Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTư vấn pháp luật

 
Tư vấn pháp luật - Hộ tịch - Quốc tịch
Hỏi: Trước đây do mâu thuẩn nên đi khai sinh cho con, vợ tôi cho con tôi mang họ mẹ, nay vợ chồng tôi muốn chuyển họ của con cùng họ với tôi. Vì quyền lợi của con (con tôi đã 10 tuổi), tôi muốn biết tôi có quyền yêu cầu thay đổi họ của con tôi không?Trả lời (có tính chất tham khảo):Theo Điểm a Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền thay đổi họ như sau:"Cá nhân c... 
 
Thay đổi tên. (21/08/2014)
Hỏi: Con tôi đến nay được hơn 2 tuổi, tôi muốn đổi tên con tôi thành tên khác. Do tôi thấy tên con tôi xấu quá, nay muốn đổi sang tên khác cho hay và đẹp hơn. Vậy đề nghị cho tôi biết thủ tục xin đổi tên cho con tôi cần phải làm những gì, thủ tục như thế nào? Đinh <hacongdinh@gmail.com> 0942914317 Bắc giang Trả lời (có tính chất tham khảo): Theo quy định của Bộ luật Dân sự,... 
 
Hỏi: Trước đây gia đình tôi sống tại ấp 3, xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Sau đó gia đình đều qua Canada định cư, lúc đó tôi được 3 tuổi nhưng giấy tờ đã bị thất lạc, không còn giấy khai sinh, hộ khẩu. Vậy làm thế nào tôi có thể đăng ký xin cấp lại giấy khai sinh? Thủ tục thế nào? Trả lời có tính chất tham khảo: Căn cứ tại Điều 58 của Nghị định số 158/2005/N... 
 
Hỏi: Tôi là công dân Việt Nam dự định lấy chồng là người Hàn Quốc và đăng ký kết hôn bên Hàn quốc như vậy có được không? Tôi xin xác nhận tình trạng hôn nhân ở đâu? Trả lời có tính chất tham khảo: Bạn là công dân Việt Nam, bạn dự định lấy chồng là người Hàn Quốc, bạn có thể đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Hàn Quốc nếu bạn muốn đăn... 
 
Hỏi: Con trai tôi sinh ra được hơn 2 tuần rồi, cha nó bận đi làm xa chưa về nên tôi chưa đi đăng ký khai sinh cho con. Sinh con ra bao lâu thì phải đi khai sinh cho con, khi đăng ký khai sinh cần những giấy tờ gì và không đăng ký trong thời hạn pháp luật quy định có bị xử phạt gì không? Trả lời có tính chất tham khảo: Theo quy định tại Điều 14 của ... 
 
Hỏi: Tôi ở huyện Giồng Trôm, tôi được người bà con nhờ làm chứng để cải chính năm sinh cho con để đi học sớm hơn một tuổi. Tôi biết việc làm chứng này là không đúng nhưng do bà con nễ nan nên tôi làm chứng, làm chứng xong tôi sợ quá. Tôi làm chứng sai, rồi người bà con đề nghị tôi làm chứng dùm có bị phạt gì không?   Trả lời có tính ch... 
 
Hỏi: Tôi và chồng tôi sống với nhau từ năm 2010 đến nay mà chưa đăng ký kết hôn, nay vợ chồng tôi cần giấy kết hôn để khai sinh cho con. Pháp luật có cho phép đăng ký kết hôn quá hạn, chúng tôi được công nhận là vợ chồng vào thời điểm nào, chúng tôi đăng ký kết hôn tại đâu và thủ tục kết hôn như thế nào? Trả lời có tính chất tham khảo: T... 
 
Hỏi: Tôi có người em con của chú, hiện đang học lớp 3, trước đây khai sinh lấy họ của mẹ, giờ mẹ đã mất muốn khai lại họ của cha được không? Cha mẹ của em không có đăng ký kết hôn. Tất cả các thành viên hai bên đều đồng ý đổi họ, nếu được thì xuống huyện hay ở xã để đổi sang họ cha. Tran Van Trong <trongtvt81@gmail.com>Ấp An Hòa, An Ngãi Tây, Ba Tri     Trả lời (có tính chất... 
 
Hỏi: Em muốn đổi tên đệm trong Giấy khai sinh thì phải đến cơ quan nào? Hồ sơ, thủ tục gồm những gì? Nguyễn Thị Bé Thơ – Thị trấn Ba Tri <thonguyen0242@yahoo.com.vn> Trả lời (có tính chất tham khảo): Điều 36 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định phạm vi thay đổi hộ tịch gồm thay đổi họ... 
 
Hỏi: Nhận con nuôi có cần Phiếu lý lịch tư pháp không? Nếu cần tôi phải liên hệ ở đâu để làm lý lịch tư pháp? Ket <vanket822003@yahoo.com> Trả lời (có tính chất tham khảo): Theo quy định tại Điều 17 của Luật Nuôi con nuôi và Điều 7 của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, thì hồ sơ của người nhận con ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Chế độ trợ cấp hàng tháng đối với thanh niên xung phongChế độ trợ cấp hàng tháng đối với thanh niên xung phong

Hỏi: Tôi nghe nói Nhà nước có văn bản điều chỉnh chế độ trợ cấp hàng tháng đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến. Xin cho tôi biết thông tin chi tiết về vấn đề này?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Ngày 05 tháng 7 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 29/2016/QĐ-TTg điều chỉnh chế độ trợ cấp hàng tháng đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến. Theo đó:

- Điều chỉnh trợ cấp đối với thanh niên xung phong đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến từ 360.000 đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.

