến pháp, pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và của nhân dân, đồng thời giúp người dân tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tạo sự đồng thuận, niềm tin của nhân dân vào các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giáo dục tinh thần yêu nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

Chủ đề Ngày Pháp luật năm 2014: “Toàn dân tích cực tìm hiểu và nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, pháp luật vì mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Các khẩu hiệu tuyên truyền Ngày Pháp luật năm 2014: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”; “Tích cực hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; “Tuân theo Hiến pháp và pháp luật là góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”; “Nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật là bảo vệ chính bạn, gia đình bạn và góp phần xây dựng xã hội Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; “Nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật là nghĩa vụ của mọi cá nhân, tổ chức”; “Tôn trọng, bảo vệ và chấp hành Hiến pháp, pháp luật là nét đẹp văn hóa của mỗi người dân”; “Cán bộ, công chức, viên chức gương mẫu chấp hành và bảo vệ Hiến pháp, pháp luật” và các khẩu hiệu khác phù hợp với chủ đề Ngày Pháp luật, gắn với chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức và tình hình địa phương.

Nội dung tổ chức Ngày Pháp luật năm 2014: Tuyên truyền, phổ biến về mục đích, ý nghĩa của Ngày Pháp luật. Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về vị trí, vai trò, nội dung của Hiến pháp trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội; tuyên truyền, phổ biến những luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua hoặc xem xét thông qua trong năm 2014; tiếp tục tuyên truyền, phổ biến pháp luật về chủ quyền biển đảo, các vấn đề liên quan đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, về an toàn giao thông, về vệ sinh an toàn thực phẩm, về đất đai và môi trường, về bình đẳng giới, về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân và về những lĩnh vực khác phù hợp với tình hình, yêu cầu thực tế của cơ quan, tổ chức, địa phương. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; nâng cao năng lực quản lý nhà nước; đảm bảo kỷ luật, kỷ cương công vụ; tăng cường trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức, người lao đông; đẩy mạnh việc cung cấp các dịch vụ pháp lý của luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, trợ giúp pháp lý và các dịch vụ pháp lý khác để hỗ trợ cá nhân, tổ chức trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu, gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến trong việc góp phần xây dựng, thực thi pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật.

Hình thức tổ chức Ngày Pháp luật năm 2014: Tăng thời lượng, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, toạ đàm, phóng sự chuyên sâu, phim tài liệu, tin, bài, ảnh, các thông điệp ngắn, đối thoại, trả lời phỏng vấn và các hình thức phù hợp khác về Ngày Pháp luật, về Hiến pháp, pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến trên Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, các báo điện tử, cổng thông tin, trang thông tin điện tử, bản tin chuyên ngành, hệ thống truyền thanh cơ sở, truyền thanh lưu động. Thực hiện các hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan về Ngày Pháp luật, chủ đề, khẩu hiệu Ngày Pháp luật năm 2014 qua hệ thống áp phích, băng rôn, cờ phướn trên các tuyến đường phố chính, các khu trung tâm, các cơ quan, đơn vị hành chính, các trường học, địa điểm công cộng. Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm về pháp luật, cung cấp tài liệu pháp luật, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; tổ chức chương trình đối thoại chính sách trực tiếp giữa cơ quan nhà nước và công dân; tăng cường các hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở. Tổ chức phát động, hưởng ứng, tham gia tích cực cuộc thi viết “Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trên địa bàn tỉnh theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

Thời gian tổ chức triển khai Ngày Pháp luật năm 2014: Tổ chức các hoạt động Ngày pháp luật năm 2014 trong thời gian 02 tháng, bắt đầu từ ngày 01/10 đến hết ngày 30/11 năm 2014, trong đó tập trung cao điểm trong tuần lễ từ ngày 03 đến ngày 09/11/2014.

Theo Kế hoạch 4575/KH-UBND, Ủy ban nhân dân tỉnh phân công trách nhiệm cụ thể cho các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện và đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh xây dựng, ban hành kế hoạch tổ chức Ngày Pháp luật năm 2014 trong tổ chức mình.​​

29/09/2014 5:00 CHĐã ban hành
Tình hình tai nạn giao thông 9 tháng đầu năm 2014 vẫn còn diễn biến phức tạpTình hình tai nạn giao thông 9 tháng đầu năm 2014 vẫn còn diễn biến phức tạp
Sáng ngày 02/10/2014, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia tổ chức Hội nghị trực tuyến sơ kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông 9 tháng đầu năm 2014. Ông Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia đến dự và chỉ đạo Hội nghị. Tại đầu cầu Bến Tre, ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; các thành viên Ban An toàn giao thông tỉnh; Phòng Quản lý vận tải –phương tiện- người lái, Thanh tra Giao thông, Sở Giao thông vận tải; Ban An toàn giao thông các huyện, thành phố đến dự.

Các đại biểu dự Hội nghị đã thống nhất đánh giá tình hình tai nạn giao thông 9 tháng đầu năm 2014 vẫn còn diễn biến phức tạp. Trên toàn quốc, mặc dù số vụ, số người chết và bị thương vì tai nạn giao thông tuy có giảm nhưng vẫn còn ở mức cao, đã xảy ra 18.697 vụ, làm chết 6.758 người, bị thương 17.835 người; 09 địa phương có số người chết vì tai nạn giao thông tăng trên 25% như: Bạc Liêu, Yên Bái, Trà Vinh, Lai Châu, Đồng Nai, Bến Tre, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau.

an-toan-giao-thong2.gif

Tại Bến Tre, xảy ra 271/278 vụ, chết 155/113 người, bị thương 198/290 người (Số vụ, số người bị thương giảm, số người chết tăng 42 người = 37,16%). Đặc biệt, nhiều địa phương có số vụ, số người chết và bị thương vì tại nạn giao thông tăng cao như: Giồng Trôm 34/19 vụ, 23/12 người chết, 27/13 người bị thương; Ba Tri 38/31 vụ, 19/17 người chết, 25/20 người bị thương; Chợ Lách 20/07 vụ, 11/02 người chết, 25/10 người bị thương; Mỏ Cày Nam 28/23 vụ, 17/09 người chết; Bình Đại 19/11  người chết; Thạnh Phú 11/07 người chết; thành phố Bến Tre 18/15 người chết.


an-toan-giao-thong1.gifNguyên nhân là do còn hiện tượng lơ là, chủ quan trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, một số cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ về sự cần thiết, cấp bách phải “Siết chặt quản lý kinh doanh vận tải và kiểm soát tải trọng phương tiện”; chất lượng công tác đăng kiểm phương tiện, sát hạch, cấp giấy phép lái xe, quản lý, giám sát quá trình hoạt động của xe ô tô và lái xe kinh doanh vận tải còn bất cập; vẫn còn hiện tượng tiêu cực trong công tác đăng kiểm, sát hạch, cấp giấy phép lái xe; chất lượng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông nông thôn, cầu treo, cầu dân sinh ở vùng sâu, vùng xa… còn nhiều khó khăn; ý thức chấp hành pháp luật về an toàn giao thông của người tham gia giao thông vẫn còn hạn chế, còn nhiều người biết luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, nhất là thanh thiếu niên; tình trạng vượt đèn đỏ, phóng nhanh vượt ẩu, chạy lạng lách, đua xe vẫn còn xảy ra; nhiều trường hợp người đi bộ, đi xe đạp tham gia giao thông thiếu chú ý quan sát nên đã gây ra tai nạn; phần lớn các vụ tai nạn xảy ra là do uống rượu bia khi tham gia giao thông; tình trạng lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường bộ vẫn còn xảy ra nhiều.


Để góp phần hạn chế, kéo giảm tai nạn giao thông trong những tháng cuối năm 2014; các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, địa phương tiếp tục phối hợp thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phố biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông cho cán bộ và nhân dân. Đặc biệt, quán triệt cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang không uống rượu, bia trong ngày làm việc; huy động lực lượng, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ; mở các đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, có phương án đấu tranh ngăn chặn hành vi chống người thi hành công vụ; tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe, đăng kiểm phương tiện giao thông, hoạt động vận tải; bảo đảm điều kiện an toàn hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; chỉ đạo ngành giáo dục thực hiện tốt việc giảng dạy kiến thức an toàn giao thông trong các trường học; ngăn chặn tình trạng học sinh chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô, gắn máy; cương quyết xử lý nghiêm tình trạng gây mất trật tự giao thông tại các cổng trường trước và sau giờ tan học; phối hợp các ngành liên quan tổ chức kiểm tra, xử lý vi phạm hành lang an toàn giao thông; lấn chiếm, tái lấn chiếm lòng đường, vĩa hè làm nơi mua bán; thực hiện tốt phong trào “Toàn dân tham gia đảm bảo trật tự an toàn giao thông” tới mọi gia đình, khu dân cư. Phát động mọi thành viên ký cam kết không vi phạm trật tự an toàn giao thông.​​

10/10/2014 5:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn