Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTư vấn pháp luật

 
Tư vấn pháp luật - Đất đai
Tôi được ông, bà nội cho một phần đất. Tôi muốn biết khi tôi xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tôi có phải đóng lệ phí trước bạ hay không? Nếu có đóng thì phải đóng bao nhiêu?Trả lời (có tính chất tham khảo):Theo Điều 9 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ về lệ phí trước bạ và Khoản 10 Điều 5 Thông tư số 301/2016/TT-BTC hướng dẫn về lệ phí trước bạ thì "N... 
 
Lối đi chung (20/06/2017)
​Hỏi: Nhà tôi ở phía trong, nhà ông S ở phía ngoài. Theo thỏa thuận ông S dành cho tôi một lối đi ra đến đường công cộng và tôi đã thanh toán cho ông S một khoản tiền. Nhưng khi ông S bán ngôi nhà của mình cho ông K thì ông K lại không đồng ý cho tôi sử dụng lối đi đó nữa. Xin hỏi tôi có quyền giữ lại lối đi đó không, tôi không còn lối đi nào khác?Trả lời (có tính chất tham khảo):Điều... 
 
Hỏi: Do tính đi làm ăn xa nên tôi đã kêu người hàng xóm bán miếng đất, hai bên có làm giấy tay, có đặt cọc, tui cũng đã giao sổ đất cho bên kia, nhưng chưa có ra Ủy ban nhân dân xã là thủ tục. Tôi đã trao đổi nhưng bên kia không có chịu trả sổ đất cho tôi mà bắt tôi phải bán cho họ. Giờ tôi không bán nữa, tôi đền tiền cọc có được không?Trả lời (có tính chất tham khảo): Theo quy đ... 
 
Hỏi: Xin cho biết, theo quy định của pháp luật việc đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là bắt buộc hay không yêu cầu? Cơ quan nào có thẩm quyền đăng ký đất đai?Trả lời (có tính chất tham khảo): 1. Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất trong Luật Đất đai năm 2013 là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà... 
 
Hỏi: Xin cho biết việc hòa giải các tranh chấp đất đai tại cơ sở có là thủ tục bắt buộc hay không? Nếu có thì trình tự giải quyết được pháp luật quy định cụ thể như thế nào?Trả lời (có tính chất tham khảo): Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đấ... 
 
*Hỏi: Thế nào là đất thổ cư? Điều kiện để trở thành đất thổ cư? Quy định của pháp luật về thời hạn từ khi có thông báo đất quy hoạch, giải tỏa đến khi thực hiện quyết định trên là bao lâu. Huynh Vinh <phuoc_huynhbt@yahoo.....> Châu thành, Bến Tre Trả lời (có tính chất tham khảo): Đất thổ cư chỉ là từ truyền thống để chỉ đất ở. Theo Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 quy địn... 
 
* Hỏi: Tôi vừa nhận sổ hồng đất vào (05/4/2012) khu đất của tôi nằm ở xã Phú Nhuận thị xã Bến Tre. Trên sổ hồng ở điểm (II – Thửa đất và tài sản gắn liền với đất). khoảng (e) có ghi thời hạn sử dụng: Lâu dài, 27/10/2014 là sao? Trần Bửu Lộc <tranbuuloc86@yahoo....> Huỳnh Tấn Phát, Q7 Trả lời (có tính chất tham khảo): Do câu hỏi của bạn không nói rõ phần đất của bạn được cơ qua... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Thừa kếThừa kế

Hỏi: Năm 2010 tôi kết hôn, có đăng ký kết hôn, năm 2015 tôi dọn ra ở riêng, năm 2016 cha tôi làm di chúc để lại cho tôi một phần đất. Cho tôi hỏi nếu tôi nhận thừa kế phần đất này thì đó là tài sản riêng của tôi hay tài sản chung của vợ chồng, trong di chúc cha tôi nói để lại thừa kế cho mình tôi, không nói gì đến vợ tôi, nhưng tôi lo lắng sẽ thành tài sản chung của vợ chồng và phải bị phân chia vì hiện tại vợ chồng tôi đang ly thân, có thể sẽ ly hôn?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng: "Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này".

Theo như bạn trình bày thì phần đất đó cha bạn để thừa kế cho mình bạn, nên nếu bạn nhận thừa kế thì thuộc trường hợp tài sản được thừa kế riêng. Vì vậy, đó là tài sản riêng của bạn.

 ------------------

Hỏi:  Dì tôi không có chồng con, sống với tôi từ 10 năm nay, nay dì mất để lại phần đất, không di chúc, các dì, cậu tôi đòi chia đất này và nói tôi không trong hàng thừa kế. Cho tôi hỏi hàng thừa kế theo pháp luật được quy định thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Do dì bạn mất không để lại di chúc, theo Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 trường hợp này là trường hợp thừa kế theo pháp luật. Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Như vậy, trong trường hợp này bạn thuộc hàng thừa kế thứ 3 của dì bạn và theo quy định thì những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

21/06/2017 9:00 SAĐã ban hành
Cấp phiếu lý lịch tư phápCấp phiếu lý lịch tư pháp

Xin cho tôi hỏi, phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2 là như thế nào? Xin việc thì tôi phải nộp phiếu số mấy?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp thì có 2 loại Phiếu lý lịch tư pháp gồm:

Phiếu lý lịch tư pháp số 1 cấp theo yêu cầu của công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam và cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình.

Trường hợp của bạn sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp để nộp xin việc thì bạn nên sử dụng phiếu lý lịch tư pháp số 1 hoặc liên hệ trực tiếp nơi xin việc để biết và nộp theo yêu cầu của nơi nhận hồ sơ xin việc.

-----------------

Hỏi: Tôi cư trú ở huyện Thạnh Phú, Bến Tre, hiện tại tôi đang làm hồ sơ xin việc nhưng công ty tôi xin việc muốn tôi bổ sung Phiếu lý lịch tư pháp số 1, tôi chỉ xin làm bảo vệ công ty thôi, tôi không biết phiếu này là gì, ai sẽ cấp cho tôi, nhờ chương trình tư vấn?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích, bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản.

Theo quy định tại Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp, có 2 loại Phiếu lý lịch tư pháp:

- Phiếu lý lịch tư pháp số 1 cấp theo yêu cầu của công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam và cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình.

Muốn yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp bạn có thể liên hệ Phòng Hành chính Tư pháp - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, số 17, đường Cách Mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre để được hướng dẫn thực hiện thủ tục hoặc có thể tìm hiểu thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp tại mục Thủ tục hành chính trên website: http://www.stp.bentre.gov.vn.


20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Thế nào là đất thổ cư? Điều kiện để trở thành đất thổ cư?Thế nào là đất thổ cư? Điều kiện để trở thành đất thổ cư?

*Hỏi: Thế nào là đất thổ cư? Điều kiện để trở thành đất thổ cư? Quy định của pháp luật về thời hạn từ khi có thông báo đất quy hoạch, giải tỏa đến khi thực hiện quyết định trên là bao lâu.

Huynh Vinh <phuoc_huynhbt@yahoo.....> Châu thành, Bến Tre

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Đất thổ cư chỉ là từ truyền thống để chỉ đất ở. Theo Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 quy định đất ở là đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ cho đời sống; đất vườn ao gắn liền với nhà ở trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư (kể cả trường hợp vườn, ao gắn liền với nhà ở riêng lẻ) đã được công nhận là đất ở. Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở đang sử dụng nhưng chưa được ấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tạm thời xác định diện tích đất ở bằng hạn mức giao đất ở mới do UBND cấp tỉnh quy định.

Trường hợp đất ở có kết hợp sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thì ngoài việc thống kê theo mục đích đất ở còn phải thống kê theo mục đích phụ là đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.

* Điều kiện để trở thành đất thổ cư: Do trong thư hỏi của bạn, bạn không nói rõ loại đất nào để trở thành đất thổ cư, vài ý trao đổi để bạn tham khảo như sau:

Để nhà nước công nhận là đất thổ cư thì người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp (đất ở)

Theo Điều 36 Luật Đất đai năm 2003 quy định việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các loại đất quy định tại Điều 13 Luật Đất đai được thực hiện như sau:

Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

- Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản;

- Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ sang sử dụng vào mục đích khác;

- Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

- Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

- Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không thuộc những trường hợp vừa nêu thì người sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thầm quyền, nhưng phải đăng ký với văn phòng của tổ chức có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất (sau đây gọi là văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) hoặc UBND xã nơi có đất.

Quy định của pháp luật về thời hạn từ khi có thông báo đất quy hoạch, giải tỏa đến khi thực hiện quyết định:

Trong thư hỏi bạn không nói rõ quyết định trên là quyết định gì, nhưng theo nội dung bạn hỏi có thể bạn hỏi thời hạn từ khi có thông báo đất quy hoạch, giải tỏa đến khi thực hiện quyết định thu hồi đất. Như vậy, theo nội dung bạn hỏi: pháp luật không có quy định thời hạn từ khi có thông báo đất quy hoạch, giải tỏa đến khi thực hiện quyết định thu hồi đất. Thời hạn này do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương nơi có đất thu hồi chủ động thực hiện tùy theo tiến độ công việc giải quyết nhanh hay chậm nên không thể xác định thời gian cụ thể.

Theo Điều 30 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định: sau khi dự án đầu tư được xét duyệt hoặc chấp thuận thì Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm lập và trình phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Theo Điểm a, c khoản 2 Điều 30 Nghị định 69/2009/NĐ-CP phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi để người bị thu hồi đất tham gia ý kiến. Thời gian niêm yết và tiếp nhận đóng góp ý kiến phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ít nhất là 20 ngày, kể từ ngày phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đưa ra niêm yết.

Theo Điểm c khoản 2 Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định: trong thời hạn không quá 03 ngày, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã bị thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Theo khoản 4 Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định:

Trong thời hạn hai mươi (20) ngày, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Theo điểm b khoản 1 Điều 32 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định: quá 30 ngày, kể từ thời điểm phải bàn giao đất quy định tại khoản 4 Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 mà người có đất bị thu hồi không bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì sẽ bị cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của pháp luật.

24/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Một trong hai người không đến tòa án để tham gia xét xử thì Tòa án có xử cho vợ, chồng ly hôn không?Một trong hai người không đến tòa án để tham gia xét xử thì Tòa án có xử cho vợ, chồng ly hôn không?

Hỏi: Khi vợ hoặc chồng nộp đơn ly hôn và Tòa án đã thụ lý nhưng một trong hai người không đến tòa án để tham gia xét xử thì Tòa án có xử cho vợ, chồng ly hôn không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Điều 227, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, nếu tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì đương sự (vợ, chồng) phải có mặt tại phiên tòa, nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Nếu tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai thì đương sự (vợ, chồng) phải có mặt tại phiên tòa trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì tòa án sẽ xem xét giải quyết như sau:

- Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện nếu người vắng mặt là nguyên đơn.

- Tòa án sẽ xét xử vắng mặt nếu như người vắng mặt là bị đơn.

21/06/2017 10:00 SAĐã ban hành
Quyền đơn phương xin ly hônQuyền đơn phương xin ly hôn

Hỏi: Con gái tôi có chồng về Bến Tre nay đã được 02 năm và vừa mới sinh đứa con đầu lòng được 01 tháng tuổi, nhưng do mâu thuẫn nên hai vợ chồng cứ thường xuyên cãi vã, vì thế con rễ tôi đòi ly hôn nhưng con gái tôi không đồng ý. Tôi muốn biết là nếu con gái tôi không đồng ý ly hôn thì con rễ tôi có quyền đơn phương xin ly hôn hay không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Tuy nhiên, con của con gái bạn mới được 01 tháng tuổi nên căn cứ vào Khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định "Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi". Vì vậy, con rễ bạn không có quyền đơn phương xin ly hôn vì con gái bạn đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.


01/06/2017 9:00 SAĐã ban hành
Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai được quy định như thế nào?Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai được quy định như thế nào?

Hỏi: Làm ơn cho tôi hỏi pháp luật quy định quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai được quy định như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định tại Điều 8, Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ thì quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai được quy định như sau:

1. Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động, kèm theo ý kiến đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.

2. Thời hạn báo trước để đơn phương chấm dứt, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động theo thời hạn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

3. Trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động, nhưng tối thiểu phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

21/06/2017 10:00 SAĐã ban hành
Đăng ký kết hôn quá hạnĐăng ký kết hôn quá hạn

Hỏi: Tôi và chồng tôi sống với nhau từ năm 2010 đến nay mà chưa đăng ký kết hôn, nay vợ chồng tôi cần giấy kết hôn để khai sinh cho con. Pháp luật có cho phép đăng ký kết hôn quá hạn, chúng tôi được công nhận là vợ chồng vào thời điểm nào, chúng tôi đăng ký kết hôn tại đâu và thủ tục kết hôn như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Trường hợp của bạn theo quy định pháp luật hộ tịch quan hệ vợ chồng của bạn chỉ được pháp luật công nhận kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn, pháp luật hộ tịch không quy định đăng ký kết hôn quá hạn.

Về thẩm quyền đăng ký kết hôn:  Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Thủ tục đăng ký kết hôn: Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu.

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tuổi đăng ký kết hônTuổi đăng ký kết hôn

Hỏi: Cháu gái tôi năm nay 17 tuổi 9 tháng, đang có ý định tiến tới hôn nhân với bạn trai năm nay 23 tuổi, lúc trước tôi biết tuổi đăng ký kết hôn là 18 tuổi với nữ và 20 tuổi với nam, nhưng nay nghe mấy người hàng xóm nói tuổi kết hôn của nữ bây giờ phải hơn 20 tuổi, tôi nghĩ là họ nhầm giữa tuổi nữ và tuổi nam, xin cho tôi hỏi tuổi đăng ký kết hôn bây giờ là bao nhiêu?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, thì độ tuổi kết hôn của nam là từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên. Đối chiếu với quy định, hiện tại cháu gái bạn chỉ mới 17 tuổi 9 tháng nên chưa đủ điều kiện về tuổi để đăng ký kết hôn.

Ngoài ra, theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định thì nam, nữ muốn kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện như: Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; Không bị mất năng lực hành vi dân sự; Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định  của Luật Hôn nhân và gia đình.

20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Thời hạn mà Ủy ban xã phải mời các bên lên hòa giải là bao lâu?Thời hạn mà Ủy ban xã phải mời các bên lên hòa giải là bao lâu?

2. Hỏi: Tôi có tranh chấp quyền sử dụng đất với người hàng xóm giáp ranh đất với tôi. Tôi đã gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã để yêu cầu hòa giải và Ủy ban xã đã nhận đơn, thế nhưng đến nay đã hơn hai tháng mà Ủy ban xã vẫn chưa tổ chức hòa giải. Tôi xin hỏi thời hạn mà Ủy ban xã phải mời các bên lên hòa giải là bao lâu?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Căn cứ vào Khoản 1, 2, 3 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Trong trường hợp này, Ủy ban nhân dân xã đã nhận đơn yêu cầu hòa giải của bạn nhưng đến nay đã hơn hai tháng mà Ủy ban nhân dân xã chưa tổ chức hòa giải là không đúng về thời hạn thực hiện thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại xã theo quy định của Luật. Vì vậy, bạn nên liên hệ trực tiếp lại với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã nhận đơn để yêu cầu xem xét, giải quyết.

01/06/2017 9:00 SAĐã ban hành
Yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ở đâu?Yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ở đâu?

* Hỏi: Tôi năm nay 30 tuổi, quê ở Vĩnh Long, hộ khẩu thường trú hiện nay ở huyện Chợ Lách, Bến Tre, nay tôi muốn đăng ký kết hôn ở Bến Tre, cán bộ xã yêu cầu tôi về Vĩnh Long xác nhận tình trạng độc thân trong thời gian ở đó để có cơ sở đăng ký kết hôn; nhưng khi tôi về Vĩnh Long thì phía Vĩnh Long nói tôi hộ khẩu ở Bến Tre thì về Bến Tre xác nhận. Trong trường hợp của tôi thì xác nhận ở đâu mới đúng.

(Trần Thanh Thùy – Chợ Lách)


* Trả lời (có tính chất tham khảo):

Về việc xác nhận tình trạng độc thân (hay nói đúng hơn là xác nhận tình trạng hôn nhân), căn cứ quy định tại Điều 66 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch về thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là “Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó”. Trường hợp của chị, hiện chị có hộ khẩu thường trú ở huyện Chợ Lách, Bến Tre thì khi chị có nhu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thì chị liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi chị cư trú ở Bến Tre để yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân.

Về việc xác nhận tình trạng hôn nhân đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau theo quy định tại điểm d khoản 2, Mục 2 của Thông tư 01/2008/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch “Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan”. Trường hợp của chị, nếu trước khi chị về Bến Tre cư trú, chị có hộ khẩu thường trú tại Vĩnh Long, và khi đó nếu chị đã đủ tuổi kết hôn thì chị phải viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian cư trú tại Vĩnh Long, nơi cư trú trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan của mình.

24/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thủ tục kết hônThủ tục kết hôn

Hỏi: Con Tôi hiện tại đang đi lao động ở Nhật, hộ khẩu không còn ở địa phương, con tôi dự định lần về phép sắp tới sẽ cưới vợ ở gần nhà (cùng xã), con tôi liên hệ ở đâu để đăng ký kết hôn, có phải xin giấy tờ gì ở bên Nhật không và thủ tục kết hôn như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Con bạn hiện tại đang đi lao động ở Nhật, hộ khẩu không còn ở địa phương thì con bạn có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã nơi bên nữ có hộ khẩu thường trú. Về thủ tục đăng ký kết hôn gồm:

Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hai bên nam nữ, Sổ hộ khẩu bên nữ.

Con bạn hiện tại đang đi lao động ở Nhật về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước Nhật về tình trạng hôn nhân.

Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày.

 

30/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đóng phí sử dụng đường bộ cho xe mô tôĐóng phí sử dụng đường bộ cho xe mô tô

Hỏi: Hộ khẩu thường trú của tôi tại huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Hiện tại tôi đang tạm trú tại Cần Thơ. Vậy chương trình cho tôi hỏi, tôi phải đóng phí sử dụng đường bộ cho xe mô tô tại nơi tạm trú hay thường trú và đóng phí bao nhiêu?

Phương Trang <hatrang0507@gmail.com> Mỏ Cày Bắc, Bến Tre

Trả lời mang tính chất tham khảo:

Ngày 11 tháng 7 năm 2013, Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Nghị quyết số 05/2013/NQ-HĐND về việc quy định mức thu, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện đối với xe mô tô trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Theo đó thì mức thu phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện đối với xe mô tô (không bao gồm xe máy điện, xe máy chuyên dùng theo quy định tại Khoản 20, Điều 3 Luật Giao thông đường bộ) như sau: Loại có dung tích xy lanh đến 100cm3, mức thu 50.000 đồng/ năm; loại có dung tích xy lanh trên 100cm3, mức thu 110.000 đồng/ năm.

Theo khoản 2 Điều 6 Thông tư số 197/2012/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện; Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013; về phương thức thu nộp phí, đối với xe mô tô:

- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là UBND cấp xã) là cơ quan thu phí đối với xe mô tô của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân (chủ phương tiện) trên địa bàn.

- Uỷ ban nhân dân cấp xã chỉ đạo tổ dân phố (hoặc thôn) hướng dẫn kê khai phí sử dụng đường bộ đối đối với xe mô tô của chủ phương tiện trên địa bàn theo Mẫu số 02/TKNP tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này và tổ chức thu phí.

- Chủ phương tiện thực hiện khai, nộp phí như sau:

Đối với xe mô tô phát sinh trước ngày 01/01/2013 thì tháng 01/2013 thực hiện khai, nộp phí cả năm 2013, mức thu phí 12 tháng.

Đối với xe mô tô phát sinh từ ngày 01/01/2013 trở đi thì việc khai, nộp phí thực hiện như sau:

Thời điểm phát sinh từ ngày 01/01 đến 30/6 hàng năm, chủ phương tiện phải khai, nộp phí đối với xe mô tô, mức thu phí bằng 1/2 mức thu năm. Thời điểm khai nộp chậm nhất là ngày 31/7.

Thời điểm phát sinh từ 01/7 đến 31/12 hàng năm, thì chủ phương tiện thực hiện khai, nộp phí vào tháng 1 năm sau (chậm nhất ngày 31/1) và không phải nộp phí đối với thời gian còn lại của năm phát sinh.

Khi thu phí sử dụng đường bộ đối với xe mô tô, cơ quan thu phí phải lập và cấp biên lai thu phí cho đối tượng nộp phí theo quy định.

08/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau ly hônQuyền và nghĩa vụ thăm nom con sau ly hôn

Hỏi: Tôi và vợ tôi chính thức ly hôn theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, khi Tòa án giải quyết ly hôn do con tôi còn nhỏ nên Tòa giao con cho vợ tôi chăm sóc, nuôi dưỡng; tuy nhiên khi tôi đến thăm con thì vợ, mẹ vợ tôi không cho và đuổi tôi về. Cho tôi hỏi nếu tôi không được quyền nuôi con thì tôi có được quyền đến thăm nom con tôi hay không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo như bạn trình bày thì bạn và vợ bạn đã chính thức ly hôn và Tòa án giao con cho vợ bạn chăm sóc, nuôi dưỡng; khi bạn đến thăm con thì vợ, mẹ vợ bạn lại không cho và đuổi bạn về, căn cứ vào Khoản 3 Điều 82, Khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Như vậy việc vợ, mẹ vợ bạn ngăn cản không cho bạn đến thăm nom, chăm sóc con và đuổi bạn về là không đúng với quy định pháp luật hiện hành, dù bạn là người không trực tiếp nuôi con thì bạn vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con và không ai được cản trở bạn nhưng nếu bạn lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì vợ bạn có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bạn.

21/06/2017 10:00 SAĐã ban hành
Thủ tục lập di chúcThủ tục lập di chúc

Hỏi: Vợ chồng tôi có ba người con, hai trai, một gái. Hai người con trai lớn đều đã lập gia đình và sinh sống ở Tiền Giang. Cô con gái út của tôi  có chồng tại quê nhà. Vợ chồng tôi có mảnh đất vườn trồng cây ăn quả. Những năm gần đây vì tuổi cao, sức yếu, nên công việc chăm sóc vườn cây phải nhờ vợ chồng con gái út. Vợ chồng tôi muốn muốn lập di chúc để lại mảnh vườn đó cho vợ chồng con gái út nhưng vợ tôi không biết chữ. Vậy thủ tục lập di chúc trong trường hợp vợ tôi không biết chữ như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Trong trường hợp này, mảnh đất vườn là tài sản chung của ông bà. Ông bà cùng có nguyện vọng để lại mảnh đất đó cho vợ chồng con gái út. Vì vậy, theo quy định của Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2005, ông bà  có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung là mảnh đất đó.

Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Vợ ông không biết chữ nên theo quy định tại khoản 3 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005, di chúc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

Di chúc bằng văn bản phải ghi rõ: Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Người làm chứng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 654 Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể: mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây: người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.

Ông bà có thể lập di chúc theo hai cách sau đây:

* Thứ nhất: Ông có thể thay vợ viết bản di chúc chung nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng. Vợ ông ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng. Những người làm chứng xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ và ký vào bản di chúc.

Ông bà đem bản di chúc có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của vợ chồng ông; xác nhận và chữ ký của những người làm chứng tới tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn để được Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công chứng hoặc chứng thực vào bản di chúc.

* Thứ hai: Ông bà cũng có thể đến tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn để lập di chúc theo Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2005. Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn như sau: Ông bà tuyên bố nội dung di chúc trước Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà ông bà  đã tuyên bố; ông bà ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của ông bà; Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn  ký vào bản di chúc.

Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

24/01/2014 12:00 SAĐã ban hành
Người lao động có những ngày nghỉ nào?Người lao động có những ngày nghỉ nào?

Hỏi: Theo quy định hiện nay trong một năm thì người lao động có những ngày nghỉ nào? Nghỉ việc riêng trong những trường hợp nào thì không bị trừ lương?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Lao động động năm 2012 về nghỉ lễ, tết, người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây: Tết Dương lịch 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch); Tết Âm lịch 05 ngày; Ngày Chiến thắng 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch); Ngày Quốc tế lao động 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch); Ngày Quốc khánh 01 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).

Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngoài ngày nghỉ lễ theo quy định tại khoản 1 Điều này còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ.

Nếu những ngày nghỉ theo quy định tại khoản 1 Điều này trùng vào ngày nghỉ hằng tuần, thì người lao động được nghỉ bù vào ngày kế tiếp.

Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau đây: Kết hôn: nghỉ 03 ngày; Con kết hôn: nghỉ 01 ngày; Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; con chết: nghỉ 03 ngày.

Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.

Ngoài quy định trên người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.

 

08/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Người giúp việc gia đìnhNgười giúp việc gia đình

Hỏi: Tôi được một người quen giới thiệu lên Sài Gòn phụ giúp việc nhà cho một gia đình. Do chưa đi làm lần nào nên thấy lo. Khi tôi đi làm tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Khi làm thì tôi có quyền và nghĩa vụ gì?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Ngày 18 tháng 6 năm 2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua Bộ luật Lao động. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 05 năm 2013. Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 thì lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình.

Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại.

Người làm các công việc giúp việc gia đình theo hình thức khoán việc thì không thuộc đối tượng áp dụng của Bộ luật này.

Tại Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình:

Người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người giúp việc gia đình.

Thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình do hai bên thoả thuận. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất kỳ khi nào nhưng phải báo trước 15 ngày.

Hai bên thỏa thuận, ghi rõ trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở.

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động: Thực hiện đầy đủ thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng lao động; trả cho người giúp việc gia đình khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật để người lao động tự lo bảo hiểm; tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người giúp việc gia đình; bố trí chỗ ăn, ở sạch sẽ, hợp vệ sinh cho người giúp việc gia đình, nếu có thoả thuận; tạo cơ hội cho người giúp việc gia đình được tham gia học văn hóa, học nghề; trả tiền tàu xe đi đường khi người giúp việc gia đình thôi việc về nơi cư trú, trừ trường hợp người giúp việc gia đình chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.

Nghĩa vụ của lao động là người giúp việc gia đình: Thực hiện đầy đủ thỏa thuận mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng lao động; phải bồi thường theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật nếu làm hỏng, mất tài sản của người sử dụng lao động; thông báo kịp thời với người sử dụng lao động về những khả năng, nguy cơ gây tai nạn, đe dọa an toàn, sức khỏe, tính mạng, tài sản của gia đình người sử dụng lao động và bản thân; tố cáo với cơ quan có thẩm quyền nếu người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động hoặc có những hành vi khác vi phạm pháp luật.

Những hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động: Ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người giúp việc gia đình; giao việc cho người giúp việc gia đình không theo hợp đồng lao động; giữ giấy tờ tùy thân của người lao động.

08/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Làm chứng cải chính năm sinhLàm chứng cải chính năm sinh

Hỏi: Tôi ở huyện Giồng Trôm, tôi được người bà con nhờ làm chứng để cải chính năm sinh cho con để đi học sớm hơn một tuổi. Tôi biết việc làm chứng này là không đúng nhưng do bà con nễ nan nên tôi làm chứng, làm chứng xong tôi sợ quá. Tôi làm chứng sai, rồi người bà con đề nghị tôi làm chứng dùm có bị phạt gì không?

 

Trả lời có tính chất tham khảo:

 

Theo quy định tại Điều 34 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã về hành vi vi phạm quy định về thay đổi, cải chính hộ tịch: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi làm chứng sai sự thật về nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch; Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi nhờ người làm chứng không đúng sự thật để thay đổi, cải chính hộ tịch.

 

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thủ tục đăng ký khai sinhThủ tục đăng ký khai sinh

Hỏi: Con trai tôi sinh ra được hơn 2 tuần rồi, cha nó bận đi làm xa chưa về nên tôi chưa đi đăng ký khai sinh cho con. Sinh con ra bao lâu thì phải đi khai sinh cho con, khi đăng ký khai sinh cần những giấy tờ gì và không đăng ký trong thời hạn pháp luật quy định có bị xử phạt gì không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Theo quy định tại Điều 14 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 chủa Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.

Người có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em mà không thực hiện việc đăng ký đúng thời hạn quy định sẽ bị phạt cảnh cáo theo quy định tại Điều 27 Nghị định 110/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Thủ tục đăng ký khai sinh được quy định tại Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực.

Khi đi đăng ký khai sinh, người đi đăng ký khai sinh phải nộp Tờ khai, Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn). Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Xuất trình: Giấy chứng minh nhân dân của người đi khai sinh; sổ hộ khẩu hoặc sổ đăng ký tạm trú của cha, mẹ trẻ em.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Đổi từ họ mẹ sang họ chaĐổi từ họ mẹ sang họ cha

Hỏi: Tôi có người em con của chú, hiện đang học lớp 3, trước đây khai sinh lấy họ của mẹ, giờ mẹ đã mất muốn khai lại họ của cha được không? Cha mẹ của em không có đăng ký kết hôn. Tất cả các thành viên hai bên đều đồng ý đổi họ, nếu được thì xuống huyện hay ở xã để đổi sang họ cha.

Tran Van Trong <trongtvt81@gmail.com>Ấp An Hòa, An Ngãi Tây, Ba Tri

 

 

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong trường hợp thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại. Người em con chú của bạn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ từ họ mẹ sang họ cha đã được đăng ký đúng trong bản chính Giấy khai sinh.

Do bạn không nêu rõ, nên căn cứ việc cha mẹ của em không có đăng ký kết hôn, ở đây hướng dẫn theo trường hợp đây là con ngoài giá thú, trong Giấy khai sinh chỉ ghi tên người mẹ, mà không có tên người cha. Vì vậy, trước hết người cha phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.

Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người con đang cư trú hoặc nơi cha của em đang cư trú. Về thủ tục theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, sửa đổi tại Nghị định 06/2012/NĐ-CP. Việc nhận cha, mẹ, con phải là tự nguyện và không có tranh chấp.

Thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con:

Người nhận cha, mẹ, con phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Kèm theo Tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

- Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con;

- Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có)

Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ trường hợp người được nhận là cha hoặc mẹ đã chết. Cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của các bên.

Căn cứ vào Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho em của bạn sẽ thực hiện việc ghi bổ sung phần khai về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh.

Sau khi đã hoàn thành việc đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, chú của bạn có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho con của chú thay đổi họ cho con từ họ mẹ sang họ cha. Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, chú của bạn có thể nộp Tờ khai và xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người con, Giấy chứng tử người mẹ để làm căn cứ cho việc thay đổi họ cho con. Đối với việc thay đổi họ cho người từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải có sự đồng ý của người đó. Nếu việc thay đổi họ cho con của chú bạn là có căn cứ và đúng pháp luật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ ký và cấp cho con chú bạn 01 bản chính Quyết định cho phép thay đổi họ.