- Trường hợp thanh niên xung phong từ trần kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng chưa được điều chỉnh trợ cấp theo Quyết định này thì người tổ chức mai táng được truy lĩnh khoản tiền chênh lệch do điều chỉnh trợ cấp kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến tháng thanh niên xung phong từ trần (số tiền 180.000 đồng/tháng).

Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 8 năm 2016.

21/06/2017 10:00 SAĐã ban hành
Một trong hai người không đến tòa án để tham gia xét xử thì Tòa án có xử cho vợ, chồng ly hôn không?Một trong hai người không đến tòa án để tham gia xét xử thì Tòa án có xử cho vợ, chồng ly hôn không?

Hỏi: Khi vợ hoặc chồng nộp đơn ly hôn và Tòa án đã thụ lý nhưng một trong hai người không đến tòa án để tham gia xét xử thì Tòa án có xử cho vợ, chồng ly hôn không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Điều 227, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, nếu tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì đương sự (vợ, chồng) phải có mặt tại phiên tòa, nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Nếu tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai thì đương sự (vợ, chồng) phải có mặt tại phiên tòa trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì tòa án sẽ xem xét giải quyết như sau:

- Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện nếu người vắng mặt là nguyên đơn.

- Tòa án sẽ xét xử vắng mặt nếu như người vắng mặt là bị đơn.

21/06/2017 10:00 SAĐã ban hành
Cấp phiếu lý lịch tư phápCấp phiếu lý lịch tư pháp

Xin cho tôi hỏi, phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2 là như thế nào? Xin việc thì tôi phải nộp phiếu số mấy?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp thì có 2 loại Phiếu lý lịch tư pháp gồm:

Phiếu lý lịch tư pháp số 1 cấp theo yêu cầu của công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam và cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình.

Trường hợp của bạn sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp để nộp xin việc thì bạn nên sử dụng phiếu lý lịch tư pháp số 1 hoặc liên hệ trực tiếp nơi xin việc để biết và nộp theo yêu cầu của nơi nhận hồ sơ xin việc.

-----------------

Hỏi: Tôi cư trú ở huyện Thạnh Phú, Bến Tre, hiện tại tôi đang làm hồ sơ xin việc nhưng công ty tôi xin việc muốn tôi bổ sung Phiếu lý lịch tư pháp số 1, tôi chỉ xin làm bảo vệ công ty thôi, tôi không biết phiếu này là gì, ai sẽ cấp cho tôi, nhờ chương trình tư vấn?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích, bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản.

Theo quy định tại Điều 41 Luật Lý lịch tư pháp, có 2 loại Phiếu lý lịch tư pháp:

- Phiếu lý lịch tư pháp số 1 cấp theo yêu cầu của công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam và cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng và cấp theo yêu cầu của cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình.

Muốn yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp bạn có thể liên hệ Phòng Hành chính Tư pháp - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre, số 17, đường Cách Mạng Tháng 8, phường 3, thành phố Bến Tre để được hướng dẫn thực hiện thủ tục hoặc có thể tìm hiểu thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp tại mục Thủ tục hành chính trên website: http://www.stp.bentre.gov.vn.


20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Thế nào là đất thổ cư? Điều kiện để trở thành đất thổ cư?Thế nào là đất thổ cư? Điều kiện để trở thành đất thổ cư?

*Hỏi: Thế nào là đất thổ cư? Điều kiện để trở thành đất thổ cư? Quy định của pháp luật về thời hạn từ khi có thông báo đất quy hoạch, giải tỏa đến khi thực hiện quyết định trên là bao lâu.

Huynh Vinh <phuoc_huynhbt@yahoo.....> Châu thành, Bến Tre

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Đất thổ cư chỉ là từ truyền thống để chỉ đất ở. Theo Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 quy định đất ở là đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ cho đời sống; đất vườn ao gắn liền với nhà ở trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư (kể cả trường hợp vườn, ao gắn liền với nhà ở riêng lẻ) đã được công nhận là đất ở. Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở đang sử dụng nhưng chưa được ấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tạm thời xác định diện tích đất ở bằng hạn mức giao đất ở mới do UBND cấp tỉnh quy định.

Trường hợp đất ở có kết hợp sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thì ngoài việc thống kê theo mục đích đất ở còn phải thống kê theo mục đích phụ là đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.

* Điều kiện để trở thành đất thổ cư: Do trong thư hỏi của bạn, bạn không nói rõ loại đất nào để trở thành đất thổ cư, vài ý trao đổi để bạn tham khảo như sau:

Để nhà nước công nhận là đất thổ cư thì người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp (đất ở)

Theo Điều 36 Luật Đất đai năm 2003 quy định việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các loại đất quy định tại Điều 13 Luật Đất đai được thực hiện như sau:

Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

- Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản;

- Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ sang sử dụng vào mục đích khác;

- Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

- Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

- Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không thuộc những trường hợp vừa nêu thì người sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thầm quyền, nhưng phải đăng ký với văn phòng của tổ chức có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất (sau đây gọi là văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) hoặc UBND xã nơi có đất.

Quy định của pháp luật về thời hạn từ khi có thông báo đất quy hoạch, giải tỏa đến khi thực hiện quyết định:

Trong thư hỏi bạn không nói rõ quyết định trên là quyết định gì, nhưng theo nội dung bạn hỏi có thể bạn hỏi thời hạn từ khi có thông báo đất quy hoạch, giải tỏa đến khi thực hiện quyết định thu hồi đất. Như vậy, theo nội dung bạn hỏi: pháp luật không có quy định thời hạn từ khi có thông báo đất quy hoạch, giải tỏa đến khi thực hiện quyết định thu hồi đất. Thời hạn này do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương nơi có đất thu hồi chủ động thực hiện tùy theo tiến độ công việc giải quyết nhanh hay chậm nên không thể xác định thời gian cụ thể.

Theo Điều 30 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định: sau khi dự án đầu tư được xét duyệt hoặc chấp thuận thì Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm lập và trình phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Theo Điểm a, c khoản 2 Điều 30 Nghị định 69/2009/NĐ-CP phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi để người bị thu hồi đất tham gia ý kiến. Thời gian niêm yết và tiếp nhận đóng góp ý kiến phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ít nhất là 20 ngày, kể từ ngày phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đưa ra niêm yết.

Theo Điểm c khoản 2 Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định: trong thời hạn không quá 03 ngày, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã bị thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Theo khoản 4 Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định:

Trong thời hạn hai mươi (20) ngày, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Theo điểm b khoản 1 Điều 32 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định: quá 30 ngày, kể từ thời điểm phải bàn giao đất quy định tại khoản 4 Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 mà người có đất bị thu hồi không bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì sẽ bị cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của pháp luật.

24/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai được quy định như thế nào?Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai được quy định như thế nào?

Hỏi: Làm ơn cho tôi hỏi pháp luật quy định quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai được quy định như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định tại Điều 8, Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ thì quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai được quy định như sau:

1. Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động, kèm theo ý kiến đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.

2. Thời hạn báo trước để đơn phương chấm dứt, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động theo thời hạn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

3. Trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động, nhưng tối thiểu phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

21/06/2017 10:00 SAĐã ban hành
Đăng ký kết hôn quá hạnĐăng ký kết hôn quá hạn

Hỏi: Tôi và chồng tôi sống với nhau từ năm 2010 đến nay mà chưa đăng ký kết hôn, nay vợ chồng tôi cần giấy kết hôn để khai sinh cho con. Pháp luật có cho phép đăng ký kết hôn quá hạn, chúng tôi được công nhận là vợ chồng vào thời điểm nào, chúng tôi đăng ký kết hôn tại đâu và thủ tục kết hôn như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Trường hợp của bạn theo quy định pháp luật hộ tịch quan hệ vợ chồng của bạn chỉ được pháp luật công nhận kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn, pháp luật hộ tịch không quy định đăng ký kết hôn quá hạn.

Về thẩm quyền đăng ký kết hôn:  Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Thủ tục đăng ký kết hôn: Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu.

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau ly hônQuyền và nghĩa vụ thăm nom con sau ly hôn

Hỏi: Tôi và vợ tôi chính thức ly hôn theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, khi Tòa án giải quyết ly hôn do con tôi còn nhỏ nên Tòa giao con cho vợ tôi chăm sóc, nuôi dưỡng; tuy nhiên khi tôi đến thăm con thì vợ, mẹ vợ tôi không cho và đuổi tôi về. Cho tôi hỏi nếu tôi không được quyền nuôi con thì tôi có được quyền đến thăm nom con tôi hay không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo như bạn trình bày thì bạn và vợ bạn đã chính thức ly hôn và Tòa án giao con cho vợ bạn chăm sóc, nuôi dưỡng; khi bạn đến thăm con thì vợ, mẹ vợ bạn lại không cho và đuổi bạn về, căn cứ vào Khoản 3 Điều 82, Khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Như vậy việc vợ, mẹ vợ bạn ngăn cản không cho bạn đến thăm nom, chăm sóc con và đuổi bạn về là không đúng với quy định pháp luật hiện hành, dù bạn là người không trực tiếp nuôi con thì bạn vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con và không ai được cản trở bạn nhưng nếu bạn lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì vợ bạn có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bạn.

21/06/2017 10:00 SAĐã ban hành
Quyền yêu cầu thay đổi họ của con?Quyền yêu cầu thay đổi họ của con?

Hỏi: Trước đây do mâu thuẩn nên đi khai sinh cho con, vợ tôi cho con tôi mang họ mẹ, nay vợ chồng tôi muốn chuyển họ của con cùng họ với tôi. Vì quyền lợi của con (con tôi đã 10 tuổi), tôi muốn biết tôi có quyền yêu cầu thay đổi họ của con tôi không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền thay đổi họ như sau:

"Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:

Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại…"

Như vậy, theo quy định trên, anh chị có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi họ cho con từ họ của mẹ đẻ sang họ của cha đẻ. Tuy nhiên, vì con của anh chị đã 10 tuổi nên việc thay đổi họ phải có sự đồng ý của con anh chị (theo quy định tại Khoản 2 Điều 27). Trình tự thủ tục yêu cầu đổi họ cho con thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

21/06/2017 9:00 SAĐã ban hành
Thông báo tìm kiếm người vắng mặtThông báo tìm kiếm người vắng mặt

Hỏi: Chồng tôi bỏ nhà đi hơn 2 năm nay, gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức. Giờ tôi phải làm sao? Có cần thông báo với chính quyền địa phương hay không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 74 quy định khi một người biệt tích sáu tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt quy định tại Điều 75 của Bộ luật này.

Tại Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005 về tuyên bố một người mất tích, quy định:  Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, bạn có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; khi gửi đơn phải kèm theo đơn yêu cầu là chứng cứ chứng minh chồng bạn đã biệt tích 2 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc chồng bạn còn sống hoặc đã chết và chứng minh việc bạn đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm (Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú). Trong trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Quyền đơn phương xin ly hônQuyền đơn phương xin ly hôn

Hỏi: Con gái tôi có chồng về Bến Tre nay đã được 02 năm và vừa mới sinh đứa con đầu lòng được 01 tháng tuổi, nhưng do mâu thuẫn nên hai vợ chồng cứ thường xuyên cãi vã, vì thế con rễ tôi đòi ly hôn nhưng con gái tôi không đồng ý. Tôi muốn biết là nếu con gái tôi không đồng ý ly hôn thì con rễ tôi có quyền đơn phương xin ly hôn hay không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Tuy nhiên, con của con gái bạn mới được 01 tháng tuổi nên căn cứ vào Khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định "Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi". Vì vậy, con rễ bạn không có quyền đơn phương xin ly hôn vì con gái bạn đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.


01/06/2017 9:00 SAĐã ban hành
Đổi từ họ mẹ sang họ chaĐổi từ họ mẹ sang họ cha

Hỏi: Tôi có người em con của chú, hiện đang học lớp 3, trước đây khai sinh lấy họ của mẹ, giờ mẹ đã mất muốn khai lại họ của cha được không? Cha mẹ của em không có đăng ký kết hôn. Tất cả các thành viên hai bên đều đồng ý đổi họ, nếu được thì xuống huyện hay ở xã để đổi sang họ cha.

Tran Van Trong <trongtvt81@gmail.com>Ấp An Hòa, An Ngãi Tây, Ba Tri

 

 

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong trường hợp thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại. Người em con chú của bạn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ từ họ mẹ sang họ cha đã được đăng ký đúng trong bản chính Giấy khai sinh.

Do bạn không nêu rõ, nên căn cứ việc cha mẹ của em không có đăng ký kết hôn, ở đây hướng dẫn theo trường hợp đây là con ngoài giá thú, trong Giấy khai sinh chỉ ghi tên người mẹ, mà không có tên người cha. Vì vậy, trước hết người cha phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.

Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người con đang cư trú hoặc nơi cha của em đang cư trú. Về thủ tục theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, sửa đổi tại Nghị định 06/2012/NĐ-CP. Việc nhận cha, mẹ, con phải là tự nguyện và không có tranh chấp.

Thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con:

Người nhận cha, mẹ, con phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Kèm theo Tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

- Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con;

- Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có)

Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ trường hợp người được nhận là cha hoặc mẹ đã chết. Cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của các bên.

Căn cứ vào Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho em của bạn sẽ thực hiện việc ghi bổ sung phần khai về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh.

Sau khi đã hoàn thành việc đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, chú của bạn có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho con của chú thay đổi họ cho con từ họ mẹ sang họ cha. Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, chú của bạn có thể nộp Tờ khai và xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người con, Giấy chứng tử người mẹ để làm căn cứ cho việc thay đổi họ cho con. Đối với việc thay đổi họ cho người từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải có sự đồng ý của người đó. Nếu việc thay đổi họ cho con của chú bạn là có căn cứ và đúng pháp luật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ ký và cấp cho con chú bạn 01 bản chính Quyết định cho phép thay đổi họ.

 

13/09/2013 12:00 SAĐã ban hành
Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoàiThời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Hỏi: Con tôi có quen với một người Việt kiều, hai đứa định lấy nhau, khổ nỗi bạn của con tôi chỉ về Việt Nam được khoảng 01 tháng. Tôi nghe nói kết hôn với người nước ngoài mất rất nhiều thời gian. Vậy con tôi phải làm như thế nào trong trường hợp bạn nó chỉ về nước được khoảng 1 tháng. (Võ Thị Tâm – Thạnh Phú)

 

* Trả lời (có tính chất tham khảo):

Căn cứ Điều 15 Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài về thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn quy định: Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài là 30 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp có yêu cầu cơ quan Công an xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm 20 ngày (có nghĩa là 50 ngày kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ).

Trong trường hợp bạn của con bà chỉ về Việt Nam được khoảng 01 tháng thì pháp luật cho phép trong trường hợp có lý do khách quan mà một bên không thể có mặt được thì phải có đơn xin vắng mặt và uỷ quyền cho bên kia đến nộp hồ sơ. Khi đó thì bên ở nước ngoài sẽ ủy quyền con của bà liên hệ Sở Tư pháp nộp hồ sơ kết hôn và bên ở nước ngoài sắp sếp về Việt Nam liên hệ Sở Tư pháp để Sở Tư pháp phỏng vấn 2 bên trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ và đợi nhận Giấy chứng nhận kết hôn.

24/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ở đâu?Yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ở đâu?

* Hỏi: Tôi năm nay 30 tuổi, quê ở Vĩnh Long, hộ khẩu thường trú hiện nay ở huyện Chợ Lách, Bến Tre, nay tôi muốn đăng ký kết hôn ở Bến Tre, cán bộ xã yêu cầu tôi về Vĩnh Long xác nhận tình trạng độc thân trong thời gian ở đó để có cơ sở đăng ký kết hôn; nhưng khi tôi về Vĩnh Long thì phía Vĩnh Long nói tôi hộ khẩu ở Bến Tre thì về Bến Tre xác nhận. Trong trường hợp của tôi thì xác nhận ở đâu mới đúng.

(Trần Thanh Thùy – Chợ Lách)


* Trả lời (có tính chất tham khảo):

Về việc xác nhận tình trạng độc thân (hay nói đúng hơn là xác nhận tình trạng hôn nhân), căn cứ quy định tại Điều 66 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch về thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là “Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó”. Trường hợp của chị, hiện chị có hộ khẩu thường trú ở huyện Chợ Lách, Bến Tre thì khi chị có nhu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thì chị liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi chị cư trú ở Bến Tre để yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân.

Về việc xác nhận tình trạng hôn nhân đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau theo quy định tại điểm d khoản 2, Mục 2 của Thông tư 01/2008/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch “Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan”. Trường hợp của chị, nếu trước khi chị về Bến Tre cư trú, chị có hộ khẩu thường trú tại Vĩnh Long, và khi đó nếu chị đã đủ tuổi kết hôn thì chị phải viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian cư trú tại Vĩnh Long, nơi cư trú trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan của mình.

24/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Niêm yết giá thuốcNiêm yết giá thuốc

Hỏi:  Tôi ở huyện Châu Thành, tôi thường xuyên chở con tôi đến bác sĩ tư để khám bệnh nhưng tôi thấy đa số các bác sĩ khám tư thu tiền khám bệnh, chữa bệnh mà không niêm yết giá, như vậy bệnh nhân sao biết giá khám bệnh mà trả và bác sĩ không niêm yết giá khám có vi phạm không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Theo quy định tại Điều 29 Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế về vi phạm quy định về điều kiện hoạt động và sử dụng giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Hành vi không niêm yết giá dịch vụ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng; Trường hợp thu giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cao hơn giá đã niêm yết sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

 

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thi hành án dân sựThi hành án dân sự

Hỏi: Tôi có làm ăn mua bán với chị A, nhưng chị A không thanh toán đủ tiền cho tôi nên tôi có kiện ra Tòa. Tòa giải quyết là buộc chị A phải trả lại số tiền đó cho tôi, qua một thời gian dài mà chị A vẫn không trả nên tôi có yêu cầu thi hành án nhưng vẫn không có kết quả vì cơ quan thi hành án trả lời hiện tại chị A không có điều kiện để trả, nhưng hiện tại tôi thấy chị A có thu nhập và có thể trả nợ cho tôi. Tôi phải làm gì để yêu cầu chị A trả đủ tiền?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Theo quy định Điều 51 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về trả đơn yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây:

- Người phải thi hành án không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án;

- Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình;

- Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án;

- Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được mà đương sự không có thoả thuận khác.

Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này, kể từ ngày phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành

Như vậy, nếu bạn thấy chị A có thu nhập và có thể trả nợ cho bạn thì  bạn có quyền nộp đơn yêu cầu thi hành bản án. Khi bạn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án thì bạn phải cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của chị A. Để có được thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của chị A thì bạn phải xác minh hoặc yêu cầu Chấp hành viên xác minh theo quy định. Nếu bạn đã cung cấp được thông tin về tài sản hoặc yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án theo quy định thì cơ quan thi hành án dân sự nhận đơn, xem xét ra quyết định thi hành án và tổ chức việc thi hành án.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự và Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự; được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xác minh điều kiện thi hành án.

Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Kết quả xác minh được công nhận và làm căn cứ để tổ chức việc thi hành án, trừ trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết phải xác minh lại. Việc xác minh lại của Chấp hành viên được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp.

Trường hợp người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.

Người được thi hành án khi yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án phải xuất trình biên bản làm việc hoặc các tài liệu hợp pháp khác để chứng minh việc người đó hoặc người đại diện theo ủy quyền đã tiến hành xác minh tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ các thông tin về tài sản, đang quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án nhưng không có kết quả, trừ trường hợp người được thi hành án thuộc diện gia đình chính sách, có công với cách mạng hoặc là người neo đơn, tàn tật, ốm đau kéo dài, có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định này.

Việc xác minh tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân được coi là không có kết quả khi người được thi hành án hoặc người được ủy quyền chứng minh đã trực tiếp hoặc yêu cầu bằng văn bản nhưng đã quá thời hạn 01 tháng kể từ ngày yêu cầu nhưng không nhận được văn bản trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà không có lý do chính đáng.

21/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Tảo hônTảo hôn

Hỏi: Gần nhà tôi người hàng xóm sắp tổ chức đám cưới cho con gái, nhưng theo tôi biết con gái của họ mới có 16 tuổi, tôi nghe nói nữ kết hôn phải 18 tuổi mới được. Người hàng xóm tổ chức đám cưới cho con có được không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên (nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là đủ điều kiện về tuổi kết hôn); Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở; Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn.

Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây: Người đang có vợ hoặc có chồng; Người mất năng lực hành vi dân sự; Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; Giữa những người cùng giới tính.

Như vậy, con gái người hàng xóm của bạn mới 16 tuổi thì chưa đủ tuổi kết hôn nên không được tổ chức đám cưới. Pháp luật quy định: Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tổ chức tảo hôn là việc tổ chức cho những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình lấy vợ, lấy chồng. Người nào có hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn, tùy theo mức độ vi phạm đối với từng trường hợp cụ thể có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

* Trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính

Tại Điều 47 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định: Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn; Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó.

* Trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định Điều 148 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn  “Người nào có một trong các hành vi sau đây, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm: Tổ chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết hôn; Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Phân chia di sảnPhân chia di sản

Hỏi: Trước khi mất ba tôi có nói chia đều phần đất của ba tôi đứng tên cho tất cả các con mỗi đứa 2 công đất, nhưng nay em út tôi không chịu chia đều vì cho rằng nó là con út nên phải được hưởng nhiều hơn. Việc ba tôi nói như thế có được xem là di chúc không? Di sản của ba tôi để lại sẽ được phân chia như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Ngoài ra, di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Đồng thời, theo quy định của pháp luật mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.

Như vậy, lời nói của ba bạn không hội đủ các điều kiện trên thì không thể xem là di chúc và nếu không có di chúc thì di sản này sẽ được phân chia theo pháp luật. Theo đó, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định và những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, như vậy trường hợp này bạn và em út của bạn được hưởng một suất thừa kế bằng nhau.

 

25/03/2014 12:00 SAĐã ban hành
Nghỉ đám cưới bị trừ lương ?Nghỉ đám cưới bị trừ lương ?

Hỏi: Tôi làm việc tại công ty theo hợp đồng, tôi xin nghỉ phép để chuẩn bị đám cưới thì Giám đốc công ty bảo mấy ngày tôi nghỉ phải bị trừ lương? Tôi nghỉ đám cưới bị trừ lương vậy có đúng không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Điều 116 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương như sau:

1. Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau đây: Kết hôn: nghỉ 03 ngày; Con kết hôn: nghỉ 01 ngày; Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; con chết: nghỉ 03 ngày.

2. Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.

3. Ngoài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.

20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Uống rượu, bia điều khiển xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông bị phạt tiền là bao nhiêu?Uống rượu, bia điều khiển xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông bị phạt tiền là bao nhiêu?

Hỏi: Người uống rượu, bia điều khiển xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông bị phạt tiền với mức cụ thể là bao nhiêu?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Nghị định số 171/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định như sau:

Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000; bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 01 tháng, tạm giữ phương tiện đến 07 ngày.

Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng, tạm giữ phương tiện đến 07 ngày.

18/12/2015 9:00 SAĐã ban hành
Thủ tục lập di chúc trong trường hợp không biết chữThủ tục lập di chúc trong trường hợp không biết chữ

Hỏi: Vợ chồng tôi có ba người con, hai trai, một gái. Hai người con trai lớn đều đã lập gia đình và sinh sống ở Tiền Giang. Cô con gái út của tôi  có chồng tại quê nhà. Vợ chồng tôi có mảnh đất vườn trồng cây ăn quả. Những năm gần đây vì tuổi cao, sức yếu, nên công việc chăm sóc vườn cây phải nhờ vợ chồng con gái út. Vợ chồng tôi muốn muốn lập di chúc để lại mảnh vườn đó cho vợ chồng con gái út nhưng vợ tôi không biết chữ. Vậy thủ tục lập di chúc trong trường hợp vợ tôi không biết chữ như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Trong trường hợp này, mảnh đất vườn là tài sản chung của ông bà. Ông bà cùng có nguyện vọng để lại mảnh đất đó cho vợ chồng con gái út. Vì vậy, theo quy định của Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2005, ông bà  có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung là mảnh đất đó.

Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Vợ ông không biết chữ nên theo quy định tại khoản 3 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005, di chúc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

Di chúc bằng văn bản phải ghi rõ: Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Người làm chứng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 654 Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể: mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây: người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.

Ông bà có thể lập di chúc theo hai cách sau đây:

* Thứ nhất: Ông có thể thay vợ viết bản di chúc chung nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng. Vợ ông ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng. Những người làm chứng xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ và ký vào bản di chúc.

Ông bà đem bản di chúc có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của vợ chồng ông; xác nhận và chữ ký của những người làm chứng tới tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn để được Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công chứng hoặc chứng thực vào bản di chúc.

* Thứ hai: Ông bà cũng có thể đến tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn để lập di chúc theo Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2005. Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn như sau: Ông bà tuyên bố nội dung di chúc trước Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà ông bà  đã tuyên bố; ông bà ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của ông bà; Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn  ký vào bản di chúc.

Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Hành vi dụ dỗ, bịt miệng, ép người bị khờ do bị bệnh từ nhỏ, để quan hệ tình dục (người này 17 tuổi) sẽ bị xử lý như thế nào? Có bị bỏ tù không?Hành vi dụ dỗ, bịt miệng, ép người bị khờ do bị bệnh từ nhỏ, để quan hệ tình dục (người này 17 tuổi) sẽ bị xử lý như thế nào? Có bị bỏ tù không?

Hỏi: Hành vi dụ dỗ, bịt miệng, ép người bị khờ do bị bệnh từ nhỏ, để quan hệ tình dục (người này 17 tuổi) sẽ bị xử lý như thế nào? Có bị bỏ tù không?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Hành vi dụ dỗ, bịt miệng, ép người bị khờ do bị bệnh từ nhỏ, để quan hệ tình dục (người này 17 tuổi) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm theo quy định tại Điều 111 Bộ Luật Hình sự 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Điều 111 Bộ Luật Hình sự 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:

1. Ng­ười nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ đ­ược của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các tr­ờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến m­ười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với ng­ười mà ng­ười phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều ng­ười hiếp một ng­ời;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều ng­ười;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ th­ơng tật  từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các tr­ờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ m­ười hai năm đến hai m­ươi năm hoặc tù chung thân.

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ th­ơng tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội hiếp dâm ng­ười ch­ưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến d­ưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến m­ười năm.

Phạm tội thuộc một trong các tr­ờng hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5.  Ng­ười phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

21/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Xác nhận tình trạng hôn nhânXác nhận tình trạng hôn nhân

Hỏi: Tôi là công dân Việt Nam dự định lấy chồng là người Hàn Quốc và đăng ký kết hôn bên Hàn quốc như vậy có được không? Tôi xin xác nhận tình trạng hôn nhân ở đâu?

Trả lời có tính chất tham khảo:

Bạn là công dân Việt Nam, bạn dự định lấy chồng là người Hàn Quốc, bạn có thể đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Hàn Quốc nếu bạn muốn đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc. Khi đăng ký kết hôn bạn phải tuân thủ theo quy định pháp luật bên Hàn Quốc về điều kiện cũng như về trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn, đồng thời tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam. Bạn nên liên hệ cơ quan đại diện ngoại giao của Hàn Quốc tại Việt Nam (Tổng lãnh sự quán Hàn quốc tại TP. HCM) để tìm hiểu thêm quy định pháp luật của Hàn quốc về điều kiện đăng ký kết hôn cũng như thủ tục đăng ký kết hôn.

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được quy định tại Nghị định 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó để làm thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký tạm trú của người đó, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau: Tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định); Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế; Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người yêu cầu.

Trường hợp công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do người yêu cầu nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Ủy ban nhân dân cấp xã gửi văn bản xin ý kiến Sở Tư pháp kèm theo 01 bộ hồ sơ. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp thực hiện thẩm tra, xác minh và có văn bản trả lời Ủy ban nhân dân cấp xã kèm trả hồ sơ; nếu từ chối giải quyết, Sở Tư pháp giải thích rõ lý do bằng văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho người yêu cầu. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và cấp cho người yêu cầu.

21/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Thay đổi di chúcThay đổi di chúc

Hỏi:  Bà tôi trước khi mất có di chúc lại bằng văn bản cho tôi một mảnh đất, nay bà tôi mất thì mọi người trong gia đình muốn thay đổi di chúc có được không và trong trường hợp nào thì không trái với pháp luật?

Nguyễn Quang Hùng <hntanviet@gmail.com>  Hà Nam

Trả lời có tính chất tham khảo:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết; di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế và thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Như vậy, Di chúc bằng văn bản của bà bạn đã có hiệu lực pháp luật.

Những người trong gia đình bạn không thể thay đổi di chúc, vì chỉ người lập di chúc, tức là bà của bạn mới có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào. Nhưng bà bạn đã chết và di chúc bằng văn bản của bà bạn đã có hiệu lực pháp luật.

Đồng thời, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định như trên…

20/02/2014 12:00 SAĐã ban hành
Cha, mẹ chuyển nhượng đất cho con có nộp thuế thu nhập cá nhân?Cha, mẹ chuyển nhượng đất cho con có nộp thuế thu nhập cá nhân?

Hỏi:  Tôi bán cho hai vợ chồng đứa con trai 3 công đất vườn với giá 100 triệu đồng, trường hợp này có phải đóng thuế chuyển nhượng hay không, nếu có thì mức đóng khoảng bao nhiêu?                 (Trần Thị Êm – Chợ Lách)


*Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định tại Điều 4 của Luật Thuế thu nhập cá nhân thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa cha mẹ đẻ với con đẻ; giữa cha mẹ chồng với con dâu thuộc đối tượng được miễm thuế thu nhập cá nhân. Như vậy, trường hợp của bà có bán cho vợ chồng con trai bà 3 công đất vườn với giá 100 triệu đồng thì được miễn thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng.

03/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Thủ tục đăng ký người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh khi nộp thuế thu nhập cá nhânThủ tục đăng ký người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh khi nộp thuế thu nhập cá nhân

Hỏi: Tôi có con được 6 tháng, giờ muốn kê khai đối tượng phụ thuộc thì phải làm sao? Thời gian có lâu không? Những khoảng thu nhập trước đây 6 tháng do tôi chưa kê khai đối tượng phụ thuộc phải nộp thuế sau này tôi có được hoàn trả lại hay không?    (Huỳnh Tú Lan – Mỏ Cày Nam)


*Trả lời (có tính chất tham khảo):

Để kê khai người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh, chị phải lập 02 bản “Đăng ký người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh” theo mẫu số 16/ĐK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính gửi cho cơ quan chi trả thu nhập. Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm đăng ký với cơ quan thuế trực tiếp quản lý.

Về thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc được quy định như sau: Đầu năm, chậm nhất là ngày 30/1. Trong năm, nếu có sự thay đổi về người phụ thuộc so với đăng ký đầu năm thì chậm nhất là sau 30 ngày kể từ ngày có thay đổi thì chị phải khai đăng ký điều chỉnh người phụ thuộc kèm theo hồ sơ chứng minh người phụ thuộc gửi cơ quan chi trả thu nhập.

Những khoảng thu nhập trước đây 6 tháng do chưa kê khai người phụ thuộc nên phải nộp thuế sẽ được cơ quan thuế xem xét cụ thể khi quyết toán thuế năm.

03/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Quyền thụ hưởngQuyền thụ hưởng

Hỏi: Tôi trồng cây bưởi trong vườn nhà mình, nhưng có vài nhánh bưởi đưa sang phần đất nhà hàng xóm. Đến khi bưởi chính, tôi định qua vườn nhà hàng xóm để hái trái nhưng người hàng xóm không đồng ý với lý do trái bưởi ở phần đất của ai thì người đó được hưởng. Tôi có quyền hái mấy trái bưởi đó không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015, người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, bạn trồng cây bưởi trong vườn nhà mình, nhưng để nhánh bưởi đưa sang phần đất nhà hàng xóm là đã vi phạm quy định của pháp luật về nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản. Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật, bạn muốn thu hoạch bưởi trên nhánh bưởi đưa qua nhà hàng xóm thì phải hỏi ý kiến và được người hàng xóm đồng ý. Tuy nhiên, hai gia đình nên thoả thuận để cùng thụ hưởng trái bưởi trên những nhánh bưởi đưa sang đất nhà hàng xóm, không nên chỉ vì mấy trái bưởi mà làm mất đi tình làng nghĩa xóm.

 ------------------------

 

20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Tiền thưởng đột xuất có thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân.Tiền thưởng đột xuất có thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân.

Hỏi: Nhân kỷ niệm 10 năm thành lập, công ty của tôi có thưởng đột xuất cho nhân viên làm việc dài hạn ở công ty mỗi người 20 triệu đồng, không biết chúng tôi có đóng thuế thu nhập cho khoảng thưởng này hay không?        (Thanh Lam – TP. Bến Tre)


*Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Thuế thu nhập cá nhân về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm: các khoảng tiền thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức (trừ tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được nhà nước phong tặng: tiền thưởng kèm theo danh hiệu thi đua…). Do đó, khoảng tiền thưởng đột xuất của chị đã nêu thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân.

03/07/2012 12:00 SAĐã ban hành
Chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ?Chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ?

Hỏi: Tôi làm việc tại công ty, tôi muốn biết pháp luật quy định như thế nào về chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Theo quy định tại Điều 7, Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ thì vấn đề chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ được quy định như sau:

1. Khi khám sức khỏe định kỳ, lao động nữ được khám chuyên khoa phụ sản theo danh mục khám chuyên khoa phụ sản do Bộ Y tế ban hành.

2. Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ như sau:

a) Mỗi ngày 30 phút, tối thiểu là 03 ngày trong một tháng;

b) Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;

c) Thời gian nghỉ cụ thể do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ.

3. Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ như sau:

a) Mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi;

b) Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

4. Người sử dụng lao động lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của lao động nữ và khả năng của người sử dụng lao động.

5. Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ nuôi con từ 12 tháng tuổi trở lên vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Thời gian nghỉ do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động.

21/06/2017 9:00 SAĐã ban hành
Quyền kháng cáoQuyền kháng cáo

Hỏi: Tôi có mượn người chị họ bà con xa 50 triệu đồng, đến thời hạn trả nợ nhưng tôi không có tiền để trả nên chị họ tôi đã kiện tôi ra Tòa; tại Tòa án tôi và chị họ đã thỏa thuận được hết các nội dung mà Tòa án hòa giải và Tòa án đã ra quyết định công nhận sự thoả thuận giữa 2 bên và đã giao quyết định cho hai bên. Tuy nhiên sau đó chị tôi lại không đồng ý theo quyết định đó. Tôi xin hỏi chị tôi có quyền kháng cáo để yêu cầu giải quyết lại vụ án không?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Căn cứ vào Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Như vậy, quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự mà Tòa án đã ra và đã giao cho các bên đương sự thì quyết định đó của Tòa án có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và buộc các đương sự phải thực hiện theo quyết định đó của Tòa, nên chị họ của bạn không có quyền kháng cáo để yêu cầu giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

------------

Hỏi: Tôi là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, Tòa án huyện xử tôi thua kiện. Tôi muốn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm thì tôi phải làm gì, thời gian tôi có quyền kháng cáo là bao lâu?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

"Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án"

Để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì căn cứ vào Khoản 1 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo; tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo; kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo; chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

Sau đó, người kháng cáo gửi đơn kháng cáo cùng các tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo.


20/06/2017 11:00 SAĐã ban hành
Thủ tục kết hônThủ tục kết hôn

Hỏi: Con Tôi hiện tại đang đi lao động ở Nhật, hộ khẩu không còn ở địa phương, con tôi dự định lần về phép sắp tới sẽ cưới vợ ở gần nhà (cùng xã), con tôi liên hệ ở đâu để đăng ký kết hôn, có phải xin giấy tờ gì ở bên Nhật không và thủ tục kết hôn như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo):

Con bạn hiện tại đang đi lao động ở Nhật, hộ khẩu không còn ở địa phương thì con bạn có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã nơi bên nữ có hộ khẩu thường trú. Về thủ tục đăng ký kết hôn gồm:

Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hai bên nam nữ, Sổ hộ khẩu bên nữ.

Con bạn hiện tại đang đi lao động ở Nhật về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước Nhật về tình trạng hôn nhân.

Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày.

 

30/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 17, Cách Mạng Tháng Tám, Phường 3, thành phố Bến Tre , Tỉnh Bến Tre, Việt Nam.
Điện thoại: 075.3827364 | Fax: 075.3810773 | Email:stp@bentre.gov.vn