 

13/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Chia tài sản khi ly hônChia tài sản khi ly hôn

Câu hỏi: Khi vợ chồng tôi ly hôn không có giải quyết phân chia tài sản vì tài sản chỉ có căn nhà, chồng cũ tôi nói em cứ ở đây và nuôi con. Bây giờ anh ấy đòi chia nữa căn nhà. Căn nhà là của riêng tự tạo của hai vợ chồng sau khi kết hôn. Nếu phân chia căn nhà thì con gái tôi đang nuôi dưỡng có được một phần căn nhà đó không? Giá trị căn nhà chia làm 3 phần: anh ấy 1 phần, tôi một phần và côn tôi 1 phần không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Căn nhà là của riêng tự tạo của hai vợ chồng sau khi kết hôn nên đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của vợ chồng bạn. Tài sản là bất động sản có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung nếu như không chứng minh được là tài sản riêng. Tài sản chung thì về nguyên tắc là chia đôi, có xem xét đến công sức đóng góp của mỗi người. Nếu con bạn có công sức đóng góp thì yêu cầu thanh toán phần đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ, nếu không có thì không được chia (nếu không có thỏa thuận khác).

Do vậy, nếu con bạn không có công sức đóng góp trong tài sản là căn nhà của chồng cũ của bạn và bạn thì nếu chồng bạn và bạn đều thỏa thuận sẽ chia căn nhà ra làm ba phần, trong đó 1 phần cho con bạn thì con gái bạn mới được hưởng.

 

08/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Vay tiềnVay tiền

Hỏi: Tôi ở Giồng Trôm, có cho 1 người cùng xã vay số tiền 50 triệu đồng (hợp đồng vay là 6 tháng, lãi suất thỏa thuận), người đó có làm giấy vay tiền của tôi. Tới nay đã gần 20 tháng mà không hề trã lãi và vốn. Khi đến nhà tìm thì lẫn trốn. Chương trình cho tôi hỏi tôi phải liên hệ cơ quan nào để giải quyết cho tôi? Còn về tiền lãi thì tính như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005: Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Quyền sở hữu đối với tài sản vay: Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó.

Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay: Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Về lãi suất: Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Bạn có thể khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện bên vay cư trú yêu cầu bên vay trả tiền cho bạn.

 

08/10/2013 12:00 SAĐã ban hành
Mất di chúcMất di chúc

Hỏi: Ông bà nội tôi có lập di chúc và gửi người ông, em của ông nội cất giữ, nhưng nay người ông đó đã làm mất tờ di chúc trên. Tôi muốn hỏi trường hợp như trên thì được giải quyết như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Trong trường hợp này ông bà nội của bạn có để lại di chúc. Tuy nhiên, trong quá trình gìn giữ di chúc đó đã bị mất thì theo Điều 666 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.

 

 

30/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Chế độ trợ cấp hàng tháng đối với thanh niên xung phongChế độ trợ cấp hàng tháng đối với thanh niên xung phong

Hỏi: Tôi nghe nói Nhà nước có văn bản điều chỉnh chế độ trợ cấp hàng tháng đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến. Xin cho tôi biết thông tin chi tiết về vấn đề này?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Ngày 05 tháng 7 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 29/2016/QĐ-TTg điều chỉnh chế độ trợ cấp hàng tháng đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến. Theo đó:

- Điều chỉnh trợ cấp đối với thanh niên xung phong đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến từ 360.000 đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.

- Trường hợp thanh niên xung phong từ trần kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng chưa được điều chỉnh trợ cấp theo Quyết định này thì người tổ chức mai táng được truy lĩnh khoản tiền chênh lệch do điều chỉnh trợ cấp kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến tháng thanh niên xung phong từ trần (số tiền 180.000 đồng/tháng).

Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 8 năm 2016.

21/06/2017 10:00 SAĐã ban hành
Chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ?Chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ?

Hỏi: Tôi làm việc tại công ty, tôi muốn biết pháp luật quy định như thế nào về chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định tại Điều 7, Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ thì vấn đề chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ được quy định như sau:

1. Khi khám sức khỏe định kỳ, lao động nữ được khám chuyên khoa phụ sản theo danh mục khám chuyên khoa phụ sản do Bộ Y tế ban hành.

2. Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ như sau:

a) Mỗi ngày 30 phút, tối thiểu là 03 ngày trong một tháng;

b) Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;

c) Thời gian nghỉ cụ thể do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ.

3. Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ như sau:

a) Mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi;

b) Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

4. Người sử dụng lao động lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của lao động nữ và khả năng của người sử dụng lao động.

5. Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ nuôi con từ 12 tháng tuổi trở lên vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Thời gian nghỉ do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động.

21/06/2017 9:00 SAĐã ban hành
Quyền yêu cầu thay đổi họ của con?Quyền yêu cầu thay đổi họ của con?

Hỏi: Trước đây do mâu thuẩn nên đi khai sinh cho con, vợ tôi cho con tôi mang họ mẹ, nay vợ chồng tôi muốn chuyển họ của con cùng họ với tôi. Vì quyền lợi của con (con tôi đã 10 tuổi), tôi muốn biết tôi có quyền yêu cầu thay đổi họ của con tôi không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền thay đổi họ như sau:

"Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:

Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại…"

Như vậy, theo quy định trên, anh chị có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi họ cho con từ họ của mẹ đẻ sang họ của cha đẻ. Tuy nhiên, vì con của anh chị đã 10 tuổi nên việc thay đổi họ phải có sự đồng ý của con anh chị (theo quy định tại Khoản 2 Điều 27). Trình tự thủ tục yêu cầu đổi họ cho con thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

21/06/2017 9:00 SAĐã ban hành
Hợp đồng lao độngHợp đồng lao động

Hỏi: Tôi được một người bà con giới thiệu lên Sài Gòn phụ giúp việc nhà. Do chưa đi làm lần nào nên thấy lo. Khi tôi đi làm tôi có phải ký hợp đồng lao động, tôi có quyền và nghĩa vụ gì? 

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 thì lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình.

Tại Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình:

 Người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người giúp việc gia đình.

 Thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình do hai bên thoả thuận. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất kỳ khi nào nhưng phải báo trước 15 ngày.

 Hai bên thỏa thuận, ghi rõ trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở.

Lao động là người giúp việc gia đình có nghĩa vụ: Thực hiện đầy đủ thỏa thuận mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng lao động; phải bồi thường theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật nếu làm hỏng, mất tài sản của người sử dụng lao động; thông báo kịp thời với người sử dụng lao động về những khả năng, nguy cơ gây tai nạn, đe dọa an toàn, sức khỏe, tính mạng, tài sản của gia đình người sử dụng lao động và bản thân; tố cáo với cơ quan có thẩm quyền nếu người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động hoặc có những hành vi khác vi phạm pháp luật.

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động: Thực hiện đầy đủ thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng lao động; trả cho người giúp việc gia đình khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật để người lao động tự lo bảo hiểm; tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người giúp việc gia đình; bố trí chỗ ăn, ở sạch sẽ, hợp vệ sinh cho người giúp việc gia đình, nếu có thoả thuận; tạo cơ hội cho người giúp việc gia đình được tham gia học văn hóa, học nghề; trả tiền tàu xe đi đường khi người giúp việc gia đình thôi việc về nơi cư trú, trừ trường hợp người giúp việc gia đình chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.

Những hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động: Ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người giúp việc gia đình; giao việc cho người giúp việc gia đình không theo hợp đồng lao động; giữ giấy tờ tùy thân của người lao động.

18/12/2015 9:00 SAĐã ban hành
Xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tôi có phải đóng lệ phí trước bạ hay không?Xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tôi có phải đóng lệ phí trước bạ hay không?

Tôi được ông, bà nội cho một phần đất. Tôi muốn biết khi tôi xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tôi có phải đóng lệ phí trước bạ hay không? Nếu có đóng thì phải đóng bao nhiêu?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo Điều 9 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ về lệ phí trước bạ và Khoản 10 Điều 5 Thông tư số 301/2016/TT-BTC hướng dẫn về lệ phí trước bạ thì "Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sẽ thuộc trường hợp được miễn lệ phí trước bạ.

Đối chiếu với trường hợp của bạn, theo quy định nêu trên thì trường hợp ông nội tặng đất cho cháu nội nên sẽ được miễn lệ phí trước bạ.

20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Lối đi chungLối đi chung

Hỏi: Nhà tôi ở phía trong, nhà ông S ở phía ngoài. Theo thỏa thuận ông S dành cho tôi một lối đi ra đến đường công cộng và tôi đã thanh toán cho ông S một khoản tiền. Nhưng khi ông S bán ngôi nhà của mình cho ông K thì ông K lại không đồng ý cho tôi sử dụng lối đi đó nữa. Xin hỏi tôi có quyền giữ lại lối đi đó không, tôi không còn lối đi nào khác?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Điều 245 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền).

Điều 247 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Quyền đối với bất động sản liền kề có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân và được chuyển giao khi bất động sản được chuyển giao, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

 Việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu tài sản cho người khác không phải là căn cứ để chấm dứt các quyền đối với bất động sản liền kề theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối chiếu với các quy định trên, việc ông S bán nhà cho anh K không làm chấm dứt quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề của bạn. Việc làm của anh K vi phạm quy định của pháp luật hiện hành.

20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Thông báo tìm kiếm người vắng mặtThông báo tìm kiếm người vắng mặt

Hỏi: Chồng tôi bỏ nhà đi hơn 2 năm nay, gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức. Giờ tôi phải làm sao? Có cần thông báo với chính quyền địa phương hay không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 74 quy định khi một người biệt tích sáu tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt quy định tại Điều 75 của Bộ luật này.

Tại Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005 về tuyên bố một người mất tích, quy định:  Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, bạn có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; khi gửi đơn phải kèm theo đơn yêu cầu là chứng cứ chứng minh chồng bạn đã biệt tích 2 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc chồng bạn còn sống hoặc đã chết và chứng minh việc bạn đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm (Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú). Trong trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tảo hônTảo hôn

Hỏi: Gần nhà tôi người hàng xóm sắp tổ chức đám cưới cho con gái, nhưng theo tôi biết con gái của họ mới có 16 tuổi, tôi nghe nói nữ kết hôn phải 18 tuổi mới được. Người hàng xóm tổ chức đám cưới cho con có được không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên (nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là đủ điều kiện về tuổi kết hôn); Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở; Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn.

Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây: Người đang có vợ hoặc có chồng; Người mất năng lực hành vi dân sự; Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; Giữa những người cùng giới tính.

Như vậy, con gái người hàng xóm của bạn mới 16 tuổi thì chưa đủ tuổi kết hôn nên không được tổ chức đám cưới. Pháp luật quy định: Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tổ chức tảo hôn là việc tổ chức cho những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lấy vợ, lấy chồng. Người nào có hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn, tùy theo mức độ vi phạm đối với từng trường hợp cụ thể có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

* Trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính

Tại Điều 47 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định: Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn; Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó.

* Trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định Điều 148 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn  “Người nào có một trong các hành vi sau đây, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm: Tổ chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết hôn; Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn